|
Phần này đi vào chi
tiết của liên hệ chi thứ 9 (Thân) và tên con khỉ. Mười hai con
giáp hay thập nhị chi đã hiện diện trong văn hoá Á Đông qua bao
ngàn năm, nhưng chưa ai xem lại vấn đề về nguồn gốc phi Trung
Hoa của các tên gọi này - nhất là nguồn gốc Việt Nam của chính
các tên này như Tý/Tử-chuột, Mão/Mẹo-mèo (phần 4), Ngọ-ngựa,
Hợi-gỏi-cúi phần 5) … Liên hệ của tên loài vật và tên các chi
khác như Thân, Dần, Thìn, Tuất … không rõ nét và cần nhiều lý
giải hơn. Điều này dễ hiểu vì theonhận xét của Morris Swadesh1,
cứ sau 1000 năm thì số vốn từ của một ngôn ngữ sẽ thay đổi
khoảng 19 %, hay sau 3000 năm (thời kỳ tên 12 con giáp xuất hiện
trên Giáp Cốt Văn, Chung Đỉnh Văn) thì số vốn từ duy trì dạng cũ
còn lại khoảng 0.86x0.86x0.86 = 0.64 hay là khoảng 64 % : nói
cách khác khoảng 5 tên trong 12 tên con giáp sẽ biến dạng nhiều
đến nỗi ta khó tìm ra tông tích nguyên thuỷ của chúng. Với lớp
bụi thời gian dày dặc, hi vọng bài viết vắn tắt này sẽ tháo gỡ
và cho thấy rõ mối dây Thân và khỉ, một lần nữa xác định nguồn
gốc Việt Nam của tên 12 con giáp.
1. Giới thiệu tổng
quát
Thân
là từ Hán Việt (HV), viết bằng bộ điền, giọng Bắc Kinh (BK) bây
giờ là shēn (viết theo lối phiên âm/pinyin thông dụng) so với
san1 Quảng Đông (QĐ), shin1, sin1 (Hẹ). Thân có các nghĩa chỉ
năm, tuổi, tháng, giờ (từ 3 giờ chiều đến 5 giờ chiều), giải
thích, tường trình, tên ngắn của Thượng Hải, một họ Trung Hoa
(TH) … nhưng hoàn toàn không có một liên hệ đến loài khỉ.
Ca dao tục ngữ Việt
Nam có nhiều tương quan đến loài khỉ, chứng tỏ một liên hệ gắn
bó lâu đời, như ‘Dạy khỉ trèo (leo) cây, khỉ ho cò gáy, nhăn nhó
như khỉ ăn gừng, khỉ dính mắm tôm (hay nhăn nhó như khỉ dính mắm
tôm, chim kêu vượn hót (hay ve kêu vượn hót), đười ươi giữ ống,
khinh khỉ (lại) mắc độc già, khỉ lại là khỉ mèo vẫn hoàn mèo,
khỉ chê khỉ đỏ đít, vượn lìa cây có ngày vượn rũ, dở trò tườu
trò nỡm, mặt nhăn như tườu, khó tính như con nỡm, nuôi khỉ giữ
nhà, đuôi nai cái dái dọc già …’. Truyện Kiều có nhắc đến vượn
(1 lần, không thấy dùng khỉ, khọn…)
‘Ve
ngâm vượn hót nào tày’ (câu 2571)
Hay
‘Chim kêu vượn hót bốn bề nước non’ (Lục Vân Tiên)
Văn hoá TH cũng có
rất nhiều ca dao tục ngự liên hệ đến loài khỉ như ‘hầu khoái
(nhanh như khỉ), hầu tôn vương (vua khỉ, ám chỉ thầy giáo), hầu
tinh hầu tinh đích2 (người linh hoạt), sơn trung vô
lão hổ hầu tử xưng đại vương (trong núi không có hổ thì khỉ xưng
vương xưng bá, hàm nghĩa xấu), hầu niên mã nguyệt (hàm ý không
biết bao lâu), xoạ hầu nhi (làm trò khỉ như con nít), sát kê hãi
hầu (giết gà đe khỉ, hàm ý làm một chuyện để đe người khác),
tiêm chuỷ hầu tai (miệng nhọn má heo, tướng xấu), ngũ mã lục hầu
(năm ngựa sáu heo, bề bộn bê bối, lộn xộn), ý mã tâm viên - hay
tâm viên ý mã (hàm ý là tính hay thay đổi) …’. Trong tiếng Việt
hiện tại còn giữ một số thành ngữ HV cổ như do dự : do (yóu BK)
là một loài khỉ tay chân ngắn, chạy rất lẹ nhưng hay hồ nghi -
mỗi lần có tiếng người là leo lên cây ngay (theo Thiều Chửu,
‘Hán Việt Tự Điển’). Dự (yù BK) cũng là một loài vật rất hồ nghi
cho nên tạo thành cụm từ HV do dự. Những cụm từ HV khác cùng
nghĩa là do nghi, di do và hồ nghi (hồ là cáo – đa nghi như
cáo).
