|
Tác
giả chân thành cảm tạ các thông tin của anh
Nguyễn Vinh Quang và phê bình của anh AnhMy
Trần, Nguyễn Xuân Quang từ xứ cờ hoa (Mỹ).
* * *
Phần này viết về chi thứ hai hay chi Sửu của
thập nhị chi (12 con giáp). Sửu dùng để chỉ thời gian từ 1 giờ
tới 3 giờ sáng (đêm năm canh ngày sáu khắc), và xác định không
gian (hướng NNE/Bắc Bắc Đông). Phần sau chỉ giới hạn về liên hệ
Sửu Hán Việt/HV và trâu tiếng Việt cho thấy một tương quan mật
thiết khi đi ngược dòng thời gian, cũng như cho thấy một lần nữa
nguồn gốc phương Nam (Việt Nam) của tên (HV) 12 con giáp. Đương
nhiên là các kết quả (nếu có) của các nghiên cứu DNA loài
trâu/bò ở Á Châu, cùng với những nghiên cứu về khảo cổ học liên
hệ … sẽ tăng phần chính xác của kết luận trên. Người viết tránh
dùng các thuật ngữ để giữ cho bài viết đơn giản, tuy nhiên có
nhiều chú thích cho biết nguồn rõ ràng và tài liệu chi tiết để
người đọc tiện tra cứu thêm. Cần phân biệt thanh điệu được ghi
bằng số sau vần, khác với các số thứ tự ghi chú. Âm Bắc Kinh/BK
được ghi bằng pinyin (phiên âm, bính âm).

Xe bò chở gạch - những viên gạch
xây dựng nhà cửa, thành thị,công nghiệp của tương lai ...
đưa
nông nghiệp và trâu bò vào quá khứ. Phải chăng mâu thuẫn là
nguồn gốc của tiến bộ ?
Thời Xuân Thu Chiến Quốc, Khổng Tử ngồi trên xe
bò đi chu du thiên hạ; Trong 'Nhân Thiên’ của 'Luận Ngữ', Khổng
Tử mong con người không màn công danh như loài trâu, chỉ cố sức
cày cấy, không khoe khoang kể công ... có lẽ vì vậy mà Khổng Tử
yêu cầu phải có trâu (bò) khi cúng tế... (theo Thường Tuấn trong
'Văn Hoá về 12 con giáp' NXB Tổng Hợp TP HCM 2005). Hứa Thận
trong ‘Thuyết Văn Giải Tự’ thời Đông Hán cũng ghi nhận về trâu
'
大
牲
也 đại sinh
dã' (con vật cúng lớn). Trâu cũng hiện diện trên trống đồng
thời Đông Sơn, đánh dấu văn hoá’ lúa nước’ của thời Hùng Vương
- xem các hình ở trang cuối. Khi xem các thành ngữ ca dao, ta sẽ
thấy trâu (bò) gắn liền với các văn hoá phong tục dân tộc ở Á
Châu, nhất là ở vùng Đông Nam Á, Inđônêsia .... Phần sau chú
trọng về văn hoá ngôn ngữ Trung Hoa so với Việt Nam qua lăng
kính con giáp thứ hai hay Sửu.
1. Giới thiệu tổng quát
1.1 Sửu là chi thứ hai
Sửu
HV
丑 hay chŏu
giọng BK hiện tại, so với giọng Quảng Đông cau2, giọng Hẹ chiu,
cu3 …và Đại Hàn chug, Nhật là chu : cho thấy Đại Hàn và Nhật đọc
gần âm BK hơn. Theo Khang Hy, Sửu thời Đường đọc là sắc cửu
thiết - đồng âm với xú (xấu)
醜 : tiếng HV vẫn
còn duy trì phụ âm s- đầu chứng tỏ lần nữa hệ thống âm thanh HV
đã nhập (có hệ thống rõ ràng) vào tiếng Việt khoảng thời kỳ này.
Tự điển Việt Bồ La (1651) cũng ghi nhận các chữ
sỡu
hay tlâu
kề bên nhau cho thấy liên hệ mật thiết giữa hai chữ/âm này; Phần
sau sẽ đưa ra các tương quan ngữ âm chứng minh rằng sửu chính là
một dạng của trâu, nhìn rộng hơn qua các bài viết khác ta có thể
nhận ra rằng hệ thống tên gọi Tý Sửu Dần … chính là hệ thống kí
âm của người Hán ghi lại tên gọi các con vật từ một tiếng ‘nước
ngoài’ (tiếng Việt Cổ).

1.2 Trâu bò trong văn hoá Trung Hoa (TH)
Ngưu
hay ngâu là tiếng HV, nghĩa là bò (cow, ox, bull)1,
giọng BK bây giờ là niú - cũng viết bằng bộ ngưu
牛 thứ 93 trong
214 bộ thủ cổ điển. So với các giọng đọc khác, ngâu gần với
giọng QĐ và ngưu gần với giọng Hẹ (Hakka) - giọng Ngô
(Wu) là nhiu cho thấy kết quả ngạc hoá cao độ. Tiếng TH
còn dùng các cụm từ thuỷ ngưu để chỉ con trâu so với mẫu ngưu,
hoàng ngưu, hoả ngưu … là con bò. Đi ngược dòng thời gian về
thời Tiên Tần, các hình vẽ/khắc trên giáp cốt văn, kim văn đều
cho thấy ngưu là chữ tượng hình – hình phía trước của con trâu
có hai sừng. Nếu chữ ngưu được dùng thay chữ Sửu trong tên 12
con giáp thì nguồn gốc TH của chúng có cơ sở chứng minh, nhưng
lạ thay lại có chữ Sửu (và dĩ nhiên các chữ khác như Tý, Dần …
Hợi) chẳng dính líu gì đến tên gọi 12 con vật trong tiếng Hán.
