|
Hệ thống 12 con
giáp hiện diện trong hầu hết các văn hoá ở Đông Nam Á, ngay cả ở
Đại Hàn và Nhật Bản, sang đến Mã Lai, Inđônêsia … Nhưng không có
nước nào đặt lại vấn đề ‘bản quyền’ của tên 12 con giáp : hầu
như ai cũng gián tiếp hay trực tiếp chấp nhận nguồn gốc Trung
Hoa/TH của nó qua bao nhiêu thế kỷ! Ta hãy xem qua các tương
quan của tên 12 con giáp với các ngôn ngữ chung quanh TH để hiểu
tại sao các nước này không thể đặt vấn đề bản quyền như Viêt Nam
được. Sau đây chỉ là tóm tắt các nhận xét qua truyền thống văn
hoá, tôn giáo và ngôn ngữ của các nước láng giềng. Các khái niệm
chính sẽ được trình bày trong phần 1 thay vì phải lặp đi lặp lại
trong các phần sau. Nên phân biệt thanh điệu ghi bằng số sau chữ
và superscript (phụ chú) cũng như cách ghi pinyin (phiên âm) phổ
thông cho giọng Bắc Kinh (BK) hiện nay.
1.
Inđônêsia và Mã Lai
1.1 Từ góc độ tín
ngưỡng : các nước Mã Lai và Inđônêsia (tắt là Inđô) có đa số dân
theo đạo Hồi (Islam) – nên tục thờ thú vật hay lấy thú vật làm
tôtem rất khó xẩy ra - Hồi giáo tin vào một vị thần
(monotheistic) chứ không thờ nhiều thần. Hồi giáo lớn thứ hai
sau Cơ Đốc giáo, cả hai đều không có truyền thống nào liên hệ
đến 12 con giáp. Hồi giáo cấm ăn các thực phẩm liên hệ đến heo
so với Ấn Độ giáo và thịt bò, trong khi các dân tộc tin vào 12
con giáp thường đem chúng ra xào nấu thoải mái (rồng không hiện
diện, thay vào đó là thịt cá sấu hay thịt rắn, lươn). Tương phản
với Phật giáo, cấm sát sinh và bạo động, không chỉ chú trọng vào
một loài vật nào nên dễ hoà hợp với tín ngưỡng 12 con giáp1.
Ngoài ra các thuyết về định mệnh, nghiệp và các kiếp người,
kiếp thú
… làm cho Phật giáo gắn bó với 12 con thú rất sâu đậm. Lòng tin
này có thể xẩy ra khi Inđô, Mã Lai giao lưu văn hoá với Viêt Nam
và Trung Hoa/TH. Khái niệm về thiên thần (angels) của Hồi giáo
và Cơ Đốc giáo rất xa lạ so với dân ta, so với thần sông, thần
cây … và thần rắn, thần cọp …ảnh hưởng đến cuộc đời qua hình ảnh
12 con giáp (cầm tinh). Người TH ở Mã Lai có khoảng 24% so với
dân Mã Lai bản xứ (theo thống kê 2007, Wikipedia) - tương ứng
với số người theo đạo Phật là 19.2% so với số người theo Hồi
giáo là 60.7%. Người TH ở Inđô ít hơn, dưới 2% dân số cả nước,
tương ứng với số người theo đạo Phật là 1% so với đạo Hồi 86%,
do đó Inđô là quốc gia có nhiều dân theo Hồi giáo nhất trên thế
giới. Tết Nguyên Đán (Lunar New Year) chỉ được công nhận là ngày
nghỉ từ năm 2002! Những kỳ thị ít nhiều khác xẩy ra cho những
nhóm không theo Hồi giáo được ghi nhận khá rõ ràng trong lịch sử
hình thành hai nước Mã Lai và Inđô2.
