|
Phần này viết về
chi thứ 12 hay là chi Hợi. Thoạt nhìn chữ viết hay nghe cách
cách đọc thì không thấy liên quan đến con lợn, nhưng khi ta phân
tích sâu hơn sẽ thấy tương quan của âm Hợi với tên cổ của lợn,
cũng như cách viết/khắc cổ cũng cho thấy điều này mà rất ít
người biết đến – ngay cả những bậc uyên thâm về Hán học. Hợi chỉ
thời gian từ 9 giờ tối đến 11 giờ tối hay tháng 10, nếu là không
gian thì Hợi chỉ phương bắc bắc tây (NNW) – khái niệm hợp nhất
của thời gian và không gian trong triết lý Á Đông rất đặc biệt
nhưng không nằm trong phạm vi các bài viết này. Chúng ta rất dễ
bị đưa vào mê hồn trận khi tra cứu các tài liệu và truyền thuyết
cổ điển Trung Hoa (TH) để kết luận (không kiểm chứng) rằng 12
con giáp có nguồn gốc TH ! Người viết tránh dùng thuật ngữ trong
bài để người đọc dễ thông cảm hơn về các lý luận ngữ âm. Thanh
điệu trong ngôn ngữ ghi bằng số đứng ngay sau chữ khác với cách
ghi thanh điệu tiếng Việt hay cách Phiên Âm (pinyin) phổ thông
của giọng Bắc Kinh (BK) bây giờ. – không nên lầm với các số chú
thích (superscript).
1. Giới thiệu tổng
quát
Lợn hay heo là loài
vật chung sống với gia đình Việt Nam từ thuở xa xưa - được thuần
hoá rất sớm từ loài heo rừng (hoang) và cung cấp những món ăn
ngon bổ cho dân ta. Lợn cũng là một trong tam sinh (thịt ba loài
trâu/bò, dê, lợn thường được dùng tế thần) và lục súc (sáu loài
vật thường nuôi trong nhà : trâu/bò, ngựa, gà, dê, lợn, chó) –
các nhóm từ tam sinh, lục súc cho thấy các loài vật này gắn bó
với văn hoá TH và Việt Nam từ lâu. So sánh với một số văn hoá và
tín ngưỡng khác như Hồi giáo tránh ăn thịt heo, Ấn Độ giáo thì
tránh ăn thịt bò … Tất cả các bộ phận của lợn đều được làm thành
những món ăn như đuôi lợn làm canh, máu lợn làm tiết canh … ngay
cả đầu lợn khi người viết qua Úc thì không được bán trong tiệm
thịt hay siêu thị (khoảng đầu thập niên 1970) - nhưng sau năm
1975 khi có nhiều người Việt sang Úc thì bắt đầu bán các đầu lợn
– sau này lại ít dần đi. Để ý các cách dùng như
thủ lợn
là đầu lợn (thủ1 HV là đầu trong trường hợp này),
thịt thủ, giò thủ … khác với thủ HV là tay như thủ bút, thủ hạ …
Lợn mà giữ được tám điều răng của nhà Phật (Trư Bát Giới, một đồ
đệ của Đường tăng Tam Tạng) đã trở thành bất tử qua truyện Tây
Du Ký của tác giả Ngô Thời Ân, ảnh hưởng TH này còn thấy trong
các nền văn hoá Việt Nam, Đại Hàn, Nhật Bản … Sự thân thiết giữa
cấu trúc gia đình và loài lợn trong xã hội TH ngày xưa còn phản
ánh qua cách viết chữ
gia
HV (nhà, giọng BK bây giờ là jiā) : bộ miên (nóc nhà) và chữ thỉ
(con heo) ở dưới. Văn học TH cổ còn ghi câu nói ‘Trư tiến môn,
bách phúc lâm’ hàm ý là lợn vào nhà thì trăm điều may mắn theo
vào ! Ngày nay, mặt heo hay mặt lợn chỉ người có mặt to và hàm ý
tiêu cực. Việt Nam ta còn phân biệt các loại lợn như lợn lòi
(lợn rừng), lợn sề (lợn đẻ nhiều lần), lợn nái (lợn nuôi để đẻ),
lợn sữa (lợn con còn bú sữa mẹ), lợn bột (lợn mới lớn nhưng còn
non), lợn tháu (lợn nói nhiều), lợn cấn (lợn đực nuôi làm
giống), heo lang (heo đen có xen đốm trắng), heo voi (heo nhà
loại lớn con), heo bông (heo đốm đen trắng lẫn lộn), heo nưa
(heo vàng mỡ), heo lứa2 (heo choai mới lớn)… Một loại
lợn phổ thông bây giờ là loại lợn có bụng to (pot-bellied pig,
lợn ỉ hay heo mọi) gốc ở Việt Nam mà tài tử nổi tiếng George
Clooney đã nuôi nhiều năm (con lợn này tên là Max chết vào tháng
12 năm 2006) – xem thêm các chi tiết trên mạng
http://en.wikipedia.org/wiki/Pot-bellied_pig . Theo tin của
đài BBC trên mạng thì giống lợn này có nguy cơ tuyệt chủng vì
nông dân chuyển sang nuôi các giống heo nhập ngoại (xem thêm tin
trên mạng
www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/ cuối tháng 1 năm
2007). Kinh nghiệm xã hội và truyền thống dân tộc ta gắn liền
với hình ảnh con lợn qua ca dao tục ngữ như
‘Mẹ em tham thúng xôi chiêm
Tham con lợn béo tham tiền hoa-viên’
(Việt Nam Tự Điển, 1954)
‘Con lợn trắng mắt thì nuôi
Con
người trắng mắt là người bỏ đi’
Hay
‘Nuôi con chẳng dạy chẳng răn
Thà rằng nuôi lợn cho ăn lấy tiền’ (….