Nhất là khi tên 12 con giáp đã được ổn định từ thời Tần về sau,
TH đã có tên gọi các con thú này rồi! Ngoài ra, chữ Sửu thường
được dùng làm thành phần hài thanh/HT trong quá trình cấu tạo
chữ Hán như
忸
狃
扭
紐
鈕
杻 …..
là nữu HV, và các chữ này được đọc là
niŭ, niú giọng BK bây giờ (hay là nữu, ngưu theo giọng Hẹ) chứ
rất ít khi là Sửu - điều này cho thấy mối dây liên hệ mật thiết
giữa Sửu
丑 và ngưu
(trâu/bò)
牛 .

Lão Tử cởi trâu xanh - ở phương Nam …. đi về
hướng Tây mất dạng?
(http://en.wikipedia.org/wiki/Lao_Tsu)
(hình vẽ từ
http://www.williamjames.com/History/CHINA.htm)

Trong phần này, trâu được dùng để dịch nghĩa
chữ HV ngưu dù rằng có phần gượng ép. Theo truyền thuyết TH thì
trâu biểu hiểu sự sống lâu (thọ) như chuyện Lão Tử khi về già đã
cởi trâu xanh đi về hướng Tây qua đồi núi và mất dạng. Ta hãy
xem qua hình ảnh của trâu (bò) trong văn hoá TH qua các thành
ngữ như
Ngưu ẩm ưu hà :
con trâu uống nước ở sông Hoàng Hà, nghĩa rộng hơn là cuộc sống
đầy đủ thoải mái.
Ngưu giác quải thư
: đeo sách ở sừng trâu - chuyện kể Lý Mật đời Đường nhà nghèo mà
chăm học, vừa đi chăn trâu vừa đeo sách (học) ở sừng trâu
Ngưu Lang Chức Nữ
: truyền thuyết TH về chàng trăn trâu (Ngưu Lang) và cô gái dệt
(Chức Nữ), liên hệ đến thất tịch2 (đêm mồng 7 tháng
7) và mưa ngâu (tháng bảy mưa nhiều như nước mắt hai vợ chồng
Ngưu Lang Chức Nữ khi gặp nhau) …
Ngưu đầu mã diện
: đầu trâu mặt ngựa - quỷ sứ trong hình dạng thú (như dưới âm
phủ)
Ngưu quỷ xà thần
: yêu ma quỷ quái – như câu đầu trâu mặt ngựa trên
Ngưu đầu bất đối mã chuỷ
: đầu trâu không xứng với mõm ngựa – cũng như các câu ông nói gà
bà nói vịt, trống đánh ngược kèn thổi xuôi, râu ông nọ cắm cằm
bà kia, nồi vuông úp vung tròn …
Ngưu giác tiêm
hay còn là toan ngưu giác tiêm : chui (rúc) vào sừng trâu
– chui (đi) vào ngõ cụt, đi vào chỗ bế tắc
Ngưu đao cát kê
hay còn là cát kê yên dụng ngưu đao (sách Luận Ngữ) :
dùng dao to (mổ bò) để giết gà – có tài mà phải làm những công
việc (nhỏ nhoi) không xứng
Ngưu đỉnh phanh kê
: vạc trâu (bò) mà nấu gà – có tài mà làm việc nhỏ
Ngưu y đối khấp
: khóc với nhau trong manh áo tả tơi – đôi vợ chồng cùng khổ …
Ngưu đao tiểu thí
(thử) : chỉ cho thấy phần nào tài nghệ thật sự của mình
Ngưu sưu mã bột
: ngưu sưu và mã bột là các vị thuốc TH dễ lấy – ý nói những gì
rẻ tiền mà lại có ích
Ngưu nhân mã nhân
: làm việc như trâu ngựa - đời sống cực khổ
Ngưu mã sinh hoạt
: sống đời cực khổ như trâu ngựa
Ngưu mã bất như
: sống đời cực khổ còn hơn trâu ngựa
Ngưu đề chi sầm
: khả năng giới hạn
Ngưu ký đồng tạo
: trâu và ngựa cùng chuồng – như vàng thau lẫn lộn, không phân
biệt người khôn và người ngu
Ngưu khuyên lý bất yêu tháp tiến mã chuỷ lai
: không để mõm ngựa trong bầy trâu (bò), hay đừng xen vào chuyện
người khác – không phải chuyện của mình
Ngưu bì đại vương
: người ưa khoe khoang
Đối ngưu đàn cầm
: gẫy đàn cho trâu nghe – đàn gẫy tai trâu – nói (giải thích)
cho người điếc nghe (người không biết thưởng thức), đưa châu
ngọc cho lũ heo (cast pearls before swine) … Để ý đàn HV là gẫy
còn cầm HV mới là cây đàn!
Ngưu ngưu niệt niệt
: niệt là nắm, bóp – ý nói tư cách ngại ngùng3 như
không nói được ý mình muốn nói
…v.v…
Các cách dùng ngưu y (áo trâu, áo người
nghèo), ngưu xa (xe trâu/bò, dân nghèo đi), ngưu đâu (đầu trâu)
… đáng chú ý – so với cách dùng long y (áo vua, đẹp đẽ và lộng
lẫy), long xa (xe vua đi), long đầu (đầu con rồng, hoành tráng)
… Cho thấy hai thái cực của xã hội, đều có dấu ấn trong hai con
giáp này.