Cả hai nền văn hoá
TH và VN đều mang nặng hình ảnh con khỉ, khác với trường hợp thỏ
và mèo (xem thêm phần 4 “Mão/Mẹo-mèo). Vì thế, để truy lùng
nguồn gốc chính xác của Thân, một mặt ta phải xem những cách
dùng khác nhau chỉ con khỉ trong hai ngôn ngữ và so sánh với các
ngôn ngữ láng giềng – và mặt khác ta hãy xem cách viết và khắc
cổ (qua tiếng TH) để phát hiện cũng như kiểm chứng những tương
quan trên.
2. Phụ âm đầu th-
2.1 Phụ âm đầu th-
của Thân tương ứng3 với âm sh- của giọng BK như các
thí dụ sau
Tiếng TH (giọng BK)
Tiếng HV Giọng Quảng
Đông
Shén thần (thần
thánh) san4
Shèn thận (thận
trọng) san6
Shĕn
thẩm (thẩm định) sam2
Shēn Thân (chi
Thân) san1
Shēng sinh/sanh (sinh
đẻ) sang1
Shàn thiện
(làm) sin6
Shàng thượng
(cao) seung6
Shāo thiêu
(đốt) siu1
Shí thập
(mười) sap6
Shì thích (thích
hợp) sik1
Shī
thi/thơ si1
Shōu thu/thâu (thu
nhận) sau1
Shŏu thủ
(tay) sau2
Shù thụ
(cây) syu6
Shuĭ thuỷ
(nước) seui2
Shùn thuận (thuận
lợi) seun6
…
… …
Liên hệ
sh-th
trên còn phù hợp với liên hệ
s-t
khi so sánh giọng BK và tiếng HV như
Tiếng TH (giọng BK)
Tiếng HV Giọng Quảng
Đông
Sài tái (cửa
ải) choi3, sak1
Sāi tai (má, quai
hàm) soi1
Sān tam (số
ba) saam3, saam2
Sàn tán (tan
ra) saan2, saan3
Sāng tang (đám
ma) song1, song3
Sú tục (phong
tục)
juk6
Sù túc (nghiêm
túc) suk1
Sòng tống (tiễn
đưa) sung3
Suàn toán (tính
toán)
syun3
Suī tuy (tuy
vậy) seui1
…
… …
Các phụ âm s- và
sh- của tiếng TH bây giờ, đi ngược dòng thời gian, âm Hán Trung
Cổ vẫn còn giữ âm xát – nhưng khuynh hướng tổng quát của tiếng
HV là chuyển các phụ âm xát s/sh của TH thành phụ âm tắc cùng vị
trí phát âm (đầu lưỡi) t/th như bảng so sánh trên. Khuynh hướng
này còn hiện diện khi ta xem cách phát âm của các phương ngữ
vùng ven biển ở Bắc phần như Thái Bình, Nam Định, Nam Hà … hay
những vùng lân cận như Thanh Hoá phản ánh qua tiếng Mường4
như thuống/xuống, thốt/dột, thìn/gìn..; Cùng với đảo Hải Nam
phản ánh qua tiếng Lê. Thật là một sự tương đồng với lịch sử
phát triển của nước Việt Nam, khoảng thời Đường khi mà biên giới
vẫn còn trong khu vực trên, khi tiếng Hán Việt nhập vào tiếng`
Việt một cách có hệ thống (như qua liên hệ s/sh-t/th trên); Và
sau đó với nền độc lập của dân Việt (từ năm 939, Ngô Quyền lập
nước Đại Cồ Việt) và tiến trình bành trướng lãnh thổ mà chữ Nôm
cũng bắt đầu có cơ sở vững chắc để phát triển. Tóm lại, liên hệ
shēn (BK) và Thân HV cho thấy âm này đã nhập vào tiếng Việt,
theo khuynh hướng chung s/sh-t/th, khoảng thời Đường Tống về
sau. Điều này phù hợp với các tên HV khác của 12 con giáp, cũng
nhập vào tiếng Việt trong thời kỳ văn hoá TH cực thịnh này.
