|
Thìn/Thần
辰
là chi thứ 5 trong 12 thập nhị chi, biểu tượng là con rồng hay
long 龍
HV. Trong cách nhìn tổng thể của con người cổ
đại, Thìn/Thần chỉ thời gian: năm, tháng (tháng Ba), giờ (từ 7
đến 9 giờ sáng) và phương hướng (Đông Đông Nam, ESE – East South
East).
Dân tộc Việt luôn tự hào về nguồn gốc con rồng
cháu tiên của mình nối liền với huyền thoại Âu Cơ – Lạc Long
Quân, cho thấy sự gắn bó từ thời bình minh của văn hoá Việt Nam,
cũng như địa vị ưu tú của rồng. Long/rồng còn liên quan
đến nông
農
(đồng, ruộng) phản ánh hoạt động kinh tế căn bản của tổ tiên ta
– thành ra một chữ rồng đã có bao nhiêu thông tin về nguồn gốc
dân tộc – từ văn hoá ngôn ngữ đến kinh tế thời thành lập cộng
đồng Việt tộc nguyên thuỷ.
Rồng là loài vật hư cấu duy nhất trong 12 con
giáp rất gần gũi với dân ta, và có lẽ cũng đã trở thành truyền
thuyết ngay khi 12 con giáp ra đời! Vì thế mà huyền thoại về
rồng càng thêm sâu đậm và đa diện: từ ngôn ngữ đến truyền
thuyết, lòng tin … từ đông sang tây, hình ảnh rồng luôn luôn
tiềm ẩn trong văn hoá dân gian. Điều này phản ánh qua rất nhiều
dạng biến âm (và ngay cả hình dạng) của rồng qua các ngôn ngữ
vùng Đông Nam Á – xem bảng so sánh cuối bài. Tình huống trở nên
rất phức tạp khi người Trung Hoa/TH theo truyền thống ngàn đời
cũng tin rằng mình là con cháu rồng tiên, đất đai là xứ rồng và
vua là con rồng … Viết về rồng trong văn hoá Á Đông cần ít nhất
cả cuốn sách mới công bằng;
Nhưng trong giới hạn nguồn gốc Việt Nam của tên
12 con giáp, và giới hạn của phương pháp so sánh ngữ âm của ngôn
ngữ, người viết sẽ cố gắng tóm tắt các dữ kiện để cho thấy tương
quan mật thiết giữa con rồng người Việt và thập nhị chi; Chữ
Hán, dùng để ký âm, đã đóng vai trò không nhỏ theo dòng thời
gian và duy trì phần nào âm Cổ Việt.
1. Giới thiệu tổng quát
Thìn/Thần
辰
đã từng chỉ rồng như trong Tả Truyện, Hi Công Ngũ Niên có
câu '…long vĩ phục Thìn…' 左傳
僖公五年:
"龍尾伏辰",
là đuôi rồng phục ở Thìn, tức là rồng làm tượng trưng cho ý gốc
của chữ Thìn đó. Theo tác giả Axel Schuessler (University of
Hawaii, 2007) cũng vậy: chữ Thìn chỉ loài rồng. Trong sách "ABC
Etymological Dictionary of Old Chinese" p.184 tác giả cho biết:
"chén 辰
… The 5th of the Earthly Branches, identified with the dragon …
cf. shèn 蜃
some kind of a dragon" 25
Theo tự điển Khang Hy thì Thận
蜃
đó là con trai to lớn: 康熙字典:
"車螯是大蛤
一名蜃 …
蜃大者如車輪
島嶼".
Điều đáng chú ý là: con trai khổng lồ (tridacna gigas) còn có
cách gọi thông thường là: Ngũ trảo kham 五爪蚶.
Điều đó cũng ăn khớp với mạch biến âm *khin/khân > thìn và thận
(long) > kham > hến – ngoài ra Ngũ trảo nghĩa là 5 móng.
Rõ ràng vào đời Thượng Cổ, TH đã có chữ long
龍
để chỉ rồng nhưng lại dùng một chữ khác cho con Giáp tương ứng
(ngoại lai) là Thìn/Thần
辰
– phần sau còn sẽ xác minh long/rồng cũng chính là từ Việt Cổ mà
TH đã mượn; Vấn đề oái ăm là long lại nhập ngược vào tiếng Việt
(tiếng Hán Việt) từ đời Đường Tống." Có nhiều tài liệu như trên
gắn liền rồng với văn hoá TH từ thời Tần đến bây giờ. Còn tộc
Việt ra sao?
1.1
Sơ lược về nguồn gốc con rồng cháu
tiên qua ngôn ngữ
Từ xưa, ta đã có phong tục thờ cúng loài rắn (xem
bài phần 7 – Tỵ/rắn) và xâm mình. Từ vua chúa đến thường dân đã
có tục thích hình con rồng (thuồng luồng) vào bụng hay đùi cho
đến đời vua Trần Anh Tôn1. Các đặc điểm như thờ rắn,
huyền thoại về rồng là hai trong 25 đặc tính của đại tộc Bách
Việt2. Thật ra thì tục xâm mình đã được ghi nhận
trong "Sử Ký" của Tư Mã Thiên
司馬遷,
史記:
趙世家:
"夫剪髮文身
錯臂左衽
甌越之民也".
Liên hệ đến loài rồng còn phản ánh qua tên Giao
Chỉ – chữ giao
交
viết bằng bộ đầu, giọng Bắc Kinh / BK bây giờ là jiāo so với
giọng Quảng Đông / QĐ gau1, Hẹ (Hakka) là kau1 cũng như giọng
Minnan (Đài Loan) nghĩa là trao đổi, liền nhau … dùng trong các
địa danh như Giao Chỉ
交趾,
Giao Châu 交州…
Theo người viết giao là một cách ký âm để chỉ tên một dân tộc.
Khi chữ giao hài thanh / HT hợp với bộ trùng3
蛟
hay bộ ngư 鮫
thì có nghĩa là con thuồng luồng (một loại rồng): vậy giao có
liên hệ đến rồng – tổ tiên của tộc Việt. Âm cổ của giao là
*kiêu/*keo (แกว)
cũng chính là tên gọi người Việt của các dân tộc láng giềng như
Thái, Lào … cũng như các dân tộc thiểu số anh em4.
Xem thêm phần dưới nhận xét của tác giả Jerry Norman về liên hệ
Thìn/Thần với giao.
Giao
胶/膠
viết bằng bộ nhục hợp với chữ lựu
翏
(liù BK, bay cao) nghĩa là keo, chính
là dạng âm cổ còn duy trì trong tiếng Việt hiên đại. Giảo
鉸
(jiăo BK) viết bằng bộ kim hợp với chữ giao là cắt hay dụng cụ
cắt mà tiếng Việt còn duy trì dạng cổ là kéo… So sánh các
tương quan già-cà 茄,
giả-kẻ 者,
giá-cả 賈,
giá-kệ 架,
giá-gả 嫁,
giá-cấy 稼,
giảm-kém 减,
giản-kén 揀
(chọn), giải-cởi/cổi 解,
giảo-cáo 狡,
giái/giới-ghẻ 疥,
giải-cua 蟹,
giác-gạc/góc/còi 角
(xưa thường làm bằng sừng/giác trâu), giáp-kép/kẹp
夾,
giang-gông 杠
(cùm) …v.v… cho thấy rõ nét liên hệ gi-k.
Không phải ngẫu nhiên mà Sùng Lãm (con của vua
Kinh dương, tức là Hùng Vương I) lấy tên là Lạc Long Quân, cũng
như tộc Việt coi họ Hồng Bàng là thuỷ tổ: chữ Bàng
龐
viết bằng bộ long (con rồng), còn chữ Hồng
鴻
(洪)
có các nghĩa lớn, nước lớn (nước rông), lụt lội… và con
của vua Kinh dương – ông tổ của họ Hồng Bàng là Long Quân
龍君.
Tóm lại, các dạng âm cổ và cách dùng Giao Chỉ, Giao Châu cũng
như loài rồng cùng truyền thuyết đều cho thấy phần nào tương
quan mật thiết của tộc Việt và rồng từ thời thượng cổ.
Tuy nhiên vẫn khó tách con rồng Viêt Nam và Trung
Hoa/TH, nhất là khi huyền thoại TH đầy rẫy hình ảnh con rồng –
nào là Hoàng Đế (vua đầu tiên theo huyền sử TH) khi băng hà trở
thành rồng lên trời và do đó niềm tin (TH) mình là con cháu của
rồng, nào là những đồ bằng ngọc mang hình Trư Long
豬龍
(rồng có đầu hình con heo) từ văn hoá Hồng Sơn
紅山
(thời đại đồ đá mới/neolithic) – thành ra ta phải đi sâu vào
ngôn ngữ để tìm ra thêm các dữ kiện.
1.2 Liên hệ ngữ âm mở rộng của rồng/long
Long
龍
(Hán Việt/HV) tức là bộ thủ thứ 212 cho thấy địa vị quan trọng
của rồng trong văn hoá TH nói riêng và văn hoá Đông phương nói
chung.