1.2 Từ góc độ ngôn
ngữ : tuy có những vết tích giao lưu văn hoá từ xa xưa, tiếng Mã
Lai và Inđô là loại ngôn ngữ đa âm và không phát triển về thanh
điệu như tiếng Việt và TH. Thuộc họ Đa Đảo (Malayo-Polynesian
hay còn gọi là Austronesian), tiếng Mã Lai và Inđô thường có
tiền tố (prefix), từ láy … và họ ngôn ngữ này phân bố rất rộng
từ Mã Lai, Inđô đến New Guinea, Phi Luật Tân (tiếng Tagalog) …
Một anh bạn có đưa ra sự tương đồng giữa Tý (chi thứ nhất) và
tikus
(con chuột, tiếng Inđô) – tuy nhiên quan hệ của chuột – tikus
chấm dứt ngay khi bắt đầu! Các tiếng Inđô chỉ sự nhỏ bé là
ketil, seketil,
berketil
… với các tiền tố se-, ber- thường gặp trong quá trình cấu tạo
chữ mới. Kecil, kekecilan
… cũng có nghĩa là nhỏ. Tikus là con chuột và không thấy dùng để
chỉ sự nhỏ nhắn như tý/tí tiếng Việt. Thí dụ như cách dùng ‘chờ
tôi một tí = chờ tôi một chút’ - tiếng Việt Cổ không có thanh
điệu nhiều như bây giờ cho nên chút đọc như là chuột vậy. Hãy so
sánh giọng Huế, giọng người Hòn … nói câu ‘chờ tôi một chút’
giống y như ‘chờ tôi một *chuột’ – do đó ta thấy liên hệ tí/tý –
chút - chuột rất rõ. Đó là vết tích trong văn ‘nói’, còn trong
văn viết thì ra sao? Điều quan trọng hơn là biến âm
t-ch
trong chuỗi tý –
chút - chuột hiện diện trong nhiều tiếng Hán Việt/HV so với
tiếng Việt (lõi). Hãy đi vào chi tiết về biến âm t-ch :
Từ
(cí BK, lời nói, có thể viết bằng bộ ngôn hợp với chữ ty/tư/chủ)
còn có nghĩa là chối - để ý cách dùng từ ghép chối từ, từ
chối
…
Tuệ
(huì, suì BK - viết bằng bộ ký) – có các nghĩa như (sao)
chổi,
quét, trí khôn (trí tuệ). Chổi cũng liên hệ đến zhŏu BK/trửu HV
viết bằng bộ cân
Tu
(xiū BK viết bằng bộ nhân) có nghĩa là sửa (tu bổ, đi tu) hay
chữa.
Chữa còn có thể liên hệ đến trừ (bộ phụ, theo Lê Ngọc Trụ trong
“Tầm Nguyên Tự Điển VN” 1993).
Tý/tí/tử
HV (zĭ BK chỉ sinh vật nhỏ) -
chút
.
Ta hãy xem một số
chữ Hán dùng chữ Tý làm thành phần hài thanh/HT như
tự
HV (zì BK) - tương ứng với
chữ
- liên hệ t-ch này còn để vết tích trong tiếng Minnan (Đài Loan)
…
Tỷ/tỉ
(zĭ BK, viết bằng bộ nữ hợp với chữ tỷ3 HT) -
chị
Tịch
viết bằng bộ trúc hợp với chữ tỷ HT là
chiếu.
Tỷ HV (zĭ BK viết bằng bộ thuỷ hợp với chữ tỷ HT) là chảy. Tỷ/tỉ
HV viết bằng bộ hoà hợp với chữ tỷ HT là triệu/’chiệu’ …
Tốt/thốt
(cù, zú BK viết bằng bộ thập) là
chốt,
chợt.
Tốt viết bằng bộ thủ hợp với chữ tốt HT nghĩa là vuốt, cầm hay
chụp, chộp.
Tốt HV viết bằng bộ san hợp với chữ tốt HT nghĩa là đỉnh núi,
chóp
hay còn thấy tàn tích trong cách dùng
chót
vót …
Thị
(shì BK bây giờ) là chợ. Bộ nữ hợp với chữ thị là
tỷ/tỉ
cũng là chị.
Tiếng Minnan là chhi7 cho thấy phụ âm đầu ch- như tiếng Việt…
Tự
(sì BK) viết bằng bộ thốn là
chùa.