2.2 Thật ra, khi đi
ngược dòng thời gian tới đời tiền Hán, ta sẽ thấy Thân đọc khác
hơn nhiều. Vết tích của cách đọc rất cổ này còn thấy khi ta xem
cách đọc của các chữ Hán đã dùng chữ Thân làm thành phần hài
thanh (HT). Chữ Thân thường được dùng làm thành phần HT như thần
(tiên) HV, viết bằng bộ kỳ hợp với thân; thân (duỗi ra) viết
bằng bộ nhân hợp với chữ Thân HT; thân (thắt lưng) HV viết bằng
bộ mịch hợp với chữ Thân HT …v.v… Nhưng khi hợp với bộ thổ thì
lại đọc là
khôn
– là một quẻ trong bát quái đã có rất lâu đời. Khôn5
HV hay kūn BK trong bát quái chỉ đất, ruộng, bùn … và hợp với
thổ thì chỉ lặp lại nghĩa - chỉ có cách giải thích là thành phần
HT (chỉ âm đọc) mới có lý hơn. Như vậy ta có thể thấy một liên
hệ giữa Thân và khôn : nhưng khôn hay
khọn
còn có nghĩa là con khỉ trong tiếng Việt Cổ6. Theo
Huỳnh Tịnh Của thì con khọn là con khỉ, làm tuồng mặt con khọn
là làm mặt khỉ, làm con khọn là làm chẳng nên sự gì6
– nghĩa này cũng có trong “Tự điển Việt-Hoa-Pháp” của Gustave
Hue (1937).
Ta còn có thể nhận
ra liên hệ giữa khôn và khỉ khi xem cách dùng chữ Nôm khôn : chỉ
có chữ Nôm khôn trong các từ HV khôn, khốn, khổn mới có nghĩa
tốt và tích cực là lanh lợi qua các tục ngữ như ‘ khôn ăn người,
dại người ăn’, ‘khôn ba năm, dại một giờ’… Để ý chữ Nôm khôn
viết bằng chữ khôn (quẻ) và thần HV viết bằng bộ ký/thị hợp với
chữ khôn còn có nghĩa là khôn (tài trí hơn người). Theo người
viết, tính từ khôn có nguồn gốc là danh từ chỉ con khỉ, loài vật
khôn lanh và gần loài người nhất. Cách dùng này còn thấy trong
phạm trù nghĩa của tiếng Hán hầu (hóu BK) : con khỉ, lanh lẹ
(khôn, ít thấy dùng). Tóm lại ta có thể khôi phục một dạng âm
rất cổ của Thân là
*khân/khiôn
hay khọn, hay chính xác hơn là kh-sh theo tiến trình : *khiôn >
*shiēn (BK) > Thân (HV). Nói cách khác, tiếng Hán đã mượn từ
tiếng Việt Cổ âm *khôn hay khọn (con khỉ), sau biến âm thành
shēn (BK) và nhập ngược vào tiếng Việt qua dạng Thân. Ta đã đưa
ra các tương quan sh-th rất rõ nét như trên, còn tương quan
kh-sh có thể nhận ra được khi so sánh tiếng Mường7 và
tiếng Việt
Tiếng Mường
khunh khao khào
không khổng…
Tiếng Việt
sún (răng) sao (tinh HV) sào
sông sống…
(đọc s- theo giọng
Nam, giống như sh-)
Khi đi ngược dòng
thời gian đến thời Đường Tống, âm Hán Trung Cổ của Thân cũng
khác gì mấy so với shēn BK bây giờ : vẫn còn giữ thanh bình,
Pulleyblank8 phục hồi âm cổ của shēn là *c.in so với
dạng *syin của Baxter8. Tuy nhiên, dạng phục hồi âm
Hán Thượng Cổ (thời tiền Hán trở về trước) theo Baxter là
*hljin,
không mấy khác dạng
*khrin
của tác giả Li Fang Kuei, William G. Boltz9 và gần
với dạng tiếng Saek Cổ - xem bảng so sánh các tên 12 con giáp
phần 2; Tiếng Saek mới lại dùng tiếng vok5 gần với dạng vok
tiếng Mường hơn. Điều quan trọng với các dạng trên là phụ âm đầu
đều có vị trí cuối lưỡi (gốc lưỡi k và thanh hầu h) so với phụ
âm đầu lưỡi sh- và th- , tương tự như nhận xét ở trên. Vài dữ
kiện sau chứng tỏ thêm là shēn BK đã từng đọc là *khon/*khan;
Chữ thân HV hay shēn BK viết bằng bộ mục hợp với chữ Thân HT :
chữ này rất ít thấy10 có nghĩa là cấp tốc, mau chóng
… tương đương với khẩn HV (viết bằng bộ mịch, như cách dùng khẩn
cấp, jĭn BK). Các tiếng TH cùng nghĩa khẩn cấp là jí BK (cấp
kỳ), pò BK (bách, cấp bách), cù BK (xúc), qiè (thiết, như cấp
thiết) … mà dạng shēn không còn thông dụng nữa ! Ngoài ra, thân
viết bằng bộ mộc hợp với chữ Thân HT có nghĩa là cây đã chết
(theo Từ Nguyên là ‘thụ mộc tự tử’) mà tiếng Việt ta dùng là cây
héo, cây khô hay khản11. Khản mực (mực khô), khản
thuốc … đã từng hiện diện thời Alexandre de Rhodes (tự điển
Việt-Bồ-La 1651 có ghi). Tóm lại, ta có cơ sở để thành lập dạng
Thượng Cổ *khian/*khian của shēn BK hay Thân HV.
