|
Tỵ/Tị là con giáp
thứ 6 trong 12 con giáp, dùng để chỉ thời gian như giờ giấc (từ
9 đến 11 giờ sáng), hay tháng Tư … Cũng như dùng để chỉ không
gian như phương Đông Nam (gần Nam hơn, giữa SE và SSE). Chữ và
âm Tỵ rất khác biệt với âm rắn bây giờ, hay với các dạng cổ phục
hồi của rắn – ngay cả khi khảo sát các dạng của phương ngữ Trung
Hoa (TH) – có lẽ đây là một trong những lý do khiến các học giả
trước đây như Paul Benedict, Jerry Norman … không thể liên hệ
trực tiếp Tỵ với rắn, xà. Tuy nhiên, với nhiều dữ kiện ngôn ngữ
được công bố gần đây và nếu ta nhìn rộng ra hơn qua các ngôn ngữ
thuộc họ Môn-Khme, tương quan của âm Tỵ và rắn sẽ trở nên rõ
nét. Dạng Tỵ đã nhập ngược vào tiếng Việt ta khoảng thời Đường
Tống về sau (biến âm s-t), nên phải truy nguyên từ dạng
sì/zi/cih/chi
của
tiếng TH. Thí dụ như dạng cổ phục hồi *psi: của tiếng tiền
Pearic1 (proto-Pearic) dựa trên tiếng Chong (si:
là con rắn), tiếng Saoch (phsi: là con rắn). Liên hệ Tỵ và rắn
do đó không dễ nhận ra như Mão/Mẹo – mèo, Ngọ - ngựa, Tý/*chút -
chuột … mà ta phải dựa vào các ngôn ngữ trong họ Môn-Khme hay
Nam Á như Hợi/*gỏi – cúi (heo, tiếng Mường). Phần này sẽ đi sâu
vào cách đọc và cách viết của Tỵ sau khi nhìn tổng quát hình ảnh
con rắn trong hai nền văn hoá Trung Hoa và Việt Nam để cho thiết
lập các mối dây liên hệ. Số đứng sau âm vận chỉ thanh điệu khác
với số (superscript) chỉ phụ chú và phê bình thêm.
1. Giới thiệu tổng
quát
Tỵ là từ Hán Việt
(HV), giọng Bắc Kinh (BK) bây giờ là sì theo phiên âm (pinyin)
so với giọng Quảng Đông (QĐ) zi6, Hẹ là cih6, cih5, sii6, gi5,
su5, chi7 … và Minnan (Đài Loan) là chi7. Tỵ có các nghĩa là bào
thai, chỉ thời gian/không gian như đã nói trên và một họ người
TH... Biểu tượng của chi thứ sáu Tỵ là con rắn, ta hãy xem qua
các thành ngữ và tục ngữ trong văn hoá TH cho thấy hình ảnh của
rắn; Thường là có hàm ý xấu hay tiêu cực cũng như hình ảnh rắn
trong văn hoá Việt.
Xà khẩu phong châm
: độc như miệng rắn hay ong chích – so sánh với câu khẩu phật
tâm xà (hay phật khẩu tâm xà) thường gặp hơn trong văn
hoá Việt Nam (VN) hơn. Xà thiệt (lưỡi rắn) : hàm ý tâm địa ác
độc hay làm hại kẻ khác.
Xà hiết tâm trường
: tâm địa ác độc (hiết/yết là con bò cạp, con rết – tâm địa rắn
rết)
Huỷ dịch
: rắn độc và tắc kè, chỉ người ác độc
Huỷ vực
: con rắn và con sâu có nọc độc, chỉ người ác độc (‘sâu độc’)
Hoạ xà thiêm túc
: vẽ rắn thêm chân, hàm ý dư thừa, không cần thiết – so với
thành ngữ xà túc (chân rắn) - rất ít gặp trong văn hoá VN
từ thời gian dùng chữ La-Tinh.
Hổ đầu xà vĩ
: đầu hổ đuôi chuột, hàm ý khởi đầu rất hay nhưng kết thúc rất
dở - ta thường gặp câu nói đầu voi đuôi chuột trong văn hoá VN
hơn.
