Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp (phần 10)

 

Tý/Tử-*chút-chuột

 


 

Nguyễn Cung Thông

E-Mail: nguyencungthong@yahoo.com

28 tháng 02 năm 2008

Chuột là con vật đầu tiên trong 12 con giáp : cũng là chi thứ nhất hay Tý/Tử Hán Việt (HV). Phần này sẽ cho thấy liên hệ trực tiếp giữa Tý/Tử và âm chuột của tiếng Việt, phù hợp với nhận xét về nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp. Đây cũng là chủ đề của loạt bài viết này. Tý/Tử viết bằng bộ thủ thứ 39 trong 214 bộ thủ cổ điển của chữ Hán. Tý là chi đầu tiên của thập nhị chi, biểu tượng là con chuột, cho thấy chuột đóng một vai trò không nhỏ trong xã hội thượng cổ. Cũng vì chuột đại diện cho chi đầu tiên nên có giả thuyết cho rằng 12 con giáp xuất phát từ Ấn Độ. Để ý rằng Ấn Độ giáo thờ thần Ganesh và con chuột theo hầu ngài, cũng như luôn luôn có tượng chuột trong đền thờ thần Ganesh. Ăn các thức ăn mà chuột đã ‘nếm’ qua được coi như là ân huệ trời ban cho nếu cho ta ăn – rất khác với đa số kiến thức về y tế và vệ sinh tối thiểu hiện nay khuyên ta nên tránh các món này1 … Tiếng Việt không phân biệt chuột lớn (gọi là rat trong tiếng Anh) và chuột nhỏ (gọi là mouse trong tiếng Anh), cũng như tiếng La Mã Cổ gọi chuột nhắt là Mus Minimus (chuột nhỏ) so với chuột đồng (lớn) là Mus Maximus. Tý HV còn dùng để chỉ thời gian như giờ (từ 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng), năm, tháng (tháng 11) hay xác định vị trí (không gian) như phương hướng (Bắc). Bài này giới hạn về quan hệ ngữ âm của Tý/Tử và chuột mà không bàn về tại sao lại có 12 con giáp (hay 13 con giáp…), hay quan niệm bao quát về thời gian và không gian của người trước. Thanh điệu trong các ngôn ngữ ghi bằng chỉ số đứng ngay sau chữ, khác với cách ghi thanh điệu tiếng Việt hay cách Phiên Âm tiếng Trung Hoa/TH phổ thông qua giọng Bắc Kinh/BK (hay pinyin, còn gọi là bính âm) – không nên lầm với số chú thích (superscript).

 

1. Giới thiệu tổng quát

Chuột2 thường hiện diện trong các thành ngữ, tục ngữ TH cũng như VN. Thử    là tiếng HV, viết bằng bộ thủ thứ 208 trong 214 bộ thủ cổ điển. Thử đọc là shŭ theo giọng BK, cách khắc/viết cổ cho thấy chữ thử tượng hình – xem chi tiết ở trang cuối. Ta hãy tóm tắt hình ảnh của loài này trong văn hoá dân gian. Để hiểu rõ hơn các biến đổi ngữ âm, ta phải đi vào chi tiết cách cấu tạo của chữ Hán; Thí dụ như hai chữ đại thử HV – có ít nhất bốn nghĩa sau đây tuỳ theo cách viết chữ Hán (a)     nóng gắt (thử là nắng mùa hè) – tiết Đại Thử là những ngày 22, 23 và 24 tháng 7 dương lịch, trời rất nóng nực ở Bắc Bán Cầu (b) 大 鼠  con chuột lớn (c)  con chuột có bao ở trước bụng (đại là cái bao, cái túi không có nghĩa là lớn như a và b) … Nghĩa (c) chỉ con kangaroo (hay kanguru) như ở bên Úc, nhưng theo người viết - đại thử (chuột lớn) cũng có thể chỉ loài động vật đặc biệt này! (d) 黛 鼠  chuột có lông màu xanh đậm (đại viết bằng bộ hắc là xanh đen) ….. Loài chuột rất dễ sống và hoà hợp với môi trường chung quanh, là loài động vật có vú rất thành công - chỉ đứng sau loài người mà thôi. Tây phương thường xem chuột là biểu hiệu cho các điềm xấu; Khi quần áo bị chuột gặm hay chuột rời khỏi nhà đang ở là điềm báo cho biết là có người sẽ chết …v.v… Người đọc có thể xem thêm trên mạng qua địa chỉ OldSuperstitions.com tóm tắt rất nhiều niềm tin như trên – tuy nhiên các bài viết về “Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp” này không đi sâu về tín ngưỡng mà chú trọng đến các liên hệ ngữ âm và cách dùng trong văn hoá dân gian ở phương Đông. 