2.3 Như vậy liên hệ
th-kh (Hán Việt-Việt) còn để vết tích khác ngoài Thân-khôn/khọn
không ? Nếu ta chỉ có thể tìm ra nhiều trường hợp tương tự thì
dĩ nhiên là sức thuyết phục của liên hệ th-kh phải tăng thêm
nữa. Hãy xem vài trường hợp sau :
2.3.1
Toản
hay toàn HV : viết bằng bộ kim hợp với chữ toản/toàn HT,
zuān/zuàn BK. Tiếng Việt là
khoan,
dùi … Chữ toản/toàn HT lại được viết bằng hai chữ tiên/tiến ở
trên hợp với chữ bối ở dưới – hai chữ tiên/tiến ở trên đọc là
thân (shēn). Liên hệ khoan-toản so với zuān-shēn cho thấy phụ âm
đầu lưỡi tương ứng với phụ âm cuối lưỡi kh-
2.3.2
Toả
HV nghĩa là đóng kín lại, xiềng … giọng BK bây giờ là suŏ viết
bằng bộ kim hợp với chữ toả HT mà tiếng Việt là
khoá.
2.3.3
Khâu
là một biến âm của
thiêu
HV. Thiêu viết bằng bộ thủ hợp với chữ triệu HT, giọng BK bây
giờ là tiāo, có nhiều nghĩa với nhiều biến âm đặc biệt như
thiêu-thêu (thêu thùa), thiếu là
khiêu
(khích) hay gợi, khêu, khều, khèo, quều, quấy, quậy, khuấy …với
âm điệu (khiêng, điệu đi) cho ra đèo, đìu …Với âm thao cho ra
tháo (gỡ)12 …
Với bao nhiêu dạng
khác nhau của tiāo BK trong tiếng Việt, ta không thể không nghĩ
rằng có lẽ nguồn gốc của tiāo BK là từ phương Nam chăng ?
2.3.4
Thím
tiếng Việt có âm tương ứng là
kiểm
tiếng Tiều (Triều Châu, cháozhōu) - giọng BK bây giờ là shĕn
(thẩm), so với giọng Quảng Đông là sam2 (mà ta thường nghe là
xẩm, bà xẩm). Nếu đề nghị của Paul Benedict13 chính
xác thì tiếng Hán đã từng mượn các tên gọi họ hàng như chú, thím
… thời tiền Hán. Điều này có thể giải thích phần nào các dạng
của kiểm (coi kỹ, xét – jiăn BK) viết bằng bộ mộc và thẩm (coi
kỹ, xét – shĕn) viết bằng bộ miên : liên hệ k-sh là một liên hệ
rất cổ, đã hiện diện khi chữ Hán bắt đầu có hệ thống quy củ từ
đời Tần trở về sau. Điều này cũng giải thích liên hệ khôn-Thân.
Không những thế,
tương quan thân-cận/gần, thù-cừu (địch), kỳ/thị (bộ thủ 113,
thần đất)...v.v… cho thấy liên hệ k-sh từ thời kỳ ban sơ khi chữ
viết TH bắt đầu chững chạc. Điều này cũng cho thấy khuynh hướng
xa dần các từ phương Nam trong vốn từ TH hiện nay như đã viết.
Tuy nhiên, đây không phải là chủ đề phần này - cốt cho thấy mối
dây liên hệ của hai âm khôn và Thân đã có từ thời Thượng Cổ - do
đó rất khó nhận ra được !
2.3.5
Kiểm
là gò má (nghĩa cổ) viết bằng bộ nhục hợp với chữ
thiêm
HT cũng cho thấy liên hệ k-th , bây giờ thường dùng chỉ mặt mày,
giọng BK bây giờ là jiăn, liăn (kiểm, liệm). Các từ khác thường
thấy hơn là miàn BK (diện, miến), yán BK (nhan)…
2.3.6
Khuông
HV viết bằng bộ hệ hợp với chữ vương nghĩa là sửa lại, chữa, giỏ
tre … có thể viết bằng bộ trúc hợp với chữ khuông HT chỉ giỏ
tre. Tiếng Việt còn có các dạng
thùng, thúng
để chỉ cái giỏ liên hệ đến khuông qua biến âm kh-th. Khuông HV
đọc là kuāng BK bây giờ, so với hong1 QĐ, kiong1, siong1 Hẹ - để
ý dạng siong1 Hẹ, có thể đã trở thành *shiong1 và trở thành
thúng, thùng tiếng Việt.
