|
Thìn/Thần
辰
là chi thứ 5 trong 12 thập nhị chi, biểu tượng là con rồng hay
long 龍
HV. Trong cách nhìn tổng thể của con người cổ
đại, Thìn/Thần chỉ thời gian: năm, tháng (tháng Ba), giờ (từ 7
đến 9 giờ sáng) và phương hướng (Đông Đông Nam, ESE – East South
East).
Dân tộc Việt luôn tự hào về nguồn gốc con rồng
cháu tiên của mình nối liền với huyền thoại Âu Cơ – Lạc Long
Quân, cho thấy sự gắn bó từ thời bình minh của văn hoá Việt Nam,
cũng như địa vị ưu tú của rồng. Long/rồng còn liên quan
đến nông
農
(đồng, ruộng) phản ánh hoạt động kinh tế căn bản của tổ tiên ta
– thành ra một chữ rồng đã có bao nhiêu thông tin về nguồn gốc
dân tộc – từ văn hoá ngôn ngữ đến kinh tế thời thành lập cộng
đồng Việt tộc nguyên thuỷ.
Rồng là loài vật hư cấu duy nhất trong 12 con
giáp rất gần gũi với dân ta, và có lẽ cũng đã trở thành truyền
thuyết ngay khi 12 con giáp ra đời! Vì thế mà huyền thoại về
rồng càng thêm sâu đậm và đa diện: từ ngôn ngữ đến truyền
thuyết, lòng tin … từ đông sang tây, hình ảnh rồng luôn luôn
tiềm ẩn trong văn hoá dân gian. Điều này phản ánh qua rất nhiều
dạng biến âm (và ngay cả hình dạng) của rồng qua các ngôn ngữ
vùng Đông Nam Á – xem bảng so sánh cuối bài. Tình huống trở nên
rất phức tạp khi người Trung Hoa/TH theo truyền thống ngàn đời
cũng tin rằng mình là con cháu rồng tiên, đất đai là xứ rồng và
vua là con rồng … Viết về rồng trong văn hoá Á Đông cần ít nhất
cả cuốn sách mới công bằng;
Nhưng trong giới hạn nguồn gốc Việt Nam của tên
12 con giáp, và giới hạn của phương pháp so sánh ngữ âm của ngôn
ngữ, người viết sẽ cố gắng tóm tắt các dữ kiện để cho thấy tương
quan mật thiết giữa con rồng người Việt và thập nhị chi; Chữ
Hán, dùng để ký âm, đã đóng vai trò không nhỏ theo dòng thời
gian và duy trì phần nào âm Cổ Việt.
1. Giới thiệu tổng quát
Thìn/Thần
辰
đã từng chỉ rồng như trong Tả Truyện, Hi Công Ngũ Niên có
câu '…long vĩ phục Thìn…' 左傳
僖公五年:
"龍尾伏辰",
là đuôi rồng phục ở Thìn, tức là rồng làm tượng trưng cho ý gốc
của chữ Thìn đó. Theo tác giả Axel Schuessler (University of
Hawaii, 2007) cũng vậy: chữ Thìn chỉ loài rồng. Trong sách "ABC
Etymological Dictionary of Old Chinese" p.184 tác giả cho biết:
"chén 辰
… The 5th of the Earthly Branches, identified with the dragon …
cf. shèn 蜃
some kind of a dragon" 25
Theo tự điển Khang Hy thì Thận
蜃
đó là con trai to lớn: 康熙字典:
"車螯是大蛤
一名蜃 …
蜃大者如車輪
島嶼".
Điều đáng chú ý là: con trai khổng lồ (tridacna gigas) còn có
cách gọi thông thường là: Ngũ trảo kham 五爪蚶.
Điều đó cũng ăn khớp với mạch biến âm *khin/khân > thìn và thận
(long) > kham > hến – ngoài ra Ngũ trảo nghĩa là 5 móng.
Rõ ràng vào đời Thượng Cổ, TH đã có chữ long
龍
để chỉ rồng nhưng lại dùng một chữ khác cho con Giáp tương ứng
(ngoại lai) là Thìn/Thần
辰
– phần sau còn sẽ xác minh long/rồng cũng chính là từ Việt Cổ mà
TH đã mượn; Vấn đề oái ăm là long lại nhập ngược vào tiếng Việt
(tiếng Hán Việt) từ đời Đường Tống." Có nhiều tài liệu như trên
gắn liền rồng với văn hoá TH từ thời Tần đến bây giờ. Còn tộc
Việt ra sao?
1.1
Sơ lược về nguồn gốc con rồng cháu
tiên qua ngôn ngữ
Từ xưa, ta đã có phong tục thờ cúng loài rắn (xem
bài phần 7 – Tỵ/rắn) và xâm mình. Từ vua chúa đến thường dân đã
có tục thích hình con rồng (thuồng luồng) vào bụng hay đùi cho
đến đời vua Trần Anh Tôn1. Các đặc điểm như thờ rắn,
huyền thoại về rồng là hai trong 25 đặc tính của đại tộc Bách
Việt2. Thật ra thì tục xâm mình đã được ghi nhận
trong "Sử Ký" của Tư Mã Thiên
司馬遷,
史記:
趙世家:
"夫剪髮文身
錯臂左衽
甌越之民也".
