|
1. Tổng quát
Từ phần 1, với một
cách phân tích đơn giản ta thấy là 12 con giáp liên hệ đến cách
gọi tên con vật trong tiếng Việt qua 3 chi Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa
và Tý/Tử/chuột. Các phần đầu 1, 2 có mục đích là giới thiệu tổng
quát về tên 12 con giáp và đặt nền tảng cho các phần sau chi
tiết hơn (phần 3 về sau bàn về tên mỗi con giáp). Người viết cố
tránh dùng các thuật ngữ để cho dễ đọc và dễ cảm nhận hơn. Tiếng
chuông cảnh tỉnh mọi người về nguồn gốc phi-Trung-Hoa của tên
con giáp thật ra đã được giống lên từ những công trình khảo cứu
ngôn ngữ học của vùng Đông Nam Á từ thập niên 1930, bởi các tác
giả nước ngoài, đáng lẽ phải từ các nghiên cứu khảo cổ hay lịch
sử và văn hoá dân gian của dân địa phương mới ‘hợp lý’ và ‘hợp
tình’. Nhưng có thể vì những cuộc chiến tranh tàn khốc trong khu
vực này trong cả thế kỷ qua nên không cho ra bao nhiêu kết quả
chính xác. Thêm vào đó là lịch sử rất lâu đời của vùng Đông Nam
Á, cùng với nhiều đợt giao lưu văn hoá qua đường biển cũng như
trong đất liền, làm cho quá trình nghiên cứu không được mấy dễ
dàng. Điều đầu tiên là lập bảng so sánh tên 12 con giáp của các
ngôn ngữ trong vùng như sau. Để ý một nước có thể dùng nhiều
bảng con giáp1 (VN có ít nhất là 3 bảng) và sự thay
đổi nghĩa của một số chi như rồng trở nên con naga (ảnh hưởng
của Ấn Giáo, một loài vật huyền thoại nửa voi nửa rắn, có khi
nửa người nửa rắn, nửa người nửa tiên…), gà trở thành con chim
(theo Tây Tạng, gà thuộc vào loài chim – gà là con vật duy nhất
có cánh trong 12 con thú), sự phân biệt giống đực hay cái (gà
trống, dê đực …) thay vì tổng quát, có cả sâu bọ2,
heo thành voi theo một cách ghi 12 con giáp của Thái Lan, bị ảnh
hưởng tiếng Phạn Nam/Pali. Pali hay tiếng Phạn Nam (phía Nam) có
gốc là tiếng Phạn Cổ (classical Sanscrit) nhưng đơn giản hơn,
các kinh điển của Phật Giáo đầu tiên được chép bằng tiếng Pali
và truyền từ Sri Lanka đến Miến Điện (Myanmar), Thái Lan,
Kampuchia, Việt Nam (phần nhỏ) … thuộc phái Tiểu Thừa
(Theravada) so với phái Đại Thừa (Mahayana) truyền từ TH qua.
Các ngôn ngữ dân tộc thiểu số được dùng để so sánh hầu tìm ra
các dây liên hệ như tiếng Saek đang có hiểm hoạ diệt vong, thuộc
dòng Thái-Kadai và chỉ dùng trong vài làng bên Lào và Thái Lan.
Tiếng Yay cũng giống như tiếng Dioi cùng thuộc dòng Thái. Tiếng
Ahom đã từng hiện diện ở Assam, bây giờ không còn nữa và chỉ
dùng trong các hoạt động tôn giáo địa phương. Dân tộc Ahom có
gốc từ tỉnh Vân Nam, di dân xuống miền Đông Nam Á Châu và Bắc
Miến Điện.
