Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp (phần 8)

 

Thìn/Thần – long/rồng

 


 

Nguyễn-Cung Thông (Úc), Thạch Sinh (Đức)

E-Mail: nguyencungthong@khoahoc.net

04 tháng 10 năm 2007

 

Thìn/Thần là chi thứ 5 trong 12 thập nhị chi, biểu tượng là con rồng hay long HV. Trong cách nhìn tổng thể của con người cổ đại, Thìn/Thần chỉ thời gian: năm, tháng (tháng Ba), giờ (từ 7 đến 9 giờ sáng) và phương hướng (Đông Đông Nam, ESE – East South East).

Dân tộc Việt luôn tự hào về nguồn gốc con rồng cháu tiên của mình nối liền với huyền thoại Âu Cơ – Lạc Long Quân, cho thấy sự gắn bó từ thời bình minh của văn hoá Việt Nam, cũng như địa vị ưu tú của rồng. Long/rồng còn liên quan đến nông (đồng, ruộng) phản ánh hoạt động kinh tế căn bản của tổ tiên ta – thành ra một chữ rồng đã có bao nhiêu thông tin về nguồn gốc dân tộc – từ văn hoá ngôn ngữ đến kinh tế thời thành lập cộng đồng Việt tộc nguyên thuỷ.

Rồng là loài vật hư cấu duy nhất trong 12 con giáp rất gần gũi với dân ta, và có lẽ cũng đã trở thành truyền thuyết ngay khi 12 con giáp ra đời! Vì thế mà huyền thoại về rồng càng thêm sâu đậm và đa diện: từ ngôn ngữ đến truyền thuyết, lòng tin … từ đông sang tây, hình ảnh rồng luôn luôn tiềm ẩn trong văn hoá dân gian. Điều này phản ánh qua rất nhiều dạng biến âm (và ngay cả hình dạng) của rồng qua các ngôn ngữ vùng Đông Nam Á – xem bảng so sánh cuối bài. Tình huống trở nên rất phức tạp khi người Trung Hoa/TH theo truyền thống ngàn đời cũng tin rằng mình là con cháu rồng tiên, đất đai là xứ rồng và vua là con rồng … Viết về rồng trong văn hoá Á Đông cần ít nhất cả cuốn sách mới công bằng;

Nhưng trong giới hạn nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp, và giới hạn của phương pháp so sánh ngữ âm của ngôn ngữ, người viết sẽ cố gắng tóm tắt các dữ kiện để cho thấy tương quan mật thiết giữa con rồng người Việt và thập nhị chi; Chữ Hán, dùng để ký âm, đã đóng vai trò không nhỏ theo dòng thời gian và duy trì phần nào âm Cổ Việt.

 

1. Giới thiệu tổng quát

Thìn/Thần đã từng chỉ rồng như trong Tả Truyện, Hi Công Ngũ Niên có câu '…long vĩ phục Thìn…' 左傳 僖公五年: "龍尾伏辰", là đuôi rồng phục ở Thìn, tức là rồng làm tượng trưng cho ý gốc của chữ Thìn đó. Theo tác giả Axel Schuessler (University of Hawaii, 2007) cũng vậy: chữ Thìn chỉ loài rồng. Trong sách "ABC Etymological Dictionary of Old Chinese" p.184 tác giả cho biết: "chén … The 5th of the Earthly Branches, identified with the dragon … cf. shèn some kind of a dragon" 25

Theo tự điển Khang Hy thì Thận đó là con trai to lớn: 康熙字典: "車螯是大蛤 一名蜃蜃大者如車輪 島嶼". Điều đáng chú ý là: con trai khổng lồ (tridacna gigas) còn có cách gọi thông thường là: Ngũ trảo kham 五爪蚶. Điều đó cũng ăn khớp với mạch biến âm *khin/khân > thìn và thận (long) > kham > hến – ngoài ra Ngũ trảo nghĩa là 5 móng.

Rõ ràng vào đời Thượng Cổ, TH đã có chữ long để chỉ rồng nhưng lại dùng một chữ khác cho con Giáp tương ứng (ngoại lai) là Thìn/Thần – phần sau còn sẽ xác minh long/rồng cũng chính là từ Việt Cổ mà TH đã mượn; Vấn đề oái ăm là long lại nhập ngược vào tiếng Việt (tiếng Hán Việt) từ đời Đường Tống." Có nhiều tài liệu như trên gắn liền rồng với văn hoá TH từ thời Tần đến bây giờ. Còn tộc Việt ra sao?

 

1.1   Sơ lược về nguồn gốc con rồng cháu tiên qua ngôn ngữ

Từ xưa, ta đã có phong tục thờ cúng loài rắn (xem bài phần 7 – Tỵ/rắn) và xâm mình. Từ vua chúa đến thường dân đã có tục thích hình con rồng (thuồng luồng) vào bụng hay đùi cho đến đời vua Trần Anh Tôn1. Các đặc điểm như thờ rắn, huyền thoại về rồng là hai trong 25 đặc tính của đại tộc Bách Việt2. Thật ra thì tục xâm mình đã được ghi nhận trong "Sử Ký" của Tư Mã Thiên 司馬遷, 史記: 趙世家: "夫剪髮文身 錯臂左衽 甌越之民也".