Giọng BK bây giờ là:
龍
lóng/máng (聾
lóng, 壟
lŏng,
龐
páng,
龕
kān) – so với QĐ là lung2, lung4 và Hẹ liung2, liung3 – Minnan
(Đài Loan) là leng5 – Đại Hàn
룡>용,
롱>농,
방
(r)yong,
r/nong, bang và Nhật りゅう
ryū/ryuu (竜),
りょう
ryō/ryou, ろう
rō/rou11
(聾,
壟)
… Nhìn các vét khắc/viết trên giáp cốt văn, kim văn ở
trang cuối ta thấy chữ long
龍
tượng hình – giống như một loài có đuôi dài … thật là khác xa
với hình dạng của chữ Thìn!
Tiếng Việt có nhiều từ phát âm ra gợi cho ta hình
ảnh của đối tượng so với tiếng TH, chữ TH (dựa vào hình) – nói
cách khác ta có thể nghe ra hình thay vì nhìn (mặt chữ)
thấy hình. Chính chữ long cho thấy hình của con vật cong cong
Tác giả Lê Văn Siêu trong cuốn "Nguồn gốc văn học Viêt Nam"
(1956) đã ghi lại nhiều trường hợp về tiếng tượng hình. Đây là
một trong những tính chất thường gặp của các ngôn ngữ vùng Đông
Nam Á nói chung6. Những chữ có âm -ong/-ống
thường diễn tả hình dạng không thẳng mà cong cong như long/rồng,
lồng, còng (lưng), cồng, trái bóng (trái banh), bong bóng, chong
chóng, ròng rọc, cái chòng (hình tròn), lòng vòng, thòng lòng,
vòng, cầu vồng (mồng), phồng/phùng, nong (đồ đan hình tròn),
nòng, ống, lòng (ruột), họng, gồng, bọng …v.v… hay các biến âm
của ong/ông là ung như ủng (phù), thủng, thúng (hình tròn), cung
(cây), vung, thung lũng, trũng …v.v…Từ cong trong tiếng Mường,
Nùng cũng như tiếng Việt so với kong (Chàm), kong (Khme) … Khi
phát âm hai tiếng ròng rọc, người viết có thể hình dung
ra ngay hình tượng tròn tròn của đối tượng, so với tiếng hoạt
luân
滑輪
(huálún, hay 轆轤
lùlú BK, như là rọc rọc) hay puli, palăng … Ngay trong tiếng TH
bây giờ vẫn còn thấy những âm -ong tượng hình như
弓
gōng BK (công HV, cây cung),
虹
hóng BK (cầu vồng, mống),
龍
lóng BK (long HV, rồng),
籠
lóng BK (lồng, chuồng so với lung3 QĐ, lung1 Hẹ…),
壟
lŏng BK (gò mả, luống đất, đê, bờ ruộng),
洞
dòng BK (động HV, hang động, chỗ thủng),
癰/痈
yōng BK (ung, nhọt, mụn lớn)…
Tác giả Trần Ngọc Thêm7 còn đi xa hơn
nữa khi đưa ra sự liên hệ của long/rồng với sông (hình dạng
thường không thẳng) qua một dạng âm cổ của Đông Nam Á là
*krong/krung. Ông dựa phần nào vào các công trình nghiên cứu
của các học giả Nga như '…rồng là con vật đặc thù chung cho tất
các dân tộc Việt và chính từ đây nó đã đi vào văn hoá TH…' hay
'…hình tượng con rồng phát sinh từ Đông Nam Á đã thâm nhập đến
những vùng xa xôi nhất của Âu Châu…' (trang 135, sđd).
1.3 Rồng trong văn hoá dân gian
Văn hoá cổ Trung Hoa/TH luôn mang hình ảnh rồng,
cũng như ước mong của cha mẹ khi sinh con thì 'vọng tử thành
long': mong con trở thành 'rồng' hay thành công, nên người.
Quá trình biến hoá loài rồng được truyền thuyết8 TH
ghi rõ là '… con rắn nước (虺
huĭ BK, water snake) sau 500 năm trở thành giao 蛟,
con giao sau 1000 năm trở thành con long 龍,
con long sau 500 năm trở thành cầu long 虬/虯龍
(qiú BK, có sừng), cầu long sau 1000 năm trờ thành ứng long
應龍
(có cánh)…'. Ngay cả từ thời Đông Hán, tác giả Hứa Thận
許慎
đã viết về rồng trong Thuyết Văn Giải Tự 説文解字:
"龍 鱗虫之長
能幽能明
能細能巨 能短能長
春分而登天
秋分而潛淵
…" (rồng là loài động
vật có vẩy, lúc ẩn lúc hiện, có thể nhỏ thể to, có khi ngắn có
khi dài, mùa xuân thì bay lên trời, thu thì ngâm sâu dưới đầm …)
cho thấy rồng thời đó đã là con vật trong huyền thoại mà chẳng
ai biết rõ hình dáng chúng ra sao. Liên hệ ngữ âm rắn rồng sẽ
được phân tích chi tiết hơn trong phần sau. Ta hãy xem qua các
thành ngữ Hán Việt để thấy hình ảnh con rồng tiềm ẩn trong văn
hoá TH ra sao
Long phụ tiên mẫu
龍父仙母:
cha rồng mẹ tiên
Long khẩu đoạt thực
龍口奪食:
lấy thức ăn từ miệng rồng, hàm ý phải biết thời thế – lo gặt hái
vụ mùa cho đúng lúc trước khi giông bão xẩy ra
Long tinh hổ mãnh
龍精虎猛:
khôn như rồng, mạnh như hổ
Long mã tinh thần
龍馬精神:
tinh thần mạnh như rồng và ngựa
Long tương hổ bộ
龍驤虎步:
rồng đi, cọp bước – hàm ý tướng uy nghi
Ngư chất long văn
魚質龍文:
cái vẻ là rồng nhưng chất (bên trong) thì là cá
Ngư long hỗn tạp
魚龍混雜:
cá và rồng lẫn lộn (vàng thau lẫn lộn)
Long bàn hổ cứ
龍蟠虎踞:
rồng nằm hổ ngồi, chỉ chỗ hiểm yếu
Long đầu xà vĩ
龍頭蛇尾:
đầu rồng đuôi rắn, hàm ý trước thịnh sau suy
Đằng giao khởi phượng
騰蛟起鳳:
ám chỉ các bậc nhân tài
Giao long đạt thuỷ
蛟龍達水:
hàm ý có cơ hội thi thố tài năng
Thi cư nhi long kiến
屍居而龍見
(莊子):
ở (khi lánh mặt) thì như thây người chết, khi ra mặt thì như
rồng hiện
Hình ảnh rồng cũng phảng phất trong văn hoá Việt,
dùng để ghi danh mục khoa bảng như học vị tiến sĩ – trong khi hổ
tượng trưng cho học vị cử nhân. Rồng liên hệ đến vua từ thời
Triệu Quang Phục (đời Lý, thế kỷ VI) rồi cứu Đinh Tiên Hoàng
thoát nạn, và từ thời vua Lê Đại Hành qua bản mệnh của vua. Thời
vua Lý dựng nghiệp, thủ đô ta thấy rồng bay lên nên gọi là Thăng
Long, rồi các địa danh cũng mang hình ảnh rồng như (vịnh) Hạ
Long, Bái Tử Long, Kim Long, núi Hàm Rồng, Long Tường, Long
Khánh, Long Biên, Vĩnh Long …. Ngay cả trái cây cũng mang hình
ảnh rồng như trái thanh long, long nhãn, cây xương rồng… Rồng
cũng có mặt trong các quan hệ xã hội qua ca dao tục ngữ
'Làm trai lấy được vợ
hiền
Như cầm đồng tiền mua
được của ngon
Phận gái lấy được chồng
khôn
Xem bằng cá vược vũ môn
hoá rồng'
'Rồng đến nhà tôm'
'Trứng rồng lại nở ra
rồng
Liu điu lại nở ra dòng
liu điu'
'Rồng vàng tắm nước ao tù
Người khôn ở với người
ngu bực mình'
'Rồng nằm bể cạn phơi râu
Mấy lời anh nói dấu đầu
hở đuôi'
'Rồng đen lấy nước được
mùa
Rồng trắng lấy nước thì
vua đi cày'
(rồng đen có lẽ là trận cuồng phong/tornado xoáy
và hút nước từ biển lên tạo thêm nước cho mưa. Rồng trắng có thể
là các trận cuồng phong xẩy ra khi không có mây đen báo hiệu
trời sắp mưa. Cơn bão gió xoáy (như khi rồng xuất hiện) gọi là
龍捲風
(lóngjuănfēng
BK, long quyển HV, còn là: cơn lốc, trốc –
tornado / giông tố –
hurricane) Thành ra dông (long > nhông – dông/giông) có
thể là một dạng ngạc hoá của long giống như lăm-nhăm, lỡ-nhỡ,
lú-nhú … Đây là hình ảnh đầu tiên của thiên nhiên mà ta có thể
tìm thấy qua chuỗi long-nhông-dông (bão). Có tác giả18
đưa ra giả thuyết rằng rồng liên hệ đến cầu vòng – đều là các
hiện tượng trong bầu khí quyển khi trời chuyển mưa.
"Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo
mửa"
Và các câu nói như 'Đầu rồng, đuôi tôm; Rồng bay
phượng múa; Vẽ rồng nên giun…' cho thấy hình ảnh mạnh mẽ, oai
hùng và cao thượng của rồng. Thêm vào đó là các từ gắn với vua
chúa, uy quyền như long nhan
龍顔
(mặt rồng, dung mạo vua), long phi
龍飛
(rồng bay lên trời, chỉ khi vua lên ngôi), thân thể của vua gọi
là long thể, long bào
龍袍
(áo bào thêu rồng của vua mặc), long xa
龍車
(xe vua đi), vua băng hà 崩遐
(qua đời) là long ngự tân biên
龍御新邊
… Trẻ em trai gái vẫn còn trò chơi rồng rắn lên mây cho thấy tư
tưởng thiết tha của dân Việt với loài rồng vượt hẳn thời gian,
không gian và tuổi tác.
Khác hẳn với phương đông, nơi mà rồng được thờ
phụng và đứng đầu trong bốn con vật linh thiêng hay 'tứ linh':
long, lân, quy (rùa), phượng' 四靈:
龍麟龜鳳
– con rồng phương tây tiêu biểu cho sức mạnh của ma quỷ và tà ác
tối tăm, thường quấy nhiễu và phá hại con người. Các nhân vật
như Hercules, St. Michael, St. George, St. Margaret, St. Samson…
đã trở nên anh hùng và thần thánh khi giết được loài rồng hung
dữ9.
Có lẽ vì biểu tượng tiêu cực đối với phương tây
mà con gấu panda (đại hùng miêu) đã được chọn làm một trong 5
con vật lấy khước (mascots) cho Thế Vận Hội 2008 ở thành phố Bắc
Kinh – ngoài ra rồng còn tượng trưng cho quyền uy nhà vua (quân
chủ) nên cũng không phù hợp với chánh sách của nhà nước TH hiện
tại. Một lần nữa, ta lại thấy rồng đã mang những tính chất chính
trị thêm vào những khả năng phi thường của loài vật huyền thoại
này.
2. Phụ âm đầu th- của Thìn/Thần
2.1 Thìn/Thần
辰
là các từ HV, giọng BK bây giờ là chén cũng là bộ
thủ thứ 161, giọng QĐ là san4, Hẹ là sin2, shin2, shin3 so với
Minnan sin5 … đều cho thấy phụ âm đầu lưỡi. Như vậy Thìn/Thần
liên hệ với hến trên phương diện âm thanh ra sao?
Phụ âm đầu ch- của chén BK thường tương ứng với
tr-, ch- hay s/x- Việt:
Giọng BK Hán
Việt QĐ Hẹ
Việt
Chēn, tián
嗔
sân, điền can1, zan1 chin1,
tien1 giận
Chēn
琛
thâm,
sâm sam1, cam1 chim2, cun1
châu báu
Chēn
抻
thân san1
shin1, chun1 kéo (dài ra)
Chén, zhèn
沉
(沈)
trầm sam2, zam3 chim2,
sim3 chìm, đắm
Chén
臣
thần san2, san4
shin2, sin2 bộ trưởng
Chén
辰
Thìn/Thần san4
shin3, sin2 chi thứ 5
Chén
塵
trần can4
chin2 bụi (bậm)
Chén
陳
Trần can4,
zan6 - họ Trần
Chén, Shèn
諶
Thầm, Trầm can4, zan4 chin2,
cin2 họ ng. TH
Chèn
趁
(趂)
sấn can3 chin5,
zhin3 nhân lúc
Chèn, chàn?
讖
sấm cam3
cam5, siam5 tiên tri
Chén(g)
橙
chanh/tranh
caang2 chang2 cam
Chèn(g), chēng
秤/稱
xứng, xưng cen2, cing3
chin5 xứng, xưng
…
… …
… …
Hến chữ Nôm10 viết bằng chữ hiến
獻
HV, hay bộ 虫+憲/獻
HV cho thấy các dạng này còn quá mới so với tuổi đời của tên 12
con giáp!
Trong vốn từ TH bây giờ có chữ
蜆
ít dùng11,
tần số dùng là 36/432067182, đọc là hiển/hiện HV – viết bằng bộ
虫+見
kiến
HT (xiăn
BK)- nghĩa là con hến, so với hin2 (QĐ), phụ âm đầu x- rất gần
với âm ch- BK cho thấy chúng có thể đã từng có một nguồn gốc
chung là k- phản ánh qua cách đọc cổ hơn của kiến HT. Một chữ
nữa là Kham 蚶
HV (hān BK), viết bằng bộ 虫+甘
cam
HT,
nghĩa là con sò: âm kham cho thấy một dạng khác của hến với phụ
âm đầu k- (âm ngạc mềm). Tương tự như tương quan Thân-khọn, ta
có thể thành lập một dạng âm cổ phục hồi của Thìn/Thần là
*khin/khân. (Âm cổ này được người Tàu ghi lại (phiên âm)
bằng chữ 辰
– về sau mới biến thành âm "Thìn"). Lại còn có chữ
龕
kham, khám HV (kān BK) – viết bằng bộ long
龍
cũng chính là thành phần HT ghi âm.
Các nhà Hán học trước đây cũng đã thấy liên hệ
th-kh này, như học giả Jerry Norman12 đã từng ghi
nhận là âm Thìn/Thần từng đọc là *khân qua nhiều dẫn
chứng cho thấy phụ âm cuối lưỡi (âm ngạc hầu / velar) đã từng
hiện diện. So sánh các dạng trăn, klan / klon (tiếng Môn
viết /-nói), klăn (tiếng Chrâu) … ông đưa ra nhận xét về chữ
Thần/Thận 蜃,
dựa vào Khang Hi Tự Điển, nghĩa là một loại giao, hình thù lớn
hơn rắn và có sừng như con rồng 康熙字典:
又
'草本'
蜃 蛟之屬
其狀亦似蛇而大
有角如龍狀.
Cùng với định nghĩa dựa vào Thuyết Văn là 'thìn [ý] nói thận của
vạn vật' 說文:
辰者 言萬物之蜃也
ông đưa đến kết luận là có cơ sở để liên hệ Thận với loài rắn.
Dạng thượng cổ *mrjong5 / *brung
giải thích được hai dạng
龍
lóng / máng
BK, mahing là con rồng, tiếng Thà Vựng, và mă'rôông
มะโรง
tiếng Thái (chỉ năm con rồng) – cách dùng mống để chỉ cầu
vồng25 (biến âm m-v như mùi-vị …) cũng rất có thể là
do âm cổ mrjong mà ra (tiếng Thái là
รุ้ง
rûng, hồng 虹
HV).
Chữ Mãng
蟒
(măng BK, mong5 Hẹ/QĐ) là con trăn cũng cho thấy phụ âm m- đầu:
Long/Mang < *mrang < *kr(l)ang, còn tiếng Lôlô có chữ LANG là
con rắn – thành ra MÃNG = TRĂN (boa, python) … cho thấy
thêm bằng chứng liên hệ phương Nam! Dạng thượng cổ mrjong lại
không giải thích được âm kham/khám của chữ
龕
–
cho ta thấy âm cổ (hơn nữa) của long/rồng cũng có
thể là âm cuối lưỡi (ngạc mềm / hầu) k-. Có lẽ vì vậy mà Baxter
đề nghị dạng *C-rjong mà C- không nhất thiết là k-/m-.
Quá trình đơn âm hoá *C-rjong cho ra dạng *ba-sang
và cuối cùng là phá-tán (rắn: theo Nguyễn Tài Cẩn "Về tên
gọi con rồng của người Việt", đăng trên báo Diễn Đàn 94 bên
Pháp, sau đăng lại trong cuốn "Một số chứng tích về ngôn ngữ,
văn tự và văn hoá" NXB Đại Học Quốc Gia 2001), một dạng ghi Nôm
được ghi nhận trong cùng bài viết đó. Theo ông, có 3 trường hợp
trong tiếng Việt xuất phát từ chữ
龍,
đó là rồng (cổ nhất, vào thời Tây Hán, Đông Hán) sau đó
đến thuồng luồng (sơ đến Trung Đường) và cuối cùng là
long (cuối đời Đường).
Dạng Hán Thượng Cổ *djơn – được tác giả William
G. Boltz13 phục hồi dựa vào kết quả của Li Fang-kuei
李方桂
(1971) và Edwin Pulleyblank (1984) – không có khả năng giải
thích được các âm *klăn/tlăn/trăn và thằn lằn, thuồng luồng (đơn
âm hoá) của tiếng Việt.
2.2 Khuynh hướng 'nghe ra hình' như đã đề cập bên
trên (âm -ong chỉ hình cong) còn có thể hiện diện trong cách
dùng trăn trở, trằn trọc, lăn (qua lăn lại), lăn lóc … với nhận
xét là các âm đầu lưỡi vang r/l gợi hình ảnh linh động (chuyển
động) như rung, rụng, lung (lay), lùng (tìm kiếm) … Tương quan
giữa âm thanh và hình ảnh đã được nhiều học giả nghiên cứu6,
người viết chỉ muốn đưa ra nhận xét về liên hệ các âm tr-, tl-,
r-, l- với hình ảnh và đặc tính linh động của đối tượng – tương
ứng với hoạt động của lưỡi (cong lên rồi hạ xuống, có khi rung
hay lắp láy).