1.3 Hình ảnh trâu (bò) trong văn hoá Việt Nam
Trâu hiện diện thường xuyên trong thành ngữ
ca dao Việt Nam, từ hoạt động kinh tế căn bản nhất (mua trâu)
đến việc dựng vợ gả chồng hướng về tương lai
Mua trâu chọn giống
Cưới gái lựa dòng
Rủ nhau đi cấy đi cầy
Bây giờ khó nhọc, có ngày phong
lưu
Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa
Và ngay cả sự nghiệp của một đời người
Tậu trâu, lấy vợ, cất nhà
Trong ba việc ấy thật là khó thay
…. Hay là
Con trâu là đầu cơ nghiệp
Ruộng sâu trâu nái
Muốn giầu nuôi trâu nái
Muốn lụn bại nuôi bồ câu …
Trâu còn là nhân vật chính trong vài phong
tục như chọi trâu ở Đồ Sơn, cũng giống như các phong tục ở Mã
Lai, Inđônêsia …
Dù ai buôn bán trăm nghề
Mồng mười tháng tám cũng về trọi
trâu
Tâm lý xã hội phức tạp hàm chứa trong các câu
nói như ‘…trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết (kẻ dưới thiệt thòi
khi có xung đột ở cấp trên); Trâu buộc ghét trâu ăn; Trâu chậm
uống nước đục, trâu ngờ ăn cỏ béo (đến sau mất phần, có khi ngờ
nghệch lại gặp may mắn); Trâu cổ cò, bò cổ giải; Trâu chết mặc
trâu, bò chết mặc bò, củ tỏi giắt lưng (ý nói người ích kỷ chỉ
biết lo cho phần mình); Trâu giắt ra, bò giắt vào (chỉ nhà giầu
có); Trâu trắng đi đâu mất mùa đến đấy (trâu trắng rất hiếm
thấy, ý chỉ người không may mắn); Trâu đi tìm cọc, cọc chẳng tìm
trâu (ai cần đến ai thì phải đi mà tìm); Trâu ra mạ vào (cầy
xong thì phải cấy ngay); Trâu lấm vấy càn (kẻ ưa nói xấu người
khác); Trâu ho bằng bò rống (hoạt động của người khoẻ); Trâu
khoẻ chẳng lo cày trưa (người khoẻ làm thêm cũng không sao);
Bụng trâu làm sao, bụng bò làm vậy; Trâu lành không ai mặc cả,
trâu ngã khối kẻ cầm dao (lợi dụng lúc người đang yếu thế); Trâu
chết dể da, người chết để tiếng (trâu chết còn da để dùng làm
nhiều việc, người ta chết để lại tiếng thơm hay xấu); Lo bò
trắng răng - cũng như lo bò không có hàm trên (lo chuyện không
đâu); Bò chết chẳng khỏi rơm (ý nói rất gắn bó) …’ . Kinh
nghiệm dân gian cho thấy4
Trâu năm, sáu tuổi
còn nhanh
Bò năm, sáu tuổi đã
tranh cõi già
Lái trâu, lái lợn lái
bé
Trong ba ‘lái’ ấy chớ
nghe anh nào
Tuổi Sửu, con trâu
kềnh càng
Cày chưa đúng buổi
lại mang cày về
Thứ nhất vợ dại trong
nhà
Thứ nhì trâu chậm,
thứ ba rựa cùn … nhưng lại có cách nhìn khác hơn là
Vợ dại thì đẻ con
khôn
Trâu chậm lắm thịt,
rựa cùn chịu băm
Và kinh nghiệm khi mua bán trâu
Xa sừng, mắt lại
nhỏ con
Vụng đàn, chậm chạp,
ai còn nuôi chi
Khô chân, gân mặt,
đắt tiền cũng mua
Đốm đầu thì mua - đốm
đuôi thì thịt
Hàm nghiến, lưỡi đốm
hoa cà
Vểnh sừng, tóc chớp,
cửa nhà không yên
…v.v…
Một số thành ngữ TH có hàm ý như trong các
thành ngữ Việt Nam : làm việc như trâu (bò), đàn gẫy tai trâu …
Nhưng lại có nhiều điểm khác biệt, có lúc lại ngược với nhau như
cách nói mổ trâu, mổ bò như làm ăn như mổ bò … có
ý tiêu cực trong tiếng Việt, còn mổ trâu trong tiếng Hán là
páo dīng jiě niú (bào đinh giải ngưu HV) có nghĩa tích cực :
nói lên một khả năng do luyện tập thường xuyên mà thành! Tiếng
Việt có các chữ bê (miền Bắc) và nghé (miền Nam) chỉ con trâu
con so với các cụm từ ngưu tử, tiểu ngưu, độc ... trong tiếng
Hán. Ca dao tục ngữ Việt liên hệ đến trâu có phần đa dạng và
phong phú hơn TH, cũng như những lấn cấn về phạm trù nghĩa của
trâu bò trong tiếng TH - nhưng không đủ cơ sở để ta đi đến kết
luận Sửu (biểu tượng là trâu) có nguồn gốc Việt (Cổ). Có người
cho rằng Trung Hoa thời xưa không có trâu mà chỉ có bò (ngưu),
khi bành trướng về phương Nam mới bắt đầu ghép thêm chữ thuỷ
(nước) để cho ra thuỷ ngưu chỉ con trâu địa phương, nhưng cũng
có người cho rằng trâu dã có mặt tại lưu vực sông Hoàng Hà từ
thời Cổ Đại ... Đây là một vấn đề khá mơ hồ vì (thiếu) định
nghĩa khoa học (nên rất dễ lầm) của trâu và bò thời xưa, kết quả
khảo cổ và di truyền học ... chưa rõ ràng và cần được nghiên cứu
chi tiết hơn. Tiếng Phạn cũng có các từ như kita vừa chỉ con
trâu, con bò và vừa chỉ con dê , và ustra là con trâu hay lạc đà
(trâu có bướu). Ta hãy đi sâu vào cấu trúc và lịch sử hình thành
ngữ của chữ Sửu so với ngưu để tìm thêm manh mối.
