|
1. Giới thiệu tổng
quát
Từ các bài viết trước (phần 1, 2 – xem lưu
trữ tháng 6/2006 trên khoahoc.net)
ta đã thấy một số liên hệ sơ lược của tên 12 con giáp như
Tý/Tử/chuột, Ngọ/ngựa, Mão/Mẹo/mèo, Dần/*kian/kễnh (cọp),
Thân/Khon/khọn (khỉ), Sửu/*ch-lư/klu/tlu (trâu). Phần này sẽ tóm
tắt các tương quan còn lại giữa tên 12 con giáp và tên gọi các
con vật trong tiếng Việt, Việt Cổ. Một lần nữa, nguời viết sẽ
tránh dùng các thuật ngữ để bài viết dễ đọc và dễ cảm thông hơn.
Với những tài liệu bằng chữ Hán, Nôm, Việt và ngoại ngữ hầu như
đều hàm ý rằng nguồn gốc Trung Hoa (TH) của tên 12 con giáp, nên
vấn đề đặt lại nguồn gốc không dễ dàng cũng như vượt qua bức
tường rất cao và dày của ‘định kiến’ này qua bao ngàn năm. Chúng
ta hãy xem vài vết tích của tiếng Việt trong tiếng Hán (Cổ) để
thấy khuynh hướng biến dần đi của vốn từ phương Nam trong tiếng
TH hiện đại qua các tên chỉ loài vật như ong, bướm …v..v… Nhắc
lại rằng trong Phần 1 chúng ta đã duyệt qua tiếng cóc, voi, vịt,
chuồn (chuồn) đã từng hiện diện trong tiếng TH dù rằng ít thấy.
Từ khuynh hướng gọi tên các động vật, hi vọng chúng ta sẽ thấy
rõ hơn tại sao tên 12 con giáp lại rất gần gũi với tộc Việt chứ
không phải của TH như từ trước đến nay như mọi người đều lầm
tưởng ! Ý thức được rằng sự thay đổi một định kiến đã nằm sâu
trong xương tuỷ chúng ta từ bao ngàn năm nay thật là khó khăn,
tuy vậy sự thật vẫn cần phải được đưa ra ánh sáng để các cuộc
nghiên cứu trong tương lai có thể kiểm nghiệm một cách nghiêm
túc, khách quan và theo đúng phong cách của khoa học hiện đại.
Các bài viết 1, 2 và 3 chỉ tóm tắt rất sơ lược quan hệ tên 12
con giáp, những bài viết sau sẽ chi tiết hơn và phân tích từng
tên mỗi con để thấy rõ nét các mối dây liên hệ đến tộc Việt.
Phiên âm giọng Bắc Kinh theo lối Phiên Âm (pinyin) thường gặp
hiện nay.
2. Tiếng Việt và
tiếng Hán Cổ (hay
tiếng Hán Cổ trong tiếng Việt)
2.1 Ong là động vật
có nhiều gắn bó với văn hoá VN qua các thành ngữ như “nuôi ong
tay áo” và ‘chạy như ong vỡ tổ”… cho thấy tâm lý con người. Danh
từ ong được dùng 8 lần trong truyện Kiều so với bướm (7 lần)
“Tiếc thay một đoá trà mi
Con ong đã tỏ (mở) đường đi lối về”
(câu 845-846, Kiều)
Ong viết bằng chữ
Nôm thường gặp là bộ trùng hợp với chữ phùng (gặp) hài thanh
(HT), chữ này cũng chính là phong Hán Việt (HV) nghĩa là con ong
- giọng Bắc Kinh (BK) bây giờ là feng1, Quảng Đông (QĐ) là
fung1, Hẹ là fung1, bung1 … cho thấy tương quan
ong-phong
rất đặc biệt, có thể là cùng một gốc như qua các tương quan
ông-công,
ung-muống.