3. Nguyên âm â của
Thân
Nguyên âm â tương
ứng với nguyên âm ē của shēn, xem bảng so sánh sau
Tiếng TH (giọng BK)
Tiếng HV Giọng Quảng Đông
Chén trần
(bụi) chan4
Chèn sấm (lời tiên
tri) cham3
Fēn phân
(chia) fan1
Fĕn phấn
(bột) fan2
Gèn cấn (quẻ
cấn) gan3
Hén ngấn
(vết) han4
Kĕn
khẩn (thành khẩn) han2
Zhĕn chẩn (khám
bệnh) chan2
Zhèn chấn
(rung) jan3
Shĕn thẩm (xét
kỹ) sam2
Shēn Thân (chi
Thân) san1
Shén thần
(tiên) san4
Shèn thận (cẩn
thận) san6
…
… …
Vào thời kỳ Đường
Tống, shēn BK đọc cũng khá giống như bây giờ, với nguyên âm gần
với i hơn là e – theo Pulleyblank hay Baxter (sđd). Người viết
không hoàn toàn đồng ý với dạng phục hồi trên vì âm â (của Thân
HV) cho thấy có thể là –ia hay –iơ (gần nguyên âm sau hơn) dựa
trên các giọng Quảng Đông, Hẹ … nên dạng Hán Cổ của Thân là
*khân/khôn, nếu nhấn mạnh phụ âm đầu thì ta có dạng
*khiân/khiôn.
4. Phụ âm cuối –n
Phụ âm cuối n vẫn
còn duy trì trong các dạng vay mượn như shēn, Thân và từ dạng
nguyên thuỷ *khọn. Điều này phù hợp với các cặp từ chàn BK-
chiên HV (rung động), dàn BK – đản HV (sinh ra), diàn BK - điện
HV, fèn BK - phấn (khởi) HV, jiàn BK - tiễn HV (mũi tên), lín BK
– lân (kỳ lân) HV, mín BK – dân (nhân dân) HV, pín BK - tần (tần
số) HV, săn BK - tản HV (rời rạc), tàn BK – thán HV (than,
cacbon), yín BK – ngân (bạc) HV … Điều này còn cho thấy thời kỳ
các tên (HV) 12 con giáp nhập vào tiếng Việt gần đây, vì vẫn duy
trì nhiều đặc tính phát âm từ tiếng Hán (Trung Cổ).
5. Thanh điệu
Thanh bình (thanh
ngang) của Thân tương ứng với thanh bình của giọng BK như sau
Tiếng TH (giọng
BK) Tiếng HV Giọng Quảng Đông
Bā Ba (tên
nước) ba1
Chē
xa/xe che1, geui1
Dāo
đao/dao dou1
Dōng đông
(hướng) dung1
Fēng phong
(gió) fung1
Hēng hanh (thuận lợi)
hang1
Huā hoa
(bông) fa1
Jīng
kinh (thủ đô)
ging1
Tān tham (tham
lam) taam1
Sān tam (số
ba) saam1
Xī tây
(hướng) sai1
…
… …
6. Các nhận xét
tổng quát và kết luận cho phần 6
6.1 Tiếng TH giọng
BK bây giờ có hóu chỉ con khỉ, hay là hầu HV14 so với
giọng QĐ là hau4, Hẹ là heu3… viết bằng bộ khuyển (con chó).
Tiếng Đại Hàn won- chỉ con khỉ, có thể gốc là yuán BK (viên HV,
con vượn).
6.2 Người xưa thường tránh gọi tên khỉ để
tránh xui xẻo (giống như kiểu kỵ huý) nên có những tiếng nói
khéo như sơn công (ông ở trên núi, con khỉ), con nỡm, con bú dù
với ý mắng mỏ
6.3 Tườu là con khỉ
- có thể liên hệ đến nao/nươu (biến âm n-đ-t, phụ âm đầu lưỡi).
Nao HV hay náo BK là tiếng Hán Cổ cũng có nghĩa là khỉ viết bằng
bộ khuyển rất ít gặp.
6.4 Voọc là một
tiếng mà người viết chưa từng dùng – nhưng đã hiện diện từ lâu
trong tiếng Mường7 như woc khà (khỉ già), woc pé (vọp
bẻ, chuột rút), woc tôc (khỉ độc) …
Cách nói ‘khỉ mốc’
có lẽ cho ta thấy vết tích của vóc là mốc với biến âm v-m, như
vũ-múa, vụ-mùa, vũ-múa, vọng-mong... Trong vốn từ TH hiện nay
còn một chữ rất ít gặp là quặc/quắc HV viết bằng bộ khuyển hợp
với chữ quặc HT (loài khỉ sống ở khu vực phía tây TH) hay bộ trĩ
hợp với chữ quặc HT (con vượn) : giọng BK bây giờ là jué hay yuè
so với gwok3 (gần với âm voc nhất), fok3. Cách dùng khỉ mốc cho
thấy một dạng khác của vóc (vok, con khỉ) qua biến âm m-v : một
số điệp ngữ theo thói quen chỉ là sự kết hợp của các từ cũ mới
cùng một nghĩa như heo cúi, hỏi han, giá cả, khỉ đột, khỉ
mốc..Theo người viết, đây là tàn tích của tiếng phương Nam trong
ngôn ngữ TH mà càng ngày càng hiếm dần – cũng như tên 12 con
giáp vậy (xem thêm các phần 1, 2, 3 cho thấy khuynh hướng tổng
quát này). Tiếng Việt còn dùng vóc để chỉ hình dạng, như ‘vóc
ngọc mình vàng’, ‘ăn vóc học hay’… mà trong văn chương ta thấy
thân HV được dùng nhiều hơn ! Quá trình đẩy lùi các tiếng Việt
Cổ như vọc, vóc và thay vào đấy bằng những chữ Hán (Việt) như
thân-vóc, tứ-tư-bốn … là kết quả của giao lưu văn hoá tự nhiên
và lâu dài theo dòng ‘lịch sử’.