Liên hệ đến loài rồng còn phản ánh qua tên Giao Chỉ – chữ giao viết bằng bộ đầu, giọng Bắc Kinh / BK bây giờ là jiāo so với giọng Quảng Đông / QĐ gau1, Hẹ (Hakka) là kau1 cũng như giọng Minnan (Đài Loan) nghĩa là trao đổi, liền nhau … dùng trong các địa danh như Giao Chỉ 交趾, Giao Châu 交州… Theo người viết giao là một cách ký âm để chỉ tên một dân tộc. Khi chữ giao hài thanh / HT hợp với bộ trùng3 hay bộ ngư thì có nghĩa là con thuồng luồng (một loại rồng): vậy giao có liên hệ đến rồng – tổ tiên của tộc Việt. Âm cổ của giao là *kiêu/*keo (แกว) cũng chính là tên gọi người Việt của các dân tộc láng giềng như Thái, Lào … cũng như các dân tộc thiểu số anh em4. Xem thêm phần dưới nhận xét của tác giả Jerry Norman về liên hệ Thìn/Thần với giao.

Giao / viết bằng bộ nhục hợp với chữ lựu (liù BK, bay cao) nghĩa là keo, chính là dạng âm cổ còn duy trì trong tiếng Việt hiên đại. Giảo (jiăo BK) viết bằng bộ kim hợp với chữ giao là cắt hay dụng cụ cắt mà tiếng Việt còn duy trì dạng cổ là kéo… So sánh các tương quan già-cà , giả-kẻ , giá-cả , giá-kệ , giá-gả , giá-cấy , giảm-kém , giản-kén (chọn), giải-cởi/cổi , giảo-cáo , giái/giới-ghẻ , giải-cua , giác-gạc/góc/còi (xưa thường làm bằng sừng/giác trâu), giáp-kép/kẹp , giang-gông (cùm) …v.v… cho thấy rõ nét liên hệ gi-k.

Không phải ngẫu nhiên mà Sùng Lãm (con của vua Kinh dương, tức là Hùng Vương I) lấy tên là Lạc Long Quân, cũng như tộc Việt coi họ Hồng Bàng là thuỷ tổ: chữ Bàng viết bằng bộ long (con rồng), còn chữ Hồng () có các nghĩa lớn, nước lớn (nước rông), lụt lội… và con của vua Kinh dương – ông tổ của họ Hồng Bàng là Long Quân 龍君. Tóm lại, các dạng âm cổ và cách dùng Giao Chỉ, Giao Châu cũng như loài rồng cùng truyền thuyết đều cho thấy phần nào tương quan mật thiết của tộc Việt và rồng từ thời thượng cổ.

Tuy nhiên vẫn khó tách con rồng Viêt Nam và Trung Hoa/TH, nhất là khi huyền thoại TH đầy rẫy hình ảnh con rồng – nào là Hoàng Đế (vua đầu tiên theo huyền sử TH) khi băng hà trở thành rồng lên trời và do đó niềm tin (TH) mình là con cháu của rồng, nào là những đồ bằng ngọc mang hình Trư Long 豬龍 (rồng có đầu hình con heo) từ văn hoá Hồng Sơn 紅山 (thời đại đồ đá mới/neolithic) – thành ra ta phải đi sâu vào ngôn ngữ để tìm ra thêm các dữ kiện.

 

1.2 Liên hệ ngữ âm mở rộng của rồng/long

Long (Hán Việt/HV) tức là bộ thủ thứ 212 cho thấy địa vị quan trọng của rồng trong văn hoá TH nói riêng và văn hoá Đông phương nói chung.

Giọng BK bây giờ là: lóng/máng ( lóng, lŏng, páng, kān) – so với QĐ là lung2, lung4 và Hẹ liung2, liung3 – Minnan (Đài Loan) là leng5 – Đại Hàn >, >, (r)yong, r/nong, bang và Nhật りゅう ryū/ryuu (), りょう ryō/ryou, ろう rō/rou11 (, ) … Nhìn các vét khắc/viết trên giáp cốt văn, kim văn ở trang cuối ta thấy chữ long tượng hình – giống như một loài có đuôi dài … thật là khác xa với hình dạng của chữ Thìn!