 

1.1 Văn hoá Trung Hoa

Văn hoá dân gian TH ghi nhận hình ảnh loài chuột một cách tiêu cực, thí dụ như

Thử soán/thoán nhi đào : chạy trốn như chuột (chạy trối chết)

Thử soán lang bôn : chạy đi tứ tung (chạy trốn như chuốt và chó sói)

Thử mục thốn quang : mắt chuột thấy ít (hàm ý thiển cận, hẹp hòi)

Thử thiết cẩu thâu : ăn cắp vặt (không có ảnh hưởng quan trọng), chỉ bọn trộn cắp

Thử khẩu bất xuất tượng nha : ngà voi không có từ miệng chuột, hàm ý người không tốt không thể nói được ngôn ngữ ‘đàng hoàng’

Thử thủ phẫn sự : như đầu con chuột nhú ra mà không dám làm gì cả, hàm ý nhút nhát quá độ làm hỏng việc (phẫn sự)

Thử đỗ hề tràng : hề là con chuột nhỏ (chuột nhắt), chỉ tính rất nhỏ mọn – lại có tài liệu ghi là thử đỗ kê trường (nhỏ như lòng chuột và ruột gà, nghĩa đen)

Thử thủ lưỡng đoan : như đầu chuột nhú ra nhưng không biết chọn đường nào mà đi, hàm ý không quyết định được (lưỡng lự)

Thử  mục chương đầu : mặt la mày lét (chương tử là con hoẳng)

Thử can trùng tý: lá gan chuột và tay chân con trùng, nghĩa rộng là những bộ phận rất nhỏ

Thử nha tước/thước giác : răng chuột sừng chim, chỉ những người ưa kiện tụng vì chuyện nhỏ

 

Và những thành ngữ như thử nhãn (hay thử mục) chỉ cận thị (nghĩa rộng hơn là thiển cận), thử đảm (mật chuột) hàm ý hèn nhát, thử kĩ (nghề của chuột) chỉ các trò (nghề) lừa bịp ma đạo…

 

1.2 Chuột trong ngôn ngữ Việt Nam

Có nhiều câu nói trong dân gian liên hệ đến loài chuột như “Chuột cắn dây buộc mèo; Chuột chạt đầu sào hay chuột chạy cùng sào; Chuột chạy hở đuôi; Chuột chạy hở rốn; Chuột chù đeo đạc; Chuột chù lại có xạ hương; Chuột đội vỏ trứng; Chuột gặm chân mèo; Chuột sa chỉnh gạo hay chuột sa hủ nếp, chuột sa lọ mỡ (may mắn); Chuột sa cũi mèo (rủi ro); Cháy nhà ra mặt chuột; Đầu voi đuôi chuột; Ướt như chuột lột; Len lét như chuột ngày; Lù đù như chuột chù phải khói; Quăn queo đuôi chuột, chênh vênh tai mèo …v.v…

 

Và                   Đi cùng bốn bể chín chu

                        Trở về xó bếp chuột chù gặm chân

 

                        Chuột chù chê khỉ rằng hôi

                        Khỉ lại trả lời cả họ mày thơm

 

Hay                 Con mèo mà trèo cây cau

                        Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà

                        Chú chuột đi chợ đàng xa

                        Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo

 

Trong kho tàng truyện nôm Việt Nam có truyện Trinh Thử (con chuột trinh tiết, để ý đầu đề là chữ HV) và nhiều truyền thuyết khác như được kể lại trong “Truyện cổ nước Nam” tác giả Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc – xem thêm cuốn “12 con giáp” chủ biên Vũ Ngọc Khánh, Trần Mạnh Thường, NXB Hội Nhà Văn (Hà Nội 1998). Để thấy rõ hơn nguồn gốc của chữ Tý/Tử, ta cần phải đi sâu vào cách cấu tạo và cách đọc xưa và nay của Tý/Tử; Các dữ kiện từ thành ngữ, tục ngữ trên chỉ cho ta thấy hình ảnh con chuột đã nằm sâu trong văn hoá dân gian. Tương quan ngữ âm của Tý/Tử, tí xíu, chút, chuột, tế, tể, tiểu, tiêu, thiếu, thiểu, vi, ty (thấp, ngắn), teo … cho thấy tính chất nhỏ nhắn3 - phản ánh qua loài chuột, loài vật nhỏ nhất trong 12 con giáp – đây là những chủ đề đáng được tra cứu cho cặn kẽ hơn. Tương quan này nằm sâu trong tiềm thức của các dân tộc Á Đông và để lại khá nhiều vết tích trong ngôn ngữ.