mà ăn lấy lòng)
‘Lợn bột thì ăn thịt ngon
Lợn nái thì đẻ lợn con cũng lời’
Và ‘lấc lác như quạ
vào chuồng lợn; lợn lành chữa lợn què; mắt như mắt lợn luộc; vì
đâu heo gánh gộc chuối; voi đú chó đú lợn sề cũng học; con heo
kén ăn khó nuôi; đầu gà má lợn; lợn đầu cau cuối; lợn đói cả năm
không bằng tằm đói một bữa; lợn lành chữa lợn toi; lợn đực
chuộng phê, lợn sề chuộng chõm; lợn giò bò bắp; lợn trong chuồng
thả ra mà đuổi; mổ lợn đòi bèo, mổ mèo đòi mỡ; nhâng nháo như
cáo vào chuồng lợn; nuôi heo lấy mỡ, nuôi người (con) ở đỡ chân
tay; nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng; con lợn béo cỗ
lòng mới ngon; lợn ăn xong lợn nằm lợn béo, lợn ăn xong lợn réo
lợn gầy; lợn chê chó có bọ; lợn chuồng chái, gái cửa buồng; lợn
cưới, áo mới; lợn đói một bữa bằng người đói nửa năm; lợn không
cào chó nào sủa; lợn nhà gà chợ; lợn nước mạ, cá nước rươi; lợn
rọ chó thui; lợn thả gà nhốt; trơ trơ như thủ lợn nhìn thầy;
giàu nuôi lợn đực, khổ cực nuôi lợn cái; giàu nuôi lợn nái,
nghèo nuôi chó cái gà con; mượn đầu heo nấu cháo’ 3…v.v…Các
câu trên dễ nhớ vì có cơ cấu liên hệ các chữ và nghĩa như hợp
vần, phản nghĩa … thuận lợi cho trí nhớ và lối truyền khẩu so
với cách dùng bóng bẩy của văn chương HV. Ta hãy xem các thành
ngữ HV như
‘Trư đa phì đa’
(Trư
HV là heo : nuôi heo càng nhiều thì càng được nhiều phân bón)
‘Trư vãng tiền củng, kê vãng hậu vát –
cách hữu cách đích hoạt lộ’
(ý nói ai cũng có cách làm việc riêng để đạt kết quả)
‘Thỉ đột lang bôn’
(Thỉ là heo : ý nói chạy đi đột ngột và
nhanh như heo và lang sói)
‘Dưỡng nam bất giáo, bất như dưỡng lư.
Dưỡng nữ bất giáo, bất
như dưỡng trư’ (nuôi con trai mà không
giáo dục thì chẳng bằng
nuôi con lừa. Nuôi con gái mà không giáo
dục thì chẳng bằng
nuôi con heo) – theo Lê Gia trong “Tiếng
Nói Nôm na” (1999)
‘Thỉ
giao thú súc’
(đối xử như súc vật, ý nói không được lễ
phép)
‘Đồn
đề nhương điền’
(Đồn HV là heo sữa : ý nói bỏ ra ít mà
muốn lấy lại nhiều)
Trong cách dùng Cổ
Văn TH, ta còn thấy thành ngữ
‘Tín cập
đồn
ngư’
(ý nói lòng thành con người rung động
đến cả loài vật thấp hèn nhất)
Từ truyện Tây Du Ký, ta lại có thêm các cách dùng như
‘Trư Bát Giới đảo đả nhất bà’
(hàm ý nói ngược mà không có cơ sở, đổ
tội cho nạn nhân của mình)
Theo Chu Dịch thì
‘Heo là tài’4 cho thấy những ưu điểm của loài vật
này. Trong các tài liệu cổ TH, ta cũng có thể thấy nhiều vết
tích của loài vật này như trong ‘Câu chuyện về Hán Vũ Đế’ của
Bàn Cố soạn : Hán Vũ Đế khi ra đời tên là
Trệ
(con heo), khi lên 7 tuổi thì Hán Canh Đế mới đổi ra thành Triệt
dựa vào câu nói ‘Trệ giả, triệt giả’. Để ý cách đổi tên cho tốt
hơn dựa vào âm thanh của TH. Hình dáng đặc biệt của heo với đôi
tai to chỉ tướng tốt còn thấy trong cách dùng chữ đam (tai to,
theo Thuyết Văn)3 : Lão Tử họ Lý tên Nhĩ tự Đam cũng
cùng một lý do. Lưu Bị cũng có ‘đôi tai dài đến vai, hai cánh
tay dài quá gối’4. Chữ hỗn HV viết bằng bộ thuỷ hợp
với chữ hỗn hài thanh (HT) - chữ hỗn HT lại viết bằng bộ vi hợp
với chữ thỉ5 - nghĩa nguyên thuỷ là chuồng heo, sau
trở thành chuồng xí hay cầu tiêu : một lần nữa cho thấy một liên
hệ rất gần giữa loài lợn và đời sống con người (qua cách viết
chữ gia/nhà và hỗn/cầu tiêu). Nghĩa mở rộng của hỗn là lộn xộn
(hỗn loạn), đục (dơ bẩn) … Truyền thuyết TH cho rằng Khương Thái
Công là thần chuồng heo nên ở vùng núi Chiết Giang, người ta
thường dùng giấy vàng viết các chữ ‘Khương Thái Công ở đây,
không cấm kỵ gì cả’ dán ở chuồng heo, cầu mong bình an cho đàn
heo. Thần giết mổ (heo) là Trương Phi, còn nghề làm chân giò thì
thờ Tôn Trạch làm tổ sư4… Các thành ngữ liên quan đến
loài lợn còn lưu truyền trong văn hoá TH có nhiều như : ‘Sói lợn
đều chạy; như là chó lợn; không bằng chó lợn; hỏi hổ mượn heo;
heo mắc nợ chó; người sợ nổi tiếng, heo sợ dỗ béo; người điếc
không sợ súng, heo chết không sợ bong; heo cười quạ đen, quạ
cười heo chẳng ra màu; heo xổng chuồng, chuồng không xổng heo;
heo bò heo bò, có rồi không lo; không có chó, heo gác cửa; không
có gà, ngỗng báo thức’ …v.v…
Rõ ràng là hai nền
