|
Chuột
là con vật đầu tiên trong 12 con giáp : cũng là chi thứ nhất hay
Tý/Tử Hán Việt (HV). Phần này sẽ cho thấy liên hệ trực tiếp giữa
Tý/Tử và âm chuột của tiếng Việt, phù hợp với nhận xét về nguồn
gốc Việt Nam của tên 12 con giáp. Đây cũng là chủ đề của loạt
bài viết này. Tý/Tử viết bằng bộ thủ thứ 39 trong 214 bộ thủ cổ
điển của chữ Hán. Tý là chi đầu tiên của thập nhị chi, biểu
tượng là con chuột, cho thấy chuột đóng một vai trò không nhỏ
trong xã hội thượng cổ. Cũng vì chuột đại diện cho chi đầu tiên
nên có giả thuyết cho rằng 12 con giáp xuất phát từ Ấn Độ. Để ý
rằng Ấn Độ giáo thờ thần Ganesh và con chuột theo hầu ngài, cũng
như luôn luôn có tượng chuột trong đền thờ thần Ganesh. Ăn các
thức ăn mà chuột đã ‘nếm’ qua được coi như là ân huệ trời ban
cho nếu cho ta ăn – rất khác với đa số kiến thức về y tế và vệ
sinh tối thiểu hiện nay khuyên ta nên tránh các món này1
… Tiếng Việt không phân biệt chuột lớn (gọi là rat trong tiếng
Anh) và chuột nhỏ (gọi là mouse trong tiếng Anh), cũng như tiếng
La Mã Cổ gọi chuột nhắt là Mus Minimus (chuột nhỏ) so với chuột
đồng (lớn) là Mus Maximus. Tý HV còn dùng để chỉ thời gian như
giờ (từ 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng), năm, tháng (tháng 11) hay
xác định vị trí (không gian) như phương hướng (Bắc). Bài này
giới hạn về quan hệ ngữ âm của Tý/Tử và chuột mà không bàn về
tại sao lại có 12 con giáp (hay 13 con giáp…), hay quan niệm bao
quát về thời gian và không gian của người trước. Thanh điệu
trong các ngôn ngữ ghi bằng chỉ số đứng ngay sau chữ, khác với
cách ghi thanh điệu tiếng Việt hay cách Phiên Âm tiếng Trung
Hoa/TH phổ thông qua giọng Bắc Kinh/BK (hay pinyin, còn gọi là
bính âm) – không nên lầm với số chú thích (superscript).
1.
Giới thiệu tổng quát
Chuột2 thường hiện diện trong các thành ngữ, tục ngữ
TH cũng như VN. Thử
鼠
là tiếng HV, viết bằng bộ thủ thứ 208 trong 214 bộ thủ cổ điển.
Thử đọc là shŭ theo giọng BK, cách khắc/viết cổ cho thấy chữ thử
tượng hình – xem chi tiết ở trang cuối. Ta hãy tóm tắt hình ảnh
của loài này trong văn hoá dân gian. Để hiểu rõ hơn các biến đổi
ngữ âm, ta phải đi vào chi tiết cách cấu tạo của chữ Hán; Thí dụ
như hai chữ
đại thử HV –
có ít nhất bốn nghĩa sau đây tuỳ theo cách viết chữ Hán (a)
大
暑
nóng gắt (thử là nắng mùa hè) – tiết
Đại Thử là những ngày 22, 23 và 24 tháng 7 dương lịch, trời rất
nóng nực ở Bắc Bán Cầu (b)
大 鼠
con chuột lớn (c)
袋
鼠
con chuột có bao ở trước bụng (đại là
cái bao, cái túi không có nghĩa là lớn như a và b) … Nghĩa (c)
chỉ con kangaroo (hay kanguru) như ở bên Úc, nhưng theo người
viết - đại thử (chuột lớn) cũng có thể chỉ loài động vật đặc
biệt này! (d)
黛 鼠
chuột có lông
màu xanh đậm (đại viết bằng bộ hắc là xanh đen) ….. Loài chuột
rất dễ sống và hoà hợp với môi trường chung quanh, là loài động
vật có vú rất thành công - chỉ đứng sau loài người mà thôi. Tây
phương thường xem chuột là biểu hiệu cho các điềm xấu; Khi quần
áo bị chuột gặm hay chuột rời khỏi nhà đang ở là điềm báo cho
biết là có người sẽ chết …v.v… Người đọc có thể xem thêm trên
mạng qua địa chỉ OldSuperstitions.com tóm tắt rất nhiều niềm tin
như trên – tuy nhiên các bài viết về “Nguồn gốc Việt Nam của tên
12 con giáp” này không đi sâu về tín ngưỡng mà chú trọng đến các
liên hệ ngữ âm và cách dùng trong văn hoá dân gian ở phương
Đông.