Bộ nhật hợp với chữ tự là
thì
với các biến âm thời, giờ - giọng Huế còn duy trì âm
chừ.
Bộ nhân hợp với chữ tự là thị HV mà tiếng Việt là chợ,
chực
(chầu chực) …Bộ sách hợp với chữ tự HT là
đãi
hay đợi, chờ
…
Ty/tư
(sī BK bây giờ) viết bằng bộ khẩu, nghĩa là
chủ.
Bộ kì (thần) hợp vớI chữ ty HT là thờ, cúng tế …Bộ nhân hợp với
chữ ty HT là tứ
hay chờ,
dò (xét) …
…v.v…
Hãy xem tên gọi các
con vật và tên 12 con giáp qua tiếng Inđô
Tiếng
HV Tên con vật (Inđô)
Tý tikus
Sửu lembu (trâu, bò)
Dần harimau, macan (cọp)
Mão/Mẹo kucing (mèo), kelinci (thỏ)
Thìn/Thần naga
(rồng)
Tỵ ular
(rắn)
– ular sawa, ular sanca
(trăn)
– belut
(lươn)
Ngọ
kuda (ngựa)
Mùi kambing (dê/goat), biri-biri,
domba (cừu/sheep)
Thân kera, monyét (khỉ)
Dậu jago, ayam jantan (gà trống),
ayam betina, babon (gà mái)
Tuất anjing (chó)
Hợi babi (heo)
Ngoài những tương
quan lịch đại trên, ta còn thấy những liên hệ đồng đại như tưng
hững còn đọc là
chưng
hững, tạp hoá còn đọc là
chạp
phô …Và nếu nhìn xa hơn nữa như mèo là kucing (Inđô), thỏ là
kelinci … qua bảng so sánh trên thì mối dây liên quan trở nên
càng mù mịt hơn… Các dữ kiện trên cho thấy một hệ thống âm thanh
liên hệ phụ âm đầu t- với ch- khi so sánh tiếng HV và Việt, các
tương quan này không thấy trong tiếng Inđô4 ! Cách
gọi các tên con vật (từ đa âm) lại càng cách xa hệ thống tên 12
con giáp hơn nữa (các tên đơn âm, dựa vào thanh điệu để phân
biệt Thần/Thìn-Thân, Tỵ-Tý …). Các điều này dẫn đến kết luận là
liên hệ tikus-tý chỉ là một hiện tượng ngẫu nhiên khi so sánh
hai hệ thống ngôn ngữ mà thôi.
1.3
Khuynh hướng ‘vơ đũa cả nắm’
Một trong những lý
luận thường gặp trong các bài viết về liên hệ ngôn ngữ là dùng
một vài dữ kiện trùng hợp (một phần hay toàn phần) để đi đến kết
luận một cách vội vã. Hãy so sánh cách đọc facteur (tiếng Pháp)
và phát thơ – đây là một trùng hợp mà nếu dựa vào sự trùng hợp
này để đưa đến kết luận là tiếng Pháp và Việt liên hệ thì e rằng
không ổn! Ta phải xem các tương quan đồng đại
(synchronic) khác. Không những là phải loại các từ mượn trực
tiếp (loan words) ra như beurre-bơ, courbe-cua, coupe-cúp,
timbre-tem, essence-xăng … mà ta còn phải phân tích những tương
quan lịch đại (diachronic) với văn bản kiểm chứng. Ngoài
ra, nếu hai ngôn ngữ có liên hệ họ hàng thì phải có những giao
lưu văn hoá, truyền thống chung đụng được ghi nhận rõ ràng qua
lịch sử cũng như môi trường địa lý – trong trường hợp tiếng Pháp
và tiếng Việt thì hầu như không hiện diện trước thời kỳ truyền
đạo Ki-Tô, sau đó Pháp xâm lăng nước ta và thiết lập hệ thống
bảo hộ … Một thí dụ khác như so sánh các chữ mani (tiếng Đại