Tiếng Việt có nhiều từ phát âm ra gợi cho ta hình ảnh của đối tượng so với tiếng TH, chữ TH (dựa vào hình) – nói cách khác ta có thể nghe ra hình thay vì nhìn (mặt chữ) thấy hình. Chính chữ long cho thấy hình của con vật cong cong Tác giả Lê Văn Siêu trong cuốn "Nguồn gốc văn học Viêt Nam" (1956) đã ghi lại nhiều trường hợp về tiếng tượng hình. Đây là một trong những tính chất thường gặp của các ngôn ngữ vùng Đông Nam Á nói chung6. Những chữ có âm -ong/-ống thường diễn tả hình dạng không thẳng mà cong cong như long/rồng, lồng, còng (lưng), cồng, trái bóng (trái banh), bong bóng, chong chóng, ròng rọc, cái chòng (hình tròn), lòng vòng, thòng lòng, vòng, cầu vồng (mồng), phồng/phùng, nong (đồ đan hình tròn), nòng, ống, lòng (ruột), họng, gồng, bọng …v.v… hay các biến âm của ong/ông là ung như ủng (phù), thủng, thúng (hình tròn), cung (cây), vung, thung lũng, trũng …v.v…Từ cong trong tiếng Mường, Nùng cũng như tiếng Việt so với kong (Chàm), kong (Khme) … Khi phát âm hai tiếng ròng rọc, người viết có thể hình dung ra ngay hình tượng tròn tròn của đối tượng, so với tiếng hoạt luân 滑輪 (huálún, hay 轆轤 lùlú BK, như là rọc rọc) hay puli, palăng … Ngay trong tiếng TH bây giờ vẫn còn thấy những âm -ong tượng hình như gōng BK (công HV, cây cung), hóng BK (cầu vồng, mống), lóng BK (long HV, rồng), lóng BK (lồng, chuồng so với lung3 QĐ, lung1 Hẹ…), lŏng BK (gò mả, luống đất, đê, bờ ruộng), dòng BK (động HV, hang động, chỗ thủng), / yōng BK (ung, nhọt, mụn lớn)…

Tác giả Trần Ngọc Thêm7 còn đi xa hơn nữa khi đưa ra sự liên hệ của long/rồng với sông (hình dạng thường không thẳng) qua một dạng âm cổ của Đông Nam Á là *krong/krung. Ông dựa phần nào vào các công trình nghiên cứu của các học giả Nga như '…rồng là con vật đặc thù chung cho tất các dân tộc Việt và chính từ đây nó đã đi vào văn hoá TH…' hay '…hình tượng con rồng phát sinh từ Đông Nam Á đã thâm nhập đến những vùng xa xôi nhất của Âu Châu…' (trang 135, sđd).

 

1.3 Rồng trong văn hoá dân gian

Văn hoá cổ Trung Hoa/TH luôn mang hình ảnh rồng, cũng như ước mong của cha mẹ khi sinh con thì 'vọng tử thành long': mong con trở thành 'rồng' hay thành công, nên người. Quá trình biến hoá loài rồng được truyền thuyết8 TH ghi rõ là '… con rắn nước ( huĭ BK, water snake) sau 500 năm trở thành giao , con giao sau 1000 năm trở thành con long , con long sau 500 năm trở thành cầu long /虯龍 (qiú BK, có sừng), cầu long sau 1000 năm trờ thành ứng long 應龍 (có cánh)…'. Ngay cả từ thời Đông Hán, tác giả Hứa Thận đã viết về rồng trong Thuyết Văn Giải Tự 説文解字: " 鱗虫之長 能幽能明 能細能巨 能短能長 春分而登天 秋分而潛淵 …" (rồng là loài động vật có vẩy, lúc ẩn lúc hiện, có thể nhỏ thể to, có khi ngắn có khi dài, mùa xuân thì bay lên trời, thu thì ngâm sâu dưới đầm …) cho thấy rồng thời đó đã là con vật trong huyền thoại mà chẳng ai biết rõ hình dáng chúng ra sao. Liên hệ ngữ âm rắn rồng sẽ được phân tích chi tiết hơn trong phần sau. Ta hãy xem qua các thành ngữ Hán Việt để thấy hình ảnh con rồng tiềm ẩn trong văn hoá TH ra sao

 

Long phụ tiên mẫu 龍父仙母: cha rồng mẹ tiên

Long khẩu đoạt thực 龍口奪食: lấy thức ăn từ miệng rồng, hàm ý phải biết thời thế – lo gặt hái vụ mùa cho đúng lúc trước khi giông bão xẩy ra

Long tinh hổ mãnh 龍精虎猛: khôn như rồng, mạnh như hổ

Long mã tinh thần 龍馬精神: tinh thần mạnh như rồng và ngựa

Long tương hổ bộ 龍驤虎步: rồng đi, cọp bước – hàm ý tướng uy nghi

Ngư chất long văn 魚質龍文: cái vẻ là rồng nhưng chất (bên trong) thì là cá

Ngư long hỗn tạp 魚龍混雜: cá và rồng lẫn lộn (vàng thau lẫn lộn)

Long bàn hổ cứ 龍蟠虎踞: rồng nằm hổ ngồi, chỉ chỗ hiểm yếu

Long đầu xà vĩ 龍頭蛇尾: đầu rồng đuôi rắn, hàm ý trước thịnh sau suy

Đằng giao khởi phượng 騰蛟起鳳: ám chỉ các bậc nhân tài

Giao long đạt thuỷ 蛟龍達水: hàm ý có cơ hội thi thố tài năng

Thi cư nhi long kiến 屍居而龍見 (莊子): ở (khi lánh mặt) thì như thây người chết, khi ra mặt thì như rồng hiện

