Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp (phần 2)

 

xem thêm phần 1:

www.khoahoc.net/baivo/nguyencungthong/010606-muoihaicongiap-1.htm

 


 

Nguyễn Cung Thông

15 tháng 06 năm 2006

1. Tổng quát

 

Từ phần 1, với một cách phân tích đơn giản ta thấy là 12 con giáp liên hệ đến cách gọi tên con vật trong tiếng Việt qua 3 chi Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa và Tý/Tử/chuột. Các phần đầu 1, 2 có mục đích là giới thiệu tổng quát về tên 12 con giáp và đặt nền tảng cho các phần sau chi tiết hơn (phần 3 về sau bàn về tên mỗi con giáp). Người viết cố tránh dùng các thuật ngữ để cho dễ đọc và dễ cảm nhận hơn. Tiếng chuông cảnh tỉnh mọi người về nguồn gốc phi-Trung-Hoa của tên  con giáp thật ra đã được giống lên từ những công trình khảo cứu ngôn ngữ học của vùng Đông Nam Á từ thập niên 1930, bởi các tác giả nước ngoài, đáng lẽ phải từ các nghiên cứu khảo cổ hay lịch sử và văn hoá dân gian của dân địa phương mới ‘hợp lý’ và ‘hợp tình’. Nhưng có thể vì những cuộc chiến tranh tàn khốc trong khu vực này trong cả thế kỷ qua nên không cho ra bao nhiêu kết quả chính xác. Thêm vào đó là lịch sử rất lâu đời của vùng Đông Nam Á, cùng với nhiều đợt giao lưu văn hoá qua đường biển cũng như trong đất liền, làm cho quá trình nghiên cứu không được mấy dễ dàng. Điều đầu tiên là lập bảng so sánh tên 12 con giáp của các ngôn ngữ trong vùng như sau. Để ý một nước có thể dùng nhiều bảng con giáp1 (VN có ít nhất là 3 bảng) và sự thay đổi nghĩa của một số chi như rồng trở nên con naga (ảnh hưởng của Ấn Giáo, một loài vật huyền thoại nửa voi nửa rắn, có khi nửa người nửa rắn, nửa người nửa tiên…), gà trở thành con chim (theo Tây Tạng, gà thuộc vào loài chim – gà là con vật duy nhất có cánh trong 12 con thú), sự phân biệt giống đực hay cái (gà trống, dê đực …) thay vì tổng quát, có cả sâu bọ2, heo thành voi theo một cách ghi 12 con giáp của Thái Lan, bị ảnh hưởng tiếng Phạn Nam/Pali. Pali hay tiếng Phạn Nam (phía Nam) có gốc là tiếng Phạn Cổ (classical Sanscrit) nhưng đơn giản hơn, các kinh điển của Phật Giáo đầu tiên được chép bằng tiếng Pali và truyền từ Sri Lanka đến Miến Điện (Myanmar), Thái Lan, Kampuchia, Việt Nam (phần nhỏ) … thuộc phái Tiểu Thừa (Theravada) so với phái Đại Thừa (Mahayana) truyền từ TH qua. Các ngôn ngữ dân tộc thiểu số được dùng để so sánh hầu tìm ra các dây liên hệ như tiếng Saek đang có hiểm hoạ diệt vong, thuộc dòng Thái-Kadai và chỉ dùng trong vài làng bên Lào và Thái Lan. Tiếng Yay cũng giống như tiếng Dioi cùng thuộc dòng Thái. Tiếng Ahom đã từng hiện diện ở Assam, bây giờ không còn nữa và chỉ dùng trong các hoạt động tôn giáo địa phương. Dân tộc Ahom có gốc từ tỉnh Vân Nam, di dân xuống miền Đông Nam Á Châu và Bắc Miến Điện.