1.1
Văn hoá Trung Hoa
Văn hoá
dân gian TH ghi nhận hình ảnh loài chuột một cách tiêu cực, thí
dụ như
Thử
soán/thoán nhi đào : chạy trốn như
chuột (chạy trối chết)
Thử
soán lang bôn : chạy đi tứ tung
(chạy trốn như chuốt và chó sói)
Thử
mục thốn quang : mắt chuột thấy ít
(hàm ý thiển cận, hẹp hòi)
Thử
thiết cẩu thâu : ăn cắp vặt (không
có ảnh hưởng quan trọng), chỉ bọn trộn cắp
Thử
khẩu bất xuất tượng nha : ngà voi
không có từ miệng chuột, hàm ý người không tốt không thể nói
được ngôn ngữ ‘đàng hoàng’
Thử
thủ phẫn sự : như đầu con chuột
nhú ra mà không dám làm gì cả, hàm ý nhút nhát quá độ làm hỏng
việc (phẫn sự)
Thử
đỗ hề tràng : hề là con chuột nhỏ
(chuột nhắt), chỉ tính rất nhỏ mọn – lại có tài liệu ghi là
thử đỗ kê trường (nhỏ như lòng chuột và ruột gà, nghĩa đen)
Thử
thủ lưỡng đoan : như đầu chuột nhú
ra nhưng không biết chọn đường nào mà đi, hàm ý không quyết định
được (lưỡng lự)
Thử
mục chương đầu : mặt la mày lét
(chương tử là con hoẳng)
Thử
can trùng tý: lá gan chuột và tay
chân con trùng, nghĩa rộng là những bộ phận rất nhỏ
Thử
nha tước/thước giác : răng chuột
sừng chim, chỉ những người ưa kiện tụng vì chuyện nhỏ
…
Và
những thành ngữ như thử nhãn (hay thử mục) chỉ cận
thị (nghĩa rộng hơn là thiển cận), thử đảm (mật chuột)
hàm ý hèn nhát, thử kĩ (nghề của chuột) chỉ các trò
(nghề) lừa bịp ma đạo…
1.2
Chuột trong ngôn ngữ Việt Nam
Có
nhiều câu nói trong dân gian liên hệ đến loài chuột như
“Chuột cắn dây buộc mèo; Chuột chạt đầu sào hay chuột chạy cùng
sào; Chuột chạy hở đuôi; Chuột chạy hở rốn; Chuột chù đeo đạc;
Chuột chù lại có xạ hương; Chuột đội vỏ trứng; Chuột gặm chân
mèo; Chuột sa chỉnh gạo hay chuột sa hủ nếp, chuột sa lọ mỡ (may
mắn); Chuột sa cũi mèo (rủi ro); Cháy nhà ra mặt chuột; Đầu voi
đuôi chuột; Ướt như chuột lột; Len lét như chuột ngày; Lù đù như
chuột chù phải khói; Quăn queo đuôi chuột, chênh vênh tai mèo
…v.v…
Và Đi cùng bốn bể chín chu
Trở về xó bếp chuột chù gặm chân
Chuột chù chê khỉ rằng hôi
Khỉ lại trả lời cả họ mày thơm
Hay Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đàng xa
Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo
Trong kho tàng truyện nôm Việt Nam có truyện Trinh Thử (con
chuột trinh tiết, để ý đầu đề là chữ HV) và nhiều truyền thuyết
khác như được kể lại trong “Truyện cổ nước Nam” tác giả Ôn Như
Nguyễn Văn Ngọc – xem thêm cuốn “12 con giáp” chủ biên Vũ Ngọc
Khánh, Trần Mạnh Thường, NXB Hội Nhà Văn (Hà Nội 1998). Để thấy
rõ hơn nguồn gốc của chữ Tý/Tử, ta cần phải đi sâu vào cách cấu
tạo và cách đọc xưa và nay của Tý/Tử; Các dữ kiện từ thành ngữ,
tục ngữ trên chỉ cho ta thấy hình ảnh con chuột đã nằm sâu trong
văn hoá dân gian. Tương quan ngữ âm của Tý/Tử, tí xíu, chút,
chuột, tế, tể, tiểu, tiêu, thiếu, thiểu, vi, ty (thấp, ngắn),
teo … cho thấy tính chất nhỏ nhắn3 - phản ánh qua
loài chuột,
loài vật nhỏ nhất
trong 12 con giáp – đây là những chủ đề đáng được tra cứu cho
cặn kẽ hơn. Tương quan này nằm sâu trong tiềm thức của các dân
tộc Á Đông và để lại khá nhiều vết tích trong ngôn ngữ.
2.