Liên hệ đến loài rồng còn phản ánh qua tên Giao
Chỉ – chữ giao
交
viết bằng bộ đầu, giọng Bắc Kinh / BK bây giờ là jiāo so với
giọng Quảng Đông / QĐ gau1, Hẹ (Hakka) là kau1 cũng như giọng
Minnan (Đài Loan) nghĩa là trao đổi, liền nhau … dùng trong các
địa danh như Giao Chỉ
交趾,
Giao Châu 交州…
Theo người viết giao là một cách ký âm để chỉ tên một dân tộc.
Khi chữ giao hài thanh / HT hợp với bộ trùng3
蛟
hay bộ ngư 鮫
thì có nghĩa là con thuồng luồng (một loại rồng): vậy giao có
liên hệ đến rồng – tổ tiên của tộc Việt. Âm cổ của giao là
*kiêu/*keo (แกว)
cũng chính là tên gọi người Việt của các dân tộc láng giềng như
Thái, Lào … cũng như các dân tộc thiểu số anh em4.
Xem thêm phần dưới nhận xét của tác giả Jerry Norman về liên hệ
Thìn/Thần với giao.
Giao
胶/膠
viết bằng bộ nhục hợp với chữ lựu
翏
(liù BK, bay cao) nghĩa là keo, chính
là dạng âm cổ còn duy trì trong tiếng Việt hiên đại. Giảo
鉸
(jiăo BK) viết bằng bộ kim hợp với chữ giao là cắt hay dụng cụ
cắt mà tiếng Việt còn duy trì dạng cổ là kéo… So sánh các
tương quan già-cà 茄,
giả-kẻ 者,
giá-cả 賈,
giá-kệ 架,
giá-gả 嫁,
giá-cấy 稼,
giảm-kém 减,
giản-kén 揀
(chọn), giải-cởi/cổi 解,
giảo-cáo 狡,
giái/giới-ghẻ 疥,
giải-cua 蟹,
giác-gạc/góc/còi 角
(xưa thường làm bằng sừng/giác trâu), giáp-kép/kẹp
夾,
giang-gông 杠
(cùm) …v.v… cho thấy rõ nét liên hệ gi-k.
Không phải ngẫu nhiên mà Sùng Lãm (con của vua
Kinh dương, tức là Hùng Vương I) lấy tên là Lạc Long Quân, cũng
như tộc Việt coi họ Hồng Bàng là thuỷ tổ: chữ Bàng
龐
viết bằng bộ long (con rồng), còn chữ Hồng
鴻
(洪)
có các nghĩa lớn, nước lớn (nước rông), lụt lội… và con
của vua Kinh dương – ông tổ của họ Hồng Bàng là Long Quân
龍君.
Tóm lại, các dạng âm cổ và cách dùng Giao Chỉ, Giao Châu cũng
như loài rồng cùng truyền thuyết đều cho thấy phần nào tương
quan mật thiết của tộc Việt và rồng từ thời thượng cổ.
Tuy nhiên vẫn khó tách con rồng Viêt Nam và Trung
Hoa/TH, nhất là khi huyền thoại TH đầy rẫy hình ảnh con rồng –
nào là Hoàng Đế (vua đầu tiên theo huyền sử TH) khi băng hà trở
thành rồng lên trời và do đó niềm tin (TH) mình là con cháu của
rồng, nào là những đồ bằng ngọc mang hình Trư Long
豬龍
(rồng có đầu hình con heo) từ văn hoá Hồng Sơn
紅山
(thời đại đồ đá mới/neolithic) – thành ra ta phải đi sâu vào
ngôn ngữ để tìm ra thêm các dữ kiện.
1.2 Liên hệ ngữ âm mở rộng của rồng/long
Long
龍
(Hán Việt/HV) tức là bộ thủ thứ 212 cho thấy địa vị quan trọng
của rồng trong văn hoá TH nói riêng và văn hoá Đông phương nói
chung.
Giọng BK bây giờ là:
龍
lóng/máng (聾
lóng, 壟
lŏng,
龐
páng,
龕
kān) – so với QĐ là lung2, lung4 và Hẹ liung2, liung3 – Minnan
(Đài Loan) là leng5 – Đại Hàn
룡>용,
롱>농,
방
(r)yong,
r/nong, bang và Nhật りゅう
ryū/ryuu (竜),
りょう
ryō/ryou, ろう
rō/rou11
(聾,
壟)
… Nhìn các vét khắc/viết trên giáp cốt văn, kim văn ở
trang cuối ta thấy chữ long
龍
tượng hình – giống như một loài có đuôi dài … thật là khác xa
với hình dạng của chữ Thìn!