Hàn) – many (tiếng Anh) cùng nghĩa là nhiều, tul (tiếng Đại
Hàn/ĐH) – two (tiếng Anh) cùng nghĩa là số hai, pu-run (ĐH) –
blue (Anh) cùng nghĩa là màu xanh, và pear (Anh) – pay/bae (ĐH)
cùng nghĩa là trái lê, why (Anh) – wae (ĐH) cũng có nghĩa là tại
sao, dung (Anh) – ttong (ĐH) cùng nghĩa là cứt/phẩn, seed (Anh)
– ssi (ĐH) cùng là hột/hạt… rồi đi đến kết luận là hai ngôn ngữ
Đại Hàn – Anh có liên quan họ hàng thì quả là nguy hiểm! Cũng
như khi so sánh can (Anh) – kan (Nhật) cùng là hộp bằng kim
loại, boy (Anh) – boya (Nhật) cùng nghĩa là đứa bé trai … để đưa
đến kết luận là tiếng Anh và Nhật có liên hệ thì ta đã đi quá
đà! Cặp tikus-Tý (tiếng Inđô-tiếng Việt/HV) ở trên được gọi là
false cognate (từ cùng gốc giả)5 không phải là
hiếm cho nên ta phải cẩn thận đề phòng hiện tượng trùng hợp ngẫu
nhiên trong ngôn ngữ dễ đưa ta đi lạc đường. Chính vì vậy mà
nhiều học giả đã đưa ra một bảng so sánh cho sẵn gồm nhiều từ
căn bản trong ngôn ngữ như bảng Swadesh có 207 chữ…v.v… Lại thêm
một thí dụ nữa để tóm tắt phần này là khi so sánh tiếng Anh và
tiếng Hán, giọng Bắc Kinh ta thấy sue (Anh) – sù (BK) cùng nghĩa
là tố (HV), bullshit
(Anh) – búshì
(BK) cùng nghĩa là không thực !
2.
Đại Hàn (Cao Ly)
Quan hệ sâu đậm của
dân tộc ĐH với tư tưởng Á Đông phản ánh qua cờ ĐH, còn gọi là
Thái Cực Kỳ, lấy từ hình bát quái của kinh Dịch. Năm nay (2007)
là năm con heo vàng theo truyền thuyết, và người ĐH sinh vào năm
này tin rằng sẽ dó tương lai ‘bản mệnh’ rất tốt : nào là thông
minh sáng dạ, nào là sẽ trở nên giàu sang phú quý …v..v…. Thống
kê cho thấy số người mang thai và các đứa bé ra đời trong vòng
mấy tháng đầu năm bắt đầu gia tăng rất rõ6….Tuy
nhiên, chưa thấy người ĐH đặt vấn đề nguồn gốc của 12 con giáp
dù họ rất gần gũi với khái niệm này. Lý do đơn giản là có những
tài liệu7 xác định được khoảng thời gian hệ thống 12
con giáp nhập vào ĐH : vào thời Tam Quốc ĐH (3 Kingdom period,
khoảng năm 57 TCN đến 668) lăng mộ các vị vua đào lên có những
tượng đúc (figurines) theo hình 12 con giáp, và các hoa văn tìm
thấy trên nắp đá của lăng mộ. Vào thời kỳ này, và nhất là vào
triều đại thống nhất Silla sau đó, nhiều nhà sư ĐH qua TH học về
kinh điển Phật giáo, Khổng giáo và đem về nước nhiều đồ quý giá,
sách vở, mỹ thuật … Đây là thời kỳ mà nhiều tài liệu cho rằng hệ
thống 12 con giáp đã chính thức được dùng rộng rãi trong dân
gian. Điều này cũng phù hợp với lịch sử cách gọi tên ngày tháng
(lịch) của ĐH : tên các năm từ 536 đến 963 được gọi bằng tên bản
xứ (ĐH), từ năm 964 đến năm 1895 thì lại dùng tên niên hiệu theo
TH, từ năm 1895 (thời kỳ bị Nhật đô hộ) về sau dùng dương lịch.