 

Hình ảnh rồng cũng phảng phất trong văn hoá Việt, dùng để ghi danh mục khoa bảng như học vị tiến sĩ – trong khi hổ tượng trưng cho học vị cử nhân. Rồng liên hệ đến vua từ thời Triệu Quang Phục (đời Lý, thế kỷ VI) rồi cứu Đinh Tiên Hoàng thoát nạn, và từ thời vua Lê Đại Hành qua bản mệnh của vua. Thời vua Lý dựng nghiệp, thủ đô ta thấy rồng bay lên nên gọi là Thăng Long, rồi các địa danh cũng mang hình ảnh rồng như (vịnh) Hạ Long, Bái Tử Long, Kim Long, núi Hàm Rồng, Long Tường, Long Khánh, Long Biên, Vĩnh Long …. Ngay cả trái cây cũng mang hình ảnh rồng như trái thanh long, long nhãn, cây xương rồng… Rồng cũng có mặt trong các quan hệ xã hội qua ca dao tục ngữ

 

                        'Làm trai lấy được vợ hiền

                        Như cầm đồng tiền mua được của ngon

                        Phận gái lấy được chồng khôn

                        Xem bằng cá vược vũ môn hoá rồng'

 

                        'Rồng đến nhà tôm'

 

                        'Trứng rồng lại nở ra rồng

                        Liu điu lại nở ra dòng liu điu'

 

                        'Rồng vàng tắm nước ao tù

                        Người khôn ở với người ngu bực mình'

 

                        'Rồng nằm bể cạn phơi râu

                        Mấy lời anh nói dấu đầu hở đuôi'

 

                        'Rồng đen lấy nước được mùa

                        Rồng trắng lấy nước thì vua đi cày'

(rồng đen có lẽ là trận cuồng phong/tornado xoáy và hút nước từ biển lên tạo thêm nước cho mưa. Rồng trắng có thể là các trận cuồng phong xẩy ra khi không có mây đen báo hiệu trời sắp mưa. Cơn bão gió xoáy (như khi rồng xuất hiện) gọi là 龍捲風 (lóngjuănfēng BK, long quyển HV, còn là: cơn lốc, trốc – tornado / giông tố – hurricane) Thành ra dông (long > nhông – dông/giông) có thể là một dạng ngạc hoá của long giống như lăm-nhăm, lỡ-nhỡ, lú-nhú … Đây là hình ảnh đầu tiên của thiên nhiên mà ta có thể tìm thấy qua chuỗi long-nhông-dông (bão). Có tác giả18 đưa ra giả thuyết rằng rồng liên hệ đến cầu vòng – đều là các hiện tượng trong bầu khí quyển khi trời chuyển mưa.

"Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa"

 

Và các câu nói như 'Đầu rồng, đuôi tôm; Rồng bay phượng múa; Vẽ rồng nên giun…' cho thấy hình ảnh mạnh mẽ, oai hùng và cao thượng của rồng. Thêm vào đó là các từ gắn với vua chúa, uy quyền như long nhan 龍顔 (mặt rồng, dung mạo vua), long phi 龍飛 (rồng bay lên trời, chỉ khi vua lên ngôi), thân thể của vua gọi là long thể, long bào 龍袍 (áo bào thêu rồng của vua mặc), long xa 龍車 (xe vua đi), vua băng hà 崩遐 (qua đời) là long ngự tân biên 龍御新邊 … Trẻ em trai gái vẫn còn trò chơi rồng rắn lên mây cho thấy tư tưởng thiết tha của dân Việt với loài rồng vượt hẳn thời gian, không gian và tuổi tác.

Khác hẳn với phương đông, nơi mà rồng được thờ phụng và đứng đầu trong bốn con vật linh thiêng hay 'tứ linh': long, lân, quy (rùa), phượng' 四靈: 龍麟龜鳳 – con rồng phương tây tiêu biểu cho sức mạnh của ma quỷ và tà ác tối tăm, thường quấy nhiễu và phá hại con người. Các nhân vật như Hercules, St. Michael, St. George, St. Margaret, St. Samson… đã trở nên anh hùng và thần thánh khi giết được loài rồng hung dữ9.

Có lẽ vì biểu tượng tiêu cực đối với phương tây mà con gấu panda (đại hùng miêu) đã được chọn làm một trong 5 con vật lấy khước (mascots) cho Thế Vận Hội 2008 ở thành phố Bắc Kinh – ngoài ra rồng còn tượng trưng cho quyền uy nhà vua (quân chủ) nên cũng không phù hợp với chánh sách của nhà nước TH hiện tại. Một lần nữa, ta lại thấy rồng đã mang những tính chất chính trị thêm vào những khả năng phi thường của loài vật huyền thoại này.

 

2. Phụ âm đầu th- của Thìn/Thần

2.1 Thìn/Thần là các từ HV, giọng BK bây giờ là chén cũng là bộ thủ thứ 161, giọng QĐ là san4, Hẹ là sin2, shin2, shin3 so với Minnan sin5 … đều cho thấy phụ âm đầu lưỡi. Như vậy Thìn/Thần liên hệ với hến trên phương diện âm thanh ra sao?