3. Nguyên âm i/â của Thìn/Thần
Nguyên âm i và a của Thìn/Thần cũng là âm cổ của
辰
chén BK bây giờ – xem bảng so sánh trong phần 2.2 – nguyên âm i
hiện diện trong giọng Hẹ so với a của QĐ. Các dạng âm cổ phục
hồi đều khá nhất trí về âm i nàỵ5,13 – nên dạng Hán
Thượng Cổ của Thìn/Thần thường thấy là *krin, *thrin …
4. Thanh điệu
Thanh thứ nhì (second tone, dương bình) giọng BK
bây giờ liên hệ đến thanh huyền tiếng HV, hay thang ngang (cùng
âm vực) như:
Giọng BK Tiếng
HV Giọng BK Tiếng HV
Chén
辰
Thìn/Thần Mín
民
dân
Hé
荷
hà (sen) Mú
模
mô (khuôn đúc)
Huáng
黃
hoàng (vàng) Nán
南
nam (phương)
Táng
唐
đường Nú
奴
nô
Tóng
同
đồng (giống nhau) Róng
熔
dung (nóng chảy)
Tuán
團
đoàn … …
Xián
閑/閒
nhàn
… …
5. Phụ âm cuối -n của Thìn/Thần
Phụ âm cuối -n của Thìn/Thần cũng hiện diện trong
dạng BK chén. Bảng so sánh sau cho thấy liên hệ của âm đầu
lưỡi/vang -n ở cuối chữ:
Giọng BK Tiếng HV Giọng
QĐ Giọng Hẹ Minnan
Tàn
歎
thán, than (-thở) taan3
tan5 than3
Măn
滿
mãn (đầy) mun2, mun6 man1, man2…
boan2
Jìn
近
cận (gần) gan6, kan6 kiun1,
kiun3 kin7
Yán, yàn…
言
ngôn (lời nói) jin4
ngien2/ngian3 gian5
Zhèn
陣
trận (-chiến) zan6, zan2
chin6/cin3 chun7
Hùn
混
hỗn (-loạn) wan6, gwan2 gun3/kun3…
hun2
Gēn
根
căn (rễ) gan1
gen1/gien1 kin1
Diàn
電
điện din6 tien5,
ten3 tian7
Àn, è
按
án, ấn (đè) on3, ngon3
on5 an2
…
… …
… …
6. Các nhận xét mở rộng về Thần/Thìn
6.1 Như đã thấy từ phần trên, dạng Thần/Thìn HV
bây giờ (hay chén BK) có thể từng có âm cuối lưỡi k- và l-, hay
kl- qua các dạng klan (tiếng Môn, Kơho…), trăn.
Các tổ hợp phụ âm kl- hay gl- của tiếng Hán Cổ đã từng được tác
giả Li Fang-kuei phục hồi sau khi so sánh các ngôn ngữ Thái14.
Theo người viết lân
麟
cũng là một dạng của long
龍,
viết bằng bộ lộc hợp với chữ lân, giọng BK bây giờ là lín. Lân
là loài thú hư cấu15 cũng như rồng, có lúc mang một
sừng (unicorn, thường gặp trong các huyền thoại tây phương hơn),
có lúc mình hươu chân ngựa, có lúc đầu rồng mình trâu, có lúc là
hươu cao cổ … Giống cái gọi là lân, giống đực gọi là kỳ
麒.
Tục truyền khi kỳ lân
麒麟,
loài 'thú nhân đức' theo Thiều Chửu, xuất hiện là có điềm lành,
hay thánh nhân xuất hiện. Tục truyền rằng khi Khổng Tử viết kinh
Xuân Thu nói đến chuyện bắt được con lân què ngoài đồng thì thôi
không viết nữa, thành ra kinh Xuân Thu còn được gọi là Lân Kinh.
Lân còn có nghĩa là ngón chân con kỳ lân, con cháu nhà vua hay
tôn thất… Lân nhi là đứa con quý – cách dùng lân chỉ tính chất
cao thượng, tốt chẳng khác gì cách dùng long – nhưng có lẽ vì
long liên hệ đến vua chúa nên lân được dùng thay cho long để
tránh đụng chạm:
'Điềm lành sớm ứng lân
nhi một chàng' (Hoa Tiên)
'Loan rằng sử Mã, kinh
Lân' (Lục Vân Tiên)
Múa lân
là là phong tục thường thấy trong các ngày hội hè, nhất là tết ở
Viêt Nam. Đây là một chứng tích cho thấy lân là biểu tượng tương
đương với rồng; Ở TH có múa rồng, múa sư tử, múa phượng … Mũi
lân là mũi rộng (to), có lẽ chỉ mũi rồng/rộng chư có ai thấy
hình thù con lân bao giờ?
Tại sao lại có hai chữ kỳ lân? Theo người viết
thì các chữ này là các dạng đơn âm hoá của một dạng cổ hơn *klan
mà đã được đề cập nhiều lần. Khuynh hướng tạo chữ bằng cách đơn
âm hoá tổ hợp phụ âm kl- có thể giải thích tại sao ta có các
dạng giao
蛟
(âm cổ là keo) và long, hay cầu
虯
(qiú BK, rồng có sừng) và long
蛟-/虯龍
cũng như kỳ và lân
麒麟.
Đây là những chữ từ thời Thượng Cổ khi ngôn ngữ bắt đầu phát
triển, tương tự như các liên hệ còn thấy trong vốn từ HV như
khảm/lõm/hãm/hỏm 埳陷,
kiểm/liễm/thiểm 臉
(má, mặt), khoã/loã
裸
(trần), khảo/lão 考老,
các/khạc/lạc 各恪落,
lộ/cò? 鷺,
lũ/gù 僂,
cũ 窶
còn đọc là lũ, … v.v… Tương quan dạng cổ kl- với các dạng bắt
đầu bằng k/c- và l- đáng được nghiên cứu sâu xa hơn thay vì chỉ
được nhắc đến trong giới hạn của bài viết về chi thứ 5 này.
Quá trình đơn âm hoá cũng xẩy ra khi dùng tiếng
Phạn trong thuật ngữ của Phật giáo: Phạn hay Phạm
梵
viết bằng bộ mộc 木
và chữ phàm 凡
HT có nguồn gốc là Brahma với âm r mất đi. Bà-La-Môn
婆羅門
vẫn còn duy trì âm r với từ gốc Phạn là Brahmana. Các dạng cổ
Pha-Lang-Sa, Pháp-Lan-Tây đã trở thành Pháp chính là đơn âm hoá
tiếng France. Các dạng phiên âm bây giờ có khuynh hướng duy trì
các âm gốc thay vì chỉ có đơn âm như câu-lạc-bộ (từ âm club),
cà-lem (từ âm crème, đơn âm hoá thành kem), xì-ke (từ âm scag
tiếng Anh), xì-lô (từ âm slow) …
Quá trình đơn âm hoá cũng giải thích được các
dạng thằn lằn, thuồng luồng, xuông luống … Nên ghi nhận
蠑
ở đây là một chữ Hán rất hiếm gặp11
(tần số dùng 65 trên 237243358) viết bằng bộ trùng
虫
hợp với chữ vinh 榮,
giọng BK bây giờ là róng (蠑螈
róngyuán, con sa giông, một loại kỳ nhông).
Tổ hợp phụ âm kl-, tl- trên còn cho ra một dạng
nữa là chằn/giằn, chằng do biến âm tl- > tr- và cuối cùng
ngạc hoá thành ch-. Bà chằn (tiếng 'đàng Trong' theo Viêt Nam Tự
Điển, 1954) nghĩa là yêu quái, con chằn tinh trong truyện Thạch
Sanh. Chằng còn có nghĩa là trương ra và cho thấy mối liên hệ
đến lươn, nương và rồng (xem bảng tóm tắt ở cuối trang). Ta còn
thấy cách đọc *tlăng là trăng hay giăng/chăng ở Bắc Bộ.
6.2 Nếu lân là một dạng của rồng, thì ta không
lấy làm lạ với dạng long HV (leng5 Minnan) so với tôn/tông, hay
thấy ở một số phương ngữ Trung bộ (Thừa Thiên, Quảng Nam…) không
phân biệt -n và -ng. Liên hệ long-rồng còn thấy qua bảng so sánh
sau:
Tiếng HV Giọng BK Tiếng
Đại Hàn Tiếng Nhật
Long / rồng
龍
lóng yong*
ryuu/ryoo**
Luyện / rèn
鍊
liàn
yon ren
Liên / liền / rền
連
lián
yon ren
Li / lìa / rời
離
lí, lì
li ri
Lân (rần rần)
轔
lín
lin rin
Lực / sức / rất / rứt
力
lì
ryok riki, ryaku
(Sâm / Lâm / rừng
森林
shēnlín samrim shinrin
…v.v… (*ngạc hoá
l>j) (**mất phụ âm cuối -ng)
Vì là các phụ âm đầu lưỡi / răng hữu thanh nên r
và l rất dễ hoán chuyển cho nhau như trên. Không những thế,
lân
麟
còn
liên hệ đến rắn mà vết tích là chữ liên
虫+連
HV,
viết bằng bộ trùng hợp với chữ liên
HT – giọng BK bây giờ là lián, Hẹ là lien2 – nghĩa là (a)
con rắn (b) một loại thằn lằn màu đỏ ở Triết Giang… Để ý chữ Nôm
viết rắn bằng bộ trùng hợp với chữ lận
虫+吝.