Xà hành
: bò sát đất như rắn, hàm ý tình hình bất ổn – xà vô đầu bất
hành : rắn không đầu chạy không được (hỗn loạn như rắn mất
đầu).
Xà thôn tượng
: rắn ăn voi, hàm ý quá tham lam.
Ngưu quỷ xà thần
: chỉ các thành phần không tốt trong xã hội – xà thỉ (heo
và rắn) chỉ các thành phần xấu cũng như phong thỉ trường xà
(heo rừng dữ tợn và rắn độc dài).
Bôi công xà ảnh
: ảnh của cái cung trong chén như hình con rắn, hàm ý rất đa
nghi, để ý thứ tự chữ có thể là xà ảnh bôi công. Cùng
nghĩa đa nghi là câu xà cung thạch hổ - thấy cung mà lại
nghĩ đến rắn (đều có hình dáng cong cong). Trong ca dao TH còn
truyền lại rằng “rắn hay dây thừng” cho thấy người bị rắn cắn
một lần thấy sợ (nhát gan) khi thấy dây thừng2 vì
hình thù cong cong giống như rắn.
Xà đầu thử nhãn
: đầu rắn mắt chuột, ý nói người gian xảo
Dẫn xà xuất động
: dẫn (dụ) rắn ra khỏi hang (ổ).
Đả xà đả thất thốn
: đụng vào chỗ yếu (nhược), đánh vào chỗ hiểm (yếu).
Đả thảo kinh xà
: động vào cỏ làm rắn giật mình, cẩn thận quá đáng làm kẻ thù để
ý.
Xà trấp tồn thân
: rắn núp để giữ mình - thờI gian cần phải ẩn mình không ra mặt.
Viết tẩu long xà
: chữ viết nhanh và dễ dàng. Hư dữ uy di (di HV hay yí BK
là một cách đọc khác của xà) chỉ sự giả bộ nghe lời. Uy di
còn có nghĩa là lấy lệ, qua loa …
Cường long bất áp
địa đầu xà
(cường long chỉ người có quyền, địa đầu xà chỉ tên ác ôn côn
đồ), hàm ý người có quyền hành không chế ngự được kẻ ác ôn ở địa
phương. Câu này cũng giống như câu ‘Rồng mạnh không ép rắn thổ
địa’4 cho thấy rắn vẫn giữ đuợc một vị trí dặc biệt
của mình như là ‘vua một cõi’.
Rắn cũng hiện diện
nhiều trong văn hoá dân gian VN : từ đôi rắn được chạm ở đền
Gióng (Phù Đổng, Hà Nội) hay để chỉ sự may rủi
“Hễ đi gặp rắn thì may
Về nhà gặp rắn thì hay phải đòn”
Hoặc là
“Rắn đến nhà chẳng đánh thì quái
Gái đến nhà chẳng chơi cũng thiệt”
Từ rắn được dùng
một lần trong truyện Kiều :
“Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này” câu 2016
(Kiều)
Và ‘…Thẳng như rắn
bò; Thao láo như mắt rắn ráo; Oai oái như rắn bắt nhái; Bạnh như
cổ hổ mang; Cõng rắn cắn gà nhà; Lẩn như rắn mồng năm; Miệng hùm
nọc rắn; Rắn già rắn lột, người già người cột đầu săng; Rắn rết
bò vào, cóc nhái bò ra; Đuôi ong lưỡi rắn; Rắn đổ nọc cho lươn…”
.