 

2. Bảng so sánh các tên 12 con giáp Á Châu

 

Việt (bảng 1)

Việt (bảng 2)

Việt (bảng 3)

Hán (Bắc Kinh)

Quảng Đông

Tý/Tí/Tử

Thử (D)

Chuột

zi2/ci2

Sửu

Ngưu/Ngâu

Trâu

Chŏu

Cau2

Dần

Hổ/Hùm

Cọp

Yín

Yan4

Mão/Mẹo

Thố/Thỏ

Mèo

Măo

Mau3

Thìn/Thần

Long

Rồng

Chén

San4

Tỵ/Tị

Rắn

zi6

Ngọ

Ngựa

ng2/ng5

Mùi/Vị

Dương

Wèi

Mei6

Thân

Khôi (khọn)

Khỉ

Shēn

San1

Dậu

Yŏu

Jau5

Tuất

Khuyển (Cẩu)

Chó (Cầy)

Seot1

HợI

Trư

Heo (Lợn)

Hài

Hoi6

 

Nhật (on)

Nhật (kun)

Đại Hàn

Pali/Thái

Khme

Ne

Shi

Ja

Musika

Jut

Ushi

Chu

Chug

Pasu

Chiu

Tora

In

In

Vyaggha/saddula

Kha1

U

Bo

Myo

Sasa

Thoh

Tatsu

Shin

Sin

Mahoraga

Rong

Mi

Shi

Sa

Sappa

Msang

Uma

Go

O

Turanga

Mami

Hitsuji

Bi

Mi

Aja

Mame

Saru

Shin

Sin

Makkata

Vok

Tori = con chim

Yu

Yu

Kukkuta

Raka

Inu

Jutsu

Sul

Kukkura

Ca

I

Gai

Hal

Kunjara=con voi

Kur

Tiếng Saek cổ

Tiếng Saek mới

Thái/Xiêm (A)

Lào

Đài-Loan

 

Tii6

Suat5

Chuat3

Tiao

Chi2

 

Thriw3

Sa6luu1

Chaluu5

Pao

Thiu2

 

Rin4

Khaan1

Khaan5

Gni

In5

 

Meew3

Tho4

Tho2

Mao

mo (tiếng Ngô)

 

Sin4

Ma6long4

Maroong1

Si

Sin5

 

Tii5

Ma6seng1

Maseng5

Sao

Chi7

 

Ngo5

Mamia4

Mamia1

Sa-nga

Ngou2

 

Muy4

Mame4

Mame2

Moth

Bi7

 

Thrin4

Vok5

Wook3

Sanh

Sin1

 

Raw3

La6kaa1

Rakaa1

Hao

Yu

 

Tut4

Cho1

Cho1

Zet

Sut1

 

Hơỵ

 

Kun6

Kun1

Khao

Hai7

 

Mường (A)

Tiếng Dioi

Tây Tạng

Ahom (B)

Tên tháng (C)

 

Chaeu3

Dschiwa

Cheu

Shigar (Sygar)

 

Khéu (tlu/klu)

Piaou3

Lan

Plau

Kuman (Imén)

 

Rân

Ngien2

Tag

Ngi

Ugur

 

Mêo

Maou3

Yo

Mao

Taushan

 

Sin (hông/ròn)

Chi2

Drug

Shi

Samar

 

Tê (sin/san)

Seu3

Dru

Sheu

Dilan

 

Ngo

Sa3

Ta

Shi-nga

Tuki (Tykha)

 

Mùi (bê)

Fat1

Lug

Mut

Téké

 

Thân (vok)

San4

Dre

Shan

Bichin, Michin

 

Râu (ka)

Thou3

Dscha (con chim)

Rao

Taguk

 

Tât (cho)

Seưt1

Kyi

Mit

It

 

Hơi (kui/kun/kul)

Kaeu3

Pag

Keu

Shushma

 

               

 

 