 

2. Phụ âm đầu t- của Tý/Tử

Tý HV    còn đọc là Tử, Từ - so với các cách đọc zǐ, zí, cí BK, ji2 QĐ zih3, zu3, zii3 Hẹ - nhưng Tý thường được dùng để chỉ chi đầu tiên (tử để chỉ con, trẻ, hạt giống…) và tương đương với chút tiếng Việt qua khẩu ngữ. Để ý câu nói ‘chờ tôi một tý/tí’ tương đương với ‘chờ tôi một chút’, cũng như ‘lấy một tý’ tức là ‘lấy một chút’ …v.v… Tuy nhiên tiếng Việt Cổ không có thanh điệu nhiều như bây giờ (như giọng Hà Nội chẳng hạn) và chút không khác gì *chụt hay *chuột (như các giọng Huế, Hòn … không phân biệt thanh sắc và nặng). Đây là lý do tiếng HV và Việt dùng dạng Tý thay vì Tử vì đẳng thức Tý = Chút = *chuột, và đây cũng là một chứng minh rất ngắn và gọn cho thấy tên 12 con giáp liên hệ thật khắn khít với tiếng Việt; Thật ra không một ngôn ngữ nào có thể cho ta đẳng thức Tý=chút=*chuột như vậy, từ tương quan lịch đại (diachronic) cho đến đồng đại (synchronic). Đầu tiên là phân tích các chữ HV dùng chữ Tý là thành phần HT và các dạng đọc khác nhau để thấy âm cổ phần nào.  Chữ Tý/Tử cũng như tên 12 con giáp khác rất thường dùng làm thành phần HT trong quá trình cấu tạo chữ Hán. Thuyết Văn Giải Tự đã từng liệt kê 12 con giáp trong 540 bộ thủ căn bản! Bây giờ thì chỉ còn Tý và Dậu trong các hệ thống bộ thủ cải cách (188 bộ) hay cổ điển (214 bộ).

Liên hệ t-ch còn thấy qua các thí dụ sau

 

2.1 Tự HV zì BK viết bằng bộ Tý (vừa là bộ thủ vừa là thành phần HT)     nghĩa là chữ. Giọng Minnan (Đài Loan) còn đọc như là ji7. Tóm tắt ta có tỷ/tỉ-tý/tí-chút, tự-chữ. Không phải ngẫu nhiên mà An Nam Dịch Ngữ ghi âm của Tý là tự (chữ) cách đây vài thế kỷ – theo Vương Lộc giới thiệu và chú giải – NXB Đà Nẵng và Trung Tâm Từ Điển Học (1995).

 

2.2 Tỷ/tỉ HV, zĭ/jiě BK – ze3, zi3 Hẹ (giọng Tiều Châu là chế) - viết bằng bộ nữ hợp với chữ tỷ HT    nghĩa là chị. Chữ tỷ HT (không còn dùng nữa) bây giờ là chữ chỉ (zhǐ BK, ngưng, đình chỉ) hay bộ thủ thứ 77. Bộ hoà hợp với chữ tỷ HT là tỷ/tỉ (zǐ BK) hay mười ức (một trăm vạn). Bộ trúc hợp với chữ Tỷ HT là tích, hay zĭ BK, là nệm lót giường, dạc tre – hay còn đọc là chỉ …

 

2.3 Tự HV, sì BK  viết bằng bộ thốn - tiếng Việt còn duy trì một dạng cổ là chùa. Thật ra phụ âm đầu ch- của chùa4 đã hiện diện với cách viết chữ tự : chữ chi (zhī BK) hợp với bộ thốn (cùn BK), sau này chữ chi viết gọn lại thành ba gạch như chữ thổ ở trên chữ thốn. Bộ nhật hợp với chữ tự HT là thì, thời HV, shí BK mà giọng Huế còn duy trì một dạng cổ hơn là chừ - một dạng ngạc hoá thường gặp là giờ. Bộ nhân hợp với chữ tự là thị HV (như cách dùng nội thị), shì BK mà một dạng cổ hơn là chực (chầu chực). Bộ sách hợp với chữ tự HT là đãi, dài BK – hay là đợi, chờ . Bộ thủ hợp với chữ tự HT là trì HV, chí BK mà tiếng Việt còn duy trì dạng cổ hơn là giữ. Trĩ viết bằng bộ nạch (bệnh tật) hợp với chữ tự HT. 

 

2.4 Ty/tư HV sī BK viết bằng bộ khẩu    nghĩa là ty, sở hay chủ. Bộ kì (thần) hợp với chữ ty HT là thờ, cúng tế … hay cũng là chùa (chỗ thờ phượng). Bộ nhân hợp với chữ ty HT là tứ hay chờ, dò xét …Bộ mộc hợp với chữ ty HT là từ HV hay BK, nghĩa là cán (phần để cầm) cái cày – theo người viết còn có dạng cổ hơn là chuôi

 

2.5 Tốt/thốt (cù, zú BK chyut3 Quảng Đông) viết bằng bộ thập    là gấp hay chốt, chợt như thốt nhiên, thảng thốt (có lúc viết với bộ khuyển) … Tốt viết bằng bộ thủ hợp với chữ tốt HT nghĩa là vuốt, cầm lấy hay dạng cổ hơn là chụp, chộp . Tốt viết bằng bộ san hợp với chữ tốt HT là đỉnh núi, chóp (núi) hay tàn tích còn thấy trong cách dùng (cao) chót vót … Tốt còn là người hầu, con cờ (lính) mà ta thường nghe đọc là chốt - phản ánh một liên hệ đồng đại. Bộ thuỷ hợp với chữ tốt là thối, tôi hay còn là trui.