Ông (bà) HV viết bằng bộ vũ hợp với chữ công, giọng BK bây giờ
là weng1, weng3 so với jung1 QĐ, wung1, vung1 Hẹ và ong1 (Ngô),
ang1 (Minnan/Đài Loan). Ngôn ngữ TH hiện nay không có nhiều
tiếng bắt đầu bằng nguyên âm a, e, i/y, o/ơ, u … như tiếng Việt
– các âm đầu này thường bị môi hoá hay ngạc hoá thành các dạng
wu-, wo-, ya-, yu- … và biến đổi nhiều hơn để trở thành vo-, vu-
(âm Hán thời Trung Cổ còn âm đầu v-) và fo-, fu- hay mo-, mu- …
Thí dụ như úng HV (cái vò, hũ) viết bằng bộ ngoã (ngói) hay phữu
(đồ sành) hợp với chữ ung HT, giọng BK bây giờ là weng4, yong1,
yong2, yong3 so với giọng QĐ ung3, ngung3, ong3 và Hẹ là wung5,
vung5 – so với ong1 (Ngô) và ang3 (Minnan). Có khi môi hoá để
trở thành âm môi môi (phụ âm m) như
ung
HV, weng4/yong1 BK, ung3/ngung3 QĐ, wung5/jung1/rung1 Hẹ … mà
tiếng Việt là rau
muống.
Thật ra chữ ong viết bằng ông HT là một chữ hiếm trong vốn từ TH
hiện nay, tần số dùng1 là 21 trên 237243358, viết
bằng bộ trùng hợp với chữ ông HT, giọng BK bây giờ là weng1,
weng3 so với jung1 QĐ và vung1 Hẹ nghĩa là con ong vò vẽ. Chữ
này đã có từ lâu, ít nhất là thời Hán khi Hứa Thận ghi lại trong
Thuyết Văn Giải Tự là “…ông, trùng tại ngư mã bì giả…”. Khuynh
hướng hiện nay dùng điệp từ (từ ghép) của tiếng TH làm nguồn gốc
của phong (con ong) khó được nhận ra : như mìfeng1 (mật phong,
nghĩa là con ong) hay huàngfeng1 (hoàng phong), măfeng1 (mã
phong) chỉ con ong vò vẽ. Thường thì các từ HV như phòng, phóng,
phụng, phủ, phi, Phật … có âm cổ hơn còn duy trì trong tiếng
Việt là buồng, buông, bưng, búa, bay, Bụt … rất khác với liên hệ
phong-ong. Một số tác giả như Lê Ngọc Trụ (“Tầm Nguyên Tự Điển
VN” 1993) cho rằng ong có gốc là phong, nhưng ngược lại có một
số tác giả khác lại cho rằng phong HV (feng1 BK) có gốc là ong
(như theo Paul Benedict2 trong “Austro-Thai Language
and Culture” 1975).
2.2 Bướm thường
thấy qua từ láy ‘bươm bướm’ hay với nghĩa rộng hơn trong cách
dùng ‘bay bướm’. Chữ Nôm viết
bướm
bằng bộ khẩu hoặc bộ trùng hợp với chữ biếm, hay bộ trùng hợp
với chữ phạp (viết ngắn đi). So với tiếng Mường Thạch Bi là
pươm,
pướm (theo từ điển Mường-Việt, NXB Văn Hoá Dân Tộc, Nguyễn Văn
Khang chủ biên, Hà Nội 2002), pung khamu (tiếng Môn), pung paq3
(Danaw), pungpaq (Riang), paipyang (Thái), pam pam (Khamu) …
Trong vốn từ TH hiện nay có chữ
péng
BK, bang1 QĐ viết bằng bộ trùng hợp với chữ bằng HT (thành ra có
thể đọc là bằng, bồng), theo người viết thì chữ này là tàn tích
của âm bướm rất hiếm thấy so với các chữ dié BK (điệp HV), hú BK
(hồ HV) hay chữ ghép hồ điệp đều có nghĩa là con bướm. Tuy
nhiên, cũng trong vốn từ TH hiện nay ta còn thấy
péng
BK hay
pung4
QĐ, pung2 Hẹ viết bằng bộ trúc hợp với chữ phùng HT có nghĩa là
cái màn che, cái
buồm.