2. Phụ âm đầu s- của Sửu
2.1 Sửu có dạng âm cổ phục
nguyên là *trhuw theo Edwin Pulleyblank5
so với dạng *drju theo cách phục hồi của William Baxter6,
và *tn’njôg của Bernhard Karlgren7 và *plau của Li
Fang-kuei8 – hai dạng đầu gần với
trâu/tru
tiếng Việt nhất - xem thêm bảng so sánh tên 12 con giáp (bài số
2). William G. Boltz dựa vào các phương ngữ Thái còn đề nghị
dạng âm cổ của Sửu *hnrjơgwx (trong cuốn 'Studies in the
Historical Phonology of Asian Languages' 1991 - NXB John
Benjamins) - so với dạng âm cổ của Paul Benedict *k[a]R[]b/l/aw
(trong cuốn 'Austro-Thai, Language and Culture' 1975 - NXB New
Haven) …. Thật ra, các tổ hợp phụ âm
kl-
hay tl-
, bl-
đã
từng hiện diện trong tiếng
ngạc hoá
trăng ,
trời
… cho ra dạng
zăng, zời
(hay giăng, giời …
phụ âm đầu
z
hữu thanh cùng vị trí phát âm với
s
vô thanh) – đây là tàn tích của quá trình ngạc hoá từ
kl/tl/bl
ra thành s
mà ta còn thấy khi so sánh tiếng Việt với tiếng Mường và các
tiếng láng giềng :
Sông/Việt
là klong (tiếng Bru), khlông (Miến Cổ), krung (Môn Cổ), krun
(Môn), kron (Bahna), khlon (Mường Hung), krong (Chăm), karung
(Katu), rong (Mnông, Kơho), kroung (Brou), Xrong (Sơđăng), khong
(Mường Bi), krông (Riang), sungai (Inđônêsia), klang (Palaung)
khung (Thái) …
Sấm
krim (Mường
Ruc), gram (Rongao, Bahnar) krum/grum (Chăm)
Sau
khlau (Mường Hung), krau (Môn)
Sáu
prau (Mường Uý-Lộ), torow/parau (Môn), turai (Mnông) –
tiền Bahna(proto-Bhanaric, thuộc nhánh Môn-Khme) là
*pơ-raw …
Sóc
(con)
kam-prok
(Khme), prok (Bahna, Rơngao, Chăm), chuột/sóc (Mường), pro
(Kơho)
Sâu
kru (Mường Uý-Lộ), ksu (Mường
Thạch Bi), jru (Bahna), khu (Mường Bi)… Chữ Nôm dùng lâu HT cho
thấy âm l- đầu
Sống
klông (Mường Uý-Lô), klung/kluong (Ruc), khổng (Mường Bi) - chữ
Nôm dùng lộng HT cho thấy âm –l- (hay tl-)
Sóng
so với lãng HV, krong (Mường Uý-Lô) - chữ Nôm dùng lộng HT
…
…
Sửu
klu/tlu (trâu, tiếng Mường) , tru (giọng Ninh Bình, Thanh Hoá …)
tơla (Bahna), krapư (Brâu), krobây/khây (Khme), krâu (Wa) …
Giọng Quảng Trị vẫn còn có dạng tlâu …
… …
Xem thêm các bảng so sánh phần phụ chú ở
dưới.
2.2 Trâu còn được phiên âm là
ko lou
革
蔞
(cách lâu HV) hay *klâu trong ‘An Nam Dịch Ngữ’ – Vương Lộc
giới thiệu và chú giải (NXB Đà Nẵng – Trung Tâm Từ Điển Học – Hà
Nội - Đà Nẵng 1995 – không thấy ghi phiên âm bò ?). Các dạng chữ
Nôm như
…
dùng lâu HT, dạng phiên âm
*klâu
trên, dạng
tlâu trong
tự điển Việt Bồ La (Alexandre De Rhodes, 1651 – luôn luôn đi kèm
với sỡu), các dạng tiếng Mường tlu/klu (trâu) cho ta có cơ sở
rất vững chắc liên hệ âm và nghĩa của Sửu với trâu. Tác giả
Henri Maspero9 (1912) đã từng nhận xét về tổ hợp phụ
âm bl- blang (trăng), blòng (trồng) …hiện diện trong tiếng Việt,
cũng như tác giả Jerry Norman10 (1985) từng đề nghị
dạng âm cổ của s (trong chữ Sửu) có thể là gl- , dl-, chl- … hay
tổng quát hơn là
Cl-
(C
là một phụ âm không nhất thiết phải là p,k,t…). Tác giả Ann
Yue-Hashimoto11 (1991) đã nghiên cứu và viết về các
phương ngữ Quảng Đông (hay Việt,
越
,
粵
yuè BK) – và cho rằng tổ hợp phụ âm
kl-
đã đơn âm hoá như cái nách là ka lak dai, kak lak … Tuy còn tàn
tích trong các ngôn ngữ địa phương, tương quan Sửu-trâu còn để
lại dấu ấn trong văn hoá và chữ viết của Trung Hoa12.
2.3
Như vậy ta
có thể liên hệ Sửu (chŏu BK) với dạng tlu/klu tiếng Mường (tru
giọng Ninh Bình đến Thanh Hoá …). So với dạng Hán Thượng Cổ phục
hồi của ngưu13 (niú BK) là *ngiơ (hay *ngwơ) khá nhất
trí từ các tác giả Bernhard Karlgren (1957), Edwin Pulleyblank
(1991), William Baxter (1992), Axel Schuessler (2007)… Một nhận
xét nữa là các chữ Hán hiếm thấy như …..
có âm lóu BK hay LÂU HV có thể liên hệ đến loài SÂU, cũng như
髑 髏
độc lâu HV
(dú lóu BK) hay 骷
髏
kū lóu BK là SỌ
người. Phổ biến hơn là liên hệ l-s như lực - sức, lãng - sóng,
lãng - sáng, lạp - sáp, lãm -xem, lam-xám, liên-sen ... Cho nên
phụ âm đầu s- của Sửu có âm cổ hơn là l- (r-) hay tl/tr- cũng
không làm cho ta ngạc nhiên.