 

2.6 Từ HV cí BK viết bằng bộ tân    nghĩa là lời văn như từ chương … còn có nghĩa là trách móc, từ biệt, từ giã … với một dạng cổ là chối (từ).

 

2.7 Thị HV hay shì BK viết bằng bộ cân    như cách dùng thành thị, nghĩa là chợ. Bộ nữ hợp với chữ thị là tỷ hay chị - cũng như bộ nữ hợp với chữ chỉ ở trên. Giọng Minnan (Đài Loan) là chii7 cho thấy âm cổ hơn ch- như tiếng Việt.

 

2.8 Tu HV hay xiū BK viết bằng bộ nhân có nghĩa là sữa lại như cách dùng tu bổ, đi tu … mà một dạng âm cổ là chữa.  Chữa còn có thể liên hệ đến trừ    (bỏ đi, bộ phụ) theo Lê Ngọc Trụ trong ‘Tầm Nguyên Tự Điển Việt Nam’ (1993).

 

2.9 Thúc HV     hay shū BK , hay còn viết đơn giản hơn là thúc (shú BK) mà tiếng Việt là chú . Chú là em trai của cha như trong câu ‘xẩy cha còn chú’; So với cậu là em/anh trai của mẹ - cậu hay cữu HV (jiù BK) … Đây là các cách gọi chi tiết và tổ chức trong gia đình họ hàng của các dân tộc phương Nam thời Thượng Cổ theo tác giả Paul Benedict trong cuốn ‘Austro-Thai Language and  Culture’ (1975), và người Trung Hoa đã ‘tiếp thu’ các từ trên khi bành trướng và đồng hoá các khu vực này. Ta còn nghe người Tiều Châu nói ‘trực’ (để chỉ chú) và các dạng khác như ‘chệc’ – chú chệc (âm và nghĩa lặp lại) thường chỉ người Trung Hoa.

 

2.10 Tương ứng với liên hệ thúc-chú ở trên, ta còn thấy thục HV    hay shú BK viết bằng bộ bối mà tiếng Việt còn duy trì dạng chuộc. Truyện Kiều dùng chữ chuộc ba lần

 

                        ‘Rẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha’              (câu 606)

 

2.11 Thù HV   hay chóu BK viết bằng bộ dậu hợp với chữ châu HT nghĩa là chuốc (chuốc rượu) hay trả lại (thù đáp).

 

2.12  Liên hệ t-ch có thể giải thích các tương quan giữa các chữ HV như tiêm (jiān BK) và chiêm, châm và kim; Tiếm (như tiếm ngôi, jiàn BK) so với chiếm (zhàn BK); Tiềm (ngầm, giấu… qián BK) so với chìm, trầm (chén BK); Tiệm (từ từ, jiàn BK) so với chậm … Nhìn rộng ra hơn, một số âm đầu lưỡi (vô thanh t hay hữu thanh đ) có thể bị ngạc hoá (palatalised) để trở thành âm mặt lưỡi ch- (hay tr-) và z- (giọng Bắc Bộ) : một hiện tượng thường gặp trong tiếng Hán (Việt) như điền-trần (chén BK, ‘chần’ đọc theo giọng Nam Bộ), đục-trọc (zhuó  BK, ‘chọc’ đọc theo giọng Nam Bộ), Đổng-gióng (‘zóng’ như thánh Gióng < Phù Đổng)…Liên hệ này rất rõ nét khi ta xem chữ Phạn dhyana (thiền na HV) mà tiếng Hán giọng BK bây giờ là chán so với các dạng ngạc hoá khác như sen, zen của Nhật Bản và Đại Hàn. Ngay cả hiện nay, ta vẫn thường nghe nói con chốt (cũng như con tốt), tiệm chạp phô (tạp hoá) …v.v…

Một chữ Hán rất ít gặp là trụ (chụ)  Jump to full record in Chinese character database for character 4D87   hay trựu viết bằng bộ thử hợp với chữ trụ hay zhòu BK, nghĩa là con chuột (chuột chù hay rít?) – có thể là tàn tích của âm chuột – xem thêm các chữ Hán hiếm khác chỉ loài chuột ở trang cuối. Các tương quan trên cho phép ta kết luận có cơ sở về liên hệ t-ch của Tý/Tử-chuột.