2. Bảng so sánh các tên 12 con giáp Á Châu
|
Việt (bảng
1) |
Việt (bảng
2) |
Việt (bảng
3) |
Hán (Bắc
Kinh) |
Quảng Đông |
|
Tý/Tí/Tử |
Thử (D) |
Chuột |
Zĭ |
zi2/ci2 |
|
Sửu |
Ngưu/Ngâu |
Trâu |
Chŏu |
Cau2 |
|
Dần |
Hổ/Hùm |
Cọp |
Yín |
Yan4 |
|
Mão/Mẹo |
Thố/Thỏ |
Mèo |
Măo |
Mau3 |
|
Thìn/Thần |
Long |
Rồng |
Chén |
San4 |
|
Tỵ/Tị |
Xà |
Rắn |
Sì |
zi6 |
|
Ngọ |
Mã |
Ngựa |
Wŭ |
ng2/ng5 |
|
Mùi/Vị |
Dương |
Dê |
Wèi |
Mei6 |
|
Thân |
Khôi (khọn) |
Khỉ |
Shēn |
San1 |
|
Dậu |
Kê |
Gà |
Yŏu |
Jau5 |
|
Tuất |
Khuyển
(Cẩu) |
Chó (Cầy) |
Xū |
Seot1 |
|
HợI |
Trư |
Heo (Lợn) |
Hài |
Hoi6 |
|
Nhật (on) |
Nhật (kun) |
Đại Hàn |
Pali/Thái |
Khme |
|
Ne |
Shi |
Ja |
Musika |
Jut |
|
Ushi |
Chu |
Chug |
Pasu |
Chiu |
|
Tora |
In |
In |
Vyaggha/saddula |
Kha1 |
|
U |
Bo |
Myo |
Sasa |
Thoh |
|
Tatsu |
Shin |
Sin |
Mahoraga |
Rong |
|
Mi |
Shi |
Sa |
Sappa |
Msang |
|
Uma |
Go |
O |
Turanga |
Mami |
|
Hitsuji |
Bi |
Mi |
Aja |
Mame |
|
Saru |
Shin |
Sin |
Makkata |
Vok |
|
Tori = con
chim |
Yu |
Yu |
Kukkuta |
Raka |
|
Inu |
Jutsu |
Sul |
Kukkura |
Ca |
|
I |
Gai |
Hal |
Kunjara=con
voi |
Kur |
|
Tiếng Saek
cổ |
Tiếng Saek
mới |
Thái/Xiêm
(A) |
Lào |
Đài-Loan |
|
|
Tii6 |
Suat5 |
Chuat3 |
Tiao |
Chi2 |
|
|
Thriw3 |
Sa6luu1 |
Chaluu5 |
Pao |
Thiu2 |
|
|
Rin4 |
Khaan1
|
Khaan5 |
Gni |
In5 |
|
|
Meew3 |
Tho4 |
Tho2 |
Mao |
mo (tiếng
Ngô) |
|
|
Sin4 |
Ma6long4 |
Maroong1 |
Si |
Sin5 |
|
|
Tii5 |
Ma6seng1
|
Maseng5 |
Sao |
Chi7 |
|
|
Ngo5 |
Mamia4 |
Mamia1 |
Sa-nga |
Ngou2 |
|
|
Muy4 |
Mame4 |
Mame2 |
Moth |
Bi7 |
|
|
Thrin4 |
Vok5 |
Wook3 |
Sanh |
Sin1 |
|
|
Raw3 |
La6kaa1 |
Rakaa1 |
Hao |
Yu |
|
|
Tut4 |
Cho1 |
Cho1 |
Zet |
Sut1 |
|
|
Hơỵ
|
Kun6 |
Kun1 |
Khao |
Hai7 |
|
|
Mường (A) |
Tiếng Dioi |
Tây Tạng |
Ahom (B) |
Tên tháng
(C) |
|
|
Tí |
Chaeu3 |
Dschiwa |
Cheu |
Shigar
(Sygar) |
|
|
Khéu
(tlu/klu) |
Piaou3 |
Lan |
Plau |
Kuman
(Imén) |
|
|
Rân |
Ngien2 |
Tag |
Ngi |
Ugur |
|
|
Mêo |
Maou3 |
Yo |
Mao |
Taushan |
|
|
Sin
(hông/ròn) |
Chi2 |
Drug |
Shi |
Samar |
|
|
Tê
(sin/san) |
Seu3 |
Dru |
Sheu |
Dilan |
|
|
Ngo
|
Sa3 |
Ta |
Shi-nga |
Tuki
(Tykha) |
|
|
Mùi (bê) |
Fat1 |
Lug |
Mut |
Téké |
|
|
Thân (vok) |
San4 |
Dre |
Shan |
Bichin,
Michin |
|
|
Râu (ka) |
Thou3 |
Dscha (con
chim) |
Rao |
Taguk |
|
|
Tât (cho) |
Seưt1 |
Kyi |
Mit |
It |
|
|
Hơi
(kui/kun/kul) |
Kaeu3 |
Pag |
Keu |
Shushma |
|
| |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
(A)
thoạt xem tên 12 con giáp bằng
tiếng Thái (tên gọi chính thức/formal names) ta thấy rất gần với
nghĩa chúng qua tiếng Việt ! Thí dụ như tý/tí/tử là chuat3 hay
chuat3 (3 nghĩa là falling tone, thanh điệu thứ 3 đi xuống gần
