|
1. Giới thiệu tổng
quát
Tìm hiểu về gốc của tên mười hai con giáp là
một cơ hội để ta tìm về cội nguồn tiếng Việt. Tên 12 con giáp là
Tý/Tử, Sửu, Dần, Mão/Mẹo, Thìn/Thần, Tỵ, Ngọ, Mùi/Vị, Thân/Khôi,
Dậu, Tuất, Hợi. Thoạt nhìn thì thập nhị chi trên có vẻ bắt nguồn
từ Trung Quốc (hay Trung Hoa, tắt là TH) vì là những từ Hán Việt
(HV).Khi phân tách các tiếng Việt, và thấy có những khác lạ hay
có một khuynh hướng tổng quát chung nào đó thì những dạng này
cần được so sánh với những từ khác với nguồn gốc không phải là
Việt, Thí dụ như trong các từ liên hệ đến xe hơi chẳng hạn, ta
thấy các dạng như pan (xe bị pan), phanh (thắng), láp, két nước
(tử két), đèn pha, máy bơm xăng, ống bơm, xăng, hòn (viên) bi,
bị giơ (lỏng), cái van, dây cáp (điện), dây xên, con vít, sạc
điện …v…v... không kể các từ đa âm khác như bugi, táp-lô, rô-đa,
mỏ-lét, rờ-le, bù-loong … So với tiếng Pháp và tiếng Anh hiện
nay (không khác gì nhiều trong vòng trăm năm nay)
Tiếng
Việt Pháp Anh
Pan panne (bị
hư) out of order
Pha phare (đèn
trước) headlight
Bi bille (viên đạn)
ball
Giơ jeu
(lỏng) loose, worn out
Sạc charge (thêm điện cho
đủ) charge
Van
valve valve
Vít
vis screw
Két caisse (tủ, bình
chứa) tank
Cáp cable (dây
điện) cable
Xăng
essence gas, petrol
Bơm
pompe pump
…v…v…
Rõ ràng là các từ trên tương ứng với tiếng
Pháp rất chặc chẽ so với tiếng Anh, hay một ngoại ngữ nào khác -
người viết dùng tiếng Anh và Pháp để so sánh vì lịch sử cận đại
cho thấy nhiều liên quan giữa nước Pháp, nước Mỹ với VN. Ngoài
ra, kỹ thuật chế tạo, lắp ráp và bảo trì xe hơi (ô tô) là từ các
nước Âu Châu trên. Nếu mở rộng đề tài ra thì ta có các tiếng
Pháp khác nhập vào tiếng Việt như bót/bốt (đồn cảnh sát), ông
cẩm (commissaire), nhà ga (trạm xe lửa), lô, ký (kilogramme),
xạc (sacrer, bị mắng), cuốc (xe cuốc, course, xe đua), cúp
(coupe), cà-lem, kem (crème) ..v..v.. Phần lớn các từ mượn từ
tiếng Pháp có phạm trù giới hạn và thường là thuật ngữ. Cách
viết văn (cú pháp) và thành lập chữ của bị ảnh hưởng phần nào
qua giao lưu văn hoá với Pháp : như cách dùng bàn giấy, giết
thời gian … Trong các bài sau, người viết sẽ chú trọng đến sự
so sánh các từ, các biến âm và phạm trù ngữ nghĩa của chúng.