 

3. Nguyên âm  y/i, ư của Tý/Tử

Tử và Tý là các cách đọc khác nhau của cùng một chữ viết (Hán), nhưng tiếng Việt phân biệt rõ Tử HV chỉ con, trẻ so với Tý là chi thứ nhất trong 12 chi - phản ánh đẳng thức Tý-chút-*chuột như đã nói trên. Nguyên âm trước và không tròn môi y/i của giọng BK bây giờ thường liên hệ đến nguyên âm sau ư, ơ tiếng HV

 

Giọng BK       Tiếng HV                               Tiếng Việt

 

Qī                    cơ                                           cái bàn nhỏ

Qì                    kỳ                                            cờ

Shī                   thi, thư                                     thơ

Shí                   thì, thời                        thời

Shì                   thị                                            chợ     

Sī                     tư, tứ                                       suy nghĩ

Sĭ                     tử                                            chết

Sì                     tứ                                            số bốn (tư)

Yī                    nhất (nhứt, giọng Nam)            số một

Yĭ                    Ất                                           ngôi thứ hai trong thập can

Yì                    dực                                         cánh

Zĭ/zí                 Tử/Tý                                      ngôi thứ hai trong thập nhị chi

Bī                    bức                                         cưỡng ép

Bĭ                    bút                                          cây bút (viết)               

Bì                    tất (hoàn tất)                            xong, hết

…                    …                                           …

 

4. Thanh hỏi và sắc của Tử/Tý

Các âm Tý và Tử cho thấy cùng âm vực bổng (hay thanh, cao) – hay cùng bậc phù. Theo cách ghi âm của Thuyết Văn Giải Tự thì Tý/Tử đọc là ‘tức (jì BK bây giờ) lý thiết’ cho thấy âm Tý cổ hơn, hỗ trợ cho đẳng thức Tý=chút=*chuột đã có trước khi Tử được dùng để ký âm. Cho đến thời Khang Hy Tự Điển, cách đọc trên vẫn còn được ghi nhận nhưng thêm vào đó là ‘tổ (zŭ BK bây giờ) tự thiết. Đồng âm với tử     (tử là cây tử)’ .  Thanh sắc của Tý còn tương ứng với các giai đoạn thành lập thanh điệu của tiếng Việt : ba thanh (sắc, huyền, ngang) xuất hiện sau thời kỳ đầu tiên không có thanh điệu – theo đề nghị của học giả Pháp A. G. Haudricourt5 từ năm 1954. Hai thanh hỏi và sắc của Tử và Tý khá đặc biệt so với các tương quan  thanh điệu như sau

 

Giọng BK                   Tiếng HV                   Phê bình thêm

 

Zuŏ                             tả (bên trái)                  tá (giúp) nghĩa khác so với tả

Pǔ                               phả (phổ, sổ ghi)          phá nghĩa khác hơn – nhưng để ý bể (thanh hỏi)

Qiăn                            thiển (cạn)                    thiến (loại cỏ) khác với thiển

Zǔ                               tổ (tổ tiên)                    tố nghĩa khác so với tổ

Tǔ                               thổ (đất)                      thố (thỏ) nghĩa khác hơn - để ý thỏ có thanh hỏi

Tĭ                                tỷ (chị)                         tý nghĩa khác so với tỷ

Zhĭ                               chỉ (giấy)                      để ý thanh sắc của giấy so với chỉ

Shĭ                               thỉ (bắt đầu)                 thí (cho) khác nghĩa so với thỉ

Hăi                              hải (biển)                     hái (ngắt) nghĩa khác hơn hải

Tăi                               tải (chuyên chở)           tải còn có thể đọc là tái

…                               …                               …

 

5. Phê bình tổng quát và kết luận cho phần 10

Từ năm 1935 khi học giả Georges Coedès đưa ra liên hệ giữa tên 12 con giáp6 (tiếng Xiêm và Khme) với tiếng Mường Cổ, đến các bài viết của Paul Benedict (1967, 1975) và Jerry Norman (1985) … Không có tác giả nào đã liên hệ Tý/Tử với âm chuột! Thật ra khi ta quan sát tương quan t-ch như đã ghi ở trên, cũng như cách dùng đồng đại của Tý và chút - *chuột (tiếng Việt Cổ không có thanh điệu nhiều như giọng Hà Nội bây giờ), thành ra ta có cơ sở rất vững chắc đưa ra đẳng thức Tý/Tử - chút - *chụt - *chuột. Nếu chỉ có Tử là âm đọc cho chi thứ nhất thì đẳng thức trên khó có sức thuyết phục, may thay sự hiện diện của Tý (nhỏ tý, bé tý/tí) đã gợi ý cho ta đẳng thức trên. Khi tra cứu nguồn gốc cách viết/khắc cổ của chữ Tý/Tử - ta thấy chẳng có liên hệ gì đến loài vật - hình trên giáp cốt văn, kim văn giống như bào thai, đứa bé … nên các chữ dùng chữ Tý/Tử thường chỉ con, cháu…Ngoài ra, khi xem các định nghĩa của Tý/Tử trong Tự Điển Khang Hy, ta không thấy tài liệu này đề cập đến loài chuột - gần với loài vật nhất là câu ‘huynh đệ chi tử do tử dã’ (do là con do thuộc loài khỉ, hay còn là chó con…không phải loài chuột). Ngược dòng thời gian về thời đại của Thuyết Văn Giải Tự, ta thấy cách giải thích của Tý/Tử là ‘cổ văn tử, tùng xuyên, tượng phát dã’ cũng chẳng thấy hình ảnh loài chuột ở đâu hết! Các điều này cho ta kết luận rằng có thể Tý/Tử chỉ là cách ghi âm một tiếng ngoại quốc (hay chính là tiếng Việt Cổ so với tiếng Hán) có nghĩa là con chuột.