Tóm lại, khi tra cứu về nguồn gốc 12 con giáp của ĐH, đa số các
tài liệu của ĐH đều nhất trí cho rằng chúng có nguồn gốc từ TH.
Điều này thật ra cũng khá chính xác cho hệ thống 12 con giáp khi
nhập (ngược) vào Việt Nam, cũng khoảng đời Đường Tống về sau khi
chỉ dựa trên các liên hệ âm thanh Hán Việt – khi mà văn hoá TH
khởi sắc và ảnh hưởng mạnh mẽ các nước chung quanh như Nhật, ĐH,
Việt Nam … Tuy nhiên, khi phân tích sâu hơn liên hệ âm thanh
thời Thượng Cổ thì một hình ảnh khác lại hiện ra rõ nét : tên 12
con giáp có nguồn gốc phương Nam (Việt Nam ngày nay) – xem các
bài viết “Nguồn gốc Việt Nam của tên 12 con giáp” cùng tác giả.
Hãy xem tên gọi 12 con giáp và tên các con vật qua tiếng ĐH
Tiếng HV
Tiếng ĐH Tên con vật
Tý
ja chwi (chuột)8
Sửu chug
am-so (bò), hwang-so (trâu)
Dần
in ho-rang-i (cọp)
Mão/Mẹo myo
ko-yang-i (mèo), chip-t’o-ggi (thỏ)
Thìn/Thần sin
yong (rồng)
Tỵ
sa paem (rắn)
Ngọ
o mae (ngựa)
Mùi
mi yang (cừu/sheep), yŏm-so
(dê/goat)
Thân
sin wŏn-sung-i
(khỉ)
Dậu
yu su-t’ak (gà trống/rooster),
tak (gà/chicken)
Tuất
sul kae (chó)
Hợi
hal twae-ji (heo/pig) su-t’wae-ji
(heo rừng)
Nguồn gốc tiếng ĐH có
nhiều tranh luận cho tới nay : từ họ Altaic (có các tiếng Mông
Cổ, Turkic …) đến một ngôn ngữ đơn lập (language isolate). Tuy
nhiên, ảnh hưởng của tiếng Hán rất rõ, trong vốn từ có ít nhất
là 60 % gốc Hán. Tập trung vào các từ chỉ 12 con giáp như bảng
so sánh bên trên, ta thấy quá trình vay mượn từ tiếng TH khá rõ
nét.
Cách đọc sin (để chỉ
Thần/Thìn hay Thân) cho ta thấy tiếng ĐH không thể là nguồn gốc
của tên 12 con giáp - chỉ có ngôn ngữ nào rất phát triển về
thanh điệu mới phân biệt rõ hai chi Thần và Thân này!
3. Nhật
Bản
Cũng như các tài liệu
ĐH, sử sách của Nhật cũng nhất trí cho rằng nguồn gốc 12 con
giáp từ TH nhập vào. Theo Japanese Buddhist Statuary9
thì ‘…khi Phật giáo nhập vào Nhật Bản giữa thế kỷ thứ VI, cùng
với âm lịch dựa vào 12 con giáp – lịch này được chính thức dùng
vào năm 604 và gọi là Kanshi hay Eto, và 12 con vật gọi là Juuni
Shi … 12 con giáp trở nên rất thông dụng vào triều đại Edo
(1600-1868 SCN)…’. Theo các tài liệu Nhật Bản, các sách về Khổng
giáo, mỹ thuật … nhập vào từ các học giả ĐH (thường là các vị sư
ĐH sang TH tu học). Năm 554, triều đại Baekje phái các y sĩ,
chuyên gia làm lịch, các nhà chiêm tinh ĐH sang Nhật Bản. Năm
602, nhà sư Kwalluk được gởi sang Nhật để trao các tài liệu về
thiên văn, cách làm lịch, địa lý và bói toán…
Mức xâm nhập sâu đậm
của tín ngưỡng 12 con giáp còn thể hiện qua cung cách lễ độ và
tế nhị của người Nhật khi muốn hỏi về tuổi tác : thường hỏi một
cách gián tiếp là tuổi con gì và từ đó có thể ước
đoán được tuổi thật mà không quá sống sượng. Hãy so sánh cách
gọi tên 12 con giáp và tên các con vật trong tiếng Nhật như sau