Luận HV viết bằng bộ trùng hợp với chữ luận
蜦
HT, giọng BK là lún/lùn, nghĩa là bò sát (lăn,
lượn) như con rắn … và dĩ nhiên là con lươn với các từ
trườn, lượn và lườn đều có liên hệ đến lân/lăn/rắn và dạng cổ
hơn *klan/*tlan.
6.3 Một cách nhìn khác là xem các chữ mà long
龍
(rồng) được dùng làm thành phần HT. Đa số đều đọc là long, lồng…
Một biến âm đáng chú ý là lung
聾
HV, viết bằng bộ nhĩ (lỗ tai) hợp với chữ long
HT, nghĩa là điếc – giọng BK bây giờ là lóng, so với lung2,
lung4 (QĐ) và lang5 (Minnan/Đài Loan), theo người viết có thể
liên hệ đến lảng (tai). Theo truyền thuyết thì loài rồng không
thính tai. (theo Vân Đài Loại Ngữ – của Lê Quý Đôn, bản dịch của
Trần Văn Giáp (2006), và bản dịch của Pham Vũ, Lê Hiền (1972) –
xuất xứ ở thiên Sinh Tiêu Luận trong Luận Hành của Vương Sung
còn phải kiểm tra lại.)
6.4 Trở lại với chữ Thìn/Thần
辰,
hay chén BK – đây là một cách đọc của chữ đông
羊+東
rất hiếm viết bằng bộ dương hợp với chữ đông (phương), giọng BK
bây giờ là chén, dōng so với dung1 QĐ – nghĩa là con lân
(unicorn) 山海經:
"其狀如羊
一角一目 目在耳後".
Có thể chữ này giải thích được phần nào mối dây liên hệ trực
tiếp giữa cách gọi Thần/Thìn (chén BK) với tên con vật hư cấu
rồng/lân như đã nói trên.
Không những thế, khi xem cách cấu tạo chữ long
龍
ta
thấy bên phải là chữ phi
飛
viết
tắt (飞),
bên trái phía dưới là chữ nhục
月,
và bên trên là chữ lập
立
tắt
của chữ đồng
童
HT (說文解字:
從肉飛之形
童省聲): điều
này cho phép ta thành lập một dạng cổ hơn là *klan/klon với biến
âm kl/tl/tr-đ, xem bài viết riêng về liên hệ tl-/kl-/tr- và đ-
như trần-đông-điền 陳/東/田,
trọc-đục 濁,
trọng-động 重/動
…
Cách viết giản thể 龙
bây giờ không cho ta nhiều dữ kiện như các cách
viết xưa kia.
Ngoài ra, theo Tả Truyện thuật lại lời của Nguỵ
quốc Sử quan Thái Mặc 蔡墨
rằng: 左傳:
昔有 飂叔安
… 實甚好龍
… 帝赐之姓曰董
氏曰豢龍
…",
vào thời xa xưa có một người tên là Liêu Thúc An 飂叔安,
rất thích nuôi rồng nên về sau con cháu đời sau của ông được
Thuấn đế ban cho họ (tính) Đổng 董
và thị Hoạn 豢
(nuôi dưỡng) Long – đây là nguồn gốc của họ Hoạn Long ở TH.
Trong trường hợp này ta thấy các âm Đổng và Long
đã tương ứng từ thời Thượng Cổ. …v.v…
Phụ âm đầu lưỡi đ- còn thấy trong tiếng Thái
thûng
ทุ่ง,
rất có thể có liên quan đến chữ đồng (-ruộng).
Ngoài ra còn có cách đọc một chữ rất ít gặp là
nông, viết bằng bộ thảo hợp với chữ Thần/Thìn
艹+辰
HT (康熙字典
玉篇:
古文農字)
giọng BK bây giờ là chén so với san4 QĐ, nung2 (còn duy trì âm
cổ nông)…
Chữ nông
農16
thường gặp hơn viết trong bộ điền hợp với chữ Thần/Thìn … cho
thấy Thần/Thìn đã từng liên hệ đến nông
農
hay
lông/lung 龍,
vì thế ta có thể thấy tương quan âm thanh của Thần/Thìn và long
(rồng). Để ý cách phát âm l- thành n- ở một số địa phương như
Hải Phòng … cũng giống như giọng Hẹ (đọc nông là lung2 hay
nung2): các phương ngữ này đã duy trì cách đọc rất cổ của
long-nông vậy.
Luống
(cày) chữ Nôm viết bằng bộ thổ hợp với chữ long
壠,
và chữ ruộng viết bằng bộ điền (宀)竜+田/+龍/弄
hợp với chữ long/lộng HT đều là các biến âm của long/nông.
Nùng
穠
HV viết bằng bộ hoà hợp với chữ nông HT, tiếng Việt là nồng có
dạng âm Trung Cổ17 là *nruang cho thấy âm -r- (hay
-l-) đã từng hiện diện, do đó ta cũng không ngạc nhiên khi thấy
các dạng18 luống, ruộng liên quan đến nông.
Thật ra tương quan giữa con rồng và nông nghiệp
cổ đại đã từng được nêu ra – như tác giả Zhou Chongfa
周崇發19,
một nhà khảo cổ TH ở tỉnh Hồ Bắc – bác bỏ giả thuyết về rồng là
một kết hợp của các con vật tổ từ các bộ lạc sơ khai (xem phần
dưới). Nghề nông rất cần nước và chính vì thế mà các con vật
sống dưới nước phải được tôn trọng như cá chép (lý
鯉
HV,
carp), cá sấu … vì thế khi thần thánh hoá con rồng để cầu mưa
(vũ tế
雨祭)
và phù hộ thì hình dạng rồng luôn kết hợp những đặc tính của các
loài vật sống dưới nước này. Cũng theo tác giả Zhou Chongfa thì
giả thuyết vật tổ không giải thích đuợc hoàn toàn nguồn gốc
tượng hình và âm thanh của chữ long – đây cũng là những dữ kiện
ngữ âm mà người viết đã cố gắng tóm tắt trong phần này.
6.5 Có lẽ cũng nên tìm hiểu nguồn gốc con rồng Á
Châu ở đâu mà ra? Có nhiều giả thuyết20 đã được đề
nghị
(a) con rồng là rắn, thành phần chính của các vật
tổ (theo tác giả Văn Nhất Đa 聞一多,
còn theo Tôn Tác Văn (?) thì con rồng là con rắn được thần bí
hoá. Tác giả Hà Tinh Lượng 何星亮:
"龍蛇是最早的虹神形象"
sau khi phân tích tài liệu nghiên cứu khảo cổ học, lịch sử học
và dân tộc học thì cho rằng hình dáng con rồng là rắn và trăn …
Thật ra ta không ngạc nhiên khi thấy hình ảnh của rắn và trăn
trong con rồng vì các dữ kiện ngôn ngữ phục nguyên cũng đã cho
thấy điều này – xem các dạng biến âm của rồng ở trang cuối phần
này. Cho đến nay, giả thuyết này phổ thông và có sức thuyết phục
nhất khi cho rằng rồng là kết hợp của các tôtem từ nhiều tộc
khác nhau. Bộ tộc Hoa Hạ với tôtem là con rắn hùng mạnh nhất nên
thêm vào hình rắn của mình các tôtem của các bộ tộc khác như đầu
lợn, sừng dê, tai trâu, vẩy cá … cuối cùng trở thành con rồng
huyền thoại chẳng giống một con vật nào trong hiện tại.
(b) con rồng là con cá sấu, theo tác giả Vương
Đại Hữu 王大有20
thì con rồng bắt nguồn từ con cá sấu
鱷
(鰐/鳄)
tức là: 灣鰐
/ 咸水鳄
crocodylus porosus // hay là:
揚子鰐
alligator sinensis) chứ không phải từ con rắn. Hình dạng của đầu
rồng với bộ mặt rất thô (mắt lồi miệng rộng và da sần sùi) rất
giống loài cá sấu. Theo người viết, năm ngón chân hay ba ngón
chân cũng chính là đặc tính dễ nhận của loài cá sấu và rồng theo
truyền thuyết.
(c) giả thuyết đầu rồng có nguồn gốc từ (đầu) heo
"豬龍變化說",
dựa vào xã hội nông nghiệp thời nguyên thuỷ, theo tác giả Tôn
Thủ Đạo 孫守道
và Quách Đại Thuận 郭大順.20
(d) rồng là sấm chớp '龍源於閃電'
theo tác giả Chu Thiên Thuận 朱天順
dựa vào hình 'dài và có bốn chân' – đây là cách giải thích đầu
tiên dùng hiện tượng thiên nhiên. Khang hy tự điển dẫn sách
Thuyết văn 說文
rằng: 辰
震也
Thìn [là] Sấm vậy. Sấm lại có liên hệ tự nhiên đến cơn giông-/
dông tố.
(e) rồng là cầu vòng/vồng "虹是龍的最直接的原型"
– theo tác giả Hồ Xương Kiện 胡昌健
《論中國龍神的起源》
dựa vào hình dạng và màu sắc của cầu vòng.