Phụ âm đầu t- của Tý/Tử
Tý HV
子
còn đọc là Tử, Từ - so với các cách đọc zǐ, zí, cí BK, ji2 QĐ
zih3, zu3, zii3 Hẹ - nhưng Tý thường được dùng để chỉ chi đầu
tiên (tử để chỉ con, trẻ, hạt giống…) và tương đương với chút
tiếng Việt qua khẩu ngữ. Để ý câu nói ‘chờ tôi một tý/tí’ tương
đương với ‘chờ tôi một chút’, cũng như ‘lấy một tý’ tức là ‘lấy
một chút’ …v.v… Tuy nhiên tiếng Việt Cổ không có thanh điệu
nhiều như bây giờ (như giọng Hà Nội chẳng hạn) và chút không
khác gì *chụt hay *chuột (như các giọng Huế, Hòn … không phân
biệt thanh sắc và nặng). Đây là lý do tiếng HV và Việt dùng dạng
Tý thay vì Tử vì đẳng thức
Tý = Chút = *chuột,
và đây cũng là một chứng minh rất ngắn và gọn cho thấy tên 12
con giáp liên hệ thật khắn khít với tiếng Việt; Thật ra không
một ngôn ngữ nào có thể cho ta đẳng thức Tý=chút=*chuột như vậy,
từ tương quan lịch đại (diachronic) cho đến đồng đại
(synchronic). Đầu tiên là phân tích các chữ HV dùng chữ Tý là
thành phần HT và các dạng đọc khác nhau để thấy âm cổ phần nào.
Chữ Tý/Tử cũng như tên 12 con giáp khác rất thường dùng làm
thành phần HT trong quá trình cấu tạo chữ Hán. Thuyết Văn Giải
Tự đã từng liệt kê 12 con giáp trong 540 bộ thủ căn bản! Bây giờ
thì chỉ còn Tý và Dậu trong các hệ thống bộ thủ cải cách (188
bộ) hay cổ điển (214 bộ).
Liên hệ t-ch
còn thấy qua các thí dụ sau
2.1 Tự
HV zì BK viết bằng bộ Tý (vừa là bộ thủ vừa là thành phần HT)
字
nghĩa là chữ.
Giọng Minnan (Đài Loan) còn đọc như là ji7. Tóm tắt ta có
tỷ/tỉ-tý/tí-chút, tự-chữ. Không phải ngẫu nhiên mà An Nam Dịch
Ngữ ghi âm của Tý là tự (chữ) cách đây vài thế kỷ – theo Vương
Lộc giới thiệu và chú giải – NXB Đà Nẵng và Trung Tâm Từ Điển
Học (1995).
2.2 Tỷ/tỉ
HV, zĭ/jiě BK – ze3, zi3 Hẹ (giọng Tiều Châu là chế) - viết bằng
bộ nữ hợp với chữ tỷ HT
姊
nghĩa là chị.
Chữ tỷ HT (không còn dùng nữa) bây giờ là chữ
chỉ
(zhǐ BK, ngưng, đình chỉ) hay bộ thủ thứ 77. Bộ hoà hợp với chữ
tỷ HT là tỷ/tỉ (zǐ BK) hay mười ức (một trăm vạn). Bộ trúc hợp
với chữ Tỷ HT là tích, hay zĭ BK, là nệm lót giường, dạc tre –
hay còn đọc là chỉ …
2.3 Tự
HV, sì BK
寺
viết bằng bộ thốn - tiếng Việt còn duy trì một
dạng cổ là
chùa. Thật
ra phụ âm đầu ch- của chùa4 đã hiện diện với cách
viết chữ tự : chữ chi (zhī BK) hợp với bộ thốn (cùn BK), sau này
chữ chi viết gọn lại thành ba gạch như chữ thổ ở trên chữ thốn.
Bộ nhật hợp với chữ tự HT là
thì, thời
HV, shí BK mà giọng Huế còn duy trì một dạng cổ hơn là
chừ
- một dạng ngạc hoá thường gặp là
giờ.
Bộ nhân hợp với chữ tự là thị HV (như cách dùng nội thị), shì BK
mà một dạng cổ hơn là chực (chầu chực). Bộ sách hợp với chữ tự
HT là đãi,
dài BK – hay là
đợi, chờ
. Bộ thủ hợp với chữ tự HT là
trì
HV, chí BK mà tiếng Việt còn duy trì dạng cổ hơn là
giữ.
Trĩ
viết bằng bộ nạch (bệnh tật) hợp với chữ tự HT.
2.4 Ty/tư
HV sī BK viết bằng bộ khẩu
司
nghĩa là ty, sở hay
chủ.
Bộ kì (thần) hợp với chữ ty HT là thờ, cúng tế … hay cũng là
chùa (chỗ thờ phượng). Bộ nhân hợp với chữ ty HT là tứ hay chờ,
dò xét …Bộ mộc hợp với chữ ty HT là từ HV hay
cí
BK, nghĩa là cán (phần để cầm) cái cày – theo người viết còn có
dạng cổ hơn là
chuôi
2.5 Tốt/thốt
(cù, zú BK chyut3 Quảng Đông) viết bằng bộ thập
卒
là gấp hay
chốt, chợt
như thốt nhiên, thảng thốt (có lúc viết với bộ khuyển) … Tốt
viết bằng bộ thủ hợp với chữ tốt HT nghĩa là vuốt, cầm lấy hay
dạng cổ hơn là
chụp, chộp
. Tốt viết bằng bộ san hợp với chữ tốt HT là đỉnh núi,
chóp
(núi) hay tàn tích còn thấy trong cách dùng (cao)
chót
vót … Tốt còn là người hầu, con cờ (lính) mà ta thường nghe đọc
là chốt
- phản ánh một liên hệ đồng đại. Bộ thuỷ hợp với chữ tốt là
thối, tôi
hay còn là
trui.