Tiếng Việt có nhiều từ phát âm ra gợi cho ta hình
ảnh của đối tượng so với tiếng TH, chữ TH (dựa vào hình) – nói
cách khác ta có thể nghe ra hình thay vì nhìn (mặt chữ)
thấy hình. Chính chữ long cho thấy hình của con vật cong cong
Tác giả Lê Văn Siêu trong cuốn "Nguồn gốc văn học Viêt Nam"
(1956) đã ghi lại nhiều trường hợp về tiếng tượng hình. Đây là
một trong những tính chất thường gặp của các ngôn ngữ vùng Đông
Nam Á nói chung6. Những chữ có âm -ong/-ống
thường diễn tả hình dạng không thẳng mà cong cong như long/rồng,
lồng, còng (lưng), cồng, trái bóng (trái banh), bong bóng, chong
chóng, ròng rọc, cái chòng (hình tròn), lòng vòng, thòng lòng,
vòng, cầu vồng (mồng), phồng/phùng, nong (đồ đan hình tròn),
nòng, ống, lòng (ruột), họng, gồng, bọng …v.v… hay các biến âm
của ong/ông là ung như ủng (phù), thủng, thúng (hình tròn), cung
(cây), vung, thung lũng, trũng …v.v…Từ cong trong tiếng Mường,
Nùng cũng như tiếng Việt so với kong (Chàm), kong (Khme) … Khi
phát âm hai tiếng ròng rọc, người viết có thể hình dung
ra ngay hình tượng tròn tròn của đối tượng, so với tiếng hoạt
luân
滑輪
(huálún, hay 轆轤
lùlú BK, như là rọc rọc) hay puli, palăng … Ngay trong tiếng TH
bây giờ vẫn còn thấy những âm -ong tượng hình như
弓
gōng BK (công HV, cây cung),
虹
hóng BK (cầu vồng, mống),
龍
lóng BK (long HV, rồng),
籠
lóng BK (lồng, chuồng so với lung3 QĐ, lung1 Hẹ…),
壟
lŏng BK (gò mả, luống đất, đê, bờ ruộng),
洞
dòng BK (động HV, hang động, chỗ thủng),
癰/痈
yōng BK (ung, nhọt, mụn lớn)…
Tác giả Trần Ngọc Thêm7 còn đi xa hơn
nữa khi đưa ra sự liên hệ của long/rồng với sông (hình dạng
thường không thẳng) qua một dạng âm cổ của Đông Nam Á là
*krong/krung. Ông dựa phần nào vào các công trình nghiên cứu
của các học giả Nga như '…rồng là con vật đặc thù chung cho tất
các dân tộc Việt và chính từ đây nó đã đi vào văn hoá TH…' hay
'…hình tượng con rồng phát sinh từ Đông Nam Á đã thâm nhập đến
những vùng xa xôi nhất của Âu Châu…' (trang 135, sđd).
1.3 Rồng trong văn hoá dân gian
Văn hoá cổ Trung Hoa/TH luôn mang hình ảnh rồng,
cũng như ước mong của cha mẹ khi sinh con thì 'vọng tử thành
long': mong con trở thành 'rồng' hay thành công, nên người.
Quá trình biến hoá loài rồng được truyền thuyết8 TH
ghi rõ là '… con rắn nước (虺
huĭ BK, water snake) sau 500 năm trở thành giao 蛟,
con giao sau 1000 năm trở thành con long 龍,
con long sau 500 năm trở thành cầu long 虬/虯龍
(qiú BK, có sừng), cầu long sau 1000 năm trờ thành ứng long
應龍
(có cánh)…'. Ngay cả từ thời Đông Hán, tác giả Hứa Thận
許慎
đã viết về rồng trong Thuyết Văn Giải Tự 説文解字:
"龍 鱗虫之長
能幽能明
能細能巨 能短能長
春分而登天
秋分而潛淵
…" (rồng là loài động
vật có vẩy, lúc ẩn lúc hiện, có thể nhỏ thể to, có khi ngắn có
khi dài, mùa xuân thì bay lên trời, thu thì ngâm sâu dưới đầm …)
cho thấy rồng thời đó đã là con vật trong huyền thoại mà chẳng
ai biết rõ hình dáng chúng ra sao. Liên hệ ngữ âm rắn rồng sẽ
được phân tích chi tiết hơn trong phần sau. Ta hãy xem qua các
thành ngữ Hán Việt để thấy hình ảnh con rồng tiềm ẩn trong văn
hoá TH ra sao
Long phụ tiên mẫu
龍父仙母:
cha rồng mẹ tiên
Long khẩu đoạt thực
龍口奪食:
lấy thức ăn từ miệng rồng, hàm ý phải biết thời thế – lo gặt hái
vụ mùa cho đúng lúc trước khi giông bão xẩy ra
Long tinh hổ mãnh
龍精虎猛:
khôn như rồng, mạnh như hổ
Long mã tinh thần
龍馬精神:
tinh thần mạnh như rồng và ngựa
Long tương hổ bộ
龍驤虎步:
rồng đi, cọp bước – hàm ý tướng uy nghi
Ngư chất long văn
魚質龍文:
cái vẻ là rồng nhưng chất (bên trong) thì là cá
Ngư long hỗn tạp
魚龍混雜:
cá và rồng lẫn lộn (vàng thau lẫn lộn)
Long bàn hổ cứ
龍蟠虎踞:
rồng nằm hổ ngồi, chỉ chỗ hiểm yếu
Long đầu xà vĩ
龍頭蛇尾:
đầu rồng đuôi rắn, hàm ý trước thịnh sau suy
Đằng giao khởi phượng
騰蛟起鳳:
ám chỉ các bậc nhân tài