Tóm lại ta có cơ sở rất vững
chắc để thành lập tương quan phụ âm đầu
s-kl/tl – tr
của Sửu -
*klu/*tlu – trâu
3. Nguyên âm ưu/âu của Sửu/trâu
Liên hệ u hay iu và âu – như Sửu/Trâu - hay
nguyên âm với độ mở rộng miệng lớn hơn thường gặp trong tiếng
Việt
Bu bâu (giọng
Bắc) vụ HV mau
Khu
khâu
trứu chau (mày)
Chu
châu
sưu giấu
Du HV dầu
triều trào
Xú
xấu vũ
HV màu, mầu (mỡ)
Cu câu : bồ cu, bồ
câu tu HV râu
Cú
câu tu
HV trau
Ưu âu
(sầu)
mũ mạo
Bửu bảo,
báu
mựa vô, mã
Sưu xâu (trích một
phần) ủ âu
(yếm), ấp ủ
…v.v…
…
… …
Thành ra, Sửu – trâu có tương quan về nguyên
âm.
4. Thanh điệu
Các âm Sửu-trâu đều cùng âm
vực bổng (hay thanh) - gồm các thanh ngang (trâu) hỏi (Sửu) và
sắc. Thanh sắc còn thấy theo tự điển Khang Hy ghi âm
Sửu
là sắc cửu thiết, đồng âm với
xú
(xấu). Điều này còn phù hợp với giả thuyết của học giả André G.
Haudricourt9 về quá trình thành lập thanh điệu tiếng
Việt : thế kỷ VI có ba thanh điệu (thanh hỏi và sắc là một) và
đến thế kỷ XII thì có 6 thanh điệu (thanh hỏi và sắc tách ra
thành hai thanh khác biệt). Tiếng Việt có nhiều thanh điệu nhất
trong nhóm Nam Á hay nhánh Môn Khme, có lẽ vì tiếp xúc rất mật
thiết với tiếng TH trong một thời gian rất dài.
Trở lại với thanh thứ 3 của âm chŏu BK và
thanh hỏi của Sửu HV, tương quan này hiện diện khá rõ ràng với
bảng so sánh sau
Tiếng TH, âm BK Tiếng HV
Ăn
ảm (ám là một biến âm), yểm
Bă
bả (bó là một biến âm - dạng cổ hơn)
Băn
bản (ván, vốn …là các dạng khác cổ hơn)
Băi
bách, bá (âm cuối –k giới hạn thanh điệu)
Dă
đả (đánh – đánh là dạng cổ của đả)
Chăn
sản (sinh đẻ)
Chĭ
xỉ (răng)
Făn
phản (trở về)
Guǐ
quỷ (ma quỷ)
Jiăn
kiểm (kiểm tra)
Jiăo
kiểu (uốn nắn)
Kǔ
khổ (đắng) – khó là một dạng khác (cổ hơn)
Niăo
điểu (chim)
Shŏu
thủ (giữ, bảo vệ)
Wǔ
vũ, võ (múa là âm cổ hơn) - tiếng Việt không có dạng vủ
… …
Chŏu
Sửu – không
thấy tiếng Việt dùng các dạng Sữu, sứu, sừu..
…v.v… …
Tóm lại, ta có thể thiết lập liên hệ Sửu và
trâu qua các tương quan giữa phụ âm đầu s- và kl/tl/tr- , thanh
điệu cũng như nguyên âm có cơ sở rất rõ ràng, nhưng không có
tương quan ngữ âm nào giữa ngưu HV (niú BK) và trâu cả. Điều này
cho thấy tiếng Hán đã mượn từ trâu (hay *klu) của phương Nam -
hay là cả tên 12 con giáp - tuy rằng đã có tên gọi chúng trong
tiếng Hán rồi (như ngưu chẳng hạn). Nhưng từ thời Tần Hán, nhất
là thời Đường Tống khi văn hoá TH khởi sắc thì các tiếng
Việt-Hán14 như Sửu lại nhập ngược lại vào tiếng Việt
(trở thành tiếng Hán-Việt) làm vấn đề truy nguyên trở nên rất
phức tạp.
5. Phụ chú và phê bình thêm
Có những khảo cứu mới đây dựa
vào mtDNA của các loài trâu Trung Quốc, Ấn Độ, Ba Tây , Đông Nam
Á và Úc Châu cho thấy quá trình thuần hoá trâu độc lập ở Ấn Độ
và Trung Quốc ... cũng như kết quả pha trộn của các loài trâu Ấn
Độ và Trung Quốc ở Đông Nam Á ? Xem bài viết ‘Independent
maternal origin of Chinese swamp buffalo (Bubalus bubalis)’ -
các tác giả Lei, C. Z.; Zhang, W.; Chen, H.; Lu, F ... trong tạp
chí Animal Genetics, Volume 38, Number 2, April 2007 , pp.
97-102(6), hay bài viết ‘Origin
of mitochondrial DNA diversity of domestic yaks’
các tác
giả Songchang Guo, Peter Savolainen, Jianping Su, Qian Zhang …
cũng cho thấy kết quả không đồng nhất (thời gian, không gian) về
nguồn gốc thuần hoá bò Tây Tạng - tuy rằng chúng có thể bắt
nguồn từ một nhóm gen của boài bò hoang (wild gene pool)... Bài
này có thể tìm đọc trên mạng qua địa chỉ http://www.pubmedcentral.nih.gov/articlerender.fcgi?artid=1626082#B5
Người đọc có thể tra cứu thêm các tài liệu
liên hệ đến DNA, khảo cổ ... trên mạng. Các bài viết về Tý , Dần
... có thể đọc trên mạng qua địa chỉ khoahoc.net, dunglac.net,
anviettoancau.net ...v.v... cho liên tục.