2.6 Từ
HV cí BK viết bằng bộ tân
辭
nghĩa là lời văn như từ chương … còn có nghĩa là trách móc, từ
biệt, từ giã … với một dạng cổ là
chối
(từ).
2.7 Thị
HV hay shì BK viết bằng bộ cân
市
như cách dùng thành thị, nghĩa là
chợ.
Bộ nữ hợp với chữ thị là tỷ hay
chị
- cũng như bộ nữ hợp với chữ chỉ ở trên. Giọng Minnan (Đài Loan)
là chii7 cho thấy âm cổ hơn ch- như tiếng Việt.
2.8 Tu
HV hay xiū BK viết bằng bộ nhân
脩
có nghĩa là sữa
lại như cách dùng tu bổ, đi tu … mà một dạng âm cổ là
chữa.
Chữa còn có thể liên hệ đến trừ
除
(bỏ đi, bộ phụ) theo Lê Ngọc Trụ trong ‘Tầm Nguyên Tự Điển Việt
Nam’ (1993).
2.9 Thúc
HV
叔
hay shū BK , hay
còn viết đơn giản hơn là thúc (shú BK) mà tiếng Việt là
chú
. Chú là em trai của cha như trong câu ‘xẩy cha còn chú’;
So với cậu là em/anh trai của mẹ - cậu hay cữu HV (jiù BK) … Đây
là các cách gọi chi tiết và tổ chức trong gia đình họ hàng của
các dân tộc phương Nam thời Thượng Cổ theo tác giả Paul Benedict
trong cuốn ‘Austro-Thai Language and Culture’ (1975), và người
Trung Hoa đã ‘tiếp thu’ các từ trên khi bành trướng và đồng hoá
các khu vực này. Ta còn nghe người Tiều Châu nói
‘trực’
(để chỉ chú) và các dạng khác như
‘chệc’
– chú chệc (âm và nghĩa lặp lại) thường chỉ người Trung Hoa.
2.10 Tương ứng với liên hệ thúc-chú ở trên, ta còn thấy
thục
HV
贖
hay shú BK
viết bằng bộ bối mà tiếng Việt còn duy trì dạng
chuộc.
Truyện Kiều dùng chữ chuộc ba lần
‘Rẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha’
(câu 606)
2.11 Thù
HV
酬
hay chóu BK
viết bằng bộ dậu hợp với chữ
châu
HT nghĩa là
chuốc (chuốc
rượu) hay trả lại (thù đáp).
2.12 Liên hệ t-ch có thể giải thích các tương quan giữa các chữ
HV như tiêm (jiān BK) và chiêm, châm và kim; Tiếm (như tiếm
ngôi, jiàn BK) so với chiếm (zhàn BK); Tiềm (ngầm, giấu… qián
BK) so với chìm, trầm (chén BK); Tiệm (từ từ, jiàn BK) so với
chậm … Nhìn rộng ra hơn, một số âm đầu lưỡi (vô thanh t hay hữu
thanh đ) có thể bị ngạc hoá (palatalised) để trở thành âm mặt
lưỡi ch- (hay tr-) và z- (giọng Bắc Bộ) : một hiện tượng thường
gặp trong tiếng Hán (Việt) như điền-trần (chén BK, ‘chần’ đọc
theo giọng Nam Bộ), đục-trọc (zhuó BK, ‘chọc’ đọc theo giọng
Nam Bộ), Đổng-gióng (‘zóng’ như thánh Gióng < Phù Đổng)…Liên hệ
này rất rõ nét khi ta xem chữ Phạn
dhyana
(thiền
na HV) mà tiếng Hán giọng BK bây giờ là
chán
so với các dạng ngạc hoá khác như
sen, zen
của Nhật Bản và Đại Hàn. Ngay cả hiện nay, ta vẫn thường nghe
nói con chốt (cũng như con tốt), tiệm chạp phô (tạp hoá) …v.v…
Một chữ Hán rất ít gặp là
trụ (chụ)
hay trựu
viết bằng bộ thử hợp với chữ trụ hay zhòu BK, nghĩa là con chuột
(chuột chù
hay rít?) – có thể là tàn tích của âm chuột – xem thêm các chữ
Hán hiếm khác chỉ loài chuột ở trang cuối. Các tương quan trên
cho phép ta kết luận có cơ sở về liên hệ t-ch của Tý/Tử-chuột.
3.