Giao long đạt thuỷ
蛟龍達水:
hàm ý có cơ hội thi thố tài năng
Thi cư nhi long kiến
屍居而龍見
(莊子):
ở (khi lánh mặt) thì như thây người chết, khi ra mặt thì như
rồng hiện
Hình ảnh rồng cũng phảng phất trong văn hoá Việt,
dùng để ghi danh mục khoa bảng như học vị tiến sĩ – trong khi hổ
tượng trưng cho học vị cử nhân. Rồng liên hệ đến vua từ thời
Triệu Quang Phục (đời Lý, thế kỷ VI) rồi cứu Đinh Tiên Hoàng
thoát nạn, và từ thời vua Lê Đại Hành qua bản mệnh của vua. Thời
vua Lý dựng nghiệp, thủ đô ta thấy rồng bay lên nên gọi là Thăng
Long, rồi các địa danh cũng mang hình ảnh rồng như (vịnh) Hạ
Long, Bái Tử Long, Kim Long, núi Hàm Rồng, Long Tường, Long
Khánh, Long Biên, Vĩnh Long …. Ngay cả trái cây cũng mang hình
ảnh rồng như trái thanh long, long nhãn, cây xương rồng… Rồng
cũng có mặt trong các quan hệ xã hội qua ca dao tục ngữ
'Làm trai lấy được vợ
hiền
Như cầm đồng tiền mua
được của ngon
Phận gái lấy được chồng
khôn
Xem bằng cá vược vũ môn
hoá rồng'
'Rồng đến nhà tôm'
'Trứng rồng lại nở ra
rồng
Liu điu lại nở ra dòng
liu điu'
'Rồng vàng tắm nước ao tù
Người khôn ở với người
ngu bực mình'
'Rồng nằm bể cạn phơi râu
Mấy lời anh nói dấu đầu
hở đuôi'
'Rồng đen lấy nước được
mùa
Rồng trắng lấy nước thì
vua đi cày'
(rồng đen có lẽ là trận cuồng phong/tornado xoáy
và hút nước từ biển lên tạo thêm nước cho mưa. Rồng trắng có thể
là các trận cuồng phong xẩy ra khi không có mây đen báo hiệu
trời sắp mưa. Cơn bão gió xoáy (như khi rồng xuất hiện) gọi là
龍捲風
(lóngjuănfēng
BK, long quyển HV, còn là: cơn lốc, trốc –
tornado / giông tố –
hurricane) Thành ra dông (long > nhông – dông/giông) có
thể là một dạng ngạc hoá của long giống như lăm-nhăm, lỡ-nhỡ,
lú-nhú … Đây là hình ảnh đầu tiên của thiên nhiên mà ta có thể
tìm thấy qua chuỗi long-nhông-dông (bão). Có tác giả18
đưa ra giả thuyết rằng rồng liên hệ đến cầu vòng – đều là các
hiện tượng trong bầu khí quyển khi trời chuyển mưa.
"Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo
mửa"
Và các câu nói như 'Đầu rồng, đuôi tôm; Rồng bay
phượng múa; Vẽ rồng nên giun…' cho thấy hình ảnh mạnh mẽ, oai
hùng và cao thượng của rồng. Thêm vào đó là các từ gắn với vua
chúa, uy quyền như long nhan
龍顔
(mặt rồng, dung mạo vua), long phi
龍飛
(rồng bay lên trời, chỉ khi vua lên ngôi), thân thể của vua gọi
là long thể, long bào
龍袍
(áo bào thêu rồng của vua mặc), long xa
龍車
(xe vua đi), vua băng hà 崩遐
(qua đời) là long ngự tân biên
龍御新邊
… Trẻ em trai gái vẫn còn trò chơi rồng rắn lên mây cho thấy tư
tưởng thiết tha của dân Việt với loài rồng vượt hẳn thời gian,
không gian và tuổi tác.
Khác hẳn với phương đông, nơi mà rồng được thờ
phụng và đứng đầu trong bốn con vật linh thiêng hay 'tứ linh':
long, lân, quy (rùa), phượng' 四靈:
龍麟龜鳳
– con rồng phương tây tiêu biểu cho sức mạnh của ma quỷ và tà ác
tối tăm, thường quấy nhiễu và phá hại con người. Các nhân vật
như Hercules, St. Michael, St. George, St. Margaret, St. Samson…
đã trở nên anh hùng và thần thánh khi giết được loài rồng hung
dữ9.
Có lẽ vì biểu tượng tiêu cực đối với phương tây
mà con gấu panda (đại hùng miêu) đã được chọn làm một trong 5
con vật lấy khước (mascots) cho Thế Vận Hội 2008 ở thành phố Bắc
Kinh – ngoài ra rồng còn tượng trưng cho quyền uy nhà vua (quân
chủ) nên cũng không phù hợp với chánh sách của nhà nước TH hiện
tại. Một lần nữa, ta lại thấy rồng đã mang những tính chất chính
trị thêm vào những khả năng phi thường của loài vật huyền thoại
này.
2. Phụ âm đầu th- của Thìn/Thần
2.1 Thìn/Thần
辰
là các từ HV, giọng BK bây giờ là chén cũng là bộ
thủ thứ 161, giọng QĐ là san4, Hẹ là sin2, shin2, shin3 so với
Minnan sin5 … đều cho thấy phụ âm đầu lưỡi. Như vậy Thìn/Thần
liên hệ với hến trên phương diện âm thanh ra sao?