Giao lưu văn hoá với Pháp xẩy ra chỉ gần đây (hai trăm năm trở
lại và càng ngày càng ít đi từ thời kỳ thuộc địa), thành ra các
dạng biến âm rất dễ tra ra, cũng như từ phạm trù nghĩa giới hạn
của chúng. Trở lại với tên 12 con giáp, thời kỳ giao lưu văn hoá
với TH đã xẩy ra rất lâu (ít nhất đã hơn hai ngàn năm, so với
hai trăm năm) và từng đợt chất chồng lên nhau, thêm vào đó là
các tài liệu rất mơ hồ và thường hàm ý là tên 12 con giáp là của
TH (một tiền đề không ai dám tranh cãi hay tìm ra ngọn ngành một
cách rõ ràng và khoa học). Các tài liệu lại thường viết bằng chữ
Hán, thêm và tiền đề (hầu như là một ‘công lý’ không ai chối cãi
đuợc ?) về nguồn gốc TH hợp với cách viết chủ quan và đầy tự ái
dân tộc của một số tác giả TH càng làm vấn đề trở nên phức tạp
hơn nữa. Nhìn lại bảng so sánh một số tiếng Việt trong lãnh vực
kỹ thuật (xe hơi) như trên, dù ai có tự ái dân tộc lớn đến đâu
cũng không thể chối cãi quá trình mượn từ tiếng Pháp vào tiếng
Việt, thêm vào đó là các tài liệu sách vở trong vòng hai thế kỷ
qua dễ cho chúng ta kiểm lại kết luận này. Thực ra, sự vay mượn
qua lại là một hiện tượng rất tự nhiên của ngôn ngữ loài người,
chính sự thuần nhất (pure) ngôn ngữ mới là hiếm có hay là ngoại
lệ ! Cũng như hiện tượng thuần chủng (pure race) vậy – cũng
chính cách nhìn hạn hẹp từ sự thuần chủng mà đã xẩy ra bao nhiêu
tai hoạ như Đức Quốc Xã với giống Aryen, chính sách White Policy
hay nước Úc cho ‘người da trắng’ chẳng hạn ….– và cũng chính
thái độ ù lỳ không chấp nhận ‘mình vay của người’ mà nhiều sai
lầm đã xẩy ra, ngay cả cho một số công trình nghiên cứu trong
quá khứ. Tiếng Nhật và tiếng Đại Hàn có nhiều từ gốc Hán, tiếng
Anh/Pháp cũng đầy các từ gốc La-Tinh, Hi-Lạp … chẳng nước nào có
‘mặc cảm chữ nghĩa’ đâu ? Với các cảnh giác trên thì ai là chủ
nhân của tên 12 con giáp ?
2. Vài nhận xét sơ
khởi về tên 12 con giáp
2.1 Tên 12 con giáp
đọc như tiếng HV, theo giọng Bắc Kinh (BK) và bằng cách ghi theo
Phiên Âm (pinyin) là zĭ, chŏu, yín, măo, chén, sì, wǔ, wèi,
shēn, yŏu, xū, hài hoàn toàn không liên hệ đến cách gọi (tên) 12
con thú trong tiếng TH hiện nay – ngay cả giọng Quảng Đông (QĐ)
..v..v.. Khi phục hồi âm TH thời Thượng Cổ (Archaic Chinese) thì
vẫn không tương đồng với các cách gọi tên thú vật thời trước.
Như vậy nếu có một dân tộc nào đó dùng tên 12 con thú tương tự
như tên 12 con giáp thì dân tộc đó phải có liên hệ rất khắn khít
với nguồn gốc tên 12 con giáp này. Cũng như khi so sánh các từ
về xe hơi phần trên, ta có thể đi dến kết luận là tiếng Pháp đã
cho tiếng Việt mượn trong thời kỳ giao lưu văn hoá cận đại1.
Nhưng người viết không đi sâu thêm nữa để tìm hiểu các danh từ
tiếng Pháp trên có nguồn gốc ở đâu. Xin nhắc lại ở đây là các
bài này viết về nguồn gốc tên 12 con giáp, còn nguồn
gốc 12 con giáp ở đâu ra không nằm trong phạm vi các phần
sau.