văn hoá Việt và TH rất gắn bó với loài lợn như đã tóm tắt qua
các ca dao thành ngữ trên, phản ảnh phần nào tính chất thần linh
và phổ thông của loài lợn - như là một tôtem đã được thờ phụng
thời thượng cổ. Điều này rất khác biệt với ảnh hưởng của loài
mèo và thỏ trong hai nền văn hoá (xem bài viết phần 4 về con
giáp thứ 4 Mão/Mẹo/mèo). Thành ra sự có mặt của lợn trong 12 con
giáp cũng dễ hiểu, tuy nhiên cách gọi
Hợi/hãi
HV6(giọng BK bây giờ là
hài
theo cách ghi
pinyin/Phiên Âm) có liên quan trực tiếp gì đến lợn không ? Và
liên hệ đến tiếng Việt gần hơn hay tiếng TH (cổ) để cho ta có
thể nhận ra nguồn gốc tên 12 con giáp? Các bằng chứng nằm trong
cách viết (chữ Hán) và cách đọc của chính chữ Hợi/hãi HV. So
sánh cách đọc Hợi, ta thấy giọng Quảng Đông là hoi6, Hẹ là
hoi3,
hoi5 và
Minnan (Đài Loan) là hai7. Chữ Hợi HV viết bằng bộ đầu (bộ thứ
8) – nhìn cách viết/khắc cổ ta thấy hình của một con vật có 4
chân, đầu tượng trưng bằng một gạch ngang giống như cái mũi đặc
thù của con lợn. Ngoài ra, cách viết/khắc cổ còn cho thấy cái
đuôi rất giống cách viết/khắc cổ của chữ thỉ (con lợn). Do đó,
cách viết của chữ Hợi đã cho ta thấy hình ảnh của loài thú vật
trong tên gọi 12 con giáp : so với các cách đọc như Mão/Mẹo/mèo,
Tý/*chút/chuột, Ngọ/ngựa … Cũng như cách viết (cổ) của chữ Tỵ
(rắn) phần nào cho thấy hình ảnh loài thú trong tên gọi 12 con
giáp. Các đợt chỉnh lý chữ viết (trong lịch sử TH) và lý thuyết
âm dương ngũ hành, bói toán … sau hơn hai ngàn năm đã phủ lên
tên 12 con giáp những lớp son phấn dầy đặc làm cho ta rất khó
tìm về nguồn gốc chính xác của chúng. Cũng như các chữ viết tên
12 con giáp khác, chữ Hợi được dùng làm thành phần HT để thành
lập các chữ Hán khác như hợp với bộ tâm là hãi HV (sợ), hợp với
bộ cốt hài HV (hình hài, hài cốt), hợp với bộ tử là hài HV (con
nít), và dùng để phiên âm các chất hoá học như Hêli (helium) …
hợp với bộ khẩu là
khái
HV (ho,than thở ..)7 giọng BK bây giờ là
hāi, ké
. Cách đọc khái HV (ké BK) mở cánh cửa nhỏ cho thấy âm Hợi với
phụ âm đầu h- (vô thanh/voiceless, thanh hầu) đã từng mang âm
đầu k- (phụ âm gốc lưỡi hay âm ngạc sau/postpalatal). Ngoài ra,
trong vốn từ TH hiện nay còn một số chữ rất hiếm (không thấy
trong các tự điển thông thường) như
huī
BK, fui1 (Quảng Đông/QĐ) với tiếng HV tương ứng là
hôi, khôi, huy
… viết bằng bộ thỉ hợp với chữ thổ, nghĩa là con heo. Hôi, hơi,
khôi/khơi … là các dạng của hợi. Hôi/khôi còn là động từ chỉ
hành động hỉnh mũi lên để ăn côn trùng trên mặt đất, viết bằng
bộ trùng hợp với chữ hợi HT, giọng BK bây giờ là huī. Bộ thỉ hợp
với chữ vật (wú BK, nghĩa là chớ), giọng BK bây giờ là hū (hô
HV) so với giọng QĐ fat1, nghĩa là con heo… Đây là các vết tích
rất ít thấy của ngôn ngữ phương Nam, cũng như hợi, mà tiếng TH
càng ngày càng đào thải từ ảnh hưởng (vô tình hay cố ý) của nhóm
cầm quyền từ phương Bắc. Khi nhìn qua các ngôn ngữ láng giềng,
ta thấy tiếng Mường8 cho ta mối dây liên hệ quan
trọng kết hợp các dữ kiện trên với nhau. Đó là
cúi
hay con heo mà tiếng Việt còn vài tàn tích như cách dùng ‘cá cúi
: thứ cá biển có nhiều mỡ như heo, cũng gọi là heo biển … heo
cúi : tiếng đôi hiểu là con heo’2 . Tự điển
Việt-Hoa-Pháp6 cũng ghi cúi chỉ con heo, ‘Từ điển từ
Việt Cổ’ của tác giả Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện (NXB Văn
Hoá Thông Tin – 2001) cũng ghi rằng ‘… cúi : lợn, heo …. Bằng
người giết cúi dê (trích từ ‘Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân
trọng kinh’ - bản giải âm)’ . Thêm vào đó là cách dùng chữ
gỏi
để chỉ thức ăn trộn thịt heo (hay da heo) với rau, giấm … gỏi
cũng là một dạng của cúi : điều này được ghi nhận trong bài viết
của Jerry Norman ‘A note on the origin of the Chinese duodenary
cycle’ trong cuốn ‘Linguistics of the Sino-Tibetan area – the
state of the art’ (1985). So với các từ thường gặp trong vốn từ
TH hiện nay qua các từ HV như trư/chư, thỉ, trệ, đồn, hy, ba …
ta thấy rõ là Hợi/Hãi có nguồn gốc phương Nam qua các dạng chỉ
con heo như cúi tiếng Mường, tiếng Ahom là
keu,
tiếng Dioi là
kaeu3
… xem bảng so sánh
trong bài viết phần 2.