Ngoài ra khi so sánh tên gọi 12 con giáp của các ngôn ngữ Đông Nam Á, tiếng Thái có vẻ như gần với tên gọi 12 con thú như tiếng Việt – xem bảng tổng kết trong bài “Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp - phần 2”; Thí dụ như Tý/Tử - còn gọi là chuat3 trong tiếng Thái. Thật ra, chuat3 chỉ dùng cho năm Tý/Tử và không dùng để chỉ con chuột! Tiếng Thái có tiếng nŏo (hay có khi ghi là nuu) chỉ con chuột, hay dùng tiếng moo-sik mượn từ tiếng Phạn7. Điều này cho thấy hệ thống tên gọi tiếng Thái mượn từ tiếng Việt cũng như các tên gọi khác như khan (kễnh), roong1 (rồng)…Tóm lại Tý/Tử (zĭ, zí, cí BK) liên hệ trực tiếp đến chuột của tiếng Việt.

 

6. Phụ chú và phê bình thêm

1) Karni Mata là tên nữ thần (chuột) của Ấn Độ Giáo (Hinduism). Đền Karni Mata toạ lạc ở thành phố Deshnoke bên Ấn. Theo truyền thoại địa phương thì các chú chuột có thể là hiện thân (đầu thai) của các vị thần thánh trong Ấn Độ giáo; Vì thế mà trong đền có đến 20000 chú chuột tha hồ sinh sống mà còn được cho ăn uống thoải mái từ các khách vãng lai. Mỗi ngày cả ngàn người đến cúng kiến cùng với du khách khắp nơi, hi vọng được các chú chuột chạy ngang qua chân cẳng mình để lấy hên hay là được nhìn thấy chuột bạch (rất hiếm trong đền). Xem thêm các bài viết “Rats Rule at Indian Temple” tác giả Sharon Guynup và Nicolas Ruggia trên National Geographic Channel (29/6/2004) hay trên mạng wikipedia chủ đề ‘Rat’ …

 

2) chuột có thể được phân loại như sau – xem thêm các chủ đề ‘Lớp Thú’ hay ‘Chuột’ trên mạng vi.wikipedia.com đang được cập nhật

 

            Kingdom                     Animalia (động vật)

            Phylum                       Chordata (ngành động vật có dây sống)

            Class                           Mammalia (loài động vật có vú)

            Order                          Rodentia (bộ gặm nhấm)

            Family                        Muridae

            Subfamily                   Murinae

Genus                          Rattus (tiếng Anh : rat là con chuột lớn – thân thường dài hơn 12cm - nếu ngắn hơn thì gọi là mouse, thuộc genus mus). Rat có thể liên hệ đến gốc La Tinh rodere (cào cấu)           còn mouse có thể liên hệ đến gốc La Tinh mus, tiếng Hi lạp là mys (con chuột, bắp chuột

bắp thịt, cơ…); Để ý cách dùng con chuột cho bắp thịt dựa vào hình dạng trong ngôn ngữ.

 

Vấn đề phân loại khoa học thật là quan trọng vì nếu không được rõ ràng thì ta có thể tạo nhiều ngộ nhận về sau, cũng như những huyền thoại (như con rồng) làm quá trình truy nguyên trở nên phức tạp. Một thí dụ khác là tiêu chuẩn số móng chân (chẵn và lẻ) không có cơ sở khi chân trước chuột có bốn ngón so với chân sau có năm ngón, tương tự với loài thỏ, và loài rồng (khi thì ba, khi thì bốn hay năm móng) và khi không có móng chân thì xem đến cái lưỡi…v.v…

 