Qua các thành ngữ
ca dao trên, ta thấy hai nền văn hoá TH và VN rất gần với loài
rắn – nhưng mang tính chất tiêu cực nhiều hơn so với nền văn hoá
Ấn Độ chẳng hạn. Nếu rắn (độc) có khả năng huỷ hoại thì naga
(rắn Ấn Độ) có khả năng siêu phàm như thánh thần. Trong đạo
Phật, Đại Xà (rắn ‘vĩ đại’, Mahanaga) là tên gọi những người đã
siêu độ và không tái sinh (rebirth) như đức Phật Tổ …v.v… Tuy
nhiên, qua văn hoá dân gian TH và VN, ta cũng thấy hình ảnh rắn
đi chung với rồng như những điệu múa rồng rắn Lệ Mật3
(Gia Lâm), các ngôi đình ở xứ Đoài có những tổ hợp rồng rắn nghệ
thuật, câu nói ‘rồng rắn lên mây’, chiêm mộng có cả rồng
và rắn như ‘long xà nhập môn đắc tài, long xà nhập táo hữu quan
chí, long xà sát nhân đại hung…’; Các truyền thuyết địa phương
về rồng rắn và tiên …v.v… Văn hoá TH thời Thượng Cổ cho thấy
hình vẽ con rắn và con rồng rất giống nhau, theo “Luận Hành’ thì
‘…rồng có lúc giống rắn, rắn có khi giống rồng…’4
Nhìn qua văn hoá
phương Tây, ta thấy tiếng Anh, Pháp dragon (con rồng) có gốc La
Tinh draconem (con rắn, rồng), và Hi Lạp drakon (rắn, cá
biển/seafish) cho thấy sự gắn bó của rồng rắn từ phương Đông
sang phương Tây từ thuở xa xưa. Tương quan rồng rắn còn thấy
trong vị thế gần bên nhau và chính giữa của hai loài này trong
thứ tự 12 con giáp. Tại sao lại kế nhau (Thìn trước ngay Tỵ) như
vậy? Liên hệ rồng rắn và tương quan ngữ âm rồng/long/lươn/trình
– trăn/rắn - thằn lằn, thuồng luồng … sẽ được bàn luận sâu hơn
trong phần viết về chi thứ 5 là Thìn/Thần.
Tóm tắt khi lướt
qua hai văn hoá dân gian TH và VN là hình bóng con rắn đã in sâu
vào tiềm thức của hai dân tộc, hay chính xác hơn là những dân
tộc (như Mân Việt, tập đoàn Hoa Hạ …) cổ đại đã có tín ngưỡng
thờ rắn rết như tôtem. Nhờ sự liên tưởng đến
sâu bọ
trong văn hoá dân gian (qua câu nói tâm địa ‘sâu độc’) mà ta có
thể bắt đầu thiết lập mối tương quan giữa Tỵ và rết (loài sâu,
trùng)10.
Trở lại với chữ Tỵ
HV, viết bằng bộ kỳ, bộ thủ thứ 49 trong 214 bộ. Giống như 12
chữ viết cho 12 tên con giáp, chữ Tỵ được dùng làm thành phần
hài thanh (HT) trong quá trình thành lập các chữ Hán; Tỵ (hay
dĩ) viết bằng bộ thuỷ hợp với chữ Tỵ bên phải là sông Tỵ thuộc
tỉnh Hồ Nam, hay là một dòng nước rẻ ngả khác rồi lại chảy vòng
lại. Di HV, yí BK viết bằng bộ thổ hợp với chữ Tỵ bên phải,
nghĩa là chiếc cầu, bờ. Tự HV, sì BK viết bằng bộ kỳ hợp với chữ
Tỵ, nghĩa là thờ cúng, năm, thế hệ .. Di HV, yí BK viết bằng bộ
thần hợp với chữ Tỵ bên phải là má, hàm (càm, cằm …còn viết bằng
bộ hiệt). Chữ Tỵ còn thấy trong chữ bao (bộ bao hợp với chữ Tỵ)
chỉ bào thai. Xà HV, shé BK viết bằng bộ trùng hợp với chữ tha5
HT, nghĩa là con rắn trong vốn từ TH hiện nay. Giọng BK có nhiều
dạng như shé, chí, tuō, tuó, yé , yí … so với se4, ji4, se2
Quảng Đông, sa2, sha2, ri2, ji2, ji5 Hẹ, choa5 Minnan (Đài Loan)
… nhưng để ý cách đọc yí (hay di HV) : có thể liên hệ đến dĩ
(sông nhập lại). Đây là một mối dây liên hệ ngữ âm giữa xà (shé,
yí BK) và Tỵ (yĭ, thành phần HT của sông Tỵ). Nên nhắc lại ở đây
là cách cấu tạo chữ Hán dựa rất nhiều vào loại HT, cũng như cốt
lõi của lý luận người viết về nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con
giáp.