6.5 Đười ươi là
tiếng dùng để chỉ loài khỉ lớn – có thể liên hệ đến một chữ Hán10
ít gặp là lì BK lei6 QĐ viết bằng bộ khuyển hợp với chữ lợi HT,
tần số dùng là 77 trên 430747376. Lợi hay lời có thể đọc như đời
và cho ra dạng đười (ươi). Tinh HV hay tinh tinh (xīng BK) cũng
chỉ loài khỉ lớn, như hắc tinh tinh vậy.
6.6 Các dạng khác
để chỉ con khỉ10 trong tiếng Hán Cổ rất ít gặp như yù
(ngu HV viết bằng bộ nhựu) là tượng hình theo Thuyết Văn; duy
viết bằng bộ trùng hợp với chữ chuy nghĩa là khỉ đuôi dài,
wèi/wĕi/yòu BK wai2, wai6 QĐ… có thể liên hệ đến vok – là kết
quả của một số âm cổ đã tách ra làm hai dạng môi và thanh hầu
(mã-ngựa : mă-wŭ, quạ-ô…) trước đây hơn hai ngàn năm ! Đây là
những vấn đề cần được khảo cứu sâu thêm và không nằm trong phạm
vi các bài viết này.
6.7 Độc HV, dù BK
viết bằng bộ khuyển hợp với chữ thục HT, nghĩa là con khỉ (lớn),
một mình (độc thân), già mà không con … Không thấy dùng nghĩa
con khỉ trong tiếng TH nữa. Tàn tích còn trong tiếng Việt qua
cách dùng ‘khỉ đột’.
6.8 Xem các cách
khắc cổ trên giáp cốt văn và chung đỉnh văn, ta có thể thấy hai
nguồn gốc khác nhau của chữ thân : (a) có hình hai luồng khí
(điện) từ trên và dưới chạm nhau ở giữa (b) hình hai bàn tay bám
vào một thân cây hay dây – theo người viết thì có thể gợi ý cho
ta là hình con khỉ đang trèo (cây) hay không ? Xem thêm hình
trang cuối.
Tóm tắt phần 6 về
Thân là có thể từng đọc là *khôn, *khon (vì là thành phần HT của
chữ khôn, một quẻ trong bát quái cổ đại), hay gần như vậy qua
các liên hệ thân-khẩn, thân-khan (các liên hệ chỉ còn vết tích
trong tiếng Hán Cổ) – thêm vào đó là phạm trù ngữ nghĩa của Thân
và vóc, voc (con khỉ, tiếng Mường) cho ta có cơ sở giải thích
Thân chính là khọn, tiếng Việt Cổ.
7. Phụ chú và phê
bình thêm
1. Morris Swadesh
(1909-1967) là nhà ngôn ngữ học người Mỹ. Ông đề nghị phương
pháp xác định thời gian tách rời (length of separation) của hai
ngôn ngữ cùng một nguồn, bằng cách tìm ra bao nhiêu chữ đã thay
đổi khi so sánh số vốn từ căn bản. Đây cũng là nền tảng của một
ngành ngôn ngữ học mới gọi là Glottochronology (môn học xác định
tuổi của ngôn ngữ). Chính phương pháp này đã đưa ngôn ngữ học,
một ngành theo truyền thống khoa học nhân văn, trở nên một ngành
ngôn ngữ định lượng (quantitative linguistics) và đem môn này
đến gần các ngành khoa học chính xác khác.