(f) rồng vốn là cây thông/tùng, loài cây xanh
tươi quanh năm phản ánh hình dạng và các thuộc tính giống như
loài rồng theo tác giả Y Vinh Phương
尹榮方:
"龍,
原是樹神的化身.
龍的原型是四季常青的松,
柏 (主要是松)
一類喬木."
(g) rồng tượng trưng cho nam giới, quẻ càn/kiền
là quẻ long – rồng trong Chu dịch
周易
tượng trưng cho nam giới hay bộ phận sinh dục nam theo tác giả
Phổ Học Vượng 普學旺20.
Từ tục cúng tế bộ phận sinh dục nam thời xưa mà ta có nguồn gốc
rồng.
Các giả thuyết trên có thể còn có thể tìm thấy
trên cơ cấu ngữ âm, cũng là hướng đi chính của các bài viết về
'nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp':
(a) rồng là rắn; hàm chứa trong dạng cổ *kri(a)n
để cho ra *ran (rắn) và *liang/lung (long)
(b) rồng là cá sấu; qua tiếng Mường khủ
(thuồng luồng) – và khu (Mường) là sấu, khlu
(tiếng Poọng) là rồng – tiếng Lolo (thuộc họ Hán-Tạng) có chữ
lo là rồng. Đây có thể là kết quả của quá trình rút gọn âm
cuối (apocope) mà ta còn thấy trong chuỗi miễn-mãn-mão-mèo, xem
thêm chi tiết trong bài "Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp
– Mão/Mẹo/mèo (phần 4)". Nhóm từ HV đà long
鼉龍
(鼍
tuó
BK, alligator sinensis), trư bà long 豬婆龍,
揚子鰐,
土龍,
鼉科
(=短吻鰐科
alligatoridae) đều có nghĩa là cá sấu21 rõ ràng nêu
lên liên hệ giữa rồng và cá sấu trong ngôn ngữ TH. Cứ theo "Vân
Đài Loại Ngữ" của Lê Quý Đôn, NXB Văn Hoá Thông Tin (Hà Nội,
2006) – Trần Văn Giáp biên dịch: '… Quí thuỷ ở trên trời là mưa,
ở thân thể là tai; Nhâm thuỷ sinh ở thân, tử ở Mão, mộ ở Thìn,
cho nên loài rồng 5 vuốt, tai nhỏ nghe kém…' – tuy là
loài hư cấu nhưng vẫn có 5 móng như cá sấu – xem hình ảnh cá sấu
ở cuối bài viết.
(d) rồng là sấm; Thần/Thìn
辰
có
giọng BK bây giờ là chén, so với
震
zhèn, zhēn/shēn hay chấn HV là sấm22
viết bằng bộ vũ (mưa) hợp với chữ Thần/Thìn HT – cho thấy rất rõ
liên hệ Thần-*tsan < sấm.
(e) rồng là cầu vồng; Tương quan của âm -ong và
hình cong đã nói ở phần trên. Để ý thêm là
嚨
lóng
BK viết bằng bộ khẩu hợp với chữ long là cuống họng; Cầu vồng
hay mống, là hồng 虹
HV (hóng, jiàng BK) viết bằng bộ trùng hợp với
chữ công HT cho thấy quá trình 'sinh vật hoá' một hiện tượng
thiên nhiên.
(f) rồng là cây tùng (theo cuốn "Văn hoá về 12
con giáp" của Thường Tuấn 常峻:
"中國生肖文化",
bản dịch tiếng Việt, NXB Tổng Hợp – Thành Phố HCM – 2005); Đồng
童
là
một thành phần của chữ long
龍
–
các phụ âm đầu lưỡi đ-t dễ hoán chuyển cho nhau, do đó chuỗi
tùng (thông) – đồng
童
có
thể xẩy ra. Tùng viết bằng bộ mộc hợp với chữ công
松
HT, so với giọng BK bây giờ là sōng, sòng…
6.6 Một chữ Thần/Thìn
辰
đã cho ra bao nhiêu mối dây gắn liền dân tộc ta
với hoạt động tinh thần qua các tục thờ rồng, rắn … và
hoạt động vật chất, hiện tượng thiên nhiên qua nghề nông,
dông bão, sấm – cũng như khi xem cách viết chữ Thần/Thìn trên
giáp cốt văn, kim văn ta thấy hình cái liềm làm bằng vỏ sò hay
trai dùng để cắt (gặt) lúa. Tất cả các đặc tính văn hoá, xã hội
và kinh tế truyền thống đều để lại rất nhiều dấu ấn trong ngôn
ngữ như đã tóm tắt bên trên. Các dữ kiện này phù hợp với nhận
xét của Edward Sapir23, sau được gọi là nguyên tắc
tương đối của ngôn ngữ (principle of linguistic relativity) và
giả thuyết Sapir-Whorf (Sapir-Whorf Hypothesis), cho thấy sự suy
nghĩ và cảm nhận của con người có ảnh hưởng đến ngôn ngữ và
ngược lại. Nói cách khác, hình ảnh của xã hội và môi trường sinh
sống của một dân tộc có thể tìm thấy trong ngôn ngữ của một dân
tộc.
Còn khi xem qua các truyền thuyết văn hoá dân
gian thì các dữ kiện (huyền thoại kể lại) trở nên rất khó phân
giải giữa các dân tộc – như ở Đại Hàn chẳng hạn, tục truyền mỗi
con sông, mỗi cái hồ đều có một con rồng từng làm chủ … – nhờ
vào các dữ kiện ngôn ngữ mà ta có thể tìm thấy nguồn gốc về con
rồng rõ ràng hơn; So sánh tiếng Đại Hàn ta thấy rồng là
용/룡
yong/ryong (từ long tiếng Hán), con rắn là
뱀
paem, thằn lằn là
도마뱀
to-ma-baem, cá chình (con "lươn") là
뱀장어
paem-jang-o … rất khác biệt với dạng gốc *krin/tlan. Nhưng nông
dân, người làm ruộng, thì tiếng Đại Hàn24 là
농부
nong-bu, 농민
nong-min (mượn từ tiếng TH) cũng như nông nghiệp là
농업
nong-ŏp …v.v…
Tóm tắt phần này, và sau khi xem qua các dạng
khác nhau của Thần/Thìn
辰
trong tiếng Việt, các ngôn ngữ láng giềng và
tiếng Hán Cổ, ta có thể kết luận là Thần/Thìn từng đã chỉ loài
rắn/trăn hay thần thánh hoá là lân/rồng/thuồng luồng… Ngoài ra,
rồng còn có thể phản ánh các hiện tượng thiên nhiên như cầu
vòng, sấm (sét) – tất cả các sinh vật hay hoạt động thiên nhiên
liên hệ trực tiếp đến một nhu cầu rất quan trọng của nghề nông:
đó là nước. Chỉ có một chữ thôi mà hàm chứa không biết bao nhiêu
thông tin về nguồn gốc của tộc Việt. Các dữ kiện này càng ngày
càng phai mờ khi văn hoá phương Bắc khởi sắc (thời Đường Tống)
cũng như khi vốn từ phương Nam từ từ bị đào thải trong ngôn ngữ
TH hiện đại. Khuynh hướng này trở nên rõ nét khi ta phân tích
tên 12 con giáp, một đóng góp của tộc Việt vào văn hoá Á Đông
thời cổ đại mà ít ai nhận ra.
Trong khi soạn lại bài này để lên mạng, người
viết còn được thêm các dữ kiện từ tác giả Axel Schuessler25
cho thấy Thìn/Thận đã từng chỉ một loại rồng – trích từ Hán Thư
(Thiên Văn Chí) 漢書
天文誌
(trang 184 – cuốn "ABC Etymological Dictionary of Old Chinese"
cua Axel Schuessler, 2007) – cho thấy nguồn gốc phi-Trung Hoa rõ
nét, vì lúc đó TH đã có chữ rồng (long) rồi mà tại sao lại dùng
chữ Thần? Ngoài ra, Schuessler còn ghi nhận thêm rằng rất có thể
long HV liên hệ đến các từ Nam Á như ròng, hông (rồng, tiếng
Mường)…v.v…
7. Phụ chú và phê bình thêm
Đi ngược dòng thời gian, ta sẽ gặp nhiều huyền
thoại về sự ra đời của loài người từ các nền văn hoá rất khác
nhau – tuy nhiên có những điểm tương đồng rất thú vị như người
đầu tiên ở TH là Bàn Cổ, Manu (theo Ấn Độ giáo), Adam (Cơ Đốc /
Công giáo), Gayomart (thuộc giáo phái Zoroastrian) …v.v… Loài
rồng hư cấu cũng không thoát ra khỏi khuynh hướng trên trong
chiều sâu của tiềm thức loài người. Carl Jung gọi sự tương đồng
này là archetype (nguyên mẫu), giải thích được khả năng phi
thường (tốt hay xấu) của loài rồng. Gần đây hơn, tác giả
David E. Jones26, trong cuốn “An Instinct for
Dragons”, đã đưa ra giả thuyết rằng rồng là mẫu số chung của các
nền văn hoá dựa trên tâm lý sợ hãi các loài vật ăn thịt
(predators) như diều hâu, cọp hay trăn … chứ không phải từ di
vật hoá thạch của loài khủng long (dinosaur fossils) … tuy
nhiên, đây không nằm trong phạm vi của phần này. Trong bảng liệt
kê dạng biến âm của rồng/nhông/rắn/lươn … ở trang cuối, các liên
hệ được biểu thị bằng gạch nối liên tục hay không liên tục (vì
không có nhiều dữ kiện hỗ trợ) nhưng hoàn toàn không có mũi tên
vì không nhất thiết là dạng mới đã thay thế dạng cổ theo chiều
lịch đại (diachronic).