Nguyên âm y/i, ư của Tý/Tử
Tử và
Tý là các cách đọc khác nhau của cùng một chữ viết (Hán), nhưng
tiếng Việt phân biệt rõ Tử HV chỉ con, trẻ so với Tý là chi thứ
nhất trong 12 chi - phản ánh đẳng thức Tý-chút-*chuột như đã nói
trên. Nguyên âm trước và không tròn môi y/i của giọng BK bây giờ
thường liên hệ đến nguyên âm sau ư, ơ tiếng HV
Giọng BK Tiếng HV Tiếng Việt
Qī
cơ cái bàn nhỏ
Qì kỳ
cờ
Shī thi,
thư thơ
Shí thì, thời thời
Shì
thị chợ
Sī tư,
tứ suy nghĩ
Sĭ
tử chết
Sì
tứ số bốn (tư)
Yī nhất (nhứt, giọng Nam) số một
Yĭ Ất
ngôi thứ hai trong
thập can
Yì
dực cánh
Zĭ/zí Tử/Tý
ngôi thứ hai trong thập nhị chi
Bī
bức cưỡng ép
Bĭ
bút cây bút
(viết)
Bì tất (hoàn tất)
xong, hết
… …
…
4.
Thanh hỏi và sắc của Tử/Tý
Các âm Tý và Tử cho thấy cùng âm vực bổng (hay thanh, cao) – hay
cùng bậc phù. Theo cách ghi âm của Thuyết Văn Giải Tự thì Tý/Tử
đọc là ‘tức (jì BK bây giờ) lý thiết’ cho thấy âm
Tý cổ hơn, hỗ trợ cho đẳng thức Tý=chút=*chuột đã có trước khi
Tử được dùng để ký âm. Cho đến thời Khang Hy Tự Điển, cách đọc
trên vẫn còn được ghi nhận nhưng thêm vào đó là ‘tổ (zŭ
BK bây giờ) tự thiết. Đồng âm với tử 梓
(tử là cây tử)’
. Thanh sắc của Tý còn tương ứng với các giai đoạn thành lập
thanh điệu của tiếng Việt : ba thanh (sắc, huyền, ngang) xuất
hiện sau thời kỳ đầu tiên không có thanh điệu – theo đề nghị của
học giả Pháp A. G. Haudricourt5 từ năm 1954. Hai
thanh hỏi và sắc của Tử và Tý khá đặc biệt so với các tương
quan thanh điệu như sau
Giọng BK Tiếng HV Phê bình
thêm
Zuŏ tả (bên trái)
tá (giúp) nghĩa khác so với tả
Pǔ phả (phổ, sổ ghi)
phá
nghĩa khác hơn – nhưng để ý
bể
(thanh hỏi)
Qiăn thiển (cạn)
thiến (loại cỏ) khác với thiển
Zǔ tổ (tổ tiên)
tố nghĩa khác so với tổ
Tǔ thổ (đất)
thố
(thỏ) nghĩa khác hơn - để ý thỏ có thanh
hỏi
Tĭ tỷ
(chị) tý nghĩa khác so với tỷ
Zhĭ chỉ
(giấy) để ý thanh sắc của
giấy
so với chỉ
Shĭ thỉ (bắt đầu)
thí (cho) khác nghĩa so với thỉ
Hăi hải (biển)
hái (ngắt) nghĩa khác hơn hải
Tăi tải (chuyên chở)
tải
còn có thể đọc là
tái
… …
…
5.
Phê bình tổng quát và kết luận cho phần 10
Từ năm
1935 khi học giả Georges Coedès đưa ra liên hệ giữa tên 12 con
giáp6 (tiếng Xiêm và Khme) với tiếng Mường Cổ, đến
các bài viết của Paul Benedict (1967, 1975) và Jerry Norman
(1985) … Không có tác giả nào đã liên hệ Tý/Tử với âm chuột!
Thật ra khi ta quan sát tương quan t-ch như đã ghi ở trên, cũng
như cách dùng đồng đại của Tý và chút - *chuột (tiếng Việt Cổ
không có thanh điệu nhiều như giọng Hà Nội bây giờ), thành ra ta
có cơ sở rất vững chắc đưa ra đẳng thức Tý/Tử - chút - *chụt -
*chuột. Nếu chỉ có Tử là âm đọc cho chi thứ nhất thì đẳng thức
trên khó có sức thuyết phục, may thay sự hiện diện của Tý (nhỏ
tý, bé tý/tí) đã gợi ý cho ta đẳng thức trên. Khi tra cứu nguồn
gốc cách viết/khắc cổ của chữ Tý/Tử - ta thấy chẳng có liên hệ
gì đến loài vật - hình trên giáp cốt văn, kim văn giống như bào
thai, đứa bé … nên các chữ dùng chữ Tý/Tử thường chỉ con,
cháu…Ngoài ra, khi xem các định nghĩa của Tý/Tử trong Tự Điển
Khang Hy, ta không thấy tài liệu này đề cập đến loài chuột - gần
với loài vật nhất là câu ‘huynh đệ chi tử do tử dã’ (do là con
do thuộc loài khỉ, hay còn là chó con…không phải loài chuột).
