|
Người ta nói: “Trường giang, lớp sóng sau phủ lớp
sóng trước!”. Chính nhờ thế mà thế hệ sau vượt qua được thế
hệ trước để cập vào bến bờ, nếu không thì sẽ chìm vào biển cả,
chẳng bao giờ tiếp cận được chân lý.
Vốn rất quan tâm đến sự phát triển của khoa học và
tiến bộ của xã hội, tôi rất thích những gì thuộc về academy (hàn
lâm). Một trong những hình ảnh về “academy” biểu hiện tre già
măng mọc, trò vượt thầy, mà mỗi lần nhìn thấy, tôi như ngây như
si... Đó là một bức tranh của Raffaello Santi (1483-1520), sự
hội tụ của nhiều thiên tài về trí tuệ, hội họa, cũng như kiến
trúc...
Thật vậy, cho đến nay, người ta vẫn cho rằng Raphael
là họa sĩ vĩ đại nhất của mọi thời đại, và nghệ thuật của ông là
đỉnh cao của nghệ thuật Phục Hưng. Thế nhưng, nghịch lý thay
(!), ngày nay, người ta không còn thích tranh của Raphael nữa,
vì một lý do kỳ lạ là... những bức tranh ấy hoàn hảo và toàn mỹ
quá, không có gì sai sót, giống bức ảnh chụp hơn là bức tranh
vẽ!
...Mới 25 tuổi, nhưng Raphael lừng lẫy đến nỗi Giáo
hoàng Julius II (1463-1513) phải mời chàng đến Roma để trang trí
những bức tường của cung điện Vatican. Việc trang hoàng nơi ngai
vàng của giáo hội đầy quyền lực này, đòi hỏi người nghệ sĩ ngoài
tài năng về hội họa, còn phải thấu hiểu về triết học từ cổ đại
đến đương thời và phải tinh thông về cả kiến trúc không gian...
nhằm phối cảnh và bố trí cho hài hòa, thuận mắt... Và tại đây,
vào năm 1510-1511, bức bích họa “Trường Athènes” bất hủ
đã ra đời...
Anh hoa
đã phát tiết ra ngoài, một đời tài hoa đành bạc mệnh nghìn thu
lúc Raphael chỉ mới ở tuổi 37, khi tài năng đang rộ nở; “triều
đình của giáo hoàng chìm ngập trong đau buồn!”. Raphael chợt
đến, chợt đi, như ngôi sao băng với sứ mệnh “trả món nợ non sông
trước tiên”, để lại những đứa con tinh thần cho “mặc đời sau
thiên hạ luận bình”... Bởi ngay trên bia mộ của chàng trong điện
Pantheon ở Roma, Hồng y Bembo đã tưởng niệm: “Đây là mồ của
Raphael. Kẻ sinh thời đã khiến Mẹ Thiên Nhiên lo lắng, vì sợ
rằng sẽ bị chàng chinh phục. Và khi chàng qua đời, cũng sợ mình
sẽ phải chết theo!”.
Trung tâm của bức tranh “Trường Athènes” là hai thầy trò
Platon (427-347 trước CN) và Aristote (385-322 trước CN), cũng
là hai nhà triết học vĩ đại nhất của Hy Lạp cổ đại, cùng sánh
bước bên nhau; cử chỉ của họ biểu hiện đang tranh luận rất căng
thẳng, và hai bên đều có môn đồ của mình kích động, ủng hộ.
Platon tuy đã già nua, đầu hói, nhưng khoác áo đỏ, biểu hiện sự
nóng nảy, bảo thủ, đưa tay bốc lửa chỉ lên trời là cốt lõi trọng
tâm của tư tưởng duy tâm do ông chủ xướng, như muốn nói “-
Bản chất của thế giới là ở trên thiên đường, cuộc sống chúng ta
chỉ là cái bóng của thiên đường ấy!”. Aristote tuy còn rất
trẻ, râu tóc xanh rì, nhưng khoác áo xanh, biểu hiện sự đầm
tỉnh, thực tế hơn, đưa tay ngang mặt đất, tự tin: “- Thưa
thầy, thế giới là ở địa đàng này, con người có quyền tìm hiểu và
tận hưởng nó!”.
Về nghệ
thuật hội họa, công trình kiến trúc trong bức tranh được biểu
hiện từ một điểm nhìn trung tâm, và chỉ có một điểm tụ; nhưng vì
mắt của con người là một khối cầu nên mỗi bình diện được nhìn
riêng, thẳng với mắt của họa sĩ. Bức tranh bằng sơn dầu có kích
thước 579cm x 824cm, vẽ đầy nguyên cả một bức tường, xét theo vẻ
đẹp cổ điển thì ngày nay hoàn toàn không có đối thủ!