Phụ âm đầu ch- của chén BK thường tương ứng với
tr-, ch- hay s/x- Việt:
Giọng BK Hán
Việt QĐ Hẹ
Việt
Chēn, tián
嗔
sân, điền can1, zan1 chin1,
tien1 giận
Chēn
琛
thâm,
sâm sam1, cam1 chim2, cun1
châu báu
Chēn
抻
thân san1
shin1, chun1 kéo (dài ra)
Chén, zhèn
沉
(沈)
trầm sam2, zam3 chim2,
sim3 chìm, đắm
Chén
臣
thần san2, san4
shin2, sin2 bộ trưởng
Chén
辰
Thìn/Thần san4
shin3, sin2 chi thứ 5
Chén
塵
trần can4
chin2 bụi (bậm)
Chén
陳
Trần can4,
zan6 - họ Trần
Chén, Shèn
諶
Thầm, Trầm can4, zan4 chin2,
cin2 họ ng. TH
Chèn
趁
(趂)
sấn can3 chin5,
zhin3 nhân lúc
Chèn, chàn?
讖
sấm cam3
cam5, siam5 tiên tri
Chén(g)
橙
chanh/tranh
caang2 chang2 cam
Chèn(g), chēng
秤/稱
xứng, xưng cen2, cing3
chin5 xứng, xưng
…
… …
… …
Hến chữ Nôm10 viết bằng chữ hiến
獻
HV, hay bộ 虫+憲/獻
HV cho thấy các dạng này còn quá mới so với tuổi đời của tên 12
con giáp!
Trong vốn từ TH bây giờ có chữ
蜆
ít dùng11,
tần số dùng là 36/432067182, đọc là hiển/hiện HV – viết bằng bộ
虫+見
kiến
HT (xiăn
BK)- nghĩa là con hến, so với hin2 (QĐ), phụ âm đầu x- rất gần
với âm ch- BK cho thấy chúng có thể đã từng có một nguồn gốc
chung là k- phản ánh qua cách đọc cổ hơn của kiến HT. Một chữ
nữa là Kham 蚶
HV (hān BK), viết bằng bộ 虫+甘
cam
HT,
nghĩa là con sò: âm kham cho thấy một dạng khác của hến với phụ
âm đầu k- (âm ngạc mềm). Tương tự như tương quan Thân-khọn, ta
có thể thành lập một dạng âm cổ phục hồi của Thìn/Thần là
*khin/khân. (Âm cổ này được người Tàu ghi lại (phiên âm)
bằng chữ 辰
– về sau mới biến thành âm "Thìn"). Lại còn có chữ
龕
kham, khám HV (kān BK) – viết bằng bộ long
龍
cũng chính là thành phần HT ghi âm.
Các nhà Hán học trước đây cũng đã thấy liên hệ
th-kh này, như học giả Jerry Norman12 đã từng ghi
nhận là âm Thìn/Thần từng đọc là *khân qua nhiều dẫn
chứng cho thấy phụ âm cuối lưỡi (âm ngạc hầu / velar) đã từng
hiện diện. So sánh các dạng trăn, klan / klon (tiếng Môn
viết /-nói), klăn (tiếng Chrâu) … ông đưa ra nhận xét về chữ
Thần/Thận 蜃,
dựa vào Khang Hi Tự Điển, nghĩa là một loại giao, hình thù lớn
hơn rắn và có sừng như con rồng 康熙字典:
又
'草本'
蜃 蛟之屬
其狀亦似蛇而大
有角如龍狀.
Cùng với định nghĩa dựa vào Thuyết Văn là 'thìn [ý] nói thận của
vạn vật' 說文:
辰者 言萬物之蜃也
ông đưa đến kết luận là có cơ sở để liên hệ Thận với loài rắn.
Dạng thượng cổ *mrjong5 / *brung
giải thích được hai dạng
龍
lóng / máng
BK, mahing là con rồng, tiếng Thà Vựng, và mă'rôông
มะโรง
tiếng Thái (chỉ năm con rồng) – cách dùng mống để chỉ cầu
vồng25 (biến âm m-v như mùi-vị …) cũng rất có thể là
do âm cổ mrjong mà ra (tiếng Thái là
รุ้ง
rûng, hồng 虹
HV).
Chữ Mãng
蟒
(măng BK, mong5 Hẹ/QĐ) là con trăn cũng cho thấy phụ âm m- đầu:
Long/Mang < *mrang < *kr(l)ang, còn tiếng Lôlô có chữ LANG là
con rắn – thành ra MÃNG = TRĂN (boa, python) … cho thấy
thêm bằng chứng liên hệ phương Nam! Dạng thượng cổ mrjong lại
không giải thích được âm kham/khám của chữ
龕
–
cho ta thấy âm cổ (hơn nữa) của long/rồng cũng có
thể là âm cuối lưỡi (ngạc mềm / hầu) k-. Có lẽ vì vậy mà Baxter
đề nghị dạng *C-rjong mà C- không nhất thiết là k-/m-.