Phụ âm đầu ch- của chén BK thường tương ứng với tr-, ch- hay s/x- Việt:

 

Giọng BK                   Hán Việt                    QĐ                  Hẹ                   Việt

Chēn, tián                    sân, điền                 can1, zan1       chin1, tien1      giận

Chēn                           thâm, sâm               sam1, cam1     chim2, cun1     châu báu

Chēn                           thân                        san1                 shin1, chun1     kéo (dài ra)

Chén, zhèn                   () trầm                sam2, zam3      chim2, sim3      chìm, đắm

Chén                           thần                        san2, san4        shin2, sin2        bộ trưởng

Chén                           Thìn/Thần               san4                 shin3, sin2        chi thứ 5

Chén                           trần                         can4                chin2                bụi (bậm)

Chén                           Trần                        can4, zan6       -                      họ Trần

Chén, Shèn                  Thầm, Trầm            can4, zan4       chin2, cin2       họ ng. TH

Chèn                           () sấn                  can3                chin5, zhin3      nhân lúc

Chèn, chàn?                 sấm                        cam3               cam5, siam5     tiên tri

Chén(g)                       chanh/tranh             caang2             chang2             cam

Chèn(g), chēng         秤/ xứng, xưng        cen2, cing3      chin5                xứng, xưng

…                               …                               …                    …                    …

 

Hến chữ Nôm10 viết bằng chữ hiến HV, hay bộ +/ HV cho thấy các dạng này còn quá mới so với tuổi đời của tên 12 con giáp!

Trong vốn từ TH bây giờ có chữ ít dùng11, tần số dùng là 36/432067182, đọc là hiển/hiện HV – viết bằng bộ + kiến HT (xiăn BK)- nghĩa là con hến, so với hin2 (QĐ), phụ âm đầu x- rất gần với âm ch- BK cho thấy chúng có thể đã từng có một nguồn gốc chung là k- phản ánh qua cách đọc cổ hơn của kiến HT. Một chữ nữa là Kham HV (hān BK), viết bằng bộ + cam HT, nghĩa là con sò: âm kham cho thấy một dạng khác của hến với phụ âm đầu k- (âm ngạc mềm). Tương tự như tương quan Thân-khọn, ta có thể thành lập một dạng âm cổ phục hồi của Thìn/Thần *khin/khân. (Âm cổ này được người Tàu ghi lại (phiên âm) bằng chữ – về sau mới biến thành âm "Thìn"). Lại còn có chữ kham, khám HV (kān BK) – viết bằng bộ long cũng chính là thành phần HT ghi âm.

Các nhà Hán học trước đây cũng đã thấy liên hệ th-kh này, như học giả Jerry Norman12 đã từng ghi nhận là âm Thìn/Thần từng đọc là *khân qua nhiều dẫn chứng cho thấy phụ âm cuối lưỡi (âm ngạc hầu / velar) đã từng hiện diện. So sánh các dạng trăn, klan / klon (tiếng Môn viết /-nói), klăn (tiếng Chrâu) … ông đưa ra nhận xét về chữ Thần/Thận , dựa vào Khang Hi Tự Điển, nghĩa là một loại giao, hình thù lớn hơn rắn và có sừng như con rồng 康熙字典: '草本' 蛟之屬 其狀亦似蛇而大 有角如龍狀. Cùng với định nghĩa dựa vào Thuyết Văn là 'thìn [ý] nói thận của vạn vật' : 辰者 物之蜃也 ông đưa đến kết luận là có cơ sở để liên hệ Thận với loài rắn.

Dạng thượng cổ *mrjong5 / *brung giải thích được hai dạng lóng / máng BK, mahing là con rồng, tiếng Thà Vựng, và mă'rôông มะโรง tiếng Thái (chỉ năm con rồng) – cách dùng mống để chỉ cầu vồng25 (biến âm m-v như mùi-vị …) cũng rất có thể là do âm cổ mrjong mà ra (tiếng Thái là รุ้ง rûng, hồng HV).

Chữ Mãng (măng BK, mong5 Hẹ/QĐ) là con trăn cũng cho thấy phụ âm m- đầu: Long/Mang < *mrang < *kr(l)ang, còn tiếng Lôlô có chữ LANG là con rắn – thành ra MÃNG = TRĂN (boa, python) … cho thấy thêm bằng chứng liên hệ phương Nam! Dạng thượng cổ mrjong lại không giải thích được âm kham/khám của chữ cho ta thấy âm cổ (hơn nữa) của long/rồng cũng có thể là âm cuối lưỡi (ngạc mềm / hầu) k-. Có lẽ vì vậy mà Baxter đề nghị dạng *C-rjong mà C- không nhất thiết là k-/m-.