(A)   thoạt xem tên 12 con giáp bằng tiếng Thái (tên gọi chính thức/formal names) ta thấy rất gần với nghĩa chúng qua tiếng Việt ! Thí dụ như tý/tí/tử là chuat3 hay chuat3 (3 nghĩa là falling tone, thanh điệu thứ 3 đi xuống gần như dấu huyền tiếng Việt, trong phần này không ghi thanh điệu cho đơn giản) - dạng chuat3 rất gần với chuột tiếng Việt – tuy nhiên, chuat lại không có nghĩa con chuột trong tiếng Thái (mà là nuu). Điều này cho thấy rằng tiếng Thái đã mượn từ các tên tiếng Việt, cũng như các dạng khan (kễnh, cọp – năm cọp chính thức gọi là bpee khan nhưng thông thường hơn là bpe seuua),  roong1 (rồng – năm rồng chính thức gọi là bpee ma roong1 hay thông thường hơn là bpee nguu yai, nguu là con rắn), rakaa1 (gà – năm gà chính thức gọi là bpe rakaa1 nhưng thông thường hơn là bpee gai) …v..v.. Chính các tên gọi của Thái là chiếc cầu nối giữa tiếng Việt, Cổ Việt, Mường, Hán Việt : cũng như  Cha luu5 là một dạng khác của k-lu (biến âm k-ch/gi- như Bắc Kinh/Beijing, kông/klông/giang đã ghi lại nhiều lần trong các bài viết trước – xem bài “Nguồn gốc nhóm từ sông Cửu Long” cùng tác giả), klu hay tlu (Mường) chính là tru/trâu tiếng Việt, kbây, krobây (Khme)….  Trâu, bò không có dạng này trong tiếng Thái hiện tại, năm sửu chính thức gọi là bpe cha luu5 so với cách gọi bình dân là bpee wuaa, wuaa hay khoh chỉ con trâu, bò … Còn biến âm kl-s còn thấy khi so sánh tiếng Mường và Việt : klu-sửu (trâu), klong-sông, khláng-sáng3 (Mường Poọng, khlau/krau-sau (Mường Hung), khlt/klăt-sắt, kru-sâu (Mường Uý Lô) …. Có khi âm –l- mất hẳn để cho các dạng khang-sang, khao-sao4 …Trở lại với các cách gọi tên 12 con giáp trong cùng một ngôn ngữ, cách gọi chính thức được người viết xếp vào loại ‘bác học’ (BH) vì cần phải học mới biết rõ ràng so với cách gọi ‘bình dân’ (BD) qua các tên con thú. Sự phân hoá thành ra ít nhất hai loại văn chương BH và BD không chỉ xẩy ra qua khung cửa của tên 12 con giáp, nhưng còn làm cho vốn từ Hán Việt và Việt thêm phong phú.

 

(B)   theo bài “A note on the origin of the Chinese duodenary cycle” của Jerry Norman đăng trong cuốn “Linguistics of the Sino-Tibetan area – the state of the art” 1985, bài này ghi lại và bàn thêm về các dữ kiện từ bài “L’origine du cycle des douzes animaux au Cambodge” viết từ năm 1935 bởi George Coedès.

 

(C)   Theo tài liệu đăng trên mạng Internet của Wikipedia, chủ đề Chinese Astrology – tên các tháng của dân tộc Hung (Hunnish) hay dân tộc Thổ-Bungari (Turkic Bulgarian) có nhiều trùng hợp với tên 12 con giáp – có lẽ đây là các dân tộc ở xa TH nhất trên phương diện địa lý mà vẫn dùng hệ thống này (so với Nhật, Lào, Thái Lan, Viêt Nam…) và có thể qua con đường buôn bán tơ lụa (the Silk Road). Tiếng Hung hay Thổ-Bungari không liên hệ gì đến tiếng TH hay ngữ hệ Hán-Tạng. Các tên tháng theo thứ tự có nghĩa là con chuột, trâu, cọp … đến con heo rừng cũng như thứ tự và tên 12 con giáp TH.

 

(D) Người viết chưa từng thấy bảng tiếng Việt này – cho tới khi đọc cuốn “Encyclopaedia of Asian Civilisation” – NXB Louis Frédéric (1984), Éditions Jean-Michel Place. Chú ý các từ thử HV dùng để gọi chuột, khôi để gọi Thân…

 

(E)   Theo tác giả William G. Boltz trong bài viết “The Old Chinese Terrestrial rames in Saek” (in trong cuốn “Studies in the Historical Phonology of Asian Languages” chủ biên William G. Boltz và Michael C. Shapiro, NXB John Benjamin, 1991) thì các ngôn ngữ Lu và Pu-Yi (đều thuộc dòng Thái) có các dữ kiện sau (tóm tắt lại với các số đứng sau chỉ thanh điệu)