Sau khi đi theo các
dấu vết của loài heo trong văn hoá Việt và TH, và nhận ra những
tương quan âm ngữ của Hợi/Hãi (không có nghĩa là heo trong tiếng
TH) với các ngôn ngữ phương Nam - đặc biệt là tiếng Mường, tiếng
Việt - phần sau sẽ đi sâu hơn về cách đọc và các biến âm chính
để giải thích Hợi/Hãi chính là từ chỉ con heo thời thượng cổ.
2. Phụ âm đầu h-
của Hợi/Hãi
Tuy hai phụ âm h-
và k- (viết là c- trong tiếng Việt) thường khác nhau như qua các
cặp tối thiểu (minimal pairs) hơ-cơ, ho-co, há-cá, hù-cù, hé-ké,
hì-kì/kỳ … nhưng nếu quan sát tương quan h-k ngược dòng thời
gian ta thấy có những liên hệ lý thú. Phụ âm đầu h- của Hợi/Hãi
có dạng k- hay g- (các phụ âm tắc) hiện diện trong các phương
ngữ Thái9, tiếng HV, tiếng Ahom, tiếng Pu-Yi… Tương
quan k-h là hiện tượng biến âm tự nhiên vì vị trí phát âm cuối
lưỡi của h và k rất gần nhau, cùng với khuynh hướng biến âm mạnh
(strong sounds : như b, k..) ra các âm yếu hơn (weak sounds :
như f, kh/h..). Các phụ âm mạnh thường là âm kêu (hữu thanh,
voiced – như b, v, d …), tắc (stops, như k, g, t …) và xát
(fricatives, như f, s, z …), các nguyên âm mạnh thường là nguyên
âm sau (back vowels, như a, o …) hay trước (front vowels, như i,
e…). Các biến âm
k/g > h
hay
a > ơ/ô
trong phần này theo khuynh hướng âm mạnh trở thành âm yếu. Ta
hãy so sánh một số trường hợp sau trong vốn từ Việt và HV
hộ HV cửa
hồ (hồ cầm) cò (đàn cò)
hổ HV cọp (khái)
hồ cáo
hơi, khói
khí HV hốc cốc HV
huy HV quơ/quậy Hán
(Trung Hoa) Khan
hoá HV goá hổ qua
khổ qua (trái)
hữu HV có
ho khái HV
hát/hót
ca hấp tấp cấp tốc HV
hào HV cú (chim)
Hùng (vương) Khun (lãnh tụ, tiếng Mường)
…v.v…
Ngoài ra, ta có vài
trường hợp đồng đại (synchronic) cho thấy liên hệ h-k như
hủi-cùi, hớt (tóc)-cắt … và để ý cách nói hổng/hông thay vì
không. Một cách kiểm lại chiều biến âm k > h hay g > h là quan
sát cách đọc các từ Phạn nhập vào tiếng TH và tiếng Việt : Agama
(A-hàm, kinh Phật Tiểu Thừa), Ganga (Hằng Hà, sông lớn ở Ấn Độ,
Huyền Trang ghi là Căng-già gần âm Phạn nguyên thuỷ hơn) … Âm
hào
HV (xem chi tiết phần 4 ở dưới) có âm
cao
HT cũng cho thấy biến âm k-h .
Liên hệ trực tiếp
h-h của hài BK và Hợi/Hãi HV cho thấy thời gian nhập vào tiếng
Việt một cách có hệ thống của tiếng TH (thời Đường Tống) – khác
với biến âm k-h lâu đời hơn (qua khẩu ngữ, thời Tiền Hán – có
nhiều thay đổi trong cách phát âm hơn) :
Hú BK hồ HV
Hù BK hộ (bảo hộ)
Huà BK hoạ HV (vẽ có lâu đời
hơn)
Huì BK hội HV
Hào BK hao HV (tốn kém)
Hóng BK hồng HV (các dạng lâu
đời hơn : hường, hỏn …)
Hé BK hoà HV (huề là một
dạng khác)
Héng BK hoành HV (ngang)
Huáng BK hoàng HV (vàng là một
dạng khác lâu đời hơn)
…v.v…
3. Nguyên âm ơ của
Hợi
Các nguyên âm trên
như ơ, o/ô, u … tương ứng với nguyên âm dưới a theo chiều lịch
đại như nôm-nam, vốn-bản, bố-ba, bò-bà, ngó-nga, đối-đoái,
thói-thái, khơi-khui-khai,
cởi-giải,
lợi-lời-lãi, mơ-mai, hợp-hạp
… và tàn tích đồng đại là
mơi-mai, đờn-đàn,
lợi-lại
… nên liên hệ giữa Hợi và hài BK có cơ sở giải thích. Tác giả
William G. Boltz (sđd) còn xếp nguyên âm ơ của Hợi vào nhóm vần
chi (zhi rime group). Các phương ngữ Thái như Saek đều có dạng
nguyên âm ơ, phù hợp với nguyên âm ơ HV, cho thấy dạng âm cổ này
thời Tiền Hán – so với các dạng nguyên âm dưới a hay ai của
tiếng Lu, Pu-Yi … phản ánh giai đoạn giao lưu văn hoá cận đại.