Tiếng HV Tiếng Nhật (on) Tiếng Nhật (kun)
Tên con vật
Tý
shi
ne nezumi (chuột)
Sửu
chu
ushi ushi (trâu), meushi (bò)
Dần
in
tora tora (cọp)
Mão/Mẹo
bo
u neko (mèo), usagi (thỏ)
Thìn/Thần
shin
tatsu ryu (rồng), tokage (thằn lằn)
Tỵ
shi
mi hebi (rắn), unagi (lươn)
Ngọ
go
uma uma (ngựa)
Mùi bi
hitsuji hitsugi (cừu), yagi (dê)
Thân
shin
saru saru (khỉ)
Dậu
yu tori (gà, chim)
ondori (gà trống)
Tuất jutsu
inu inu (chó)
Hợi gai i buta (heo), inoshishi
(heo
rừng)
Nguồn gốc tiếng Nhật
không được nhất trí : có lúc được xếp vào họ Altaic, có lúc là
loại tiếng creole … nhưng ảnh hưởng của tiếng Hán cũng rất giống
như trường hợp tiếng ĐH. Xem bảng so sánh bên trên, ta thấy tên
các con thú không liên hệ gì đến tên gọi 12 con giáp – cũng như
là âm vận (on) cho thấy quá trình vay mượn trực tiếp từ tiếng
TH.
Các âm shi (chỉ Tý hay
Tỵ) và shin (chỉ Thần/Thìn hay Thân) chính là những mật mã ‘âm
thanh’ cho thấy tiếng Nhật không thể là nguồn gốc của tên 12 con
giáp - chỉ có các ngôn ngữ phát triển sớm về thanh điệu mới có
thể phân biệt rõ tên các chi này.
4. Phụ
chú và phê bình thêm
(1) một huyền thoại
thường được nhắc tới là đức Phật mời tất cả các con thú đến dự
lễ tết – và chỉ có 12 con đến ăn với thứ tự là chuột, trâu, cọp,
thỏ, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó và heo. Giữ lời hứa, đức
Phật đặt tên mỗi năm theo từng loài vật như thứ tự trên…. Đây là
truyền thuyết khó tin nhất vì (a) tết nguyên đán theo Ấn giáo
hay Đông Nam Á? Ngày nào thàng nào? Văn bản kiểm chứng? (b) 12
con giáp đã có tên trên giáp cốt văn đời Chu, Thương … trước
thời đại Phật Tổ rất lâu. Có lẽ huyền thoại này được chế ra khi
đạo Phật bành trướng rất mạnh thời Đường Tống về sau ở các nước
Đông Á. Một dạng khác của huyền thoại trên thay thế đức Phật
bằng Ngọc Hoàng và cuộc đua để xem con nào chạy nhanh nhất, một
lần nữa cho thấy ảnh hưởng của văn hoá và tín ngưỡng TH trong
cách giải thích nguồn gốc tạo hoá, biến cố lịch sử…v.v…
(2) xem thêm lịch sử
người TH ở Mã Lai, Inđô trên mạng Internet qua chủ đề
“Malaysian Chinese” hay “Chinese Indonesian” (Wikipedia)
. Nhiều tài liệu liên hệ khác viết về lịch sử và tôn giáo người
TH ở Mã Lai, Inđô rất dễ tìm thấy trên mạng.
(3) chữ tỷ
này ít thấy - tượng hình cây mọc bị chận lại (gạch ngang) – cũng
đọc là chỉ, cũng như chữ chỉ (ngưng, dừng, thôi) viết bằng bộ
thủ thứ 77. Chữ này thông dụng hơn. Ta còn thấy các cách dùng
như đình chỉ, cấm chỉ …
(4) đương nhiên là có
các tàn tích của quá trình giao lưu văn hoá giữa Mã Lai, Inđô và
Việt Nam theo chiều dài lịch sử và địa lý. Tác giả Bình Nguyên
Lộc đã rất nhiệt thành viết cuốn “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc
Việt Nam” – NXB Lá Bối (SàiGòn, 1974) đưa ra nhiều nhận xét về
liên hệ Mã Lai đa đảo và văn hoá ngôn ngữ tộc Việt.