Từ lúc lý thuyết
của Morris Swadesh ra đời đã có những khảo cứu từ những ngôn ngữ
khác nhau trên thế giới cho thấy kết quả tương đối khả quan. Tuy
nhiên cũng có nhiều tranh luận về các tiền đề cơ bản của lý
thuyết này : như tốc độ thay đổi không phải là một hằng số. Đây
là tiền đề cốt lõi để cho ta có thể tính ra thời gian, tương tự
như phương pháp tính tuổi bằng cách dùng carbon-14. Các nhận xét
khác là ảnh hưởng của văn chương viết vào tiếng nói và biến cố
lịch sử, xã hội (chiến tranh xâm lăng, cách mạng…) ngoài khả
năng tiên đoán của lý thuyết trên và đương nhiên làm cho ngôn
ngữ thay đổi ít nhiều. – hay tốc độ thay đổi của ngôn ngữ không
luôn luôn đều đặn. Thành ra có học giả không tin mấy vào phương
pháp tính ‘tuổi ngôn ngữ’ như vậy, cũng như cho rằng mỗi chữ đều
có ‘đời sống riêng’ của chúng ! Những năm gần đây cho thấy các
phương pháp toán xác suất được dùng để tăng phần chính xác, như
công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ Gray và Atkinson
(2003) cho thấy tiếng tiền Ấn-Âu (proto Indo-European) hiện diện
khoảng 7000 năm TCN (Trước Công Nguyên).
2. theo cuốn “Ngữ
Lâm Thú Thoại” tác giả Triệu Bá Bình và Thời Học Tường (NXB Tứ
Thư - Tứ Xuyên 2002) - bản dịch tiếng Việt - hiệu đính Nguyễn
Ngọc San – NXB Văn Hoá Thông Tin (2005) Hà Nội.
3. có những trường
hợp ngoại lệ như chữ
sư
viết bằng bộ cân nghĩa là thầy giáo, giọng BK bây giờ là shī so
với si1 QĐ, su1, se1 Hẹ hay sai1 Minnan (Đài Loan). Dạng
thầy
cho thấy liên hệ
sh-th có hệ thống, so với dạng sư có thể nhập tiếng Việt vào rất
sớm (phạm trù nghĩa của sư liên quan đến người đi tu theo đạo
Phật, mà vẫn còn gọi là thầy).
Số viết bằng bộ
phọc, giọng BK bây giờ là shù … Có những quy luật âm thanh nào
chi phối lúc s trở thành t- hay vẫn giữ nguyên dạng s- ? điều
này cần khảo cứu thêm cho rõ.
4. tương quan
s/sh-t/th của giọng BK và tiếng HV cho ta thêm một cái móc thời
gian xác định khi tiếng Hán nhập vào tiếngViệt (thời Đường Tống)
– và các phương ngữ Thái Bình, Nam Định vẫn còn tàn tích biến âm
này (sao sáng sạch sẽ phát âm là thao sáng thạch thẽ…). Sau đó
vài thế kỷ thì dân ta định cư khá vững vàng ở vùng Quảng Nam,
Quảng Ngãi …nơi mà các phương ngữ còn giữ liên hệ a-ô (như
Nam-Nôm, làm-lồm…) cũng cho ta thêm một cái mốc xác định thời
gian hình thành chữ Nôm.
Tiếng Mường thuổng
là xuống, thảng là rắn (đọc như zắn, giọng Bắc), thảo là ráo
(đọc như záo giọng Bắc) … cho thấy các phụ âm xát chuyển ra tắc.
Tiếng Hải Nam (Lê) có các âm toa là san (núi), ta (tam HV), tap3
(thập HV) … cũng cho thấy khuynh hướng đổi âm xát ra âm tắc như
trên. Xem thêm “Nghiên Cứu về chữ Nôm”, Lê Văn Quán, NXB Khoa
Học Xã Hội – Hà Nội (1981). Đây không phải là chủ đề của phần
này nhưng đáng được lưu ý và khảo cứu sâu xa hơn. Để ý tiếng
Chàm, tiếng Acheh (ở bắc đảo Batak, Inđônêsia) và tiếng Mã Lai
theo thứ tự này : tha/sa/satu (số một),
thalipan/si-kunơng/sembilan (chín), tha-pluh/si-ploh/sepuluh
(mười) … Biến âm s/z (xát) ra t (tắc) không chỉ xẩy ra cho khu
Đông Nam Á, nhưng cũng cho họ Ấn Âu khi so sánh tiếng Đức và
tiếng Anh essen/eat (ăn), hassen/hate (ghét), mussen/must
(phải), Strasse/street (con đường), sie/they (họ, chúng nó),
Zinn/tin (thiết) … cho thấy sự hoán chuyển hai âm cùng vị trí
phát âm (đầu lưỡi) khá phổ thông. Biến âm s-t trong ngôn ngữ Hy
Lạp cũng giải thích một nghi vấn từ hồi nhỏ lúc người viết học
tiếng Pháp, Anh - tại sao các danh từ analysis (phân tích),
synthesis (tổng hợp), psychosis (chứng loạn thần kinh) … khi đổi
ra tính từ lại có các dạng analytic, synthetic, psychotic … hay
gloss (lời dẫn) lại có dạng glot- trong các từ glottis (thanh
môn) – vì giọng Ionic (một phương ngữ Hy Lạp) là glossa (tiếng
nói) mang dạng glotta trong giọng Attic …v.v…
5. thời Xuân Thu
Chiến Quốc gọi đất là khối lớn, khối và khôn có thể dùng thay
cho nhau – theo Vương Ngọc Đức, Diêu Vĩ Quân, Trịnh Vĩnh Tường
trong cuốn “Bí ẩn của bát quái” - bản dịch tiếng Việt của Trần
Đình Hiến – Văn Hiến (1997).