2. Phụ âm đầu t-
của Tỵ
Biến âm s-t hay sh-
th- rất thường gặp khi so sánh tiếng HV và TH (giọng BK hiện
nay). Nhiều tác giả6 trước đây đã phân tách liên hệ
s-t thời Trung Cổ, kết quả cho thấy quá trình nhập vào tiếng
Việt có hệ thống vào khoảng đời Đường Tống trở lại đây. Thêm vào
đó là liên hệ s-t khi ta so sánh tiếng Việt và các ngôn ngữ láng
giềng7 : tóc là xok (tiếng Khme, Bru, Mnông, Tà Ôi),
xăk (Rơngao), usuk (Chứt), xok/xâk (Bahna), xoak (Gié Triêng),
xaq (Brâu), , xôq (Semang), xuk (Poọng), xăk/thăk (Mường), chôk
(Biat), xo (Kơho) .… So sánh tiếng Mường và Việt, ta vẫn thấy
liên hệ s-t như sịt-thịt … cũng như liên hệ đồng đại trong tiếng
Việt sẹo-thẹo, xoạc-toạc, xốn-thốn … Xem thêm bài viết về Thân
(shēn BK, chi thứ 9) về tương quan s-t. Các điều này cho ta cơ
sở giải thích sự liên hệ giữa Tỵ (HV) và sì (BK)
Giọng
BK Hán Việt Việt
Sài
tái
cửa ải
Să
táp
vãi, rắc (nước)
Sàn
tán
tản ra, tan
Sān
tam
(số) ba
Sāng
tang
đám ma
Săng
tảng
(đá) tảng
Sàng
táng
mất
Shàn
thiện
lành
Shàng
thương
bàn thảo (thương thuyết)
Shàng
thượng
ở trên
Shăng
thưởng
ban cho
Shéng
thằng
(dây) thừng
Shī
thi
thơ, thư
Shí
thì
thời, giờ, chừ
Shŏu
thủ
đầu
Sì
tứ
bốn
Sòng
tống
đưa, chuyển
Sú
tục
tục lệ, phong tục
Suō
thoa
(cái/con) thoi
…
…
…
William Boltz
(1991) phục hồi âm Thượng Cổ của Tỵ (sì BK) là *sgiơgx để giải
thích được các dạng khác nhau của Tỵ như si, sơ, gơ (tiếng
Pu-Yi, xem bảng so sánh các tên gọi trong bài viết phần 2).
Edwin Pulleyblank (1991) phục hồi âm Trung Cổ của Tỵ là *zi, so
với dạng *dziơg của Bernhard Karlgren (1957) – xem các chi tiết
về tài liệu trích dẫn phần này từ bài “Nguồn gốc Việt Nam của
tên 12 con giáp - phần 2”.