như dấu huyền tiếng Việt, trong phần này không ghi thanh điệu
cho đơn giản) - dạng chuat3 rất gần với chuột tiếng Việt – tuy
nhiên, chuat lại không có nghĩa con chuột trong tiếng Thái (mà
là nuu). Điều này cho thấy rằng tiếng Thái đã mượn từ các tên
tiếng Việt, cũng như các dạng khan (kễnh, cọp – năm cọp chính
thức gọi là bpee khan nhưng thông thường hơn là bpe seuua),
roong1 (rồng – năm rồng chính thức gọi là bpee ma roong1 hay
thông thường hơn là bpee nguu yai, nguu là con rắn), rakaa1 (gà
– năm gà chính thức gọi là bpe rakaa1 nhưng thông thường hơn là
bpee gai) …v..v.. Chính các tên gọi của Thái là chiếc cầu nối
giữa tiếng Việt, Cổ Việt, Mường, Hán Việt : cũng như Cha luu5
là một dạng khác của k-lu (biến âm k-ch/gi- như Bắc
Kinh/Beijing, kông/klông/giang đã ghi lại nhiều lần trong các
bài viết trước – xem bài “Nguồn gốc nhóm từ sông Cửu Long” cùng
tác giả), klu hay tlu (Mường) chính là tru/trâu tiếng Việt,
kbây, krobây (Khme)…. Trâu, bò không có dạng này trong tiếng
Thái hiện tại, năm sửu chính thức gọi là bpe cha luu5 so với
cách gọi bình dân là bpee wuaa, wuaa hay khoh chỉ con trâu, bò …
Còn biến âm kl-s còn thấy khi so sánh tiếng Mường và Việt :
klu-sửu (trâu), klong-sông, khláng-sáng3 (Mường
Poọng, khlau/krau-sau (Mường Hung), khlt/klăt-sắt, kru-sâu
(Mường Uý Lô) …. Có khi âm –l- mất hẳn để cho các dạng
khang-sang, khao-sao4 …Trở lại với các cách gọi tên
12 con giáp trong cùng một ngôn ngữ, cách gọi chính thức được
người viết xếp vào loại ‘bác học’ (BH) vì cần phải học mới biết
rõ ràng so với cách gọi ‘bình dân’ (BD) qua các tên con thú. Sự
phân hoá thành ra ít nhất hai loại văn chương BH và BD không chỉ
xẩy ra qua khung cửa của tên 12 con giáp, nhưng còn làm cho vốn
từ Hán Việt và Việt thêm phong phú.
(B)
theo bài “A note on the origin of
the Chinese duodenary cycle” của Jerry Norman đăng trong cuốn
“Linguistics of the Sino-Tibetan area – the state of the art”
1985, bài này ghi lại và bàn thêm về các dữ kiện từ bài
“L’origine du cycle des douzes animaux au Cambodge” viết từ năm
1935 bởi George Coedès.
(C)
Theo tài liệu đăng trên mạng
Internet của Wikipedia, chủ đề Chinese Astrology – tên các tháng
của dân tộc Hung (Hunnish) hay dân tộc Thổ-Bungari (Turkic
Bulgarian) có nhiều trùng hợp với tên 12 con giáp – có lẽ đây là
các dân tộc ở xa TH nhất trên phương diện địa lý mà vẫn dùng hệ
thống này (so với Nhật, Lào, Thái Lan, Viêt Nam…) và có thể qua
con đường buôn bán tơ lụa (the Silk Road). Tiếng Hung hay
Thổ-Bungari không liên hệ gì đến tiếng TH hay ngữ hệ Hán-Tạng.
Các tên tháng theo thứ tự có nghĩa là con chuột, trâu, cọp … đến
con heo rừng cũng như thứ tự và tên 12 con giáp TH.