3) từ hơn nửa thế kỷ trước đây, tác giả Lê Văn Siêu đã từng viết về tương quan giữa âm thanh và phạm trù nghĩa trong tiếng Việt ‘…nếu chữ tượng hình là một sáng chế đặc biệt của dân tộc cổ Trung Hoa thì tiếng tượng hình là một sáng chế đặc biệt khác của dân tộc chúng ta. Một đàng dùng hình vẽ để diễn tả, một đàng dùng âm thanh để diễn tả…’ và ‘…âm í chỉ những gì nhỏ nhít – con chí/chấy … bé tí cho đến có khi không thấy nữa. Con chuột nhỏ nhất các giống chuột là con chuột chí… mắt tí hí …cái đường chỉ nhỏ ở mép mí mắt là mi mắt..’ (trang 130, cuốn ‘Nguồn gốc văn học Việt Nam’ Lê Văn Siêu – NXB Thế Giới – 1956). Đây là một chủ đề trong Ngôn Ngữ Học gọi là Sound Symbolism (hay Phonosemantics – chú trọng về phần âm thanh và các ý nghĩa liên hệ của chúng). Thật ra có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến ngôn ngữ, như ảnh hưởng vùng (areal factor), vay mượn, bắt chước âm thanh tự nhiên … cho đến sự thoả hợp của xã hội (convention, qui ước) về ý nghĩa của một chữ chẳng liên hệ gì đến ngữ âm; So sánh các tiếng HV như bi (bộ ấp hợp với chữ phi HT), phi (viết bằng bộ nhất, phi cơ là nghiệp lớn), vĩ (viết bằng bộ nhân hợp với chữ vi/da HT, như vĩ nhân) …đều có nghĩa là lớn. Trở lại với tiếng tượng thanh, có nhiều luận án viết về các chủ đề liên hệ như tiếng tượng hình trong tiếng Lào (‘Sound symbolism and the expressive words of Laos’ - luận án tiến sĩ của tác giả Arthur Grayson Crisfield, khoảng năm 1973), luận án của tác giả Keith McCune cho thấy mỗi chữ Inđônêsia đều có phần nào liên hệ đến hình ảnh (tượng hình - luận án tiến sĩ ‘The Internal Structure of Indonesian Roots’ khoảng năm 1983) …v.v…  

 

4) sự hiện diện của chữ chùa trong tiếng Việt cho thấy ảnh hưởng Phật giáo rất lâu đời. Theo ‘Tự điển Phật học Hán Việt’ (NXB Khoa Học Xã Hội – Hà Nội – 1998) thì tự có từ đời Hán Minh Đế, nơi ở của tổ sư Ma-đằng. Các tên gọi khác như già-lam (phiên âm tiếng Phạn), Trúc viên, Đạo tràng … cho đến đời Đường mới đổi lại là tự (sì  BK) . Cách đọc tự so với chùa một lần nữa cho thấy các thời kỳ giao lưu văn hoá khác nhau - thời Thượng Cổ so với Trung Cổ (thời Đường Tống), cũng như tương quan Tý-chút-*chuột vậy; Hãy so sánh tự-chùa, tự-chữ, tý/tử-chút-*chuột, tư-cho …

 

5) sơ đồ hình thành các thanh trong tiếng Việt của tác giả A. G. Haudricourt - thường được nhắc đến trong các tài liệu về nguốn gốc tiếng Việt. Xem thêm phần này trong bài “Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp – Mão/Mẹo-mèo (phần 4)” , hay cuốn ‘Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt’ các tác giả Mai Ngọc Chữ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến – NXB Giáo Dục (1997)

 

6) xem thêm tóm tắt về các bài viết này trong “Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp - phần 2” theo thứ tự thời gian. Đa số các tác giả đặt vấn đề về nguồn gốc phi-Trung Hoa của tên 12 con giáp là những nhà ngôn ngữ ngoại quốc (Mỹ, Pháp …) – có thể cách nhìn khoa học và khách quan hơn – không bị ảnh hưởng của văn hoá truyền thống TH làm giới hạn tầm nhìn.

 

7) musika (tiếng Phạn) là con chuột (nhắt, mouse) – musakarati là kẻ thù của chuột (ý nói con mèo, musika + arati/kẻ thù); mahamusaka là con chuột lớn (maha/to lớn + musika)…v.v…Để ý các dạng mus, musa, musika (chỉ con chuột) có liên hệ đến mouse (tiếng Anh là con chuột), tiếng Anh Cổ (Old English) là mus, tiếng Đức là Maus…

 

 