3. Nguyên âm i/y
của Tỵ và thanh điệu
Nguyên âm i/y của
Tỵ phù hợp với nguyên âm i của giọng BK và QĐ bây giờ. Thanh
nặng tương ứng với thanh thứ tư (4th tone, khứ) của
giọng BK, cũng như thanh thứ ba (3rd tone, thượng)
của giọng BK – cũng như thanh điệu của âm Hán Trung Cổ
Giọng
BK Hán Việt Việt
Bèi
bội
trái lại, phản
Bàn
biện
lo liệu
Bào
bạo
bạo động, bạo lực, chơi bạo
Dà
đại
lớn
Dì
đệ
em
Dù
độ
đơn vị đo góc
Fàn
phạn
cơm
Fèng
phụng
dâng, biếu
Hào
hạo
to lớn, nhiều
Jìng
tịnh, tĩnh
sạch
Luò
lạc
rơi, rụng
Màn
mạn
khinh (miệt)
Nù
nộ
giân dữ
Shì
thị
chợ
Shèn
thận
(quả) thận, cật
Shù
thụ/thọ
cây
Zà
tại
còn/sống
Zhù
trợ
đũa
…
…
…
4. Bàn luận về liên
hệ Tỵ - rắn rít
Các dữ kiện ở trên cho
thấy Tỵ đã nhập vào ngôn ngữ Việt khoảng thời Đường Tống về sau,
phù hợp với những biến âm s-t và tương quan thanh điệu, cũng như
cả hệ thống 12 con giáp. Mức độ trừu tượng đã lên cao khi không
còn nhận ra được một liên hệ trực tiếp nào với tên gọi 12 con
giáp trong tiếng TH, HV cũng như Việt. Các lý do dễ nhận ra là
thời gian tính và những lý thuyết về ngũ hành, bói toán dựa trên
hệ thống 12 con giáp đã phát triển rất mạnh mẽ vào thời Đường
Tống. Thêm vào đó là cách dùng 12 con giáp để tính ngày giờ, năm
tháng làm cho chúng trở thành một thứ ‘ngôn ngữ dặc biệt’ ,
những từ đóng vai trò quan trọng và có khi trở thành ‘linh
thiêng’ : chúng là những tiếng hoá thạch (‘fossilised’ sounds)
cho ta cơ hội phục hồi âm cổ. Nhìn qua tiếng Thái, năm Tỵ còn
gọi là bpee ma seng – năm con rắn – seng là con rắn so với các
dạng săn, sin của tiếng Mường; so với cách gọi bpee ma rong (năm
con rồng) cho thấy sự vay mượn trực tiếp từ nhóm Việt-Mường.
4.1 Trong vốn từ
tiếng TH hiện nay có một chữ rất hiếm8 là ty HV hay
sī, yí BK viết bằng bộ trùng hợp với chữ ty HT. Để ý các cách
đọc của tiếng Hẹ như
sii1, ji2, ri2
… nghĩa là loài bò sát, côn trùng … Chữ ty/ly còn có thể viết
bằng bộ trùng hợp với chữ lệ HT nghĩa là loài vật không cánh
giống như con rết - chữ này rất ít gặp8 – xem thêm
phần 4.3. Tiếng Mường Ruc có từ
kasit
là con rít (con rết, con rệt) – có lẽ còn tàn tích trong cách
dùng ‘rắn rít’. Từ các dữ kiện trên, và từ cách viết chữ Tỵ
(giống hình con rắn, rết) người viết đề nghị một nghĩa cổ của Tỵ
là con rít9 hay
*zit
(giọng Bắc Bộ). Liên hệ đồng đại s-r phản ánh qua cách dùng
siết-riết, sít-rít, sầu-rầu, sờ-rờ, xà-rà, súc-rúc, sầm-rầm,
xẻo-rẻo …Vương Lộc trong “An Nam Dịch Ngữ - giới thiệu và chú
giải” (1995) đề nghị âm cổ của răng là *săng, so với tiếng Mường
Ruc kăsăng. Ngoài ra các phụ âm cuối tắc t/c/p thường có khuynh
hướng mất đi trong giọng BK, Ngô (Thượng Hải)… để cho ra dạng
*zi, phù hợp với dạng âm Hán Thượng Cổ *zji? theo tác giả
William Baxter10. Phụ âm cuối tắc mất đi như trong
các trường hợp sau
Giọng BK
Hán Việt Quảng
Đông Hẹ
Minnan (Đài Loan)
Guó
quốc
gwok3
kwet7
kok1
Lì
lực
lik6, lik1
lit8
lat6
Dú
độc (hại)
duk6
tuk8
tak8
Fó
Phật
fat1
fut8
hut8
Fú
phục
fuk6
fuk7
hok8
Sú
tục (lệ)