Quá trình đơn âm hoá *C-rjong cho ra dạng *ba-sang và cuối cùng là phá-tán (rắn: theo Nguyễn Tài Cẩn "Về tên gọi con rồng của người Việt", đăng trên báo Diễn Đàn 94 bên Pháp, sau đăng lại trong cuốn "Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá" NXB Đại Học Quốc Gia 2001), một dạng ghi Nôm được ghi nhận trong cùng bài viết đó. Theo ông, có 3 trường hợp trong tiếng Việt xuất phát từ chữ , đó là rồng (cổ nhất, vào thời Tây Hán, Đông Hán) sau đó đến thuồng luồng (sơ đến Trung Đường) và cuối cùng là long (cuối đời Đường).

Dạng Hán Thượng Cổ *djơn – được tác giả William G. Boltz13 phục hồi dựa vào kết quả của Li Fang-kuei 李方桂 (1971) và Edwin Pulleyblank (1984) – không có khả năng giải thích được các âm *klăn/tlăn/trăn và thằn lằn, thuồng luồng (đơn âm hoá) của tiếng Việt.

 

2.2 Khuynh hướng 'nghe ra hình' như đã đề cập bên trên (âm -ong chỉ hình cong) còn có thể hiện diện trong cách dùng trăn trở, trằn trọc, lăn (qua lăn lại), lăn lóc … với nhận xét là các âm đầu lưỡi vang r/l gợi hình ảnh linh động (chuyển động) như rung, rụng, lung (lay), lùng (tìm kiếm) … Tương quan giữa âm thanh và hình ảnh đã được nhiều học giả nghiên cứu6, người viết chỉ muốn đưa ra nhận xét về liên hệ các âm tr-, tl-, r-, l- với hình ảnh và đặc tính linh động của đối tượng – tương ứng với hoạt động của lưỡi (cong lên rồi hạ xuống, có khi rung hay lắp láy).

 

3. Nguyên âm i/â của Thìn/Thần

Nguyên âm i và a của Thìn/Thần cũng là âm cổ của chén BK bây giờ – xem bảng so sánh trong phần 2.2 – nguyên âm i hiện diện trong giọng Hẹ so với a của QĐ. Các dạng âm cổ phục hồi đều khá nhất trí về âm i nàỵ5,13 – nên dạng Hán Thượng Cổ của Thìn/Thần thường thấy là *krin, *thrin …

 

4. Thanh điệu

Thanh thứ nhì (second tone, dương bình) giọng BK bây giờ liên hệ đến thanh huyền tiếng HV, hay thang ngang (cùng âm vực) như:

 

Giọng BK       Tiếng HV                               Giọng BK       Tiếng HV

Chén                Thìn/Thần                           Mín                  dân

Hé                   hà (sen)                              Mú                  mô (khuôn đúc)

Huáng              hoàng (vàng)                       Nán                 nam (phương)

Táng                đường                                Nú                  

Tóng                đồng (giống nhau)               Róng                dung (nóng chảy)

Tuán                đoàn                                   …                    …

Xián                 / nhàn

…                    …

 

5. Phụ âm cuối -n của Thìn/Thần

Phụ âm cuối -n của Thìn/Thần cũng hiện diện trong dạng BK chén. Bảng so sánh sau cho thấy liên hệ của âm đầu lưỡi/vang -n ở cuối chữ:

 

Giọng BK       Tiếng HV                   Giọng QĐ       Giọng Hẹ                   Minnan

Tàn                  thán, than (-thở)      taan3               tan5                             than3

Măn                 滿 mãn (đầy)               mun2, mun6     man1, man2…             boan2

Jìn                    cận (gần)                gan6, kan6       kiun1, kiun3                 kin7

Yán, yàn…      ngôn (lời nói)           jin4                  ngien2/ngian3               gian5

Zhèn                trận (-chiến)            zan6, zan2        chin6/cin3                    chun7

Hùn                 hỗn (-loạn)              wan6, gwan2   gun3/kun3…                hun2

Gēn                 căn (rễ)                   gan1                gen1/gien1                   kin1

Diàn                 điện                        din6                 tien5, ten3                    tian7

Àn, è               án, ấn (đè)              on3, ngon3       on5                              an2

…                    …                               …                    …                               …

 

6. Các nhận xét mở rộng về Thần/Thìn

6.1 Như đã thấy từ phần trên, dạng Thần/Thìn HV bây giờ (hay chén BK) có thể từng có âm cuối lưỡi k- và l-, hay kl- qua các dạng klan (tiếng Môn, Kơho…), trăn. Các tổ hợp phụ âm kl- hay gl- của tiếng Hán Cổ đã từng được tác giả Li Fang-kuei phục hồi sau khi so sánh các ngôn ngữ Thái14.