(5) xem tài liệu trên
mạng (Wikipedia) chủ đề ‘False cognate’ cho thấy nhiều ngôn ngữ
có những từ trùng hợp ngẫu nhiên
(6) theo bài báo đăng
trên mạng Internet “The Seoul Times” ngày 17/7/2007 chủ đề
“Koreans Hail Golden Pig year of 2007” - hiện tượng năm ‘heo
vàng’ rầm rộ ở ĐH không thấy xẩy ra ở các nước khác như Nhật,
Việt Nam, Lào, Mã Lai, Kampuchia …
(7) Tam Quốc là
Goguryeo (để cho ra tên Cao Ly), Silla và Baekje. Sau đó là thời
kỳ thống nhất với triều đại Silla (khoảng năm 668 đến 935 SCN)
- xem các bài viết về ảnh hưởng của Trung Hoa vào thời Tam Quốc
ĐH như tài liệu trên mạng chủ đề “The Influence of China on
the Three Kingdoms and Unified Silla”…v.v…Cũng vào thời kỳ
(văn hoá TH huy hoàng) này mà tiếng Hán nhập vào ngôn ngữ ĐH có
hệ thống rõ nét - điển hình là nhiều tiếng ĐH gốc Hán đọc rất
gần với âm HV của ta như ko (cố, người đã qua đời), kodok (cô
độc), kodae (cổ đại), codung (cao đẳng), kam (quả hồng
vàng/persimmon, cam qua tiếng Việt là chanh), kamdong (cảm
động), kak (mỗi), kan (gan), kangdo (cường độ), kae (cẩu, chó),
kagok (ca khúc), kaip (cặp, kẹp), kǔm (kim, vàng), chǔngin
(chứng nhân, nhân chứng), chungshim (trung tâm), kukki (quốc
kỳ), kukka (quốc ca), chunbi (chuẩn bị), paekkum (bạch kim),
paengnyon (bách niên, trăm năm), pang (buồng, phòng), pangyoj
(phản kích), panyong (phản ánh), pandae (phản đối), ak (ác),
aeguk (ái quốc), aein (ái nhân, người yêu), annyong (an ninh),
angmong (ác mộng), migok (mễ cốc, gạo), mi (mỹ/mĩ - đẹp), miin
(mỹ nhân, người đẹp), mok (mực), mokkong (mộc công, thợ mộc),
tongmaek (động mạch), tonggam (thông cảm), ton (đồng/tiền),
tongui (đồng ý), tongji (đồng chí), tongmaeng (đồng minh),
tongyang (đông dương), shinbu (thân phụ, cha), shindong (thần
đồng – biến âm sh-th HV)..v.v…
(8) có thể
đặt vấn đề về tương đồng về phụ âm đầu ch- của chwi (ĐH) và sì
BK (Tý/Tí/Tử HV) và chuột VN, tuy nhiên dựa vào lý luận của các
phần 1.2/1.3 ta có thể thấy đây là một hiện tượng trùng hợp mà
thôi.
(9) tài liệu trên
mạng, đánh tên Japanese Buddhist Statuary rồi theo thứ tự
chữ (A-Z) mà tra ra. Địa chỉ trên mạng “Life in Asahikawa
Jan07” thuật lại các truyền thống địa phương : như những
người sanh vào năm con heo thì đầu năm nay (2007) được thưởng
bảng danh dự, được giao cho các công việc quan trọng như làm
bánh mì để đuổi tà ma...
Một tài liệu khác đăng
trên mạng About.com : japanese language cũng xác định là
tên 12 con giáp được áp dụng từ năm 604 thuộc triều đại Nữ Hoàng
Suiko …
Trở về Trang Chính
|