2.2 Tại sao TH dùng
con thỏ thay cho con mèo (biểu tượng của chi Mão/Mẹo) ? Xem cách
viết chữ miêu (con mèo, giọng BK là māo) bằng bộ trỉ hợp với
miêu (mầm mống, hài thanh) so với thỏ là chữ tượng hình – hay
thố HV, giọng BK là tù viết bằng bộ nhân cho thấy sự quan trọng
của thỏ đối với văn hoá TH. Hầu như chỉ có dân Việt mới dùng mèo
cho chi Mão : nguyên âm e hay iê là các dạng cổ hơn của a như
kẻ/giả, vẽ/hoạ, xe/xa, khoe/khoa, hè/hạ, chè/trà, keo/giao,
beo/báo…. Nhờ sự khác biệt này mà ta bắt đầu thấy mối dây liên
hệ của tiếng Việt với 12 con giáp. Mèo hiện diện trong đời sống
dân Việt thường xuyên hơn. Còn chi Ngọ liên hệ đến ngựa hầu như
không cần giải thích nhiều, so với mã HV (mă BK, giọng BK hiện
nay không còn âm ng- nữa mà đã bị môi hoá thành w- và m-). Các
dạng Mão/Mẹo/mèo và Ngọ/ngựa dễ cho ta nhận ra sự liên hệ giữa
tên 12 con giáp với tiếng Việt hiện nay. Thời tiền Hán, tiếng
Việt ta không có nhiều thanh điệu (tone) như bây giờ, nên sự
khác biệt về thanh điệu không có gì lạ. Như trong khẩu ngữ ta ta
có cách dùng “chờ một tý” cũng như “chờ một chút”, “đưa chút
tiền” cũng như “đưa tý tiền” … vào thời tiền Hán, các câu trên
đọc như giọng Huế hay người Hòn bây giờ (ít thanh điệu hơn so
với giọng Hà Nội) thì ta thấy ngay chút hay *chụt/chuột chính là
các dạng của tý vậy. Biến âm t-ch (phụ âm đầu) của tý/tử HV
-chuột còn thấy qua các liên hệ như ty/tư HV là chủ, tỷ-chia,
tứ-cho, từ-chữ, tự-chùa, tỷ-chị, tựu-chầu (tụ lại), tốt-chết,
từ-chợ, thị-chợ, thố-chua, thù-chuốc, thục-chuộc,
thúc-chú….Thành ra, ta có sơ khởi là ba chi Mão/Mẹo, Ngọ và Tý
có liên hệ với mèo, ngựa và chuột trong tiếng Việt hiện đại. Các
phần sau sẽ phân tách chi tiết hơn về sự tương quan giữa tên các
chi và các tên thú vật trong tiếng Việt.
2.3 Nếu quả thật
tên 12 con giáp TH bắt nguồn từ tiếng Việt (Cổ), thì kết quả này
còn phù hợp với các kết quả trước đây như triết gia Kim Định đã
cố gắng chứng minh văn hoá TH xuất phát từ văn hoá Việt (SàiGòn
vào thập niên 1970, như cuốn “Việt Lý Tố Nguyên”), tác giả
Nguyễn Hoài Nhân (bên Pháp vào thập niên 1980, như trong các bộ
“VietNam en image” ghi nhận các bằng chứng về khảo cổ và ngôn
ngữ để đi đến kết luận : người Việt Cổ là người cho, người TH là
người nhận), tác giả Lê Mạnh Thát qua cuốn “Lịch Sử Âm Nhạc Việt
Nam - từ thời Hùng Vương đến thời kỳ Lý Nam Đế” đưa ra các dữ
kiện chứng tỏ rằng Việt Ca (Lưu Hướng ghi lại trong Thuyết Uyển)
có nguồn gốc Việt Nam (VN), tác giả Nguyễn Thiếu Dũng cũng bắt
đầu đặt lại vấn đề nguồn gốc Kinh Dịch (từ tộc Việt) trong những
năm gần đây … Cho thấy chiều vay mượn là từ phương Nam
vào thời thượng cổ, chứ không phải là từ Bắc xuống Nam (cũng như
các nước chung quanh) vào các đời Hán, Đường lúc văn hoá TH cực
thịnh,. Tuy nhiên không tác giả nào đề cập đến nguồn gốc tên 12
con giáp, và rất ít dùng cấu trúc của chữ Hán, Hán Cổ cùng các
biến âm trong cách lý giải.