(1) theo Ngô Sĩ Liên trong "Đại Việt Sử Ký Toàn
Thư"; Dân đi đánh cá thường bị thuồng luồng làm hại (theo người
viết thì là cá sấu như trình bày ở trên) – vua Hùng Vương sai
lấy mực vẽ hình thuỷ quái vào mình và từ đấy Bách Việt có tục
xâm mình.
(2) theo Joseph Needham trong các bộ sách
"Science and civilisation in China – Introduction, History of
Scientific Thought" – Cambridge (Anh Quốc, 1956). Các đặc tính
khác của nhóm Bách Việt là văn minh trống đồng, trồng lúa nước,
nhà làng…v.v…
(3) Giao
蛟
là loại rồng làm lụt lội (flood dragon) – không thấy trong chín
con rồng (Cửu Long) thuộc huyền thoại văn hoá TH: chúng là Thần
Long 神龍,
Địa Long 地龍,
Thiên Long 天龍,
Ứng Long 應龍,
Hoàng Long 黄龍,
Bàn Long 蟠龍,
Cầu Long 虯龍,
Phục Tàng Long 伏藏龍,
Long Vương 龍王.
Thần Long (spirit dragon) coi quản thời tiết, luôn luôn phải
được thờ phụng nếu không sẽ gieo tai hoạ. Địa Long (earth
dragon) quản lý sông ngòi – mùa xuân ở trên trời và mùa đông ở
dưới biển. Thiên Long (heaven dragon) là rồng cao cấp nhất, vua
của các loài rồng. Ứng Long (winged dragon) là rồng có cánh hầu
cận Hoàng Đế. Hoàng Long (yellow dragon) không sừng biểu tượng
cho sự hiểu biết thông thái. Bàn Long (coiling dragon) trú ẩn ở
các hồ nước. Cầu Long (horned dragon) có sừng và là loài rồng
dũng mạnh nhất. Phục Tàng Long (dragon of hidden treasures)
trông coi bảo vật dấu dưới đất. Long Vương chỉ các con rồng làm
chúa bốn bể (đông tây nam bắc). Cửu Long là chín loài
rồng tốt, so với giao
蛟
là loài rồng xấu mang đến nhiều tai hại, cũng như ly
螭
(chī BK, loài rồng không sừng). Điều này cho thấy lần nữa là
giao không thuộc vào loài 'chính thống' và cát tường của phương
Bắc, dĩ nhiên là giao có nguồn gốc man di từ phương Nam! Theo Tả
truyện 左傳
(?)
thì bộ lạc Thái Hạo 太皓/太昊/大皞
có 11 thị tộc rồng là: phi long
飛龍,
tiềm long 潜龍,
cư long 踞龍,
gián(g) long 降龍,
thổ long 土龍,
thuỷ long 水龍,
thanh long 靑龍,
xích long 赤龍,
bạch long 白龍,
hắc long 黑龍,
hoàng long 黄龍.
(những chữ Hán chỉ viết theo âm/nghĩa, chứ không
phải theo nguyên bản! Lại còn có sách Trúc thư kỉ niên cho biết
thị tộc Phục hy thì cũng thế (trừ Phi long là Trường long).
Cát Hồng 葛洪
(283-363) đời Tấn
晉
(265-420 SCN)
còn ghi nhận trong 'Bão Phốc Tử – thiên Đăng Thiệp' 抱朴子
内篇 登涉:
辰曰
稱雨師也
龍也
là '…Thìn viết, xưng vũ sư dã, long dã…': đây là văn bản rất
xưa, nhưng sau Luận Hành của Vương Sung (đời Hán), cho thấy
Thìn/Thần chính là rồng và là thần mưa.
(4) điều này cũng được tác giả Thái Văn Kiểm ghi
nhận trong cuốn "Việt Nam Anh Hoa" – NXB Làng Văn (Canada, 2000)
và học giả Nguyễn Bạt Tuỵ cũng nhắc đến.
(5) theo William Baxter trong "A Handbook of Old
Chinese Phonology" – NXB Mouton de Gruyter (1992).
Một chi tiết đáng chú ý là mãng phục
蟒服
chỉ phẩm phục hình con trăn của các quan ngự
triều – dưới y phục hình con rồng (cho vua) một cấp.
(6) như theo tác giả Arthur Grayson Crisfield
trong luận án tiến sĩ "Sound symbolism and expressive words of
Laos" (1973), các bài viết của giáo sư Robert Blust về cùng chủ
đề cho các ngôn ngữ Đa Đảo (Polynesian) / Nam đảo
(Austronesian). Gần đây hơn là luận án của bà Margaret Magnus về
'Âm nghĩa học' (Phonosemantics) với chủ đề "What's in a Word?
Studies in Phonosemantics" (Đại Học Trondheim ở Na Uy, 2001)
cũng như các bài viết của tác giả Robin Allott về nguồn gốc cơ
học của ngôn ngữ (Motor theory of language): tất cả các tài liệu
này đều có thể tìm đọc dễ dàng trên mạng Internet.
(7) trong cuốn "Cơ sở văn hoá Việt Nam" của Trần
Ngọc Thêm – tái bản lần thứ 2 – NXB Giáo Dục (Thành Phố HCM,
1999)
(8) trích từ cuốn "Myths of China and Japan" tác
giả Donald A. MacKenzie – The Gresham Publishing Company Ltd.
(London). Sách này được tái bản nhiều lần như vào năm năm 1994
(Senate, London) … Tác giả lý luận rằng rồng và huyền thoại TH
còn duy trì các vết tích Âu Châu 'They were inland people and
did not invent boats; they did not originate the agricultural
mode of life but adopted it…' – tạm dịch '…Họ (người TH) sống
trong đất liền và không thể sáng chế ra thuyền bè; Họ không phát
kiến đời sống nông nghiệp nhưng thâu nhận nó …' (trang vi). Có
lẽ gốc Tô Cách Lan (Scotland) và nghiên cứu nhiều về văn hoá
Celtic nên Donald Mackenzie (1873-1936) nghiêng về nền văn hoá
này nhiều, tuy nhiên có những nhận xét khách quan của ông đáng
được suy nghĩ.
Vấn đề nguồn gốc phi-TH của rồng nói riêng, hay
hệ thống can chi nói chung, đã được nhiều học giả ngoại quốc
(phi-TH) nêu lên – thí dụ như kết quả nghiên cứu của Carl Bezold
cho thấy hệ thống thiên văn Babylon nhập vào TH khoảng thế kỷ
thứ 6 TCN, và giáo sư Terrien de Lacouperie "The languages of
China before the Chinese" (bản chính bằng tiếng Pháp, 1886; bản
tiếng Anh bởi tác giả Otto Zeller – Osnabruck 1969) đề nghị dân
tộc thiểu số Bak (=百
Bách [Việt]) chính là đầu cầu đưa các kiến thức
thiên văn và 12 con giáp vào Trung Nguyên (Theo cuốn "The
languages of China before the Chinese" 1886, bản dịch tiếng Anh
1969) của Terrien De Lacouperie, thì "Vietnamese is the oldest
Chinese dialect." Tác giả Rupert Gleadow đã tóm tắt các chi tiết
trên trong cuốn “The Origin of the Zodiac” – NXB Dover (2003).
(9) theo "Brewer's Book of Myth and Legend" – chủ
biên J. C. Cooper – NXB Helicon (Anh Quốc, 1992). Rồng phương
đông dính liền với nước, khả năng gây/kiểm soát lụt lội
so với rồng phương tây dính liền với lửa và khả năng gây
hoả hoạn. Con rồng phương đông chỉ có một cái đầu so với rồng
phương tây.