(1) tiếng Anh có nhiều từ chỉ con bò (ox) như
bò đực (male ox, bull), bò cái (female ox, cow) …v.v…Phân loại
khoa học (danh pháp động vật) của trâu và bò như sau
Trâu
Bò
Giới (kingdom, regnum) – Animalia (động
vật)
Animalia
Ngành (phylum) – Chordata (động vật có dây
sống) Chordata
Lớp (class) – Mammalia (động vật có
vú) Mammalia
Bộ (order) – Artiodactyla (bộ guốc
chẵn) Artiodactyla
Họ (family) – Bovidae (trâu
bò)
Bovidae
Phân họ (subfamily) – Bovinae (trâu
bò) Bovinae
Chi (genus) – Bubalus
(trâu) ************ Bos
Loại (species) – Bubalus bubalis
(trâu)******bắt đầu khác*******Bos taurus (bò)
Với sự bành trướng của thành thị và công kỹ
nghệ, trâu bò càng ngày càng trở nên ít công dụng hơn (như không
còn xe bò nữa). Dân thành thị nhiều khi không có một khái niệm
rõ ràng về trâu và bò - có chăng chỉ là hình ảnh mờ nhạt còn xót
lại từ những chuyến viêng thăm sở thú để xem các loài thú 'hiếm'
này ... Trâu bò càng ngày càng xa lạ đối với con người 'văn
minh' cũng như 12 con giáp - bây giờ chỉ còn vài loài vật như
chó, mèo là còn nuôi trong nhà (pets).
(2) thất tịch tiết
七夕
節 tương đương
với Valentine’s Day (ngày tình nhân). Huyền thoại chàng chăn
trâu và cô gái thợ dệt đã cho ra các thành ngữ Ngưu Lang Chức
Nữ chỉ hai vợ chồng hay tình nhân phải sống xa nhau, hay xây
cầu ô thước (ô là con quạ, thước là con chim khách - Hán
ngữ là thước kiều/què qiáo BK) ý nói mai mối cho hai người … Cô
gái thợ dệt là một trong bảy người hầu Ngọc Hoàng Thượng Đế (các
tên hiệu khác là Ngọc Hoàng Đại Đế, Ngọc Đế, Thiên Công…) nên
trâu (bò) đã hiện diện trong văn hoá cổ đại TH rất sớm – có
huyền thoại khác cho rằng cô gái dệt là con gái của Ngọc Hoàng
Thượng Đế, và các văn hoá Á Đông khác cũng có những huyền thoại
tương tự … Ca dao sau đây tóm tắt mối tình trên
Mồng bẩy tháng bẩy
mưa ngâu
Con trời lầy chú chăn
trâu cũng buồn
Sự phổ thông của Tình Nhân
Tiết (ngày tình nhân, ngày 14 tháng 2 theo Tây Lịch) ở TH và VN
cho thấy ảnh hưởng Tây phương càng ngày càng rõ nét so với thất
tịch (ít người biết đến) . Ngoài ra, thành ngữ 'Ngô ngưu suyễn
nguyệt' 呉
牛
喘
月
có nghĩa là con trâu (bò) nước Ngô thấy trăng mà thở hồng hộc.
Theo truyền thuyết thì chỉ có nước Ngô (gồm vùng Giang Tô hay Tô
Châu bây giờ) mới có trâu (bò), sau đó dân mới đem loài trâu này
xuống phương Nam nóng hơn nhiều. Một đêm khi con trâu nhìn thấy
trăng xuất hiện, tưởng là mặt trời nên bắt đầu thở hổn hển
(suyễn HV - thở mạnh, như bị suyễn). Thành ngữ 'Ngô ngưu suyễn
nguyệt' có ý chỉ một phản ứng quá đáng (overreaction). Các
truyền thuyết Ngưu Lang chức nữ, Ngô ngưu suyễn nguyệt ... phản
ánh quan hệ gắn bó của loài trâu (bò) với văn hoá TH từ thuở xa
xưa.
Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 cũng cho thấy phần
nào truyền thống văn hoá lâu đời qua hình ảnh của con trâu (chịu
khó, hiền lành và dễ thương...)
Ngay tại Việt Nam, một bộ sừng rất lớn của
loại 'trâu rừng' được đem ra trình làng lần đầu tiên - theo báo
Lao Động số 22 ngày 26/1/2007. Cặp sừng này dài tới 2.18 mét -
chi tiết xem trên mạng
http://www.laodong.com.vn/Home/khoahoc/2007/1/20926 . Hình ảnh
của trâu bò luôn luôn gắn bó với các dân tộc ở Đông Nam Á, tuy
rằng dân số chúng càng ngày càng ít đi song song với sự phát
triển của các khu vực thương mại và đô thị .
(3) trích từ cuốn ‘Tân Hoa Thành Ngữ Tự Điển’
Bắc Kinh (2004). Một số thành ngữ rất xa lạ với người Việt Nam
như ngưu ngưu niệt niệt, ngưu đề chi sầm …v.v… Có những thành
ngữ không thấy các tài liệu TH (nhất là từ Bắc Kinh, Thượng
Hải…) nhắc đến vì nhiều lý do như ‘Xử lý qua toà án như là mất
một con bò vì một con mèo’ hay ‘Con bò bị kéo tới Bắc Kinh cũng
vẫn là con bò’ (câu này từ Đài Loan) …v.v…
(4) trích từ các cuốn ‘12 con giáp’ NXB Hội
Nhà Văn (Hà Nội, 1998) và ‘Từ điển văn hoá cổ truyền Việt Nam’
NXB Thế Giới (Hà Nội, 1995)
(5) tác giả Edwin Pulleyblank đã nghiên cứu
và viết nhiều về âm Hán (Trung) Cổ, như cuốn ‘Middle Chinese : A
study in Historical Phonology’ 1984 hay cuốn ‘Lexicon of
reconstructed pronunciation in early Middle Chinese, late Middle
Chinese and early Mandarin’ 1991 do NXB University of British
Columbia Press (Vancouver, B.C.)