Để thấy rõ hơn các
liên hệ của tên thú vật và tàn tích trong tiếng Hán Cổ, chúng ta
hãy xem một số từ chỉ con vật thông thường như cóc, voi … và cấu
trúc của tiếng Hán cho thấy tàn tích của tiếng Việt mà đã từ từ
mất đi trong ngôn ngữ TH hiện nay. Hi vọng từ đó khi tập trung
nhìn vào các tương quan của tên 12 con giáp thì các liên hệ sẽ
được rõ ràng hơn, nhất là qua sự so sánh các ngôn ngữ láng giềng
với tiếng TH, HV, tiếng Việt.
2.4 Muốn tìm hiểu
ngọn ngành trên phương diện so sánh các ngôn ngữ, ngày nay ta
không đến nỗi phải đi tới những nơi xa xôi (du học) nữa, nhất là
về đề tài 12 con giáp. Các tài liệu thông tin, mạng Internet,
sách vở được ấn hành nhiều hơn và cởi mở hơn. Thêm vào đó là
chánh phủ địa phương có vẻ như càng ngày càng mở mang và thành
thật hơn, không độc đoán và che dấu hay ‘bóp méo’ các dữ kiện
khảo cổ, ngôn ngữ như xưa. Cách đây hơn 50 năm, Phan Khôi - một
nhà nghiên cứu văn hoá VN rất nhiệt thành – đã phải lên tiếng “…
người VN chúng ta về sau phải sang TH ở lâu mà nghiên cứu, may
ra tìm được các dấu vết tương quan của dân tộc ta với dân tộc TH
từ đời thượng cổ…” (trang 34, “Việt Ngữ nghiên cứu” Phan Khôi,
bài viết năm 1954, in lại – NXB Đà Nẵng, 1997). Đương nhiên là
các kết quả của so sánh ngôn ngữ phải phù hợp với những kết quả
từ ngành khảo cổ, lịch sử và di truyền (DNA)… để tăng mức độ
chính xác.
3. Tiếng Việt và
tiếng Hán Cổ (hay
tiếng Hán và tiếng Việt Cổ)
3.1
Cóc
là loài vật vừa ở trên cạn vừa ở dưới nước (gọi là amphibian)
hiện diện trong các ngôn ngữ Đông Nam Á như ku-óc, cóc (tiếng
Mường), ka kọc (Nùng), róc (Lào : lụt róc, kăn kắk, khăn khắk :
cóc), khàng khók (Thái), king kuok (Khme), a-rok (Chàm), kok,
kokke, khog (Mundari, Birhor, Hor…ngữ hệ Munda), cơưk (Hmong)
..v..v.. Trong vốn từ TH hiên nay, còn một chữ rất hiếm là
cúc
HV viết bằng bộ trùng hợp với chữ cúc hài thanh (HT, cúc nghĩa
là nắm, túm) - giọng BK bây giờ là jú, qú. Để chỉ con cóc, tiếng
TH có các từ thiềm HV (chán, zhān BK) viết bằng bộ trùng (cũng
có nghĩa là bóng đen trên mặt trăng, tiếng ghép HV thiềm thừ là
con cóc); thừ HV (shú, chú, yú BK) viết bằng bộ trùng hợp với
chữ dư HT; ma HV (má, mò BK viết bằng bộ trùng, còn là một loại
ếch); Ba/pha/bì HV (bŏ, pí BK viết bằng bộ trùng hợp với chữ bì
HT - từ này ít dùng với tần số dùng là 10 trên 365398752 cho
thấy một cách phân biệt cóc và nhái qua lớp da sần)… Trái cóc có
vỏ như da cóc … Theo người viết thì cóc2 có thể là