Không gian phối cảnh
trong tranh được vẽ như kiến trúc thật của điện Vatican, với
những mái vòm cao rộng, sự phối màu và người trong tranh cũng
bằng như người thật, làm người xem tưởng chừng như đây là kiến
trúc thật của điện có chiều rất sâu, nhưng thật ra chỉ là một
bức tranh. Mới nhìn, cảm tưởng những nhân vật trong tranh rất
rời rạc, nhưng nếu chỉ cần lấy ra một người thì bố cục bức tranh
sẽ bị vỡ ngay, bởi tổng thể bức tranh rất chặt chẽ, chỉ trong
một hình cung lớn nhưng nhưng gọn gàng và nhất thống... Gam màu
của tranh hài hòa, tràn ngập trong ánh sáng huy hoàng, tương
xứng với sự xuất hiện của các triết gia vĩ đại, tạo sự thu hút,
ưa nhìn... Chính vì tranh có không gian kiến trúc sâu - cao -
rộng, nên dễ dẫn người xem chìm đắm trong tầm nhìn xa, kích
thích hoạt động trí tuệ, dễ nảy sinh những tư tưởng lớn...

Platon là người
Athènes, môn đồ của Socrate (469-399 trước CN), là nhà triết học
thực thụ, đã sáng lập ra “academy”, tức nơi giảng dạy triết học
ở khu vườn Académos với những tư tưởng rất phong phú, phức tạp
và rất khó khai thác...
Aristote là học trò
của Platon. Sự thật của lịch sử là sau hơn 20 năm học thầy, nắm
hết các tinh tuý của Platon, Aristote nhận thấy lý luận của thầy
không phù hợp thực tế nên đã lập ra một trường dạy học riêng của
mình cũng ở Athènes, đối diện với trường của Platon. Aristote đã
đóng vai trò rất lớn trong cấu trúc ý thức ở phương Tây, ông đặt
lên hàng đầu về khát vọng hiểu biết, nhấn mạnh tầm quan trọng
của quan sát thực nghiệm, sự tìm kiếm hạnh phúc và hành động;
đồng thời khởi xướng Siêu hình học...
Lấy cuộc tranh luận
giữa hai thầy trò làm chủ đề bức tranh, Raphael mượn xưa nói
nay, muốn nhấn mạnh những tư tưởng và nghệ thuật Trung Cổ đã lỗi
thời, cần phải được thay thế bằng những quan điểm Phục Hưng mới
mẻ là “tiếng ca bắt nguồn từ đất khô...”...
Ngoài hai nhân vật
chính là Platon và Aristote, trong tranh còn hội tụ và toả sáng
rất nhiều gương mặt khoa học Hy Lạp cổ đại mà “mỗi người một vẻ,
mười phân vẹn mười”, với cấu trúc giải phẫu hoàn hảo và hài hòa
đến mẫu mực, dáng vẻ cũng như tư thế rất sinh động, phong phú,
được sắp xếp rải trên các bậc cấp, không ai giống ai... Chẳng
hạn như ở góc dưới bên trái bức tranh, ta thấy Nhà Toán học
Pythagore đang giảng giải các định lý về hệ thống tỷ lệ của
mình. Góc dưới bên phải, Nhà Thiên văn học Ptolémé cầm mô hình
trái đất đang diễn giải thuyết địa tâm, trái đất là trung tâm
vũ trụ! Bên trái của bức tranh, một người trần truồng vội vã lao
vào hội trường như muốn hét lên “-Tìm thấy rồi! Tìm thấy
rồi!”, đó chính là Nhà khoa học vĩ đại nhất của thế giới cổ
đại, Archimèdes với câu nói bất hủ “-Hãy cho tôi một điểm
tựa, tôi sẽ nhấc bổng cả trái đất!”, trong lúc tắm đã vô
tình phát hiện định luật về Thủy tĩnh học. Gần bên trái Platon,
triết gia Socrate đang tham gia tranh luận cùng một đám thanh
niên; luôn tự cho mình chẳng biết gì cả (!) Socrate hay đề xướng
những ý tưởng rồi kích thích người ta tranh cãi, nhờ đó ông luôn
được hiểu biết nhiều hơn những người không biết sự ngu dốt của
mình... Và Raphael đã vẽ thêm, mà tôi nghĩ là quá hạnh phúc cho
các nhà khoa học (!), vì còn có rất nhiều người đẹp đến chia sẻ
niềm say mê khoa học! Phải chăng Raphael đã đồng cảm rằng tài tử
cũng cần có sự cổ vũ của giai nhân bởi “Đằng sau sự thành
công rực rỡ của những thiên tài, thường phảng phất bóng dáng
người phụ nữ...”?!