Cái buồm tiếng HV là phàm, hay fán BK với phụ âm đầu b- chính là
âm cổ3 của phụ âm f- (ph-) còn được duy trì trong
tiếng Việt. Như vậy có liên hệ gì giữa hai từ bướm và buồm tiếng
Việt ? Tiếng Việt có đặc điểm là âm thanh gợi nhiều hình ảnh như
âm –ong cho thấy một hìng dáng cong cong, vòng, móng, tròng,
lòng thòng, lòng vòng … Theo người viết thì cánh buồm xưa kia có
hình cánh bướm và đây là mối dây liên hệ - so với cách dùng con
diều (điêu HV, giọng BK là yáo, yào) có hình cánh con diều hâu
vậy. Bướm là động vật có trước, sau đó các tàu bè mới dựa vào
hình dạng cánh bướm mà làm ra *bườm hay buồm - với thanh huyền
để cho khác biệt. Cách dùng thanh điệu để chỉ hai việc khác biệt
nhưng lại có những điểm giống nhau thường gặp trong tiếng Hán Cổ
mà vết tích còn trong tiếng HV và Việt như đo (động từ) và độ
(cũng dùng làm danh từ), hành (làm, động từ) và hạnh (danh từ),
truyền và truyện, phân và phần … so với đấy và đây, ngày hôm kia
và ngày hôm kỉa/kìa, trôi/trổi/trồi/trội …v…v…
Tóm lại trong tiếng
TH hiện nay còn một số tiếng Việt Cổ và càng ngày càng mất dần
đi có thể vì hệ thống âm điệu khác nhau hay có thể vì khuynh
hướng cố tình đào thải các tiếng phương Nam của các chế độ phong
kiến phương Bắc chăng ? Trường hợp của tên 12 con giáp rất đặc
biệt : chúng đã làm nền tảng văn hoá và tín ngưỡng dân gian qua
bao triều đại, và gốc rễ có quá nhiều thành ra không thế lực nào
có thể cắt đứt hay bóp méo được nền
văn hoá bình dân
này4.
3. Tên các con giáp
còn lại
3.1
Thìn/Thần
HV, giọng BK
bây giờ là chén – âm này có thể tương ứng với các âm trần, trầm,
thần HV. Ngoài ra, âm chén BK đã từng có âm họng sau (velar) kh-
theo Thuyết Văn Giải Tự - hay thần đọc như là *khân, điều này
được Jerry Norman ghi nhận trong bài “ A note on the origin of
the Chinese duodenary cycle’ (trong cuốn “Linguistics of the
Sino-Tibetan area” 1985). Phụ âm đầu kh- tương ứng với các dạng
chỉ con trăn như tiếng Việt, tiếng Môn (klan, klon), Chrâu, Kơho
(klăn) … Thêm vào đó là cách viết rất hiếm của chữ giao bằng bộ
trùng hợp với chữ thìn bên phải có nghĩa là ‘.. hình dáng như
con rắn nhưng lớn hơn và có sừng như rồng..” (Khang Hi Tự Điển,
theo Norman). Các dữ kiện này có thể giải thích phần nào con vật
tượng trưng cho chi này là rồng. Tuy nhiên, theo người viết nếu
phục hồi âm cổ của Thìn/Thần là *tsri(a)n thì ta có thể hiểu
được các dạng sau này như Thìn/Thần, tlan (âm r chuyển thành l)
và trăn, lươn (âm ts- mất đi), rắn, trình (loài cá giống con
lươn), rồng/long (nguyên âm o thay cho a như nôm/nam, vốn/bản…)
và khuynh hướng đơn âm hoá để cho ra các dạng từ ghép như tlăn >
thằn lằn, *tlian > thuồng luồng … Các loài vật này đều có hìng
cong vòng như con rồng5. Tiếng Thái gọi năm Thìn là
bpee ma
rohng
cho thấy vết tích của dạng rồng trong các ngôn ngữ phương Nam.