một từ tượng thanh (con cóc có tiếng kêu đặc biệt ‘cọc… cọc”)
với âm yết hầu k-, và do đó một số ngôn ngữ khác không liên hệ
gì đến tiếng Việt hay Nam Á như ngôn ngữ của Easter Island ở Nam
Thái Bình Dương cũng gọi cóc là kok, tiếng Inđônesia là kodok,
katak, tiếng Kơho là kit trô …
3.2
Voi
là một từ đáng chú ý : có nhiều cách viết chữ Nôm, như bộ khuyển
hợp với chữ vi HV (hài thanh, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị/ĐNQATV), bộ
khuyển hợp với chữ bôi (cái chén, HT cho thấy liên hệ b-v), bộ
khuyển hợp vớI chữ bút … Các chữ voi này rất xa lạ với người TH,
. Tiếng TH hiện nay có
tượng
HV, giọng BK bây giờ là xiàng, giọng QĐ jeung6 liên hệ đến
giống tiếng Việt, viết bằng bộ nhân hợp với chữ tượng HT.
Chữ tượng có cách viết cổ giống như hình con voi nhưng lại dựng
đứng lên để theo chiều từ trên xuống dưới và để tiết kiệm diện
tích viết chữ. Tượng còn dùng để chỉ bức tượng trong tiếng Việt
so với tiếng TH bây giờ phải dùng các từ ghép như diāoxiàng BK
(điêu tượng, tượng được khắc), sùxiàng (tố tượng, tượng được nặn
hay đắp thành). Ông hay bà quản tượng là người coi (kiểm soát)
voi hay là mahout, là tiếng Ấn Độ/Hindi mahaut gốc tiếng Phạn là
mahamatrah. Con tượng còn là con voi trong bàn cờ tướng. Một
điểm đáng chú ý là chỉ có voi là loài vật khác trong các loại
lợn được viết bằng bộ thỉ (con lợn) thứ 152.
Dự
là từ HV đã từng có nghĩa là con voi - chữ này viết bằng bộ thỉ,
thật ra là chữ dư hợp với chữ tượng - hiện thời có các nghĩa như
vui vẻ (nghĩa bây giờ hơi khác hơn và thiên về an nhàn), thoải
mái, du ngoạn (hàm ý vui vẻ), do dự, dự bị, một trong chín châu
(Cửu Châu) của TH thời xưa (bao gồm tỉnh Hà nam, do đó Dự cũng
là tên cổ của Hà Nam3), gạt gẫm … và rất ít tự điển
ghi nhận nghĩa cổ của dự là voi4. Theo người viết,
vui là âm cổ cũng như một dạng khác là voi. Liên hệ u-o
(vui-voi) còn thấy trong các cách dùng tương đương như tùng-tòng
(thông), chùm-chòm, vũ-võ, trụi-trọi, dung-dong, phù-phò,
hụi-hội, tui-tôi, thúi-thối … do đó ta có cơ sở giải thích liên
hệ dự-vui-voi. Voi từ chữ dự (có chữ tượng) hợp lý hơn là từ chữ
vi (bộ trảo) theo Vương Lực (xem phụ chú 4). Các dữ kiện hỗ trợ
cho liên hệ dự-vui còn thấy qua các chữ HV như du (yú BK, viết
bằng bộ sước) có nghĩa là đi chơi, vui vẻ; du HV (yú BK viết
bằng bộ tâm) có nghĩa là yên vui … Các cách viết khác nhau để
ghi lại âm ‘vui’ cho thấy lý luận dự-vui thêm phần chính xác
(nhớ rằng chữ viết có sau tiếng nói).