Để giải thích liên
hệ cúi-hợi-hãi, ta phải nhìn rộng ra xem các dạng nguyên âm
thượng cổ (được phục hồi) : khuynh hướng tổng quát của âm –ai là
có các dạng âm cổ hơn –ơi, -ôi hay –ui hay nguyên âm dưới trở
thành nguyên âm trên và trước10 (front vowels). Ta có
thể thấy rõ chiều biến âm này khi xem cách đọc chữ
giang
HV (jiāng BK),
sông
và dạng Thượng Cổ (thời Tiền Hán)
*krung
(các ngôn ngữ phương Nam TH còn duy trì phần nào dạng
*krong/krung này)…v.v…
4. Thanh điệu và
phê bình thêm
Hợi HV có thanh vực
trầm (trọc) tương ứng với thanh thứ 4 của giọng BK, hay thanh
khứ (qù BK) phản ánh giai đoạn nhập vào tiếng Việt có hệ thống
từ thời Đường Tống
Hài
(BK) Hợi/Hãi (HV) mài
(BK) mại (HV)
Mà
mạ (nhục mạ)
nèi nội (trong)
Xù
tự (thứ tự)
dài/dà đại (lớn)
Yì dị (khác)
hòu hậu (sau)
Miào diệu (kỳ diệu)
bài bại (thua)
Fàn phạm (phạm vi)
lì lệ (thể lệ)
Wù vụ (sương mù)
shòu thụ/thọ (nhận)
Jì kỵ (ghen, ghét)
è ngạc (cá sấu)
…v.v…
Tuy nhiên, có những
cách dùng đã hiện diện từ lâu đời nên thanh điệu thay đổi không
có hệ thống rõ ràng như trên : shì BK - thệ-thề, tù BK -
thố-thỏ, zì BK - tự-chữ, sì BK-tự-chùa, sì BK-tứ-tư, jìn
BK-cận-gần, mù-mú BK-mả-mộ-mồ-mô … Ngoài ra, tiếng Việt còn duy
trì một số phụ âm cuối tắc như –p, -k, -t (âm Hán Cổ mà giọng BK
bây giờ đã mất đi), do đó số thanh điệu bị giới hạn lại thành ra
thanh nặng hay sắc. Đây là một chủ đề rất thú vị, không nằm
trong phạm vi bài viết về tên 12 con giáp này, cũng như nguồn
gốc thanh điệu tiếng Việt dễ gây nhiều tranh luận. Tiếng Việt
thời Tiền Hán không có thanh điệu nhiều như bây giờ (giọng Hà
Nội chẳng hạn), nên tương quan giữa Hợi và *cọi/cụi hay cúi có
thể đã hiện diện.
Điều oái ăm là ta
đã cho TH mượn các tên (và hệ thống) 12 con giáp từ thời Tiền
Hán hay trước đó nữa, nhưng sau đó khoảng từ thời Đường Tống ta
mượn lại các tên này cho đến ngày nay
!
Bằng cách dùng vốn từ của nhánh Việt-Mường, nhóm Môn-Khme hay
Nam-Á và dựa trên các biến âm có cơ sở vững chắc… ta có thể tìm
ra nguồn gốc (hợi là con heo) của tên 12 con giáp như Hợi/Hãi
chẳng hạn – các tên này không dính líu gì đến tên gọi 12 con thú
trong vốn từ TH hiện nay. Tiếng Thái bây giờ còn gọi năm Hợi là
bpee1
goon1
(kun/cun, cui là heo tiếng Mường) hay bpee1 muu3
(bpee1 là năm, muu3 là con heo trong tiếng
thái). Người viết nhân đây ghi lại vài nhận xét về các tên gọi
khác nhau như heo, lợn … cho thấy ảnh hưởng TH lớn đến nỗi tên
nguyên thuỷ (cúi) từ từ mất đi để các tên mới phát triển trong
quá trình thành lập tiếng Việt hiện đại.
Dựa trên sự tương
đồng của nguyên âm
ơ-a
như đã viết trên, ta có thể khôi phục một dạng tương đương của
lợn
là *lan
: dạng
này trong vốn từ TH hiện nay có thể là
lăn/lài
BK (lười, biếng nhác – lãn HV viết bằng bộ tâm hợp với chữ lại
HT) hay
lán/lìn
BK (ngu, chậm chạp – lam HV viết bằng bộ khẩu hợp với chữ lâm HT
- chữ này rất hiếm). Xem cách cấu tạo hai chữ trên, tuy cùng
diễn tả các ‘tính chất tiêu biểu’ của loài lợn, nhưng lãn có lý
hơn vì liên hệ trực tiếp đến âm
lười
tiếng Việt so với âm lại/lợi HT. Chuỗi biến âm
lãn-*lai-*lơi-lười
có thể
giải thích được bằng hiện tượng rút ngắn âm cuối (apocope) như
đã được tóm tắt trong phần 5 của bài viết 4 về Mão/Mẹo/mèo. Tóm
lại, lợn có liên hệ đến lãn HV (lăn BK, lười), điều này cũng
được các tác giả như Lê Ngọc Trụ nhắc đến trong “Tầm Nguyên Tự
Điển Việt Nam” (NXB Thành Phố HCM, 1993) và Lê Gia trong cuốn
‘Tiếng Nói Nôm Na” (NXB Văn Nghệ Thành Phố HCM, 1999). Heo là
một từ thông dụng khác, dựa vào biến âm e-a ta có thể khôi phục
một dạng tương đương là *hao : dạng này trong vốn từ TH hiện nay