(D) Người viết chưa
từng thấy bảng tiếng Việt này – cho tới khi đọc cuốn
“Encyclopaedia of Asian Civilisation” – NXB Louis Frédéric
(1984), Éditions Jean-Michel Place. Chú ý các từ thử HV dùng để
gọi chuột, khôi để gọi Thân…
(E)
Theo tác giả William G. Boltz trong
bài viết “The Old Chinese Terrestrial rames in Saek” (in trong
cuốn “Studies in the Historical Phonology of Asian Languages”
chủ biên William G. Boltz và Michael C. Shapiro, NXB John
Benjamin, 1991) thì các ngôn ngữ Lu và Pu-Yi (đều thuộc dòng
Thái) có các dữ kiện sau (tóm tắt lại với các số đứng sau chỉ
thanh điệu)
Tên
Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ
Mùi Thân
Lu tsai3
pau3 ji2 mau3 si1 sai3
sa-nga4 met6 san1
Pu-Yi tsai3… pau3
jin2….
mau4 tsi2 si3 sa4/tsa3… vat8 san1
Tên Dậu Tuất Hợi
Lu hrau1 set5 kai4
Pu-Yi ju4/zu4…
sat7/sut7… kai4/ka4..
3.
Các giả thuyết dựa trên ngôn ngữ học
Nguồn gốc tên 12 con giáp đã
được nhiều học giả ngoại quốc nghiên cứu : George Coèdes
(1935)
sau khi so sánh tên 12 con giáp5 của Xiêm và
Kampuchia đã đi đến kết luận là chúng có nguồn gốc tiếng Mường
Cổ. Ộng đã
viết nhiều về các ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ trong vùng
Đông Nam Á, tuy nhiên không đưa ra một liên hệ gì về tên 12 con
giáp với Ấn Độ. Học giả TH Li Fang-Kuei
(1945)
chuyên khảo về tiếng Thái6 đã phân tách thập can và
thập nhị chi qua các ngôn ngữ Thái và đưa ra nhận định rằng
tiếng Thái vẫn còn duy trì một số phụ âm Hán Cổ như pl-, zng-,
sm- tuy không nhất quyết xác định được nguồn gốc tên 12 con giáp
từ đâu ra. Sau đó là các công trình của học giả Paul K.
Benedict, vào năm
1967
ông đề nghị thập nhị chi có nguồn gốc Nam-Thái (Austro-Thai)7
trong bài viết về Văn Hoá và Ngôn Ngữ Nam-Á, và dựa trên các
liên hệ của âm ngựa (Ngọ), chó (Tuất) và heo (Hợi). Năm
1975,
ông viết cuốn “Austro-Thai Language and Culture” khai triển các
ý từ những năm trước. Ông đưa ra các dữ kiện của các ngôn ngữ
địa phương để đi đến kết luận rằng tiếng TH đã mượn một số tiếng
Nam-Thái như trứng, gà, ngựa, yên (ngựa), cỡi ngựa, voi, ngà,
lợn (heo), thỏ, trâu bò … nuôi lấy thịt, ong, mật, gạo, mía,
muối …v…v… và điều đáng chú ý và oái ăm là sau đó, các ngôn ngữ
vùng Đông Nam Á đã phải mượn lại các từ ngữ mà mình cho TH mượn
trước kia ! Thí dụ như các từ trà, giấy … Cũng theo Benedict thì
có những tính chất đặc thù bắt nguồn từ văn hoá Nam-Thái như
phép tính 12 con giáp mà nhiều người tưởng là của TH. Ông ghi
nhận rằng chữ ngựa trong tiếng Lê (Li, dân bản xứ đảo Hải Nam)
là nga/ka và là một bằng chứng là mã và ngựa có liên hệ, sau khi
so sánh và đề nghị dạng âm cổ phục hồi của ngựa trong tiếng
Inđônêsia và Mã lai là *t’anga, tác giả đề nghị âm cổ Nam-Thái
là *sanga. Cuối cùng kết luận bằng cách đưa ra một giả thuyết
rằng có thể một ngôn ngữ cổ Nam-Thái đã từng hiện diện trong
vùng Đông Nam Á, mà ông gọi là AT-x và đã cho TH mượn nhiều từ
căn bản. Tác giả Jerry Norman
(1985)
cũng dựa vào các dữ kiện từ tiếng Thái, Hán Việt, Việt và TH,
Mường để chứng minh rằng tên 12 con giáp có nguồn gốc từ phương
Nam (Austroasiatic, Nam Á). Ngoài 3 từ Ngọ, Tuất, Hợi, Norman8
còn liên hệ 4 từ Sửu, Thìn, Mùi, Dậu với các tiếng phương Nam –
bài viết trên thật ra là từ một bài viết |