3.3
Vụ
HV viết bằng bộ điểu, giọng BK bây giờ là wù, mù, giọng QĐ mou6,
muk6, Hẹ mu6, vu6 … nghĩa là một loài vịt. Chữ này không thông
dụng trong vốn từ TH hiện đại với tần số dùng là 105 trên
368707021 so với các chữ khác như áp HV (yā BK), nga HV (é BK,
ngo4 QĐ – ngan, ngỗng là các dạng cổ), nhạn HV (yàn BK, ngaan6
QĐ) … Theo Thuyết Văn (TV), chữ ngan đồng nghĩa với nhạn. Biến
âm u-i của vụ-vịt không thường gặp nhưng còn tàn tích trong các
cách dùng bút-viết, thụ-chịu, nhu-diệu, đinh-chuồn … Để ý phụ âm
tắt –t ở sau nguyên âm thường mất đi trong giọng BK (phương Bắc)
nhưng vẫn còn duy trì trong tiếng Việt, giọng QĐ, Hẹ …
3.4
Đinh
viết bằng bộ trùng với chữ đinh HT, giọng BK bây giờ là dīng,
chēng, chéng, ding1, cing1 QĐ, Hẹ den1 …có nghĩa là con
chuồn chuồn.
Chữ này rất ít dùng với tần số dùng là 14 trên 430747376. So với
các chữ khác thường gặp trong vốn từ TH hiện nay như tinh HV
(dīng, tīng BK), đình HV hay tinh đình, linh HV (líng BK viết
bằng bộ trùng hợp với chữ linh/lệnh HT, để ý linh HV viết bằng
bộ kim hợp với chữ linh/lệnh là chuông)… Nếu ta để ý biến âm
đ-tl/tr-ch (xem bài viết riêng về biến âm này cùng tác giả) như
độn-trốn-chuồn, đồn/đốn-truân-chiên, đồn-trôn, điền-trần,
đục-trọc, đoàn-tròn, động-trọng-chuộng, đồng-tròng (con ngươi),
đản-trần …v..v.. thì có thể giải thích được liên hệ đinh-*chuôn
(biến âm i-u nói ở phần 3.3), hay dạng chuồn (thanh huyền có thể
do ảnh hưởng của phụ âm mũi –n). Tiếng Mường cũng có dạng chuồn
chuồn, tiếng Zhuang là chi-chuồn.
Như vậy thì tiếng
Việt vẫn còn tàn tích trong tiếng TH, tuy nhiên các cách dùng từ
‘phương Nam’ từ từ mất dần đi5, có thể là do các
tiếng phương Bắc thay vào (giai cấp thống trị), hoặc không hợp
với hệ thống âm điệu của Hán tộc hay sự cố tình bôi xoá ?
Tóm tắt bài này là
trong tiếng TH có những từ Việt (Cổ) nhưng rất ít dùng, tuy
nhiên trường hợp của tên 12 con giáp rất đặc biệt : được dùng
trong việc ghi lại thời gian, không gian, bói toán, cúng kiến …
rất phổ thông trong văn hoá và tín ngưỡng dân gian, chúng gắn
liền với lịch sử tư tưởng của TH và VN, đóng một vai trò quan
trọng trong văn hoá dân tộc. Do đó, chúng là những từ hoá thạch
(fossilised) gắn bó với câu ca dao
‘Trăm năm bia
đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ’
4. Phụ chú
(1) Bảng so sánh
trên cho thấy liên hệ giữa tiếng Pháp và Anh như sạc tiếng Pháp
và tiếng Anh giống y như nhau, gốc tiếng Pháp Cổ (Old French) là
chargier (chất đồ lên, tải), liên hệ đến tiếng La Tinh carrus
(chiếc xe) do đó ta có các dạng tiếng Anh như car/xe, carry/chở,
chariot/xe … và nếu truy tầm thêm nguồn gốc các chữ trên thì sẽ
thấy nhiều tương quan của nhóm (dòng, ngữ hệ) La Mã, họ Ấn Âu
(Indo-European) phản ánh qua lịch sử và quá trình phát triển văn
hoá của Hi Lạp, Ý, Pháp v..v.. Điều này ra ngoài mục đích của
bảng so sánh cốt là cho thấy các tiếng mượn từ tiếng Pháp mà
thôi.