zuk6
siuk8
siok8
Mù
mục (mắt)
muk6
muk7
bak8
Bĕi
bắc (hướng)
bak1
bet7, biet7
pak1
Shí
thập (mười)
sap6
ship8, sip8
chap8
Qī
thất (bảy)
cat1
cit7
chhit1
Zhí
chất (lượng)
zat1
zit7, chip7
chit1
Yuè
Việt (Nam)
jyut6
jat8, jet8
oat8
…
…
…
…
…
Tóm lại, ta có thể
khôi phục âm Thượng Cổ của Tỵ là *zit (rít, rết), loài bò sát
nguy hiểm còn lưu truyền qua câu nói ‘độc hại như rắn rít’, hay
‘rắn rồng ri’ … Không những thế, các di tích tìm thấy thời Tiên
Tần còn cho thấy
sâu bọ
cũng từng là hình ảnh của các con giáp11. Trong vốn
từ TH hiện nay có chữ tức HV ít thấy với tần số dùng là 12 trên
430747376 (đọc là jí BK) - viết bằng bộ trùng hợp với chữ tức HT
– nghĩa là con
rết,
con dế,
con chuồn chuồn…; Để ý cách đọc zik1 (QĐ) và zit7 (Hẹ) rất gần
với âm rết giọng Bắc VN bây giờ. Do đó, loài rết cũng có thể đã
là một trong 12 con giáp dùng làm vật tổ cho các dân tộc ở miền
Nam TH. Ngoài cách viết/khắc cổ của chữ Tỵ cho thấy hình dạng
uốn cong (xem trang cuối), chính tác giả Hứa Thận trong Thuyết
Văn Giải Tự cũng đã từng nhận xét ‘..nó (tha, rắn) là giống côn
trùng sinh ra từ loài
sâu bọ,
có hình dáng dài và uốn khúc…’12
4.2 Một nghĩa cổ
của Tỵ là bào thai – có lẽ tượng hình cho thấy dạng nằm uốn cong
của đứa bé trong bụng mẹ.
4.3 Một chữ hiếm8
thấy là thị/chi HV, đọc là shì BK
si6
QĐ – nghĩa là (1) con thú hoang thuộc huyền thoại (2) con rắn.
Chữ này viết bằng bộ khuyển hợp với chữ thị HT. Con thú hoang
huyền thoại này cho thấy tính chất cổ đại của loài này, lúc mà
ảnh hưởng của nhóm Bách Việt còn lớn mạnh ở miền Nam TH. Xem lại
cách phát âm của xà HV, ta thấy các giọng đọc BK như
shé, chí,
tuó, tuō, yé, yí … và xem lại cách đọc của Tỵ là sì BK,
zi6
QĐ, se5-su5-sii5-cih6-gi6
(Hẹ),
chi7
(Minnan) ta có thể thành lập một liên hệ ngữ âm : đây là một vấn
đề cần được khảo cứu chi tiết hơn.
4.4 Một chữ rất hiếm8
là lệ/ly HV đọc là
sī, lì, lí
BK so với su1, li5 (Hẹ) - viết bằng bộ trùng hợp
với chữ lệ (đẹp) HT – nghĩa là loài vật không cánh giống như con
rết. Chỉ có chữ lệ (đẹp) mới có các dạng biến âm là sī (Ty HV)
như trên (so với Tỵ), còn các chữ khác với âm si BK thường tương
ứng với ti, di, shi, zhi, tai … Chữ lệ (ly) này được dùng để
phiên âm Cao Ly (Đại Hàn). Đây là một mối dây liên hệ cho thấy
Tỵ có thể đã từng là loài bò sát (rết) mà từ từ bị đào thải11
trong vốn từ TH hiện nay. Thêm vào đó là chữ ly hiếm thấy - tần
số dùng là 19 trên 365388752 - đọc là lí, lĭ BK, lei4 (QĐ), li2
(Hẹ) - viết bằng bộ ngư (cá) hợp với chữ lệ (đẹp), nghĩa là con
lươn (lươnh, tiếng Mường). Chữ ly này thường đi chung với chữ
man (con lươn) hay còn gọi là bạch thiện. Các phụ âm đầu lưỡi
l, r rất dễ hoán chuyển cho nhau để từ dạng li- cho ra ri- và
vẫn còn tàn tích trong thành ngữ ‘rồng rắn ri’; So sánh các cặp
long-rồng, luyện-rèn, li-rời, liệt-rét, liêm-rèm, lân-rần,
li-rào, la-rá … và liên-*ren-sen, lực-*rưc-sức, lạp-*rạp-sáp,
lãng-rạng-sáng … đều cho thấy chuỗi li-ri-si có cơ sở giải
thích.