(10) theo "Tự điển chữ Nôm" của Nguyễn Quang
Hồng, NXB Giáo Dục, 2006)
(11) theo tự điển trên mạng
www.chinalanguage.com
(12) bài viết "A Note on the origin of the
Chinese Duodenary Cycle" của Jerry Norman, đăng trong cuốn
"Linguistics of the Sino-Tibetan area – the state of the art" –
Pacific Linguistics, Series C Number 87 (1985)
(13) theo bài viết "The Old Chinese Terrestrial
Rames in Saek" của tác giả William G. Boltz đăng trong cuốn
"Studies in the Historical Phonology of asian Languages" –
Current Issues in Linguistic Theory – 77, NXB John Benjamins
(1991)
(14) qua các bài viết của giáo sư Li Fang-kuei
李方桂
như "Some Old Chinese loan words in the Tai languages" (Harvard
Journal of Asiatic Studies 8: 333-342, 1945), "Studies on
Archaic Chinese" (Monumenta Serica 31:219-287, 1975) … và cuốn
"A Handbook of Comparative Tai" – NXB University of Hawaii
(1977). Thật ra từ thời Henri Maspéro (1930) tổ hợp phụ âm kl-,
gl- đã được ghi nhận cho âm Hán Thượng Cổ (như vào thời Chu,
1000 năm TCN). Tác giả R. A. D. Forrest cũng nhắc lại điều này
trong cuốn "The Chinese Language" (1948). Các nhà Hán học về sau
như Bernhard Karlgren, Li Fang-kuei, Nicholas Bodman, Jaxontov …
hầu như đều chấp nhận sự hiện diện của kl-, gl- …
(15) kỳ lân 麒麟
(qílín BK) hay きりん
kirin (Nhật) mang nhiều hình dạng khác biệt, đứng hạng nhì sau
con rồng nhưng lại là loài vật huyền thoại số một (tốt nhất) ở
Nhật Bản. Lân đứng sau rồng trong bốn loài vật linh thiêng (tứ
linh) long, lân, quy, phượng.
(16) chữ nông
農
trên giáp cốt văn cho thấy hình vỏ sò/hến? (dùng làm dao) cắt
(gặt) lúa, trên kim văn chữ điền
田
bắt đầu xuất hiện và nghĩa chăm sóc đất đai bắt đầu rõ nét.
Chính vì âm long tương đương mà ta có thể giải thích một dạng
khác của nông là *rông hay ruộng, hay nương từ ghép (kép)
ruộng nương. Ta còn thấy chữ nổng là chỗ đất nổi cao
như cái gò (Việt Nam Tự Điển, 1954) liên hệ đến lũng
壠/壟
HV, lŏng BK viết bằng (lũng
隴
bộ phụ là tên riêng, địa danh)
bộ thổ hợp với chữ long HT (cái gò trên ruộng, cái mả…).
Thành ra liên hệ l-n đã có từ thuở bình minh của ngôn ngữ Việt
và TH – cho tới ngày nay thì mỗi phụ âm lại có chức năng riêng
biệt như la-na, lâu-nâu, lem-nem … Đây là sự phát triển tự nhiên
của ngôn ngữ để thêm phần hữu hiệu trong quá trình truyền thông.
(17) theo Edwin Pulleyblank trong cuốn "Lexicon
of reconstructed pronunciation in early Middle Chinese, late
Middle Chinese, and early Mandarin", NXB University of British
Columbia (UBC) – Vancouver (Canada, 1991).
(18) tiếng Quảng Trị còn phát âm roọng để chỉ
ruộng – theo tác giả Trần Hữu Thuần, bài "Tiếng Quảng Trị" đăng
trên mạng Talawas ngày 13/6/2007. Để ý thêm là tiếng Mường rồng
(rồng), rõng là ruộng, lỏng là luống, đổng (lưng), hõng là
nương, rẫy … cho thấy liên hệ long-rồng-đồng-ruộng-hồng (cầu
vòng) có thể hiện diện.
(19) theo bản tin đăng trên mạng People's Daily
ngày 5/2/2001 chủ đề "Chinese Dragon originates from primitive
agriculture: Archeologist" – xem thêm chi tiết ở địa chỉ mạng
http://english.peopledaily.com.cn
(20) theo tác giả Thường Tuấn trong cuốn "Văn Hoá
về 12 con giáp" – bản dịch tiếng Việt – NXB Tổng Hợp – Thành Phố
HCM (2005)
- Cũng hãy so sánh các địa chỉ tiếng TH:
http://blog.roodo.com/gamy543/archives/cat_191349.html
http://wolfbbs.net/viewtopic.php?p=167923
http://philosophy.zsu.edu.cn/2/jdjsx/info_Print.asp?ArticleID=552
(21) cũng theo một bản báo cáo đăng trên Tân Hoa
(Xinhua) và Asian Economic News vào ngày 1 tháng 5 năm 2000, thì
ông Wang Dayou
王大友
–
một nhà
khảo cổ TH – đã tìm ra hình khắc con rồng từ vỏ sò (clam shell)
có niên đại cách đây 6400 năm. Hình khắc này được khai quật từ
một ngôi mộ cổ ở Puyang 濮陽市,
thuộc tỉnh Hà Nam vào năm 1987. Sau hơn 10 năm nghiên cứu, ông
Wang đã kết luận rằng hình khắc con rồng dựa vào hình một con cá
sấu đang giận dữ – số móng chân của hai loài vật giống hệt như
nhau. Các dữ kiện khảo cổ này củng cố thêm giả thuyết về con
rồng chỉ là biểu tượng của loài cá sấu đã từng hiện diện trong
lưu vực sông Hoàng Hà cách đây hơn 6000 năm.
(22) sấm (sét) là grôm (tiếng Chơro), grôum
(Bahna), gram (Mã Lai), grơm (Chàm), khơm (Mường), krưm (Chứt),
grà-hèum (Thái) … tương ứng với 2 từ HV chấn
震
và lôi 雷.
Liên hệ Việt-Mường sấm-khơm so với sớm-khởm, sông-không,
sáu-khảu, sim-khim … cho thấy một dạng cổ hơn *krơm hay *grơm
thuộc họ Nam Á. Chấn còn là một quẻ trong bát quái cổ đại – chỉ
phương đông, sấm … dựa vào liên hệ jiāng-giang-*krong –sông với
phụ âm đầu k- ngạc hoá (thành ji- hay ch-, zh-), ta có thể thành
lập liên hệ zhèn-chén-chấn-*grơm-sấm. Các dạng rầm (và
rầm rầm, rầm rập), sầm
(biến âm r-s) cũng như rần rần (và rần rộ, tiếng HV là
lân 轔)
đều chỉ tiếng động lớn, và đương nhiên tiếng động lớn nhất là
tiếng sấm hay trời gầm! Đây là hình ảnh thiên
nhiên lồng trong tên 12 con giáp và cho thấy tiếng Việt đặc biệt
có nhiều mối dây liên quan đến chúng từ thuở ban sơ. Ngoài ra,
một chữ hiếm thấy là chēn BK, viết bằng bộ mộc hợp với chữ
Thần/Thìn 木+辰
HT nghĩa là khoảng giữa hai cây cột, mái (chìa) … so với gầm,
lòng tiếng Việt. Zhèn, chēn BK viết bằng bộ mục hợp với chữ
Thần/Thìn 目+辰
HT nghĩa là giận, trợn mắt (=sân
瞋
chēn
BK)… Đây có thể là các vết tích ngôn ngữ phương Nam trong tiếng
TH.
(23) Edard Sapir (1880-1939) là một nhà Nhân Loại
– Ngôn Ngữ Học người Mỹ gốc Do Thái. Các công trình của ông về
ảnh hưởng của xã hội, tư duy về môi trường sống (world view) và
ngôn ngữ đã tạo ra nhiều tranh luận cũng như các nghiên cứu sâu
xa hơn và đặc sắc hơn về văn hoá và ngôn ngữ. Một nhận xét của
Sapir là tiếng Eskimo (môi trường quanh năm có tuyết) có nhiều
từ chỉ tuyết: như tuyết đang rơi, tuyết ở dưới đất, mưa tuyết …
so với tiếng Việt (phương Nam, môi trường nóng) chẳng hạn – hầu
như chỉ có một từ là tuyết nhập từ các ngôn ngữ ở phương Bắc (xứ
lạnh có tuyết). Cứ xem các từ chỉ ngôn thứ (địa vị, ông, bà,
ngài, thầy …) trong xã hội Á Đông, các cách dùng chỉ liên hệ họ
hàng (chú, bác, cô, dì …) tương ứng với ảnh hưởng của tư tưởng
Khổng Mạnh rất rõ nét. Benjamin Whorf, một học trò của Sapir, về
sau khai triển thêm về các liên hệ ngôn ngữ và tư duy về môi
trường – một kết quả cực đoan có thể là ‘ngôn ngữ xác định tư
tưởng’ (language determines thought) gây ra nhiều chống đối,
nhất là từ các học giả thuộc phái Universalist – cho rằng ngôn
ngữ loài người có một phần giống nhau (universal grammar), hay
còn độc lập với các ngôn ngữ nữa.
(24) các dữ kiện về tiếng Đại Hàn trích từ cuốn
"NTC's Compact Korean and English Dictionary" – tác giả B. J.
Jones và Gene S. Rhie – NXB National Textbook Company (Illinois,
USA, 1995).
(25) theo tác giả Axel Schuessler, cuốn "ABC
Etymological Dictionary of Old Chinese", NXB University of
Hawaii (2007). Ông cũng nhận xét rồng (long HV) có thể liên hệ
đến cầu vòng (mống) hay hồng HV. Xem thêm chú thích (18).
(26) David E. Jones, nhà Nhân Loại Học thuộc đại
học Central Florida, tác giả cuốn “An Instinct for Dragons” –
NXB Routledge, 2002. Giả thuyết của Jones cũng bị phản bác bởi
tác giả Paul Jordan-Smith vì thiếu nhiều dữ kiện có sức thuyết
phục cũng như các huyền thoại về loài rồng có thể mượn qua mượn
lại từ các giao lưu văn hoá …v.v…







Trở về Trang Chính
|