 

Tên     Tý        Sửu      Dần      Mão     Thìn     Tỵ        Ngọ                 Mùi      Thân

 

Lu        tsai3     pau3    ji2        mau3    si1        sai3      sa-nga4            met6    san1

Pu-Yi   tsai3… pau3    jin2…. mau4    tsi2       si3        sa4/tsa3…       vat8     san1

 

 

            Tên     Dậu                 Tuất                 Hợi

 

            Lu        hrau1               set5                 kai4

            Pu-Yi   ju4/zu4…         sat7/sut7…      kai4/ka4..

 

 

3. Các giả thuyết dựa trên ngôn ngữ học

 

Nguồn gốc tên 12 con giáp đã được nhiều học giả ngoại quốc nghiên cứu : George Coèdes (1935) sau khi so sánh tên 12 con giáp5 của Xiêm và Kampuchia đã đi đến kết luận là chúng có nguồn gốc tiếng Mường Cổ. Ộng đã viết nhiều về các ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ trong vùng Đông Nam Á, tuy nhiên không đưa ra một liên hệ gì về tên 12 con giáp với Ấn Độ. Học giả TH Li Fang-Kuei (1945) chuyên khảo về tiếng Thái6 đã phân tách thập can và thập nhị chi qua các ngôn ngữ Thái và đưa ra nhận định rằng tiếng Thái vẫn còn duy trì một số phụ âm Hán Cổ như pl-, zng-, sm- tuy không nhất quyết xác định được nguồn gốc tên 12 con giáp từ đâu ra. Sau đó là các công trình của học giả Paul K. Benedict, vào năm 1967 ông đề nghị thập nhị chi có nguồn gốc Nam-Thái (Austro-Thai)7 trong bài viết về Văn Hoá và Ngôn Ngữ Nam-Á, và dựa trên các liên hệ của âm ngựa (Ngọ), chó (Tuất) và heo (Hợi). Năm 1975, ông viết cuốn “Austro-Thai Language and Culture” khai triển các ý từ những năm trước. Ông đưa ra các dữ kiện của các ngôn ngữ địa phương để đi đến kết luận rằng tiếng TH đã mượn một số tiếng Nam-Thái như trứng, gà, ngựa, yên (ngựa), cỡi ngựa, voi, ngà, lợn (heo), thỏ, trâu bò … nuôi lấy thịt, ong, mật, gạo, mía, muối …v…v… và điều đáng chú ý và oái ăm là sau đó, các ngôn ngữ vùng Đông Nam Á đã phải mượn lại các từ ngữ mà mình cho TH mượn trước kia ! Thí dụ như các từ trà, giấy … Cũng theo Benedict thì có những tính chất đặc thù bắt nguồn từ văn hoá Nam-Thái như phép tính 12 con giáp mà nhiều người tưởng là của TH. Ông ghi nhận rằng chữ ngựa trong tiếng Lê (Li, dân bản xứ đảo Hải Nam) là nga/ka và là một bằng chứng là mã và ngựa có liên hệ, sau khi so sánh và đề nghị dạng âm cổ phục hồi của ngựa trong tiếng Inđônêsia và Mã lai là *t’anga, tác giả đề nghị âm cổ Nam-Thái là *sanga. Cuối cùng kết luận bằng cách đưa ra một giả thuyết rằng có thể một ngôn ngữ cổ Nam-Thái đã từng hiện diện trong vùng Đông Nam Á, mà ông gọi là AT-x và đã cho TH mượn nhiều từ căn bản. Tác giả Jerry Norman (1985) cũng dựa vào các dữ kiện từ tiếng Thái, Hán Việt, Việt và TH, Mường để chứng minh rằng tên 12 con giáp có nguồn gốc từ phương Nam (Austroasiatic, Nam Á). Ngoài 3 từ Ngọ, Tuất, Hợi, Norman8 còn liên hệ 4 từ Sửu, Thìn, Mùi, Dậu với các tiếng phương Nam – bài viết trên thật ra là từ một bài viết