4.5 Xem qua các ngôn ngữ láng
giềng, ta nhận thấy tiếng Chong có từ
si:
nghĩa là con rắn1 – đây là vết tích của Tỵ trong các
tiếng thuộc họ Môn-Khme/Nam Á. Nơi định cư bây giờ của người
Chong (phía Nam nước Thái, Kampuchia) cho thấy là ảnh hưởng của
phương Nam đã từng hiện diện trong các văn hoá, ngôn ngữ của
vùng Đông Nam Á thời Thượng Cổ. Tuy nhiên, ảnh hưởng của phương
Bắc (chính quyền tập trung) từ thời Tần, Hán và nhất là thời
Đường, Tống đã đẩy lui các dân tộc này về các vùng cực nam, ra
ngoài đảo xa (Đài Loan) hay lên miền cao (người Thượng)…. Điều
này phản ánh rất rõ nét khi ta phân tích nguồn gốc của tên 12
con giáp.
5. Phụ chú và phê bình thêm
Bài này nên đọc
chung với các bài phần trước trên mạng dunglac.net hay
khoahoc.net (các số lưu trữ) để được liên tục. Trong rừng học
mênh mông này, nếu người đọc có phê bình gì xin liên lạc để cùng
học hỏi với người viết qua
nguyencungthong@yahoo.com
(1) theo bài viết
“Proto-Pearic and the classification of Pearic” của tác giả
Robert K. Headley, Jr. Tiếng Chong có khoảng 5500 người nói,
5000 người ở Kampuchia và 500 người ở Thái Lan, có hiểm hoạ
tuyệt chủng. Cộng đồng người Chong bên Thái Lan tập trung ở tỉnh
Chantaburi. Tiếng Chong thuộc nhánh Pearic, họ Môn-Khme.
(2) ngày xưa lấy
nước từ giếng lên phải dùng dây thừng chứ không có vòi (khoá)
nước như bây giờ
(3) đoạn này dựa
vào cuốn “12 con giáp” (trang 453) chủ biên Vũ Ngọc Khánh, Trần
Mạnh Thường – NXB Hội Nhà Văn (Hà Nội, 1998). Sách này ghi lại
nhiều huyền thoại Mường, Việt … về rắn và ‘ở VN, rắn được coi
như là khởi nguồn của rồng’ …
(4) theo “Văn hoá
về 12 con giáp” tác giả Thường Tuấn - bản dịch tiếng Việt – NXB
Tổng Hợp Thành Phố HCM – 2005. Trang 104 ghi ‘…Theo Quảng bá
vật chí quyển 9 dẫn trong Ngũ vận lịch niên kỷ của Tứ
Chỉnh thời Tam Quốc thì ‘Bàn Cổ có đầu rồng mình rắn’…’. Tác giả
cũng ghi nhận rằng vùng văn hoá Ngô Việt thời cổ đại đều có tục
thờ rắn …v.v…
(5) thật ra tha HV
(tā BK) chính là con rắn (nghĩa cổ) – đây là chữ tượng hình.
Thời thượng cổ, con người thường làm nhà trong hang động rất gần
với các loài vật, nên khi gặp nhau thường hỏi thăm qua câu nói
‘vô xà hồ?’ hàm nghĩa là ‘không có việc gì chứ ? bạn ra sao ?
bạn khoẻ không ? … Cũng như các câu hỏi thăm bây giờ ‘How are
you?’ – theo Hán Việt Tự Điển (Thiều Chửu, bản in lại năm 1991).
Một cách viết khác của xà (con rắn) rất ít gặp và dựa vào bộ
hành hợp với chữ vi (wēi BK, làm) cho thấy tiếng TH có nhiều
cách đọc địa phương (từ các dân tộc khác nhau) – làm tăng phần
phức tạp khi đi ngược dòng thời gian phục hồi các âm cổ và chữ
Hán Cổ. – và cho ta khái niệm Tỵ là cách ghi âm của rắn từ thời
cổ đại.