Quá trình đơn âm hoá *C-rjong cho ra dạng *ba-sang
và cuối cùng là phá-tán (rắn: theo Nguyễn Tài Cẩn "Về tên
gọi con rồng của người Việt", đăng trên báo Diễn Đàn 94 bên
Pháp, sau đăng lại trong cuốn "Một số chứng tích về ngôn ngữ,
văn tự và văn hoá" NXB Đại Học Quốc Gia 2001), một dạng ghi Nôm
được ghi nhận trong cùng bài viết đó. Theo ông, có 3 trường hợp
trong tiếng Việt xuất phát từ chữ
龍,
đó là rồng (cổ nhất, vào thời Tây Hán, Đông Hán) sau đó
đến thuồng luồng (sơ đến Trung Đường) và cuối cùng là
long (cuối đời Đường).
Dạng Hán Thượng Cổ *djơn – được tác giả William
G. Boltz13 phục hồi dựa vào kết quả của Li Fang-kuei
李方桂
(1971) và Edwin Pulleyblank (1984) – không có khả năng giải
thích được các âm *klăn/tlăn/trăn và thằn lằn, thuồng luồng (đơn
âm hoá) của tiếng Việt.
2.2 Khuynh hướng 'nghe ra hình' như đã đề cập bên
trên (âm -ong chỉ hình cong) còn có thể hiện diện trong cách
dùng trăn trở, trằn trọc, lăn (qua lăn lại), lăn lóc … với nhận
xét là các âm đầu lưỡi vang r/l gợi hình ảnh linh động (chuyển
động) như rung, rụng, lung (lay), lùng (tìm kiếm) … Tương quan
giữa âm thanh và hình ảnh đã được nhiều học giả nghiên cứu6,
người viết chỉ muốn đưa ra nhận xét về liên hệ các âm tr-, tl-,
r-, l- với hình ảnh và đặc tính linh động của đối tượng – tương
ứng với hoạt động của lưỡi (cong lên rồi hạ xuống, có khi rung
hay lắp láy).
3. Nguyên âm i/â của Thìn/Thần
Nguyên âm i và a của Thìn/Thần cũng là âm cổ của
辰
chén BK bây giờ – xem bảng so sánh trong phần 2.2 – nguyên âm i
hiện diện trong giọng Hẹ so với a của QĐ. Các dạng âm cổ phục
hồi đều khá nhất trí về âm i nàỵ5,13 – nên dạng Hán
Thượng Cổ của Thìn/Thần thường thấy là *krin, *thrin …
4. Thanh điệu
Thanh thứ nhì (second tone, dương bình) giọng BK
bây giờ liên hệ đến thanh huyền tiếng HV, hay thang ngang (cùng
âm vực) như:
Giọng BK Tiếng
HV Giọng BK Tiếng HV
Chén
辰
Thìn/Thần Mín
民
dân
Hé
荷
hà (sen) Mú
模
mô (khuôn đúc)
Huáng
黃
hoàng (vàng) Nán
南
nam (phương)
Táng
唐
đường Nú
奴
nô
Tóng
同
đồng (giống nhau) Róng
熔
dung (nóng chảy)
Tuán
團
đoàn … …
Xián
閑/閒
nhàn
… …
5. Phụ âm cuối -n của Thìn/Thần
Phụ âm cuối -n của Thìn/Thần cũng hiện diện trong
dạng BK chén. Bảng so sánh sau cho thấy liên hệ của âm đầu
lưỡi/vang -n ở cuối chữ:
Giọng BK Tiếng HV Giọng
QĐ Giọng Hẹ Minnan
Tàn
歎
thán, than (-thở) taan3
tan5 than3
Măn
滿
mãn (đầy) mun2, mun6 man1, man2…
boan2
Jìn
近
cận (gần) gan6, kan6 kiun1,
kiun3 kin7
Yán, yàn…
言
ngôn (lời nói) jin4
ngien2/ngian3 gian5
Zhèn
陣
trận (-chiến) zan6, zan2
chin6/cin3 chun7
Hùn
混
hỗn (-loạn) wan6, gwan2 gun3/kun3…
hun2
Gēn
根
căn (rễ) gan1
gen1/gien1 kin1
Diàn
電
điện din6 tien5,
ten3 tian7
Àn, è
按
án, ấn (đè) on3, ngon3
on5 an2
…
… …
… …
6. Các nhận xét mở rộng về Thần/Thìn
6.1 Như đã thấy từ phần trên, dạng Thần/Thìn HV
bây giờ (hay chén BK) có thể từng có âm cuối lưỡi k- và l-, hay
kl- qua các dạng klan (tiếng Môn, Kơho…), trăn.
Các tổ hợp phụ âm kl- hay gl- của tiếng Hán Cổ đã từng được tác
giả Li Fang-kuei phục hồi sau khi so sánh các ngôn ngữ Thái14.
Theo người viết lân
麟
cũng là một dạng của long
龍,
viết bằng bộ lộc hợp với chữ lân, giọng BK bây giờ là lín. Lân
là loài thú hư cấu15 cũng như rồng, có lúc mang một
sừng (unicorn, thường gặp trong các huyền thoại tây phương hơn),
có lúc mình hươu chân ngựa, có lúc đầu rồng mình trâu, có lúc là
hươu cao cổ … Giống cái gọi là lân, giống đực gọi là kỳ
麒.