(2) Tác giả Lê Gia
trong “Tiếng Nói Nôm Na” (NXB Văn Nghệ Thành Phố HCM, 1999) thì
giải thích cóc là từ hốc, cốc mà ra “loài vật dơ dáy, bẩn thỉu,
tối ngày ngồi trong hang trong hốc” (trang 1451).
(3) Tỉnh Hà Nam vẫn
còn một số hoạt động như cỡi voi cho du khách.
(4) Theo tác giả
Nguyễn Văn Tu trong “Từ và vốn từ - tiếng Việt hiện đại” (NXB
Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội 1976) thì voi có
nguồn gốc là chữ vi “…theo sự nghiên cứu của ngành Cổ Văn Tự, vi
là chữ tượng. Theo tiếng Việt thiên đọc là vi còn tượng đọc là
voi…” (trang 266) - trích dẫn từ kết luận của nhà ngữ học TH
Vương Lực trong các cuốn “Hán Việt Ngữ nghiên cứu” và “Hán ngữ
sử luận văn tập” (khoảng 1958). Sau gần 3 thập niên, tác giả Lê
Đình Khẩn cũng lặp lại điều này trong cuốn “Từ vựng gốc Hán
trong tiếng Việt” (NXB Đại Học Quốc Gia Thành Phố HCM, 2002),
tuy nhiên tác giả có bàn thêm là thời thượng cổ “…không chắc là
âm đọc theo chữ nào trong hai chữ đồng nghĩa ấy …” (trang 59).
Khi tra cách viết và khắc của chữ vi (Cổ Văn) ta thấy hình hai
con khỉ trên hình con voi tuy hình vẽ không rõ ràng lắm, theo
‘Tại Tuyến Hán Điển’ trên mạng Internet, và ‘Chinese Characters’
của L. Wieger - cả hai tài liệu này đều ghi vi là ‘khỉ cái’. Để
ý cách đọc vi HV là wèi BK, Hẹ
wui3,
wuị, wi3, wi5 … Còn theo Từ Nguyên thì nghĩa cổ nhất của dự là
“tượng chi đại giả - kiến Thuyết Văn” . Voi giữ một địa vị đặc
biệt trong lịch sử VN : nào là chuyện bà Triệu cỡi voi chống
ngoại xâm, nào là những khi được triều cống cho TH, nào là các
hình phạt cho voi xé xác, voi giày … và hiện diện trong ca dao
thành ngữ như “khoẻ như voi”, “muỗi đốt chân voi”, “chỉ buộc
chân voi”, “được voi đòi tiên”, “trăm voi không được bát nước
xáo”, ”có con gái lớn trong nhà như cỡi đầu voi dữ”, “trời sinh
voi trời sinh cỏ”…v…v.. Hiếm lắm ta mới thấy vài thành ngữ có
voi trong văn hoá TH như “tượng trợ ngọc bôi” (đũa bằng ngà voi
và chén bằng ngọc, chỉ cuộc sống giàu sang) hay “tượng xỉ phần
thân” (voi chết chỉ vì muốn lấy ngà, của cải đem đến nguy hiểm).
(5) Khuynh hướng
mất dần các vết tích của ngôn ngữ phương Nam (thời Bách Việt về
sau) đồng thời với khuynh hướng bành trướng của lãnh thổ TH và
các đợt di dân cùng pha trộn với dân bản địa trên lưu vực sông
Hồng. Các vết tích của tiếng Việt như voi, vịt, cóc, chuồn chuồn
…trong tiếng TH chứng tỏ phần nào nhận định tổng quát này.
Trở về Trang Chính
|