3.2
Tỵ/Tị
HV, giọng BK bây
giờ là sì so với zi6 QĐ, Hẹ là ze5, cih5, si5, su5… Trong cách
viết/khắc cổ TH của tên 12 con giáp thì Tỵ và Hợi là các chữ
tượng hình cho thấy rõ nguồn gốc loài vật, nếu không kể các chữ
khác ghi lại hình cây, đồ vật…. Cũng như chữ (Hán) của tên 12
con giáp6 thường được dùng làm thành phần HT trong
quá trình thành lập chữ mới, trừ Tuất ít được dùng. Như vậy là
ta có 10 trên 12 tên con vật là loại chữ HT, hay khoảng 83 % so
với hơn 90 % chữ Hán hiện đại là loại HT (có tác giả cho rằng tỷ
số HT có thể đến 97 %). Loại chữ tượng hình càng ngày càng ít đi
và càng khó nhận ra hình dạng nguyên thuỷ (qua các đợt chỉnh lý
và đơn giản hoá). Chữ Tỵ còn được dùng để chỉ ngày lễ Thượng Tỵ
cầu mát vào đầu tháng Ba của nước Trịnh, điều này cho thấy tên
12 con giáp có thể đã hiện diện từ thời Xuân Thu (770-476 Trước
Công Nguyên/TCN). Âm cổ phục hồi của Tỵ là *zji? theo William
Baxter (“A Handbook of Old Chinese Phonology” 1992), theo người
viết liên hệ đến rít hay rết tiếng Việt.
Kasit
(tiếng Mường Ruc) nghĩa là con rít (rết, rệt) cho thấy dạng âm
cổ *sit, so với giọng BK thì phụ âm cuối –t thường mất đi như
guó BK (quốc HV, còn duy trì âm cuối –c), lì BK (lực HV), fó BK
(Phật HV), shí BK (thập HV, mười), qi1 BK (thất HV, bảy), zhí BK
(chất HV) … Còn phụ âm đầu s- thường biến thành t- khi nhập vào
tiếng Việt cũng như các chữ khác như sài BK (tái HV, cửa ải),
sàn BK (tán HV), shàn BK (thiện HV), shàng BK (thương HV), suí
BK (tuỳ HV), sì BK (tự HV, chùa), sòng BK (tụng HV, kiện) … Như
vậy sì BK (Tỵ HV) có cơ sở giải thích theo dạng rít Việt, thêm
vào đó là tương ứng s-r khi ta so sánh tiếng Mường và Việt (như
răng có âm cổ là *săng, theo Vương Lộc trong “An Nam Dịch Ngữ -
giới thiệu và chú giải” 1995), và liên hệ đồng đại trong tiếng
Việt như siết-riết, sít-rít, sầu-rầu, sờ-rờ, xà-rà, súc-rút,
sầm-rầm, xẻo-rẻo…. Tiếng Việt còn có cách dùng rắn rít cho thấy
hai loài vật này rất gần với nhau, là những loài sống trong hang
hốc, bò sát và có thể rất độc hại. Thành ra Tỵ có thể đã từng là
rít cũng không khó hiểu cho lắm; Các di tích tìm thấy từ thời
Tiên Tần còn cho thấy sâu bọ cũng từng là tên của các con giáp
(theo Thường Tuấn trong “Văn hoá 12 con giáp” 2005). Tiếng Thái
bây giờ gọi năm Tỵ là bpee ma
seng
cho thấy dạng seng
hay *săng (rắn).
3.3
Tuất
HV so với giọng BK bây giờ là xu1, seot1 QĐ được tượng trưng
bằng con chó. Để ý Tý/Tí/Tử liên hệ đến chuột với biến âm t-ch
thì Tuất cũng có thể liên hệ đến chó (qua phụ âm đầu). Tiếng Hán
có chữ
chúc/túc
HV rất hiếm1 viết bằng bộ khuyển hợp với chữ túc HT
(chân, cẳng) nghĩa là con chó nổi tiếng - giọng BK bây giờ là
què, hú, qiăo, răn so với zoek3, coek3 QĐ cok7, sit7 Hẹ … Chữ
này là một tàn tích của Tuất hàm nghĩa chó trong vốn từ TH hiện
đại. So sánh các từ chỉ chó như chọ (tiếng Mường), cho (Sakai,
Boloven), chuô (Kháng), txo (Danaw), xoq1 (Wa), choq (Sơđăng),
axu, chuak, chook (Môn), xo (Kơho, Stiêng, Chơro), achoq (Chứt),
xor (Savana), cho (Laqven, Biat) …v..v… cho thấy tiếng Môn còn
duy trì dạng
chuak
(hay tuất). Tiếng Thái bây giờ gọi năm Tuất là bpee jaaw (năm
chó).