Ngược dòng thời gian về thời đại của Thuyết Văn Giải Tự, ta thấy
cách giải thích của Tý/Tử là ‘cổ văn tử, tùng xuyên, tượng
phát dã’ cũng chẳng thấy hình ảnh loài chuột ở đâu hết! Các
điều này cho ta kết luận rằng có thể Tý/Tử chỉ là cách ghi âm
một tiếng ngoại quốc (hay chính là tiếng Việt Cổ so với tiếng
Hán) có nghĩa là con chuột.
Ngoài ra khi so sánh tên gọi 12 con giáp của các ngôn ngữ Đông
Nam Á, tiếng Thái có vẻ như gần với tên gọi 12 con thú như tiếng
Việt – xem bảng tổng kết trong bài “Nguồn gốc Việt Nam của tên
12 con giáp - phần 2”; Thí dụ như Tý/Tử - còn gọi là
chuat3
trong tiếng Thái. Thật ra, chuat3 chỉ dùng cho năm Tý/Tử và
không dùng để chỉ con chuột! Tiếng Thái có tiếng nŏo (hay có khi
ghi là nuu) chỉ con chuột, hay dùng tiếng moo-sik mượn từ tiếng
Phạn7. Điều này cho thấy hệ thống tên gọi tiếng Thái
mượn từ tiếng Việt cũng như các tên gọi khác như
khan
(kễnh),
roong1
(rồng)…Tóm lại Tý/Tử (zĭ, zí, cí BK) liên hệ trực tiếp đến chuột
của tiếng Việt.

6.
Phụ chú và phê bình thêm
1)
Karni Mata là tên nữ thần (chuột) của Ấn Độ Giáo (Hinduism). Đền
Karni Mata toạ lạc ở thành phố Deshnoke bên Ấn. Theo truyền
thoại địa phương thì các chú chuột có thể là hiện thân (đầu
thai) của các vị thần thánh trong Ấn Độ giáo; Vì thế mà trong
đền có đến 20000 chú chuột tha hồ sinh sống mà còn được cho ăn
uống thoải mái từ các khách vãng lai. Mỗi ngày cả ngàn người đến
cúng kiến cùng với du khách khắp nơi, hi vọng được các chú chuột
chạy ngang qua chân cẳng mình để lấy hên hay là được nhìn thấy
chuột bạch (rất hiếm trong đền). Xem thêm các bài viết “Rats
Rule at Indian Temple” tác giả Sharon Guynup và Nicolas Ruggia
trên National Geographic Channel (29/6/2004) hay trên mạng
wikipedia chủ đề ‘Rat’ …
2)
chuột có thể được phân loại như sau – xem thêm các chủ đề ‘Lớp
Thú’ hay ‘Chuột’ trên mạng vi.wikipedia.com đang được cập nhật
Kingdom Animalia (động
vật)
Phylum Chordata (ngành
động vật có dây sống)
Class Mammalia
(loài động vật có vú)
Order Rodentia (bộ
gặm nhấm)
Family Muridae
Subfamily Murinae
Genus
Rattus (tiếng Anh : rat là con chuột lớn – thân thường dài hơn
12cm - nếu ngắn hơn thì gọi là mouse, thuộc genus mus). Rat có
thể liên hệ đến gốc La Tinh rodere (cào cấu) còn mouse
có thể liên hệ đến gốc La Tinh mus, tiếng Hi lạp là mys (con
chuột, bắp chuột
bắp
thịt, cơ…); Để ý cách dùng con chuột cho bắp thịt dựa vào hình
dạng trong ngôn ngữ.
Vấn đề
phân loại khoa học thật là quan trọng vì nếu không được rõ ràng
thì ta có thể tạo nhiều ngộ nhận về sau, cũng như những huyền
thoại (như con rồng) làm quá trình truy nguyên trở nên phức tạp.
Một thí dụ khác là tiêu chuẩn số móng chân (chẵn và lẻ) không có
cơ sở khi chân trước chuột có bốn ngón so với chân sau có năm
ngón, tương tự với loài thỏ, và loài rồng (khi thì ba, khi thì
bốn hay năm móng) và khi không có móng chân thì xem đến cái
lưỡi…v.v…
3) từ
hơn nửa thế kỷ trước đây, tác giả Lê Văn Siêu đã từng viết về
tương quan giữa âm thanh và phạm trù nghĩa trong tiếng Việt
‘…nếu chữ tượng hình là một sáng chế đặc biệt của dân tộc cổ
Trung Hoa thì tiếng tượng hình là một sáng chế đặc biệt khác của
dân tộc chúng ta. Một đàng dùng hình vẽ để diễn tả, một đàng
dùng âm thanh để diễn tả…’ và ‘…âm í chỉ những gì nhỏ nhít – con
chí/chấy … bé tí cho đến có khi không thấy nữa. Con chuột nhỏ
nhất các giống chuột là con chuột chí… mắt tí hí …cái đường chỉ
nhỏ ở mép mí mắt là mi mắt..’ (trang 130, cuốn ‘Nguồn gốc văn
học Việt Nam’ Lê Văn Siêu – NXB Thế Giới – 1956). Đây là một chủ
đề trong Ngôn Ngữ Học gọi là Sound Symbolism (hay Phonosemantics
– chú trọng về phần âm thanh và các ý nghĩa liên hệ của chúng).