có thể là háo BK (heo
rừng11, hào hùng …
hào
HV viết bằng bộ thỉ hợp với chữ cao HT viết gọn). Nhưng theo tác
giả Lê Gia (sđd) thì heo từ chữ
hi
HV - giọng BK bây giờ là xī, hei1, hei2 QĐ viết bằng bộ thỉ hợp
với chữ hi (vọng) HT. Hi HV là con lợn, dáng lợn chạy … Các tên
thường thấy12 khác chỉ con heo như
thỉ
HV (shĭ BK, cũng chính là bộ thứ 152, chữ này tượng hình),
trệ
HV (heo nái, zhì BK viết bằng bộ kỳ thứ 58),
đồn
HV (heo sữa, tún BK viết bằng bộ thỉ hợp với chữ nhục bên phải),
thoán
HV (con heo, con nhím, lời giải thích tóm tắt … giọng BK bây giờ
là tuàn, viết bằng bộ kỳ thứ 58),
ba
HV (lợn cái, bā BK
viết bằng bộ thỉ hợp với chữ ba HT) và các tên gọi loài lợn rất
hiếm5 như
ông/ung
HV (wĕng BK),
quận
HV (jùn BK) …v.v… Một điểm nên ghi lại ở đây là theo tác giả
Paul Benedict trong cuốn “Austro-Thai Language and Culture”
(1975), ông cho rằng ba HV có nguồn gốc Nam Thái để cho ra các
tiếng Tây Tạng phag, tiếng Mikir là phak … Đáng chú ý là
trư
HV, zhū/zhē BK viết bằng bộ thỉ hợp với chữ trứ/trước HT. Thuyết
Văn Giải Tự giải thích chữ thỉ ‘Thỉ, trệ dã. Kiệt kì cục, cố vi
chi thỉ’ - thỉ chính là trư (lợn), khi lợn tức giận thì đuôi
dựng đứng lên gọi là thỉ13. Tính chất tượng hình của
chữ Hợi cũng được nhiều tác giả để ý đến13, nhưng
liên hệ âm thanh (qua chữ cúi) mới là chìa khoá sau cùng mở rộng
cánh cửa về nguồn gốc phương Nam của chữ Hợi – cũng như cách gọi
tên 12 con giáp…. ‘..chữ hợi thời xưa viết giống chữ thỉ trong
kim văn và tiểu triện…chữ được tạo ban đầu có lẽ cùng nguồn với
chữ hợi, thỉ …’13 : đọc cách giải thích này, ta thấy
rõ ràng người TH đã dùng cách viết gần giống nhau (tượng hình)
để ghi lại nghĩa của tên gọi ngoại lai (hợi-cúi), tuy nhiên vì
mượn từ các âm đọc ngoại lai như vậy mà ta có thể truy ra nguyên
uỷ của chúng. Có trường hợp cách viết thay đổi đôi chút như
mãn-miễn-thố/thỏ, rồi từ đó đổi cả loài mèo (chi thứ tư) thành
loài thỏ - xem bài viết phần 4 về Mão/Mẹo/mèo – nhưng chính cách
đọc vay mượn đã trở thành từ hoá thạch (fossilised) hay chứng
nhân cho nguồn gốc phi TH của tên 12 con giáp. Một dữ kiện quan
trọng là chữ Hợi rất hiếm đọc là hài BK, viết bằng bộ thỉ hợp
với chữ hợi HT, theo Từ Nguyên là ‘Trư tứ đề giai bạch xưng hợi’
và dẫn chứng sách Nhĩ Nhã … chứng tỏ hài BK hay Hợi HV từng là
tên gọi con heo rất xưa – xem cách viết chữ này ở phần dưới. Cho
đến ngày nay, các dạng phát âm liên hệ đến hợi, hôi/huy chỉ con
heo (phương Nam) trong vốn từ TH bị đào thải để thay vào bằng
những tên gọi phù hợp hơn với các nhóm dân cai trị từ miền Bắc.
Tiếng nói con người thay đổi rất nhiều tuỳ theo trạng thái tình
cảm, vật chất, thời gian, không gian … so với quán tính của chữ
viết – nhưng cũng chính tiếng nói đã duy trì được phần nào những
tinh hoa đã đưa con người lên địa vị văn minh ngày hôm nay – tóm
gọn trong câu nói có vẻ nghịch lý của cổ nhân ta để lại
‘Trăm năm bia đá thì (cũng)
mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”
5. Phụ chú, phê
bình thêm với các tài liệu tham khảo chính
Người đọc nên xem
thêm các bài viết về “Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp”
phần 1, 2, 3, 4 lưu trữ trên mạng khoahoc.net (tháng 6, 8 và
11/2006), hay dunglac.net để thêm phần liên tục. Từ điển “Từ
Nguyên” (Bắc Kinh) là bản in năm 2004 có sửa đổi, cũng như từ
điển “Từ Hải” (Thượng Hải) là bản in năm 1999.
Tác giả sẵn sàng
trao đổi ý kiến để thêm phần chính xác qua địa chỉ trên hoặc
trực tiếp
nguyencungthong@yahoo.com
Dân tộc Mường cư
ngụ từ Vĩnh Phú đến tây Hoà Bình và trung du Nghệ An, Thanh Hoá.