3.4
Mùi/Vị
HV – cách dùng
thông thường của Mùi cho thấy dạng âm cổ hơn so với Vị HV gần
với giọng BK bây giờ là wèi, giọng QĐ là mei6, Hẹ là mui5, mui6,
mui3, vui5, wui5, Ngô là vi6, Minnan (Đài Loan) là bi7 … Các
phương ngữ TH cho thấy rõ các biến âm b-v, m-v, w-v … cũng hiện
diện trong tiếng HV và Việt. Liên hệ m-v còn thấy trong các cặp
muôn-vạn, múa-vũ, mùa-vụ, mựa-vô, mù-vụ, muộn-vãn … Các dạng âm
cổ phục hồi theo Jerry Norman hay các tác giả trước đây như
*mjôdh đều không giải thích được mối liên hệ đến dê, nhưng dựa
vào cặp mùi-vị, ta có thể khôi phục một dạng cổ là
*mvji(e),
để ý nhóm phụ âm mv- đọc như và giọng Nam (tiếng Việt), và từ đó
ta có một dạng nữa là dê. Ngoài ra, nếu để ý tiếng kêu đặc thù
của loài dê là ‘be be’ hay mị HV, mie1, mi3, măi BK có nhiều
cách viết khác nhau như dùng bộ khẩu, bộ dương (dê) cho thấy
Mùi/Vị có thể có nguồn gốc tượng thanh – hay bắt chước tiếng kêu
con vật cũng như chim cu, con quạ (ác), con mèo … cũng là một
hiện tượng tự nhiên mà thôi. Tiếng Thái gọi năm Nùi là bpea ma
mae
tương đồng với dạng âm cổ *mvji trên.
3.5
Dậu
HV so với giọng BK bây giờ là you3, jau5 QĐ … cũng chính là bộ
thủ thứ 164 trong 214 bộ căn bản. Dậu và Tý (bộ thủ thứ 39) là
hai chữ được dùng làm bộ thủ trong 12 chữ viết tên con giáp -
điều này cho thấy sự quan trọng của các chữ và nghĩa này trong
văn hoá TH. Nếu Tý hay Tử có nghĩa là con phản ánh liên hệ gia
đình huyết tộc thì dậu biểu tượng cho rượu chè, một hoạt động
căn bản của xã hội nông nghiệp. Tuy nhiên cả hai từ này đã bị
‘Hoa hoá’
quá lâu
như trên nên chẳng thấy dính líu gì đến các loài vật ! Nhưng
hình ảnh và các hoạt động con người từ từ lấn chiếm dần tên 12
con vật tổ (totem) này. Trong vốn từ TH hiện đại có chữ dậu HV,
you3 BK viết bằng bộ điểu hợp với chữ hữu bên trái (rất hiếm)
nghĩa là một loại chim giống loại trĩ, mà có thể coi như là loại
gà (theo “VN Tự Điển” 1954), để ý rằng hai chữ trĩ và kê (gà)
đều viết bằng bộ chuy (chim đuôi ngắn, bộ thủ thứ 171 trong 214
bộ). Theo người viết, đây là sợi dây gắn liền dậu và gà mà ta
vẫn còn thấy vết tích trong chữ cổ (hiếm) TH. Thêm vào đó, một
cách giải thích khác theo tác giả Jerry Norman (sđd, 1985) dựa
trên kết quả nghiên cứu của André Haudricourt (1965) rằng các
phụ âm v, d, g của tiếng Mường và Việt có thể là vết tích của
các tiền tố cổ
Tiếng
Việt gà
gạo vải
Mường
ka kao pai
Ruc rơka
rơko kupal
Arem lak
- -
May -
rơko kơpai
Từ đó, Norman đưa
ra dạng âm cổ phục hồi của gà là *rơka hay *ruka. Theo người
viết thì quá trình mất tiền tố này cũng giống như dạng kasit cho
ra *sit hay rít đã nói ở phần Tý trên. Tác giả Hồ Lê cũng ghi
nhận gà là từ Nam Á (Austroasiatic) trong bài viết “Từ Nam Á
trong tiếng Việt” (trong cuốn “Tiếng Việt trong nhà trường phổ
thông và các ngôn ngữ dân tộc” NXB Khoa Học Xã Hội – Hà Nội
2002). Tiếng Thái gọi năm Dậu là bpe
gai
(năm kê hay gà) hay là bpee
ra gaa
(năm gà) phù hợp với các dạng Mường.