(6) xem thêm
“Nghiên cứu về chữ Nôm” – tác giả Lê Văn Quán, NXB Khoa Học Xã
Hội, Hà Nội (1981); “Một số vấn đề về chữ Nôm” – tác giả Nguyễn
Tài Cẩn, NXB Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp (1985); “Nghiên
cứu chữ Hán và tiếng Hán Việt” – tác giả Vũ Thế Ngọc, Eastwest
Institute (California, 1989)
(7) theo Hồ Lê
trong bài ‘Từ Nam Á trong tiếng Việt’, đăng trong cuốn “Tiếng
Việt và các ngôn ngữ dân tộc phía Nam”, NXB Khoa Học Xã Hội – Hà
Nội (1992)
(8) theo tài liệu
trên mạng
www.chinalanguage.com/cgi-bin/dict.php . Chữ ty viết
bằng bộ trùng có tần số dùng là 19 trên 237243358.
(9) trong cuốn
“Tang Thương Ngẫu Lục” của Phạm Đình Hổ - Nguyễn Án, ta thấy
truyện ‘Núi rết’ cho thấy con rết rất lớn, có miếu thờ ngay ở
cửa hang núi. Tựa đề truyện này là ‘Ngô Công Sơn’ – ngô công HV
(con rết) hay wú gōng giọng BK bây giờ. Trong vốn từ TH cũng có
chữ jí BK (tức HV) viết bằng bộ trùng ít thấy với tần số dùng là
12 trên 430747376, nghĩa là con rết/rít mà giọng QĐ là zit1, Hẹ
là zit7 – theo người viết là tàn tích của tiếng phương Nam từ từ
bị đào thải. Liên hệ xa xôi với phương Nam của từ này còn phản
ánh qua các nghĩa khác của jí BK như con dế, con chuồn chuồn …
hay các từ chỉ loài vật như voi, cóc, bướm …v.v…
(10) cuốn “A
Handbook of Old Chinese Phonology”, William H. Baxter – NXB
Mouton de Gruyter (1992)
(11) theo tác giả
Thường Tuấn trong cuốn “Văn Hoá 12 con giáp” – NXB Tổng Hợp
Thành Phố HCM (2005). Tác giả ghi nhận từ Thuyết Văn Giải Tự
rằng ‘Mân là vùng đất phía đông nam của nước Việt, là nơi sinh
ra các loài rắn, có bộ trùng, âm môn’ (trang 108). Để ý thêm là
Ba, tên một nước cổ ở Tứ Xuyên bị Tần tiêu diệt, viết bằng bộ kỷ
cũng như chữ Tỵ. Ba có nghĩa cổ nhất là ‘đại xà, tự triện thể
tượng xà hình’ (theo Từ Nguyên), nhưng nước Ba cổ lại có tôtem
là con hổ… Thành ra nhiều tác giả TH như từ trước đến nay Thường
Tuấn chẳng hạn, cho rằng 12 con giáp có nguồn gốc là 12 con vật
tôtem của các dân tộc ở TH ngày xưa.
(12) trích từ tài
liệu (11) ở trên – ‘cách xếp loại’ của Hứa Thận dựa vào các bộ
thủ (bộ trùng trong trường hợp này) rất sơ sài. So với các dạng
tiếng Việt : *klan cho ra trăn, rắn, lân, trình (chình), lươn,
long, rồng … và đơn âm hoá cho ra các dạng thằn lằn, thuồng
luồng … cho ta mối dây liên hệ giữa thằn lằn và rắn. Điều này
rất đáng chú ý vì các phân tích DNA loài rắn cũng như xương hoá
thạch cho thấy có liên hệ giữa loài rắn (trên cạn và dưới nước,
các chân đi đã thái hoá ) và thằn lằn sống trên cạn. Rắn mối
tiếng Việt là con thằn lằn ! Xem phần viết về chi thứ 5
(Thìn/Thần – long/rồng) chi tiết hơn.

Trở về Trang Chính
|