Theo người viết lân cũng là một dạng của long , viết bằng bộ lộc hợp với chữ lân, giọng BK bây giờ là lín. Lân là loài thú hư cấu15 cũng như rồng, có lúc mang một sừng (unicorn, thường gặp trong các huyền thoại tây phương hơn), có lúc mình hươu chân ngựa, có lúc đầu rồng mình trâu, có lúc là hươu cao cổ … Giống cái gọi là lân, giống đực gọi là kỳ . Tục truyền khi kỳ lân 麒麟, loài 'thú nhân đức' theo Thiều Chửu, xuất hiện là có điềm lành, hay thánh nhân xuất hiện. Tục truyền rằng khi Khổng Tử viết kinh Xuân Thu nói đến chuyện bắt được con lân què ngoài đồng thì thôi không viết nữa, thành ra kinh Xuân Thu còn được gọi là Lân Kinh. Lân còn có nghĩa là ngón chân con kỳ lân, con cháu nhà vua hay tôn thất… Lân nhi là đứa con quý – cách dùng lân chỉ tính chất cao thượng, tốt chẳng khác gì cách dùng long – nhưng có lẽ vì long liên hệ đến vua chúa nên lân được dùng thay cho long để tránh đụng chạm:

 

                        'Điềm lành sớm ứng lân nhi một chàng'             (Hoa Tiên)

                        'Loan rằng sử Mã, kinh Lân'                            (Lục Vân Tiên)

 

Múa lân là là phong tục thường thấy trong các ngày hội hè, nhất là tết ở Viêt Nam. Đây là một chứng tích cho thấy lân là biểu tượng tương đương với rồng; Ở TH có múa rồng, múa sư tử, múa phượng … Mũi lân là mũi rộng (to), có lẽ chỉ mũi rồng/rộng chư có ai thấy hình thù con lân bao giờ?

Tại sao lại có hai chữ kỳ lân? Theo người viết thì các chữ này là các dạng đơn âm hoá của một dạng cổ hơn *klan mà đã được đề cập nhiều lần. Khuynh hướng tạo chữ bằng cách đơn âm hoá tổ hợp phụ âm kl- có thể giải thích tại sao ta có các dạng giao (âm cổ là keo) và long, hay cầu (qiú BK, rồng có sừng) và long -/虯龍 cũng như kỳ và lân 麒麟. Đây là những chữ từ thời Thượng Cổ khi ngôn ngữ bắt đầu phát triển, tương tự như các liên hệ còn thấy trong vốn từ HV như khảm/lõm/hãm/hỏm 埳陷, kiểm/liễm/thiểm (má, mặt), khoã/loã (trần), khảo/lão 考老, các/khạc/lạc 各恪落, lộ/cò? , lũ/gù , cũ còn đọc là lũ, … v.v… Tương quan dạng cổ kl- với các dạng bắt đầu bằng k/c- và l- đáng được nghiên cứu sâu xa hơn thay vì chỉ được nhắc đến trong giới hạn của bài viết về chi thứ 5 này.

Quá trình đơn âm hoá cũng xẩy ra khi dùng tiếng Phạn trong thuật ngữ của Phật giáo: Phạn hay Phạm viết bằng bộ mộc và chữ phàm HT có nguồn gốc là Brahma với âm r mất đi. Bà-La-Môn 婆羅門 vẫn còn duy trì âm r với từ gốc Phạn là Brahmana. Các dạng cổ Pha-Lang-Sa, Pháp-Lan-Tây đã trở thành Pháp chính là đơn âm hoá tiếng France. Các dạng phiên âm bây giờ có khuynh hướng duy trì các âm gốc thay vì chỉ có đơn âm như câu-lạc-bộ (từ âm club), cà-lem (từ âm crème, đơn âm hoá thành kem), xì-ke (từ âm scag tiếng Anh), xì-lô (từ âm slow) …

Quá trình đơn âm hoá cũng giải thích được các dạng thằn lằn, thuồng luồng, xuông luống … Nên ghi nhận ở đây là một chữ Hán rất hiếm gặp11 (tần số dùng 65 trên 237243358) viết bằng bộ trùng hợp với chữ vinh , giọng BK bây giờ là róng (蠑螈 róngyuán, con sa giông, một loại kỳ nhông).

Tổ hợp phụ âm kl-, tl- trên còn cho ra một dạng nữa là chằn/giằn, chằng do biến âm tl- > tr- và cuối cùng ngạc hoá thành ch-. Bà chằn (tiếng 'đàng Trong' theo Viêt Nam Tự Điển, 1954) nghĩa là yêu quái, con chằn tinh trong truyện Thạch Sanh. Chằng còn có nghĩa là trương ra và cho thấy mối liên hệ đến lươn, nương và rồng (xem bảng tóm tắt ở cuối trang). Ta còn thấy cách đọc *tlăng là trăng hay giăng/chăng ở Bắc Bộ.