Tiếng Mường không có ảnh hưởng nhiều của tiếng TH (như Hán Việt
trong tiếng Việt), điều này phản ánh phần nào qua lịch sử của
dân Mường không chịu cộng tác với nhóm dân cai trị và di dân ở
thành thị (người Kinh) nên thường lên miền núi sinh sống (người
Thượng). Tiếng Mường không có các từ như heo, lợn … và không có
các từ HV như trư, trệ, thỉ, đồn … mà dùng
củi
để chỉ con heo; Củi còn có nghĩa là cúi (xuống), củi cải
là cúi cái (heo cái, heo nái), củi mởi tẻ là cúi mới đẻ
(heo sữa), củi tâc là heo đực, củi té là heo đẻ,
củi ý là lợn ỷ … Việt sử thường có nhiều trường hợp cho
thấy lãnh tụ Việt Nam từ xứ Mường như Đinh Bộ Lĩnh người động
Hoa Lư (Ninh Bình), Lê Hoàn người đất Thanh Hoá, Lê Lợi người
đất Lam Sơn (Thanh Hoá) … Dân Mường vẫn còn dùng trống đồng khi
có hội hè, cũng như truyền thuyết về vua Dịt Dàng, Sơn Tinh Thuỷ
Tinh, Ngu Kơ … đều rất giống thần thoại của dân Việt. Xem thêm
các cuốn “Nguồn gốc dân tộc Việt Nam” Nguyễn Khắc Ngữ, Nhóm
Nghiên Cứu Sử Địa 1985, “The Birth of Viet Nam” Keith Weller
taylor 1991 …v.v…. Các nhân vật lịch sử như hai Bà Trưng (con
gái Lạc tướng huyện Mê Linh) có liên hệ gì đến dân tộc Mường hay
không là những vấn đề còn mở ngõ, không được rõ ràng như liên hệ
ngôn ngữ Mường-Việt. Tiếng Mường có hiện tượng m (chỉ phụ âm đầu
m- dùng làm tên các bộ phận trên mặt người Việt như má, mắt,
mặt, mũi, miệng/mồm/mõm, môi, mụn, mí, mi, mày …) y như tiếng
Việt : đây là một kính lọc cho thấy sự liên hệ mật thiết của
ngôn ngữ Mường và Việt. Cách dùng tiếng nước (nác, hay đác tiếng
Mường) như đác bỏi (nước muối), đác đả (nước đá),
đác măt (nước mắt, lệ HV), đác mênh (nước miếng) …
so với quốc da (quốc gia), nhà nước … cho thấy
ảnh hưởng gần đây tiếng Hán Việt trong tiếng Mường - mường trong
tiếng Mường có nghĩa là làng, bản, mường.
Trong phạm vi của
bài viết nhỏ này, chỉ vài thí dụ về các chữ Hán Cổ liên hệ được
đề cập đến mà thôi. Như hăi BK, hải HV,
hoi2
QĐ viết bằng bộ dậu hợp với các chữ mãnh và hu~u bên phải là
thịt băm ra và trộn, như là
gỏi
của tiếng Việt. Hải còn là một cách phạt tội ngày xưa : bằm thây
các tử tội … cho thấy ý nghĩa nguyên thuỷ. Các dạng phục hồi âm
cổ của Hợi
*gơi/gỏi/kui
tương đồng phần nào với dạng của Edwin Pulleyblank (1991),
William Boltz (1991) mà người viết đã ghi nhận trong các phần 1
và 2. Người đọc có thể xem thêm chi tiết về phương pháp phục hồi
âm cổ qua các tài liệu đã được trích dẫn.
(1)
thủ
HV (đầu) viết bằng bộ thứ 185 trong 214 bộ thủ so với thủ HV
(tay) viết bằng bộ thứ 64 - nghĩa hai chữ này giữ vai trò quan
trọng trong văn hoá nên lấy làm bộ thủ. Cách dùng thủ lợn, thịt
thủ (ghép chữ HV và Việt) cho thấy thủ (đầu) có lẽ được dùng phổ
thông hơn thủ (tay) – so với cách dùng zhūtòu (trư đầu, đầu lợn)
của TH. Để ý cách dùng trực tiếp chữ
bì
HV (da) để chỉ da lợn và món ăn từ da lợn như cơm bì sườn … Cách
dùng thủ, bì HV một cách rất phổ thông như trên cần được nghiên
cứu cho rõ hơn.
(2) xem thêm ‘Đại
Nam Quốc Âm Tự Vị’ - Huỳnh Tịnh Của – SàiGòn (1895).
(3) xem thêm cuốn
“12 Con Giáp” chủ biên Vũ Ngọc Khánh, Trần Mạnh Thường – NXB Hội
Nhà Văn (Hà Nội 1998).
(4) theo tác giả
Thường Tuấn trong cuốn ‘Văn Hoá về 12 con giáp của Trung Quốc’ –
NXB Tổng Hợp (Thành Phố Hồ Chí Minh, 2005) - bản dịch tiếng
Việt.
(5) chữ hỗn HT rất
ít dùng một mình (rất hiếm thấy trong các tự điển TH, thường
lànm thành phần HT), tần số dùng là 10 trên 171894734 theo các
dữ kiện từ tài liệu trên mạng
http://www.chinalanguage.com/cgi-bin/dict.php . Chữ
hỗn HT còn được ghi lại trong cuốn “Chinese Characters” tác giả
L. Wieger tái bản bằng tiếng Anh, 1965.
(6)
người viết thấy cách đọc hợi là hãi trong ‘Tự điển
Việt-Hoa-Pháp’ của Gustave Hue (1937) cho thấy cách đọc HV gần
đây hơn như hài (BK) là hãi HV (sợ, thanh nặng hiện diện lâu đời
hơn), hùn BK là hỗn HV, hù BK là hỗ HV (lẫn nhau), hàn BK là hãn
HV (mồ hôi)… cho thấy thanh thứ 4 BK tương ứng với thanh ngã
tiếng Việt - phản ánh sự nhập vào tiếng Việt có hệ thống hơn
thời Đường Tống.