Chuột chữ Nôm    viết bằng bộ khuyển hợp với chữ truật HT. Chữ Nôm chuột đã được dùng từ thời Nguyễn Trãi (1380-1442). Tương đồng giữa phụ âm đầu và thanh điệu cho thấy chữ này xuất hiện cách đây không lâu – so với giọng BK của chữ truật HV là shù. Tuy nhiên, bộ khuyển hợp với chữ truật đã từng hiện diện trong vốn từ Hán, là một chữ hiếm, giọng BK là chù (truật HV) : chữ này là tên một loài chồn (lemur), mõm dài như cáo cũng có 4 chân, mắt to và có đuôi  – xem các hình vẽ dưới từ mạng wikipedia. Có tài liệu dịch lemur là vượn cáo, hay hồ hầu  狐猴  trong tự điển Trung Hoa hiện đại. Chữ này đã từng hiện diện trong Sơn Hải Kinh hơn 2000 năm, là một loài vật huyền thoại. Theo các tài liệu hiện nay thì loài ‘chuột’ này  sống ở Đông Nam Á, Phi Luật Tân … và còn gọi là flying lemur (loài chuột bay) vì khả năng lượn (lướt/glide - chứ không phải là bay/fly) trên không trung đến cả 70 thước (từ cây này qua cây kia). Loài chuột lớn hơn thì sống ờ Madagascar và các đảo lân cận…v.v…  Sự trùng hợp của chữ Nôm và chữ Hán chỉ loài thú giống nhau khá đặc biệt – không biết phải là hiện tượng ngẫu nhiên hay không?

 

 

Liên hệ phụ âm đầu t-ch của Tý/Tử và chuột còn thấy khi so sánh các chữ HV tiêu-chuốiTiêu  viết bằng bộ thảo hợp với chữ tiêu (cháy) HT, giọng BK bây giờ là jiāo. Chữ tiêu HT (cháy) lại được viết bằng bộ hoả hợp với chữ chuy HT cho thấy âm ch- đã có ngay từ đầu! Ngoài ra, bộ ngôn hợp với chữ tiêu HT còn có nghĩa là chửi (rủa) hay là chòi, so với bộ mộc hợp với chữ tiêu HT là tiều (như tiều phu, ngư tiều canh mục) mà còn một nghĩa nữa cũng là chòi. Để ý chữ tiêu viết bằng bộ thảo cho thấy một kết quả khá chính xác vì cây chuối thật ra không phải là loài cây mà là loài cỏ (thảo HV, chuối là loài cỏ lớn nhất!) – khác với tiêu (hồ tiêu) là loài cây leo (climbers) viết bằng bộ mộc.   Hiện nay người ta phân biệt được hơn 300 loại cây chuối : từ loại ăn trực tiếp được (banana) cho tới loại không ăn được ngay (gọi là plantain, tiếng Anh phân biệt hai loại này so với tiếng Việt).

Tiêu HV (jiāo BK)   viết bằng bộ mộc hợp với chữ thúc HT (shū BK) nghĩa là ớt, hạt tiêu… mà thúc cũng có liên hệ với chú như đã viết ở trên. Tự điển Khang Hy ghi cách đọc của hai chữ tiêu (chuối và hồ tiêu) giống nhau ‘tức (jí BK) tiêu thiết’ – mà tiếng HV phản ánh trung thực bằng cùng một chữ tiêu. Kinh Thi còn ghi rằng ‘tiêu tiêu chi thực, phồn diễn doanh thăng椒聊之實,蕃衍盈升’ nghĩa là quả cây tiêu liêu, núc nỉu đầy thưng; Đời nhà Hán gọi hoàng hậu là  tiêu phòng (Tự điển HV, Thiều Chửu). Cách gọi hồ tiêu 胡椒  cũng cho thấy nguồn gốc phương Bắc của cụm từ này : Hồ chỉ các dân tộc miền Bắc Trung Hoa thời Thượng Cổ. Chữ Hồ    viết bằng chữ cổ   và chữ nguyệt  , do đó cổ nguyệt còn là một tên gọi của hồ tiêu. Điều này khác với ba tiêu 芭蕉  là loại ‘thảo mộc’ có nguồn gốc phương Nam  vì sự hiện diện của dạng chuối thông thường hơn; So sánh với tiếng Mường chuổi, tiếng Thái gloo-ay, kluối (hay glùai) , tiếng Lào là guai (hay kuối), Nùng là cuối, Hmong là chuôi … Theo tài liệu ghi trên mạng (wikipedia chép lại) thì vườn chuối đã từng hiện diện ở TH khoảng 200 năm SCN (theo các bài viết của Yang Fu), tới đời Đường chuối đã được nhiều người biết đến nhưng chỉ tới thế kỷ XX chuối mới trở thành thực phẩm thông dụng ở TH! Trước đó có lẽ là một dược thảo thông dụng – như Khang Hy đã chú thích từ ‘Nam Phương Thảo Mộc Trạng’… Có thể liên hệ *chuột-chút-Tý và chuối-Tiêu giống nhau : tiếng Hán đã từng mượn các từ này thời Tiên Tần, sau đó khi văn hoá ngôn ngữ TH khởi sắc (từ thời Hán…nhất là thời Đường Tống có hệ thống rõ nét hơn) thì các từ Hán này nhập ngược lại tiếng Việt.

           

Trở về Trang Chính