Tục truyền khi kỳ lân
麒麟,
loài 'thú nhân đức' theo Thiều Chửu, xuất hiện là có điềm lành,
hay thánh nhân xuất hiện. Tục truyền rằng khi Khổng Tử viết kinh
Xuân Thu nói đến chuyện bắt được con lân què ngoài đồng thì thôi
không viết nữa, thành ra kinh Xuân Thu còn được gọi là Lân Kinh.
Lân còn có nghĩa là ngón chân con kỳ lân, con cháu nhà vua hay
tôn thất… Lân nhi là đứa con quý – cách dùng lân chỉ tính chất
cao thượng, tốt chẳng khác gì cách dùng long – nhưng có lẽ vì
long liên hệ đến vua chúa nên lân được dùng thay cho long để
tránh đụng chạm:
'Điềm lành sớm ứng lân
nhi một chàng' (Hoa Tiên)
'Loan rằng sử Mã, kinh
Lân' (Lục Vân Tiên)
Múa lân
là là phong tục thường thấy trong các ngày hội hè, nhất là tết ở
Viêt Nam. Đây là một chứng tích cho thấy lân là biểu tượng tương
đương với rồng; Ở TH có múa rồng, múa sư tử, múa phượng … Mũi
lân là mũi rộng (to), có lẽ chỉ mũi rồng/rộng chư có ai thấy
hình thù con lân bao giờ?
Tại sao lại có hai chữ kỳ lân? Theo người viết
thì các chữ này là các dạng đơn âm hoá của một dạng cổ hơn *klan
mà đã được đề cập nhiều lần. Khuynh hướng tạo chữ bằng cách đơn
âm hoá tổ hợp phụ âm kl- có thể giải thích tại sao ta có các
dạng giao
蛟
(âm cổ là keo) và long, hay cầu
虯
(qiú BK, rồng có sừng) và long
蛟-/虯龍
cũng như kỳ và lân
麒麟.
Đây là những chữ từ thời Thượng Cổ khi ngôn ngữ bắt đầu phát
triển, tương tự như các liên hệ còn thấy trong vốn từ HV như
khảm/lõm/hãm/hỏm 埳陷,
kiểm/liễm/thiểm 臉
(má, mặt), khoã/loã
裸
(trần), khảo/lão 考老,
các/khạc/lạc 各恪落,
lộ/cò? 鷺,
lũ/gù 僂,
cũ 窶
còn đọc là lũ, … v.v… Tương quan dạng cổ kl- với các dạng bắt
đầu bằng k/c- và l- đáng được nghiên cứu sâu xa hơn thay vì chỉ
được nhắc đến trong giới hạn của bài viết về chi thứ 5 này.
Quá trình đơn âm hoá cũng xẩy ra khi dùng tiếng
Phạn trong thuật ngữ của Phật giáo: Phạn hay Phạm
梵
viết bằng bộ mộc 木
và chữ phàm 凡
HT có nguồn gốc là Brahma với âm r mất đi. Bà-La-Môn
婆羅門
vẫn còn duy trì âm r với từ gốc Phạn là Brahmana. Các dạng cổ
Pha-Lang-Sa, Pháp-Lan-Tây đã trở thành Pháp chính là đơn âm hoá
tiếng France. Các dạng phiên âm bây giờ có khuynh hướng duy trì
các âm gốc thay vì chỉ có đơn âm như câu-lạc-bộ (từ âm club),
cà-lem (từ âm crème, đơn âm hoá thành kem), xì-ke (từ âm scag
tiếng Anh), xì-lô (từ âm slow) …
Quá trình đơn âm hoá cũng giải thích được các
dạng thằn lằn, thuồng luồng, xuông luống … Nên ghi nhận
蠑
ở đây là một chữ Hán rất hiếm gặp11
(tần số dùng 65 trên 237243358) viết bằng bộ trùng
虫
hợp với chữ vinh 榮,
giọng BK bây giờ là róng (蠑螈
róngyuán, con sa giông, một loại kỳ nhông).
Tổ hợp phụ âm kl-, tl- trên còn cho ra một dạng
nữa là chằn/giằn, chằng do biến âm tl- > tr- và cuối cùng
ngạc hoá thành ch-. Bà chằn (tiếng 'đàng Trong' theo Viêt Nam Tự
Điển, 1954) nghĩa là yêu quái, con chằn tinh trong truyện Thạch
Sanh. Chằng còn có nghĩa là trương ra và cho thấy mối liên hệ
đến lươn, nương và rồng (xem bảng tóm tắt ở cuối trang). Ta còn
thấy cách đọc *tlăng là trăng hay giăng/chăng ở Bắc Bộ.