(6) tác giả William Baxter viết và nghiên cứu
nhiều về âm Hán (Thượng) Cổ như cuốn ‘ A Handbook of Old Chinese
phonology’ 1992 NXB Mouton De Gruyer
(7) Bernhard Karlgren là một kiện tướng
nghiên cứu nhiều về cách phục nguyên âm Hán Cổ - tác giả của
nhiều bài viết về tiếng Hán (Cổ) từ năm 1915 đến năm 1974 –
nhưng nổi tiếng nhất là cuốn ‘Grammata serica recensa’ – NXB
Bulletin of the Museum of Far Eastern Antiquities (1957) …v.v…
Tuy nhiên, cách phục nguyên của Karlgren không hoàn toàn được
giới Hán học chấp nhận
(8) Li Fang-kuei là một kiện tướng về tiếng
Thái, Hán Cổ … nghiên cứu và viết nhiều về các chủ đề trên từ
năm 1931 đến năm 1983 – nhưng nổi tiếng nhất là công trình ‘A
Handbook of comparative Tai’ 1977 – NXB University Press of
Hawaii
(9) Henri Maspero viết một bài luận về nguồn
gốc tiếng Việt rất nổi tiếng là ‘Etudes sur la Phonetique
Historique de langue Annamite, les Initiales’ trong tập BEFEO
XII (1912, trang 78 …). Ông đưa ra kết quả là tiếng Việt thuộc
ngôn ngữ Thái, nhưng khoảng 40 năm sau, đồng nghiệp của ông là
A. G. Haudricourt chỉnh lại các dữ kiện và đưa ra kết luận về
nguồn gốc Nam Á cùng các thanh điệu của tiếng Việt qua hai bài
viết…
(10) bài viết ‘A note on the origin of the
Chinese Duodenary Cycle’ trong cuốn ‘Linguistics of the
Sino-Tibetan area – Papers presented to Paul K. benedict for his
71st birthday’ (1985) – Pacific Linguistics – Series
C – No. 87
(11) bài viết ‘The Yue dialects’ trong cuốn
‘Languages and Dialects of China’ - chủ biên là GS William S-Y
Wang, NXB Journal of Chinese Linguistics (1991)
(12) Không phải ngẫu nhiên mà ta có chữ tu HV
(rất
hiếm, Khang Hy) - giọng BK bây giờ là xiū so với giọng Quảng
Đông là sau1, saau1 (đọc như sâu, xâu) - sau1 có nghĩa là con
trâu, bò ... Để ý thêm nữa là thành phần HT của tu là tu (sửa,
chữa) và còn một dạng cổ nữa là TRAU (trau giồi). Như vậy là
không những ta có liên hệ Sửu
丑
- trâu
(Việt) nhưng còn tu -
sâu - trau
... cho thấy
âm cổ hơn *tlu (Mường) hay dạng trau hiện tại (Việt). Xem thêm
瘳
(sưu, trừu) sau đây
(13) theo tác giả An Chi/AC
(hay Huệ Thiên) trong cuốn 'Những tiếng trống qua cửa sấm'
(SàiGòn - in lại bài viết trên 'Thế Giới mới' số 224, 24/2/1997)
thì ngưu chính là trâu - âm trâu là âm cổ của ngưu vẫn còn duy
trì trong tiếng Việt. AC dựa vào một chữ duy nhất để đưa đến kết
luận trên - chữ Hán rất hiếm đó là sưu HV hay chōu BK viết bằng
bộ nạch
疒 hợp với chữ
ngưu
牛 mà AC cho là
thành phần HT. Sưu bộ nạch hợp với chữ ngưu nghĩa là khỏi bệnh,
theo chúng tôi còn có thể viết bằng bộ nạch hợp với chữ liêu HT
hay là 瘳
- đây là chữ
thường gặp hơn dạng chữ mà tác giả AC đưa ra - có thể đọc là sưu
hay liệu HV (chōu
liáo BK)…
Chữ liêu thường được dùng làm thành phần HT để cho ra nhiều chữ
Hán khác như
廖
(họ Liêu),
瘳
(sưu, trừu),
戮
(lục, giết chết, hợp lực),
蓼
(liễu, loại rau răm),
熮
(liệu, lựu nghĩa là cháy),
疁
(lựu, cháy cỏ) ...v.v... Thành ra, sưu hay trừu lại chính là các
dạng của trâu chứ không phải là ngưu - dựa trên cách thành lập
chữ liệu HT này ! Ngoài ra, theo tác giả Axel Schuessler trong
cuốn 'ABC Etymological Dictionary of Old Chinese' - NXB
University of Hawaii Press (Honolulu, 2007) thì âm Hán Thượng Cổ
của ngưu
牛 là *ngwơ (gốc
Hán-Tạng, gần với âm ngưu giọng Bắc VN) rất khác với dạng âm Hán
Thượng Cổ của Sửu
丑
là *thru hay *rhu ! Âm Hán Thượng Cổ của sưu, trừu
瘳
hay liệu (chōu, liáo
BK) là *rhiu hay gần với âm tlu - tru - trâu tiếng Việt . Xem
lại Khang Hy, sưu
瘳
đọc là sắc cưu thiết hay sửu cưu thiết thời Đường Tống - đồng âm
với trừu
抽
(hay *tru/tlu) : một lần nữa cho ta thấy mối dây liên hệ
sưu-*tlu hay trâu. Còn ngưu thì đọc là ngữ cầu thiết (Đường Vận)
so với ngư vưu thiết (Tập Vận) - phù hợp với dạng âm Hán Thượng
Cổ phục nguyên của Bernhard Karlgren (1957), Sergei Starostin,
Baxter (1992) …. là *ngiơ - xem thêm các dữ kiện ở địa chỉ
http://starling.rinet.ru/cgi-bin/response.cgi?single=1&basename=/data/china/bigchina&text_number=+158&root=config