3.6
Hợi
HV so với giọng BK bây giờ là hài, QĐ là hoi6. Âm cổ phục hồI có
dạng
*goi/kui
- liên hệ của hợi và heo có thể thấy được qua tiếng Mường
củi/kun/kul
: phụ âm đầu h-k cùng vị trí phát âm nên dễ hoán chuyển cho nhau
như hữu-có, hồ-cò (hồ cầm là đàn cò), Hùng-khun (vua/thủ lãnh
dân Mường), Hán-khan (lãnh tụ), hộ-cửa, hơi-khói/khí, hầu-khỉ,
hoá-của … Đại Nam Quốc Âm Tự Vị (Huỳnh Tịnh Của, 1895) còn ghi
là “..cá cúi : thứ cá biển nhiều mỡ như heo, cũng gọi là heo
biển; Heo cúi : tiếng đôi nghĩa là con heo..” (trang 201).
Gỏi
có thể đã từng làm bằng thịt heo, nhưng nghĩa đã mở rộng để chỉ
cá, tôm, gà … trộn với rau. Theo Jerry Norman (sđd) thì gỏi có
nghĩa là heo (tiếng Việt Cổ) ?? Không những Hợi liên hệ đến
heo/lợn qua tiếng Mường hay Việt Cổ nhưng tàn tích có thể hiện
diện trong vốn từ TH hiện đại. Có vài chữ mà theo người viết là
các dạng khác nhau của Hợi hay *hị và *hệ (so sánh với các biến
âm thi/thơ/thư, kỳ/cờ, thị/chợ, li/rời, di/dời, vị/bởi, ti/tơ,
bị/bới/búi…). Chữ
hê/hề/hệ
với giọng BK bây giờ là xi1, hei1, sik1 QĐ viết bằng bộ khuyển
hợp với chữ hí/hô/huy HT có nghĩa là con
heo
- chữ này rất ít thấy1 (hiếm). Một chữ nữa thường gặp
hơn là hí
HV so
với giọng BK bây giờ là hei1, héi viết bằng bộ thỉ hợp với chữ
hi HT – cũng chỉ con heo/lợn nhưng không thông dụng bằng các chữ
khác như trư, thỉ, trề, ba … Vết tích của liên hệ hợi-cúi còn
thấy trong chữ hui1 BK (hay hôi/huy/khôi HV) viết bằng bộ thỉ
hợp với chữ thổ1 bên phải nghĩa là con heo. Tiếng
Thái bây giờ gọi năm Hợi là bpee
goon
- để ý dạng cun là con heo của tiếng Mường – cho thấy tiếng Thái
vẫn còn duy trì một số tiếng Việt Cổ và là một dây nối quan
trọng để hiểu rõ hơn nguồn gốc tên 12 con giáp.