6.2 Nếu lân là một dạng của rồng, thì ta không
lấy làm lạ với dạng long HV (leng5 Minnan) so với tôn/tông, hay
thấy ở một số phương ngữ Trung bộ (Thừa Thiên, Quảng Nam…) không
phân biệt -n và -ng. Liên hệ long-rồng còn thấy qua bảng so sánh
sau:
Tiếng HV Giọng BK Tiếng
Đại Hàn Tiếng Nhật
Long / rồng
龍
lóng yong*
ryuu/ryoo**
Luyện / rèn
鍊
liàn
yon ren
Liên / liền / rền
連
lián
yon ren
Li / lìa / rời
離
lí, lì
li ri
Lân (rần rần)
轔
lín
lin rin
Lực / sức / rất / rứt
力
lì
ryok riki, ryaku
(Sâm / Lâm / rừng
森林
shēnlín samrim shinrin
…v.v… (*ngạc hoá
l>j) (**mất phụ âm cuối -ng)
Vì là các phụ âm đầu lưỡi / răng hữu thanh nên r
và l rất dễ hoán chuyển cho nhau như trên. Không những thế,
lân
麟
còn
liên hệ đến rắn mà vết tích là chữ liên
虫+連
HV,
viết bằng bộ trùng hợp với chữ liên
HT – giọng BK bây giờ là lián, Hẹ là lien2 – nghĩa là (a)
con rắn (b) một loại thằn lằn màu đỏ ở Triết Giang… Để ý chữ Nôm
viết rắn bằng bộ trùng hợp với chữ lận
虫+吝.
Luận HV viết bằng bộ trùng hợp với chữ luận
蜦
HT, giọng BK là lún/lùn, nghĩa là bò sát (lăn,
lượn) như con rắn … và dĩ nhiên là con lươn với các từ
trườn, lượn và lườn đều có liên hệ đến lân/lăn/rắn và dạng cổ
hơn *klan/*tlan.
6.3 Một cách nhìn khác là xem các chữ mà long
龍
(rồng) được dùng làm thành phần HT. Đa số đều đọc là long, lồng…
Một biến âm đáng chú ý là lung
聾
HV, viết bằng bộ nhĩ (lỗ tai) hợp với chữ long
HT, nghĩa là điếc – giọng BK bây giờ là lóng, so với lung2,
lung4 (QĐ) và lang5 (Minnan/Đài Loan), theo người viết có thể
liên hệ đến lảng (tai). Theo truyền thuyết thì loài rồng không
thính tai. (theo Vân Đài Loại Ngữ – của Lê Quý Đôn, bản dịch của
Trần Văn Giáp (2006), và bản dịch của Pham Vũ, Lê Hiền (1972) –
xuất xứ ở thiên Sinh Tiêu Luận trong Luận Hành của Vương Sung
còn phải kiểm tra lại.)
6.4 Trở lại với chữ Thìn/Thần
辰,
hay chén BK – đây là một cách đọc của chữ đông
羊+東
rất hiếm viết bằng bộ dương hợp với chữ đông (phương), giọng BK
bây giờ là chén, dōng so với dung1 QĐ – nghĩa là con lân
(unicorn) 山海經:
"其狀如羊
一角一目 目在耳後".
Có thể chữ này giải thích được phần nào mối dây liên hệ trực
tiếp giữa cách gọi Thần/Thìn (chén BK) với tên con vật hư cấu
rồng/lân như đã nói trên.
Không những thế, khi xem cách cấu tạo chữ long
龍
ta
thấy bên phải là chữ phi
飛
viết
tắt (飞),
bên trái phía dưới là chữ nhục
月,
và bên trên là chữ lập
立
tắt
của chữ đồng
童
HT (說文解字:
從肉飛之形
童省聲): điều
này cho phép ta thành lập một dạng cổ hơn là *klan/klon với biến
âm kl/tl/tr-đ, xem bài viết riêng về liên hệ tl-/kl-/tr- và đ-
như trần-đông-điền 陳/東/田,
trọc-đục 濁,
trọng-động 重/動
…
Cách viết giản thể 龙
bây giờ không cho ta nhiều dữ kiện như các cách
viết xưa kia.
Ngoài ra, theo Tả Truyện thuật lại lời của Nguỵ
quốc Sử quan Thái Mặc 蔡墨
rằng: 左傳:
昔有 飂叔安
… 實甚好龍
… 帝赐之姓曰董
氏曰豢龍
…",
vào thời xa xưa có một người tên là Liêu Thúc An 飂叔安,
rất thích nuôi rồng nên về sau con cháu đời sau của ông được
Thuấn đế ban cho họ (tính) Đổng 董
và thị Hoạn 豢
(nuôi dưỡng) Long – đây là nguồn gốc của họ Hoạn Long ở TH.
Trong trường hợp này ta thấy các âm Đổng và Long
đã tương ứng từ thời Thượng Cổ. …v.v…
Phụ âm đầu lưỡi đ- còn thấy trong tiếng Thái
thûng
ทุ่ง,
rất có thể có liên quan đến chữ đồng (-ruộng).
Ngoài ra còn có cách đọc một chữ rất ít gặp là
nông, viết bằng bộ thảo hợp với chữ Thần/Thìn
艹+辰
HT (康熙字典
玉篇:
古文農字)
giọng BK bây giờ là chén so với san4 QĐ, nung2 (còn duy trì âm
cổ nông)…
Chữ nông
農16
thường gặp hơn viết trong bộ điền hợp với chữ Thần/Thìn … cho
thấy Thần/Thìn đã từng liên hệ đến nông
農
hay
lông/lung 龍,
vì thế ta có thể thấy tương quan âm thanh của Thần/Thìn và long
(rồng). Để ý cách phát âm l- thành n- ở một số địa phương như
Hải Phòng … cũng giống như giọng Hẹ (đọc nông là lung2 hay
nung2): các phương ngữ này đã duy trì cách đọc rất cổ của
long-nông vậy.
|