Thật ra có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến ngôn ngữ, như ảnh hưởng
vùng (areal factor), vay mượn, bắt chước âm thanh tự nhiên … cho
đến sự thoả hợp của xã hội (convention, qui ước) về ý nghĩa của
một chữ chẳng liên hệ gì đến ngữ âm; So sánh các tiếng HV như bi
(bộ ấp hợp với chữ phi HT), phi (viết bằng bộ nhất, phi cơ là
nghiệp lớn), vĩ (viết bằng bộ nhân hợp với chữ vi/da HT, như vĩ
nhân) …đều có nghĩa là lớn. Trở lại với tiếng tượng thanh, có
nhiều luận án viết về các chủ đề liên hệ như tiếng tượng hình
trong tiếng Lào (‘Sound symbolism and the expressive words of
Laos’ - luận án tiến sĩ của tác giả Arthur Grayson Crisfield,
khoảng năm 1973), luận án của tác giả Keith McCune cho thấy mỗi
chữ Inđônêsia đều có phần nào liên hệ đến hình ảnh (tượng hình -
luận án tiến sĩ ‘The Internal Structure of Indonesian Roots’
khoảng năm 1983) …v.v…
4) sự
hiện diện của chữ chùa trong tiếng Việt cho thấy ảnh hưởng Phật
giáo rất lâu đời. Theo ‘Tự điển Phật học Hán Việt’ (NXB Khoa Học
Xã Hội – Hà Nội – 1998) thì tự có từ đời Hán Minh Đế, nơi ở của
tổ sư Ma-đằng. Các tên gọi khác như già-lam (phiên âm tiếng
Phạn), Trúc viên, Đạo tràng … cho đến đời Đường mới đổi lại là
tự (sì BK) . Cách đọc tự so với chùa một lần nữa cho thấy các
thời kỳ giao lưu văn hoá khác nhau - thời Thượng Cổ so với Trung
Cổ (thời Đường Tống), cũng như tương quan Tý-chút-*chuột vậy;
Hãy so sánh tự-chùa, tự-chữ, tý/tử-chút-*chuột, tư-cho …
5) sơ
đồ hình thành các thanh trong tiếng Việt của tác giả A. G.
Haudricourt - thường được nhắc đến trong các tài liệu về nguốn
gốc tiếng Việt. Xem thêm phần này trong bài “Nguồn gốc Việt Nam
của tên 12 con giáp – Mão/Mẹo-mèo (phần 4)” , hay cuốn ‘Cơ sở
ngôn ngữ học và tiếng Việt’ các tác giả Mai Ngọc Chữ, Vũ Đức
Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến – NXB Giáo Dục (1997)
6) xem
thêm tóm tắt về các bài viết này trong “Nguồn gốc Việt Nam của
tên 12 con giáp - phần 2” theo thứ tự thời gian. Đa số các tác
giả đặt vấn đề về nguồn gốc phi-Trung Hoa của tên 12 con giáp là
những nhà ngôn ngữ ngoại quốc (Mỹ, Pháp …) – có thể cách nhìn
khoa học và khách quan hơn – không bị ảnh hưởng của văn hoá
truyền thống TH làm giới hạn tầm nhìn.
7)
musika (tiếng Phạn) là con chuột (nhắt, mouse) – musakarati là
kẻ thù của chuột (ý nói con mèo, musika + arati/kẻ thù);
mahamusaka là con chuột lớn (maha/to lớn + musika)…v.v…Để ý các
dạng mus, musa, musika (chỉ con chuột) có liên hệ đến mouse
(tiếng Anh là con chuột), tiếng Anh Cổ (Old English) là mus,
tiếng Đức là Maus…

Chuột
chữ Nôm
viết
bằng bộ khuyển hợp với chữ
truật
HT. Chữ Nôm chuột đã được dùng từ thời Nguyễn Trãi (1380-1442).
Tương đồng giữa phụ âm đầu và thanh điệu cho thấy chữ này xuất
hiện cách đây không lâu – so với giọng BK của chữ truật HV là
shù.