Như vậy là ta đã
xem qua tên 12 con giáp, thoạt nhìn thì các từ HV Tý, Sửu, Dần,
Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi có vẻ như có gốc
Tàu – nhưng tra kỹ ra thì thấy rõ những mối dây liên hệ với các
ngôn ngữ phương Nam - đặc biệt nhất là tiếng Việt và Việt Cổ qua
tiếng Mường và họ Môn-Khme. Điều này càng dễ hiểu nếu ta nhìn
rộng ra các tên loài vật vẫn còn tàn tích trong vốn từ TH hiện
đại, tuy càng ngày chúng càng bị đào thải vì hệ thống âm thanh
không phù hợp hay vì các đợt ‘chỉnh lý’, ‘đơn giản hoá’ chữ viết
cùng khuynh hướng cố tình bôi xoá ảnh hưởng từ phương Nam khi
nền văn hoá này khởi sắc trước thời Tần. Với ảnh hưởng quan
trọng của nền văn hoá TH từ đời Hán và sau đó từ đời Đường,
Tống… với sức ép của nhóm thống trị từ phương Bắc tràn xuống,
các tên 12 con vật tổ đã từ từ thay thế bằng hình ảnh con người,
mang nặng màu sắc văn hoá TH hơn. Từ tính chất cụ thể của các
loài vật láng giềng, 12 con giáp đã trở nên trừu tượng và còn
ảnh hưởng đến vận mạng con người nữa (bói toán). Tuy nhiên, cái
vỏ hào nhoáng của chữ Hán, Hán Việt không thể thay đổi được nền
văn hoá bình dân (khẩu ngữ), trong đó dân ta vẫn khư khư coi mèo
là biểu tượng của chi Mão ! Chính vì thế mà ta phải đặt lại vấn
đề nguồn gốc của tên 12 con giáp, đúng theo tinh thần của người
trước gói ghém trong câu
“Trăm năm bia đá thì mòn
“Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”
4. Phụ chú và phê
bình thêm
(1) dữ kiện về tần
số dùng của các chữ Hán hiện đại dựa vào tài liệu trên mạng
Internet
www.chinalanguage.com/cgi-bin/dict.php.
Các chữ hiếm có tần số dùng rất thấp, thường rất ít gặp trong
các tự điển hiện đại.
(2) Ong có âm cổ
phục hồi hệ Nam Thái (Austro-Thai) theo Benedict là *bluung
không phù hợp với các dạng QĐ, Hẹ, Việt. Nếu xem các cấu tạo chữ
Hán, ta thấy ông thường đuợc dùng làm thành phần HT. Chữ này lại
được viết bằng bộ vũ hợp với chữ công cho thấy dạng âm cổ ô- hay
hô-, kô- … Xem qua các ngôn ngữ láng giềng ta thấy tiếng East
Mnông có ?uong (? chỉ âm bật thanh quản/glottal stop) để chỉ con
ong, so với ?ong (tiếng Mường, Bahna, Stiêng, Chrau, Kơho,
Sơđăng) theo Paul Sidwell trong cuốn “Proto South Bahnaric”
(2000). Sidwell ghi nhận âm cổ phục hồi của tiếng tiền Katuic
(Proto-Katuic) là *hang, tiếng tiền Waic là *?ong, *anh, tiếng
tiền Chàm là *hong so với huing (tiếng Môn), wong/wol (Riang),
ong (Wa), on (Paluang), hong (Besisi), cong (Semang, một dạng
Bahna). Các tương quan trên, nhất là từ các ngôn ngữ không có
nhiều giao lưu với TH, cho thấy feng1 BK (phong HV) rất có thể
là từ mượn từ các dân tộc ở phương Nam từ Thượng Cổ. Tiếng Thái
có chữ pheungF đọc như phương tiếng Việt, có thể là
ảnh hưởng của tiếng TH Trung Cổ - cùng thời với sự xâm nhập và
phát triển có hệ thống của tiếng HV thời Đường Tống.