6. theo “Từ Điển từ
Việt Cổ” của Nguyễn Ngọc San và Đinh Văn Thiện – NXB Văn Hoá
Thông Tin – Hà Nội (2001). Nghĩa này cũng được nhắc lại trong
“Đại Nam Quốc Âm Tự Vị” của Huỳnh Tịnh Của (1895).
7. dựa vào “Từ điển
Mường-Việt” Nguyễn Văn Khang chủ biên –Bùi Chỉ, Hoàng Văn Hành –
NXB Văn Hoá Dân Tộc – Hà Nội (2002).
8. dựa vào các cuốn
“Lexicon of reconstructed pronunciation in early Middle Chinese,
late Middle Chinese, and early Mandarin” (1991 – NXB University
of British Columbia) của Edwin G. Pulleyblank và “A Handbook of
Old Chinese Phonology” (1992 – NXB Mouton de Gruyter) của
William H. Baxter.
9. dựa vào bài viết
“Some Old Chinese loan words in the Tai languages’ của tác giả
Li Fang Kuei đăng trong bộ ‘Harvard Journal of Asiatic Studies’
*:333-342; Cũng như bài viết “The old Chinese Terrestrial Rames
in Saek” của William Boltz đăng trong cuốn “Studies in the
Historical Phonology of Asian Languages” (1991 – NXB Benjamin).
10. tần số dùng của
chữ này là 12 trên 237243358 theo tài liệu trên mạng
chinalanguage.com/cgi-bin/view.php?query … Theo Từ Nguyên
(Beijing, 2004), thân (bộ mục hợp với chữ Thân) là ‘tật tốc’ hay
mau chóng, nhanh nhẹn. Tiếng Việt còn có dạng tức tốc - đổi
thanh nặng của âm tật thành thanh sắc tất/tức để tương ứng với
tốc trong quá trình thành lập chữ kép này.
11. các tiếng HV
hạn (hạn hán) hay hàn BK, gān BK, khản, khan (khàn), cạn … có
thể là những dạng từ một gốc chung *kan.
12. tác giả Lê Ngọc
Trụ phân tích khá rõ ràng trong cuốn “Tầm Nguyên Tự điển Việt
Nam” – NXB Thành Phố HCM – 1993. Các cách phát âm
điệu-thao-thiêu được ghi rõ ràng trong Khang Hy Tự Điển hay Từ
Nguyên như thao = thổ + đao (thiết) …v.v…
13. theo tác giả
Paul Benedict trong cuốn “Austro-Thai Language and Culture” - từ
các bài viết năm 1967 được bổ túc nhiều dữ kiện ngôn ngữ để in
thành sách năm 1975. Ta nhận thấy các từ thẩm, kiểm đã nhập vào
tiếng Việt có hệ thống (dựa nhiều trên quy luật âm thanh thời
Đường Tống) so với thím hay kiểm (tiếng Tiều) đã có từ lâu. Còn
xẩm, bà xẩm phản ánh âm gần đây của giọng Quảng Đông, cho thấy
nhập vào tiếng Việt chỉ vài trăm năm sau này mà thôi. So sánh
cách dùng bài ‘xập xám’ (thập tam HV) tức là bài 13 lá, âm ‘xập
xám’ gần với âm Quảng Đông và nhập vào (qua đường khẩu ngữ) gần
đây mà thôi.
14 hầu HV viết bằng
bộ khuyển hợp với chữ hầu HT (tước thứ hai trong năm tước) – có
nhiều chữ (đọc là hầu) được thành lập bằng chữ hầu HT như vậy :
(a) bộ thực hợp với chữ hầu HT là cơm khô, lương thực khô - để ý
khô là nghĩa và âm chính (b) bộ khẩu hợp với chữ hầu HT là cuống
họng với ý chính là cổ ….Nhưng rõ ràng nhất là khi bộ kỳ/thị hợp
với chữ hầu HT là cầu (xin, chữ hiếm) và câu HV (rất hiếm gặp)
viết bằng bộ mịch hợp với chữ hầu HT là loại nút thắt hình kiếm
… Liên hệ giữa hầu và *khâu/khơi- khỉ khôi-khôn có thể đã hiện
diện khi các dân tộc cổ (Bách Việt, Hán …) vẫn còn sống gần
nhau, đây là một tương quan rất xưa cần được khảo sát thêm.


Trở về Trang Chính
|