(7) để ý cách đọc
chữ ho,
khạc, học/ọc, ói
… đều có tính chất tượng thanh (sound symbolism hay còn gọi là
onomatopeia). Cũng vì lý do này mà một ngôn ngữ khác như tiếng
Anh, chẳng liên hệ gì đến tiếng Việt, cũng cho thấy phụ âm cuối
lưỡi k- trong động từ
cough
(ho, khạc ra). Dạng tiếng Anh Cổ (Old English) là coughen (hò,
la) với dạng âm cổ Proto-Germanic là *kokh- tương ứng với âm
phát ra từ cuống họng khi ho hay khạc. Trở lại với khái HV (ho),
các dạng khác như khek1 (tiếng Minnan/Đài Loan), hoi4, haai4,
koi3, kat1, haai1, hei1 (Quảng Đông), kak7, kak8, ket7, hai2,
kat8, kem3, kak8.. (Hẹ) … cho thấy tàn tích của phụ âm đầu k- cổ
hơn. Ngoài ra,
ngại
HV viết bằng bộ môn hợp với chữ hợi cho thấy phụ âm thanh quản
(glottal) h- tương ứng với phụ âm ngạc mềm (velar) mũi tắc
(nasal stop) ng- : đây là vết tích của âm tắc k- cổ hơn. Ngại HV
có những dạng phát âm BK là hài, ài, hé, kăi, gāi - so với các
dạng phát âm QĐ goi1, oi6, ngoi6 và Hẹ ngoi5, ngoi3, ngoi6,
ngoe3 … cho thấy các phụ âm tắc vẫn còn được duy trì trong
phương ngữ phía Nam TH. Thêm vào các dữ kiện về cách đọc ngại,
khái, cao (thành phần HT của hào) … để ý chữ
khí
HV (qì BK) và các dạng liên hệ là
khói, hơi
cho thấy tương
quan k-h. Liên hệ k-h như cúi-*cơi-hợi rất tự nhiên từ góc độ âm
thanh (vị trí phát âm và âm tiết) : do đó ta cũng không ngạc
nhiên khi thấy liên hệ này hiện diện trong các họ (ngữ hệ) ngôn
ngữ khác như họ Ấn-Âu (Indo-European) chẳng hạn. Liên hệ k-h trở
nên bất tử qua định luật Grimm cho nhánh Germanic (gồm có tiếng
Anh, Đức, Hoà/Hà Lan, Thuỵ Điển…, để ý tiếng Pháp thuộc nhánh
Romance (La Mã, gồm tiếng Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha.. gốc là
tiếng La Tinh) cũng thuôc vào họ Ấn-Âu trong bảng so sánh dưới
đây
Tiếng
Anh Tiếng Đức
Tiếng La-Tinh
Hound
(chó săn) Hund
canis
Heart
(trái tim)
Herz cor
Horn
(cái sừng) Horn
cornu
Head
(cái đầu) Haupt, Kopf
caput
Hundred
(một trăm) hundert
centum
Hide
(da)
Haut cutis
…v.v…
Chính vì tương quan
k-h mà khi phục hồi các âm cổ xủa h- trong họ Ấn-Âu thí âm k-
được dùng rất nhiều : như gốc Ấn-Âu của home (cái nhà) là *kei-,
âm cổ Ấn-Âu của hunt (săn bắn) là *kent- …
(8) xem thêm ‘Từ
điển Mường-Việt’ - Nguyễn Văn Khang chủ biên, Bùi Chỉ, Hoàng Văn
Hành – NXB Văn Hoá Dân Tộc (Hà Nội) 2002.
(9) xem bảng so
sánh tên 12 con giáp qua các ngôn ngữ Á Châu (bài viết phần 4).
Liên hệ h-k qua các phương ngữ Thái còn được ghi nhận trong bài
viết ‘The Old Chinese Terrestrial Rames in Saek’ của tác giả
William G. Boltz trong cuốn “Studies in the Historical Phonology
of Asian Languages” (đồng chủ biên với Michal C. Shapiro, 1991 –
NXB John Benjamin).
(10) xem thêm ‘A
Handbook of Old Chinese Phonology’ tác giả William H. Baxter,
NXB Mouton de Gruyter (1992) với các phương pháp phục hồi âm cổ
TH.
(11) heo nuôi trong
nhà (thuần hoá) có gốc từ heo rừng – thành ra âm hào HV có thể
liên hệ đến heo, ngoài ra heo rừng rất khoẻ và hung hăng, rất
say máu và sẵn sàng thanh toán bất cứ sinh vật nào lại gần
chúng. Có những câu chuyện thuật lại việc heo rừng tấn công và
hạ thủ các chú hổ, beo … Người Ấn Độ còn cho rằng heo rừng mới
là đáng nể sợ hơn cả hổ báo trong rừng - xem thêm bài ‘Heo rừng
mới là chúa sơn lâm’ trong cuốn “12 con giáp” Vũ Ngọc
Khánh/Trần Mạnh Thường chủ biên (sđd). Từ đó, hào còn mang nghĩa
mở rộng là can đảm (hào hùng, hào kiệt). Rất ít tài liệu ghi
nhận nghĩa cổ của hào là heo rừng - xem “Chinese Characters” của
L. Wieger (sđd), “Từ Nguyên” …
Heo còn có thể liên
hệ đến một từ rất hiếm là
xiāo
BK hay là hiêu HV (còn là tiêu), giọng QĐ là haau1, hau3 … nghĩa
là con
heo đang
chạy. Chữ
hiêu
HV đặc biệt này viết bằng bộ khuyển và chữ hiếu HT – các liên hệ
này là những vấn đề còn mở ngõ.
(12) trư có tần số
dùng nhiều nhất : 26297 trên 369369126, so với đồn là 2859 trên
457457638, thỉ là 1942 trên 432067182; Trệ có tần số dùng là 525
trên 430747376 so với hi là 490 trên 430747376. Xem thêm phụ chú
(5).
(13) theo phần bàn
về chữ trư trong cuốn “Ngữ Lâm Thú Thoại” chủ biên Triệu Bá
Bình, Thời Học Tường. Bản dịch ra tiếng Việt của Thanh Lâm,
Nguyễn Ngọc San hiệu đính – NXB Văn Hoá Thông Tin (Hà Nội,
2005).



Trở về Trang Chính
|