. Các kết luận trên đều phù hợp với kết quả của phần này cho
thấy liên hệ Sửu - *tlu/klu – trâu rất rõ nét. Ngoài ra tương
đồng giữa âm sầu HV
愁
chóu BK - rầu
: thiếu , sửu HV
…
chŏu BK - trố
(mắt)... đều
cho thấy liên hệ chou BK - sau/sưu - tr/r .. Tóm lại, tác giả AC
đã đưa ra một nhận xét sưu-ngưu-trâu không phù hợp với những dữ
kiện và nhiều kết quả nghiên cứu đã dẫn trong phần này. Ta phải
rất cẩn thận khi đưa ra kết luận (về nguồn gốc) dựa vào
chỉ một chữ
rất hiếm như vậy. Thêm vào đó là cách suy luận "...nước Trung
Hoa dã từng có trâu bò rồi, tại sao phải mượn một tiếng nước
ngoài để chỉ loài vật rất gần với mình ? ..." . Cách hỏi như vậy
cũng có thể đặt ra cho tiếng Thái, Lào, Nhật, Hàn , Việt ... hay
những bộ tộc thời Thượng Cổ ! Vấn đề cốt lõi là cách dùng loài
trâu (vật) để chỉ thời gian (ngày, thàng, năm), và liên kết phần
nào đến vận mạng loài người - trâu hay cả 12 con giáp đã trở nên
bất tử cũng như loài rồng (hư cấu) vậy! Có lẽ ý thức được hiện
tượng này mà người Hán đã duy trì cách đọc
‘ngoại lai’
của các tên 12 con giáp vì không nằm trong cách suy nghĩ của tộc
Hán – tuy nhiên công lao của người Trung Hoa trong quá trình bảo
trì (qua chữ Hán, các tài liệu viết về 12 con giáp …) và phân
phối hệ thống 12 con giáp ở Á Châu nói riêng, và trên toàn thế
giới nói chung quả không phải là nhỏ.
(14) tiếng
Việt-Hán,
một cách đơn giản, là những tiếng có gốc Việt Cổ nhập vào tiếng
Hán (thường trước thời Tần Hán) khi văn hoá TH còn tạp nhạp; So
với tiếng
Hán-Việt là
những từ gốc Hán nhập vào tiếng Việt qua các thời Tẫn Hán ...
Đường Tống khi văn hoá TH khởi sắc và ảnh hưởng lan rộng ra khắp
nơi (Nhật, Hàn, Việt Nam...). Thí dụ các tiếng
Việt-Hán
là tên gọi 12 con giáp chẳng
hạn : Tý Sửu Dần ... Tuất Hợi chính là các dạng của âm chuột
trâu kễnh ... chó cúi (heo/lợn). Số lượng tiếng
Việt-Hán
không nhiều và rõ ràng như tiếng
Hán-Việt
vì (a) thời gian nhập vào tiếng Hán đã quá lâu - có nhiều thay
đổi làm công việc nhận dạng rất khó khăn (b) số từ vựng và cấu
trúc tiếng Việt Cổ có thể rất đa dạng như là một tập hợp các
ngôn ngữ nhánh Việt-Mường, Môn-Khme ... và một số cũng có thể
hoàn toàn đồng hoá vào tiếng Hán (và tộc Hán) (c) tài liệu trước
thời Tần Hán ít ỏi và mơ hồ, dựa nhiều vào huyền sử/mê tín thay
vì dữ kiện khách quan và khoa học …v.v… Hiện nay, khuynh hướng
bảo thủ và quốc gia cực đoan của một số học giả TH đã từ từ mất
dần ảnh hưởng, thay vào đó là các nghiên cứu khoa học và nghiêm
túc (và không mang màu sắc chính trị) để đưa ra ánh sáng một số
vấn đề như ảnh hưởng của văn hoá, ngôn ngữ phương Nam vào tiếng
Hán thời Thượng Cổ; Thí dụ như chữ giang
(jiāng
BK) chẳng hạn , hầu như đều được chấp nhận là có nguồn gốc
phương Nam chứ không phải là do Hán tộc phương Bắc chế ra và dạy
lại hay 'thuần hoá' các bộ tộc phương Nam - thật ra Hứa Thận đã
nhận ra điều này phần nào khi ông viết 'giang ... tùng thuỷ ,
công thanh' trong Thuyết Văn Giải Tự cả hai ngàn năm trước
đây.
Tóm tắt vài đặc điểm của các nhóm dân tộc ở
phương Nam (như Bách Việt)
- thờ các loài động vật (đa thần)
- làm thuyền bè và giỏi về chiến tranh trên
sông nước
- xăm mình để tránh Giao Long (tục văn thân)
- làm các đồ bằng đồng như trống đồng ...
...v.v...
Xem các hình thú vật như con trâu trên trống
đồng, ta có thể thấy ngay mối dây liên hệ cổ đại của dân tộc
phương Nam và 12 con giáp . Tuy nhiên, vấn đề này cần phải được
tra cứu kỹ càng hơn bằng phương pháp khảo cổ, di truyền học ...
để tăng mức chính xác. Xem các bài viết của tác giả Jerold A.
Edmonson như 'The power of language over the past : Tai
settlement and Tai linguistics in southern China and northern
Vietnam' , hay bài viết về người Choang (Zhuang) của tác giả
Jeffrey Barlow ... Các tài liệu này có thể tìm thấy trên mạng
rất dễ dàng và cho thấy ảnh hưởng của phương Nam cũng như vết
tích trong văn hoá ngôn ngữ Trung Hoa (mà nhiều người cho rằng
là thuần nhất và tự phát).



Trở về Trang Chính
|