 

6.2 Nếu lân là một dạng của rồng, thì ta không lấy làm lạ với dạng long HV (leng5 Minnan) so với tôn/tông, hay thấy ở một số phương ngữ Trung bộ (Thừa Thiên, Quảng Nam…) không phân biệt -n và -ng. Liên hệ long-rồng còn thấy qua bảng so sánh sau:

 

Tiếng HV                   Giọng BK       Tiếng Đại Hàn           Tiếng Nhật

Long / rồng                  lóng            yong*                          ryuu/ryoo**

Luyện / rèn                  liàn              yon                              ren

Liên / liền / rền             lián              yon                              ren

Li / lìa / rời                   lí, lì              li                                  ri         

Lân (rần rần)                lín               lin                                rin       

Lực / sức / rất / rứt      lì                 ryok                            riki, ryaku

(Sâm / Lâm / rừng        森林 shēnlín     samrim                       shinrin

…v.v…                                              (*ngạc hoá l>j)           (**mất phụ âm cuối -ng)

 

Vì là các phụ âm đầu lưỡi / răng hữu thanh nên r và l rất dễ hoán chuyển cho nhau như trên. Không những thế, lân còn liên hệ đến rắn mà vết tích là chữ liên + HV, viết bằng bộ trùng hợp với chữ liên HT – giọng BK bây giờ là lián, Hẹ là lien2 – nghĩa là (a) con rắn (b) một loại thằn lằn màu đỏ ở Triết Giang… Để ý chữ Nôm viết rắn bằng bộ trùng hợp với chữ lận +. Luận HV viết bằng bộ trùng hợp với chữ luận HT, giọng BK là lún/lùn, nghĩa là bò sát (lăn, lượn) như con rắn … và dĩ nhiên là con lươn với các từ trườn, lượn và lườn đều có liên hệ đến lân/lăn/rắn và dạng cổ hơn *klan/*tlan.

 

6.3 Một cách nhìn khác là xem các chữ mà long (rồng) được dùng làm thành phần HT. Đa số đều đọc là long, lồng… Một biến âm đáng chú ý là lung HV, viết bằng bộ nhĩ (lỗ tai) hợp với chữ long HT, nghĩa là điếc – giọng BK bây giờ là lóng, so với lung2, lung4 (QĐ) và lang5 (Minnan/Đài Loan), theo người viết có thể liên hệ đến lảng (tai). Theo truyền thuyết thì loài rồng không thính tai. (theo Vân Đài Loại Ngữ – của Lê Quý Đôn, bản dịch của Trần Văn Giáp (2006), và bản dịch của Pham Vũ, Lê Hiền (1972) – xuất xứ ở thiên Sinh Tiêu Luận trong Luận Hành của Vương Sung còn phải kiểm tra lại.)

 

6.4 Trở lại với chữ Thìn/Thần , hay chén BK – đây là một cách đọc của chữ đông + rất hiếm viết bằng bộ dương hợp với chữ đông (phương), giọng BK bây giờ là chén, dōng so với dung1 QĐ – nghĩa là con lân (unicorn) 山海經: "其狀如羊 一角一目 目在耳後". Có thể chữ này giải thích được phần nào mối dây liên hệ trực tiếp giữa cách gọi Thần/Thìn (chén BK) với tên con vật hư cấu rồng/lân như đã nói trên.

Không những thế, khi xem cách cấu tạo chữ long ta thấy bên phải là chữ phi viết tắt (), bên trái phía dưới là chữ nhục , và bên trên là chữ lập tắt của chữ đồng HT (說文解字: 從肉飛之形 童省聲): điều này cho phép ta thành lập một dạng cổ hơn là *klan/klon với biến âm kl/tl/tr-đ, xem bài viết riêng về liên hệ tl-/kl-/tr- và đ- như trần-đông-điền //, trọc-đục , trọng-động / … Cách viết giản thể bây giờ không cho ta nhiều dữ kiện như các cách viết xưa kia.

 

Ngoài ra, theo Tả Truyện thuật lại lời của Nguỵ quốc Sử quan Thái Mặc 蔡墨 rằng: 左傳: 昔有 飂叔安甚好帝赐之姓曰董 氏曰豢 …", vào thời xa xưa có một người tên là Liêu Thúc An 飂叔安, rất thích nuôi rồng nên về sau con cháu đời sau của ông được Thuấn đế ban cho họ (tính) Đổng và thị Hoạn (nuôi dưỡng) Long – đây là nguồn gốc của họ Hoạn Long ở TH.

Trong trường hợp này ta thấy các âm Đổng và Long đã tương ứng từ thời Thượng Cổ. …v.v…

Phụ âm đầu lưỡi đ- còn thấy trong tiếng Thái thûng ทุ่ง, rất có thể có liên quan đến chữ đồng (-ruộng).

Ngoài ra còn có cách đọc một chữ rất ít gặp là nông, viết bằng bộ thảo hợp với chữ Thần/Thìn + HT (康熙字典 玉篇: 古文農字) giọng BK bây giờ là chén so với san4 QĐ, nung2 (còn duy trì âm cổ nông)…

Chữ nông 16 thường gặp hơn viết trong bộ điền hợp với chữ Thần/Thìn … cho thấy Thần/Thìn đã từng liên hệ đến nông hay lông/lung , vì thế ta có thể thấy tương quan âm thanh của Thần/Thìn và long (rồng). Để ý cách phát âm l- thành n- ở một số địa phương như Hải Phòng … cũng giống như giọng Hẹ (đọc nông là lung2 hay nung2): các phương ngữ này đã duy trì cách đọc rất cổ của long-nông vậy.