(3) Biến âm b-ph/f
rất thường gặp trong ngôn ngữ như qua định luật Grimm trong họ
Ấn Âu... Trên phương diện lịch đại ta thấy các cặp từ bỏ-phế,
bài-phé, buồng-phòng, buông-phóng, bộ-pho, búa-phủ,
bổ/bửa-phẩu/phẫu, bể-phá, bè-phái, bay-phi, bưng-phụng,
buồn-phiền, buồm-phàm, bún-phấn, buộc-phọc, bèo-phiêu, bào-phao,
Bụt-Phật … ngay cả trên phương diện đồng đại ta thấy bỏng-phỏng,
bình-bịch hay bành-bạch, phành phạch … tuy không phổ thông cho
lắm. Như vậy thì b- dẫn đến ph- hay ngược lại ? Nếu xem chữ Bụt
(từ tiếng Phạn Budh-) để cho ra chữ Phật HV so với chữ Bụt đi
thẳng vào tiếng Việt thì rõ ràng là b- đã hiện diện trước ph- .
Ngoài ra khi dùng từ ghép trong tiếng Việt thì chữ có trước
thường đi trước như buồn-phiền, bè-phái, bỏ-phế….. Thêm vào đó
là các âm mạnh (strong sound) như b- có khuynh hướng trở thành
âm yếu như p-, ph/f- hay âm vang trở thành âm điếc : hiện tượng
này gọi là nhược hoá (lenition hay weakening).
(4) Thật ra thì đã
có những hoạt động thay đổi hoặc ‘chỉnh lý’ các tên như người
viết đã từng nêu lên trong bài viết (phần 2) : mãn (mèo) hay
miễn thay bằng thố (thỏ), nhưng dân Việt vẫn khăng khăng giữ tên
gọi Mão để chỉ con mèo chứ không dùng thỏ. May thay, chính văn
hoá truyền khẩu lại duy trì được nghĩa nguyên thuỷ, chứ nếu dựa
vào chữ Hán sau nhiều đợt ‘chỉnh lý’ thì có thể không truy được
ngọn ngành cho thoả đáng !
(5) Tác giả Trần
Ngọc Thêm trong cuốn “Cơ sở văn hoá VN” NXB Giáo Dục – Thành Phố
HCM (1999) đã ghi nhận rồng xuất phát từ vùng Đông Nam Á và ảnh
hưởng đến văn hoá TH (trang 135). Điều này phù hợp với dạng âm
cổ phục hồi *tsri(a)n để cho ra các tiếng khác như trăn, rắn,
rồng, lươn, thuồng luồng, thằn lằn …
(6) qua khung cửa
rất nhỏ của tên và cách viết 12 con giáp, ta có thể tìm thấy
nhiều dữ kiện đặc biệt của tiếng TH, tiếng HV, Việt … và qua các
cách viết cổ của chúng, ta có thể tìm lại được phần nào nền văn
hoá cổ đại của phương Đông như sự ‘kính nể’ các loài vật tín
ngưỡng thờ các loài vật, dùng chúng làm totem ..v..v..
5. Đính chính và bổ
túc
5.1 Vì phải tranh
thủ thời gian để đánh các bài viết này, nên người viết không thể
nào tránh được một số lỗi thông thường như bỏ dấu sai, thiếu/lộn
nét, quá tóm tắt, ý mơ hồ … Thí dụ như trong phần 2 dòng 7 trang
1, gióng lên viết là ‘giống lên’; Trang 2 dòng 1 ‘on’ và ‘kun’
đổi cho nhau ..v..v… Khi đọc lại bài đánh thì trễ quá, bài đã
lên mạng !
5.2 Đáng lẽ phải
chêm một số chữ Hán để cho rõ nghĩa cho các bài viết này, nhưng
vì đa số chữ Hán dùng trong bài viết là loại chữ
hiếm
không dễ dán vào,
người viết vẫn còn đang tìm loại fonts cổ điển và thích hợp để
giải quyết vấn nạn này. Tuy nhiên, hi vọng bằng cách ghi lại bộ
thủ và thành phần HT, mức độ sai trái sẽ giảm thiểu tối đa.
5.3 Quý độc giả
muốn trao đổi thêm ý kiến để chúng ta cùng học hỏi thêm, xin
liên lạc với Ban Biên Tập của
khoahoc.net hay người viết qua địa chỉ email
nguyencungthong@yahoo.com,
mong rằng “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn
núi cao’ trong biển học vô cùng vậy.
Trở về Trang Chính
|