|
Sau gần 30 năm trị vì đất nước, triều đình nhà Lê
bắt đầu suy yếu. Lê Long Đĩnh, vị vua kế nghiệp Đại Hành, không
có sức khỏe phải nằm thiết triều nên được gọi là Lê Ngọa Triều,
hoang tàn bạo ngược, con đen thán oán. Lòng dân là ý trời,
truyền thuyết kể rằng: trước khi Long Đĩnh chết (1009), sét đánh
vào cây gạo ở châu Cổ Pháp, vết hằn thành bài thơ chữ Hán, trong
đó có hai câu: “... Hòa đao mộc lạc /
Thập bát tử thành...”.
Sư Vạn Hạnh đoán ba chữ “hòa đao mộc”
ghép thành chữ “Lê”, còn ba chữ “thập bát tử” ghép thành chữ
“Lý”; đó là điềm báo nhà Lê sẽ “lạc” mất và họ Lý sẽ lên thay
“thành” lập vương triều mới. Nhân đó, quần thần bền cùng nhau
suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi, tức Thái Tổ triều Lý, lấy niên
hiệu Thuận Thiên (1010-1028).
Đến nay, đã tìm thấy tiền Thuận Thiên
Đại Bảo mặt lưng có chữ “Nguyệt”, các nhà nghiên cứu tiền cổ
trên thế giới đều công nhận đây là tiền của Lý Thái Tổ, chỉ
riêng TingFuBao giám định tiền này là của Lê Thái Tổ, cũng niên
hiệu Thuận Thiên (1428-1433).
Về niên hiệu Thuận Thiên, lịch sử
Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên chỉ thấy có hai vị
vua có niên hiệu này là Lý Thái Tổ và Lê Thái Tổ; nhưng tiền
mang niên hiệu này thì có ba loại: Thuận Thiên Đại Bảo, Thuận
Thiên Nguyên Bảo loại nhỏ, và Thuận Thiên Nguyên Bảo loại lớn ăn
100 đồng (đương bách).
Riêng tiền Thuận Thiên đương bách là
của Sử Tư Minh thời Đường đúc năm 759, có đặc điểm của tiền
Trung Quốc đương thời, là điều đã loại trừ ở đây, không còn gì
bàn thêm.
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư tuy không ghi
việc Lý Thái Tổ có đúc tiền, nhưng lại chép thời ấy có sử dụng
tiền. Ngay từ khi mới lên ngôi, dời đô về Thăng Long, vua đã
“xuống chiếu phát tiền kho 2 vạn quan thuê thợ làm chùa ở phủ
Thiên Đức 8 sở...”. Cũng có thể tiền này do tiên triều để
lại, song chúng ta cũng có nhiều chứng cứ khác để nhận định tiền
Thuận Thiên Đại Bảo là của Lý Thái Tổ.
Do sử ghi năm 984 Lê Đại Hành có đúc
tiền nhưng lại không viết gì về Lý Thái Tổ có đúc tiền. Lại thêm
khi viết về Lê Thái Tổ, sử chép “đúc Thuận Thiên Thông Bảo”
(?!). Nhờ đó mà TingFuBao đã giám định cả hai loại
tiền Thuận Thiên Đại Bảo và Thuận Thiên Nguyên Bảo đều của Lê
Thái Tổ. Sự giám định này không hợp lý và thiếu thực tế:
- Xin lấy lý mà nói thì Lê Thái Tổ đúc tiền “...
thông bảo” chứ không phải là “đại bảo” hay “nguyên bảo”.
- Nếu tiền Thuận Thiên Đại Bảo là của vua Lê, vì
sao chưa bao giờ tìm thấy tiền này trong các di tích có riêng
tiền thời Lê mà chỉ tìm thấy có tiền Thuận Thiên Nguyên Bảo mà
thôi?
- Thực tế cho thấy tiền Thuận Thiên Nguyên Bảo
luôn nằm trong các di tích thời Lê, có các loại tiền thời Lê -
Mạc như Thiên Khánh, Thiệu Bình, Đại Hòa,... đến Minh Đức, Đại
Chính và cả Quảng Hòa, nhưng không có tiền Thuận Thiên Đại Bảo.
- Ngược lại, tiền Thuận Thiên Đại Bảo
rất hiếm, thỉnh thoảng cũng có một đồng trong các di tích có cả
tiền thời Lý - Trần.
Mặt khác, so sánh ba chữ Hán “thuận,
thiên, bảo” trong hai loại tiền Thuận Thiên Đại Bảo và Thuận
Thiên Nguyên Bảo, thấy chúng hoàn toàn khác nhau rất xa:
- Chữ “thuận” trong tiền Thuận Thiên
Đại Bảo có bộ “xuyên” gồm ba nét thẳng đứng song song bằng nhau,
trong khi ở tiền Thuận Thiên Nguyên Bảo thì bộ này gồm ba nét
cong không đều nhau như các loại tiền thời Lê (Quang Thuận, Hồng
Thuận).
- Chữ “thiên” trong tiền Thuận Thiên
Đại Bảo rất giống trong tiền Thiên Phúc Trấn Bảo của Lê Đại
Hành: nét mác rộng và bè đậm, khác so với tiền thời Lê là các
nét này thường mảnh.
- Chữ “bảo” trong tiền Thuận Thiên
Đại Bảo thì to, “mập” rất khác so với tiền Thuận Thiên Nguyên
Bảo và các tiền thời Lê, chữ này thường “ốm”.
Một vài chứng lý nêu trên, cho phép
kết luận tiền Thuận Thiên Đại Bảo là của Lý Thái Tổ. Còn tiền
Thuận Thiên Nguyên Bảo, mọi nhà nghiên cứu đều công nhận là của
Lê Thái Tổ, có mâu thuẫn như kiểu tôi “lấy lý mà nói” không? Xin
hẹn tiếp sau, đến khi bàn về tiền của Thái tổ Lê Lợi, sẽ nói rõ!

tiền Thuận Thiên Đại Bảo của Lý Thái Tổ
(1010-1028)
Bài đã đăng:
MỘT ĐỒNG TIỀN,
MỘT NIỀM TỰ HÀO...
VỀ ĐỒNG TIỀN THỨ HAI CỦA NƯỚC
VIỆT NAM
Trở về Trang Chính
|