Nhưng
điều thú vị là ở chổ “những tư tưởng lớn thường gặp nhau!”:
Bức tranh đã hội tụ các thiên tài Hy Lạp cổ, làm họ trở nên bất
tử, thì những người làm mẫu để Raphael vẽ hình những nhân vật
siêu phàm ấy, cũng chính là sự hội tụ của những thiên tài đương
thời Phục Hưng, là bạn và đồng nghiệp của Raphael (1483-1520)...
Như hình ảnh của
Platon, ta thấy chính là chân dung danh họa đương thời Leonardo
Da Vinci (1452-1519). Chàng trai trẻ đang ngồi viết trên cái bàn
ở giữa dưới bức tranh, chính là nhà điêu khắc vô cùng nổi tiếng:
Michelangelo (1475-1564), sự tách biệt cùng dáng vẻ suy tư của
chàng cho thấy sự cô độc của những thiên tài, thường ít có tri
kỷ. Sau lưng Michelangelo, ta thấy một phụ nữ tinh trắng thanh
khiết, được vẽ nghiêng, nhưng phảng phất bóng dáng “người tình”
của Leonardo Da Vinci, đó chính là nàng Mona Lisa, hoa hậu đương
thời trong bức tranh La Joconde với nụ cười bí hiểm nổi tiếng...
Và điều đặc biệt đáng ngạc nhiên cũng như vô cùng thú vị hơn, là
bên phải Nhà Thiên văn học Ptolémé, ta thấy một chàng trai trẻ
đội mũ bê-rê đang nghe diễn thuyết, đó chính là chân dung tự họa
của Raphael, một thanh niên tuy nổi danh hạng nhất nhưng lại vô
cùng khiêm tốn và rất ham học hỏi! Lấy mình làm mẫu cho một
chàng trai rất bơ sữa đang đứng ở góc bìa bức tranh lắng nghe,
há không phải Raphael muốn nhắc nhở: “- Còn trẻ, bạn phải học
nhiều. Phải năng thu nhận, phải yêu nghe nhìn!”?
Nói mãi không hết...
Trong tranh có nhiều tuyến, nhiều nhóm nhân vật, có vẻ tỉnh
lặng, nhưng qua các vẻ dáng cho thấy sự ngấm ngầm xung đột của
các trào lưu tư tưởng đương thời, như muốn bức phá những mâu
thuẫn khoa học đã hàng ngàn năm vẫn chưa có lời giải đáp (!),
bởi ... Đằng sau và trên đỉnh đầu của Platon cũng như Aristote
là trời xanh bao la, im lặng, phóng khoáng và siêu thoát, nhưng
cũng rất tự nhiên, hiện thực... Điều này cho thấy tư tưởng của
họa sĩ đã có lối thoát, vì trọng tâm của bức tranh là ở chổ...
Nàng Mona Lisa xuất
hiện rất lẻ loi, rời rạc... đến nghe triết học, nhưng giữa hai
trường phái tư tưởng, nàng không biết cổ vũ ai (?); tuy nàng
đứng nửa bên Platon, nhưng mắt nàng lại nhìn vào chúng ta như
một sự cầu viện... Cũng như chân dung của Raphael, tuy đứng về
nửa bên Aristote, nhưng chàng không nhìn vào nhà khoa học đang
diễn thuyết, mà cũng nhìn vào chúng ta... Cả hai, Mona Lisa cũng
như Raphael, một nam một nữ, đều chờ sự phán xét của chúng ta,
tạo sự cân bằng giữa hai triết thuyết: duy vật hay duy tâm (?),
lời trả chỉ phụ thuộc vào tư tưởng của người xem tranh...
* * *
Académos vốn là một danh từ riêng, địa danh chỉ tên của khu vườn
nơi Platon sáng lập viện giảng dạy triết học, và cũng nơi đó có
trường Athènes của Aristote; chính vì điển tích này mà ngày nay
chữ “academy” đã trở thành danh từ chung với nghĩa rộng là “viện
hàn lâm khoa học”, nơi hội tụ và tỏa sáng của những năng tài...
A Lưới- Thanh
Hoá- Đà Nẵng- Huế, ngày 11-18/9/2006
NAH
Trở về Trang Chính
|