Tuy nhiên, bộ khuyển hợp với chữ truật đã từng hiện diện trong
vốn từ Hán, là một chữ hiếm, giọng BK là
chù
(truật HV) : chữ này là tên một loài chồn (lemur), mõm dài như
cáo cũng có 4 chân, mắt to và có đuôi – xem các hình vẽ dưới từ
mạng wikipedia. Có tài liệu dịch lemur là vượn cáo, hay hồ hầu
狐猴
trong tự điển Trung Hoa hiện đại. Chữ này đã từng
hiện diện trong Sơn Hải Kinh hơn 2000 năm, là một loài vật huyền
thoại. Theo các tài liệu hiện nay thì loài
‘chuột’
này sống ở Đông Nam Á, Phi
Luật Tân … và còn gọi là flying lemur (loài chuột bay) vì khả
năng lượn (lướt/glide - chứ không phải là bay/fly) trên không
trung đến cả 70 thước (từ cây này qua cây kia). Loài chuột lớn
hơn thì sống ờ Madagascar và các đảo lân cận…v.v… Sự trùng hợp
của chữ Nôm và chữ Hán chỉ loài thú giống nhau khá đặc biệt –
không biết phải là hiện tượng ngẫu nhiên hay không?

Liên hệ phụ âm đầu t-ch của Tý/Tử và chuột còn thấy khi so sánh
các chữ HV tiêu-chuối…
Tiêu
蕉
viết bằng bộ
thảo hợp với chữ tiêu (cháy) HT, giọng BK bây giờ là jiāo. Chữ
tiêu HT (cháy) lại được viết bằng bộ hoả hợp với chữ
chuy
HT cho thấy âm ch- đã có ngay từ đầu! Ngoài ra, bộ ngôn hợp với
chữ tiêu HT còn có nghĩa là
chửi
(rủa) hay là
chòi, so với
bộ mộc hợp với chữ tiêu HT là
tiều
(như tiều phu, ngư tiều canh mục) mà còn một nghĩa nữa cũng là
chòi. Để ý chữ tiêu viết bằng bộ thảo cho thấy một kết quả khá
chính xác vì cây chuối thật ra không phải là loài cây mà là loài
cỏ (thảo HV, chuối là loài cỏ lớn nhất!) – khác với tiêu (hồ
tiêu) là loài cây leo (climbers) viết bằng bộ mộc. Hiện nay
người ta phân biệt được hơn 300 loại cây chuối : từ loại ăn trực
tiếp được (banana) cho tới loại không ăn được ngay (gọi là
plantain, tiếng Anh phân biệt hai loại này so với tiếng Việt).
Tiêu HV (jiāo BK)
椒
viết
bằng bộ mộc hợp với chữ
thúc
HT (shū BK) nghĩa là ớt, hạt tiêu… mà thúc cũng có liên hệ với
chú
như đã viết ở trên. Tự điển Khang Hy ghi cách đọc của hai chữ
tiêu (chuối và hồ tiêu) giống nhau ‘tức (jí BK) tiêu thiết’ – mà
tiếng HV phản ánh trung thực bằng cùng một chữ tiêu. Kinh Thi
còn ghi rằng ‘tiêu tiêu chi thực, phồn diễn doanh thăng椒聊之實,蕃衍盈升’
nghĩa là quả cây tiêu liêu, núc nỉu đầy thưng; Đời nhà Hán gọi
hoàng hậu là tiêu phòng (Tự điển HV, Thiều Chửu). Cách gọi
hồ tiêu
胡椒
cũng cho thấy nguồn gốc phương Bắc của cụm từ này : Hồ chỉ các
dân tộc miền Bắc Trung Hoa thời Thượng Cổ. Chữ Hồ
胡
viết bằng chữ cổ
古
và chữ nguyệt
月
, do đó cổ nguyệt còn là một tên gọi của hồ tiêu.
Điều này khác với
ba tiêu
芭蕉
là loại ‘thảo mộc’ có nguồn gốc phương Nam vì sự hiện diện của
dạng chuối thông thường hơn; So sánh với tiếng Mường chuổi,
tiếng Thái gloo-ay, kluối (hay glùai) , tiếng Lào là guai (hay
kuối), Nùng là cuối, Hmong là chuôi … Theo tài liệu ghi trên
mạng (wikipedia chép lại) thì vườn chuối đã từng hiện diện ở TH
khoảng 200 năm SCN (theo các bài viết của Yang Fu), tới đời
Đường chuối đã được nhiều người biết đến nhưng chỉ tới thế kỷ XX
chuối mới trở thành thực phẩm thông dụng ở TH! Trước đó có lẽ là
một dược thảo thông dụng – như Khang Hy đã chú thích từ ‘Nam
Phương Thảo Mộc Trạng’… Có thể liên hệ *chuột-chút-Tý và
chuối-Tiêu giống nhau : tiếng Hán đã từng mượn các từ này thời
Tiên Tần, sau đó khi văn hoá ngôn ngữ TH khởi sắc (từ thời
Hán…nhất là thời Đường Tống có hệ thống rõ nét hơn) thì các từ
Hán này nhập ngược lại tiếng Việt.
Trở về Trang Chính
|