|
Các
bài viết trước (phần 1, 2, 3) cho tóm tắt các liên hệ của tên 12
con giáp đến tên gọi các con vật trong tiếng Việt - sự tương
đồng này rất dễ nhận ra từ Mão/Mẹo/mèo, Ngọ/ngựa cho đến những
tiếng Việt Cổ hơn như Dần-kễnh, Thân-khôn/khọn … mà ta phải dựa
trên cách thành lập chữ Hán để tìm ra. Từ bài này (phần 4 trở
đi) sẽ đi vào chi tiết từng tên mỗi chi một, hi vọng sẽ cởi bỏ
các lớp bụi thời gian và không gian sau bao ngàn năm để chứng tỏ
rằng 12 tên con giáp rất gần với tiếng Việt chúng ta, nếu không
là chủ nhân các tên con giáp. Người viết sẽ tránh dùng thuật ngữ
để người đọc dễ cảm nhận các bài viết này hơn, thanh điệu của
một chữ được ghi bằng số và đứng sau chữ đó, khác với cách ghi
thanh điệu tiếng Việt hay phiên âm (pinyin) giọng Bắc Kinh.
1. Giới thiệu tổng
quát
Mười hai con giáp
cho thấy khuynh hướng xa lìa dần thiên nhiên của con người : từ
12 con thú tiêu biểu khi xưa cho đến chỉ vài con vật nuôi trong
nhà (pets) hiện tại như mèo và chó mà thôi. Có những con đã ‘mất
dạng’ ngay từ lúc 12 con giáp ra đời như rồng, và có những con
đang từ từ ít đi như trâu, cọp … Mão hay Mẹo là từ Hán Việt (HV)
chỉ chi thứ 4 trong 12 chi (thập nhị chi) - giọng Bắc Kinh (BK)
bây giờ là mǎo theo pinyin (phiên âm phổ thông) viết bằng bộ
tiết (bộ thủ thứ 26). Mão dùng để chỉ thời gian, từ 5 giờ đến 7
giờ sáng hay tháng hai, và chỉ phương đông trong không gian.
Theo thiên văn cổ Trung Hoa (TH) và ngay đến bây giờ, biểu tượng
của Mão là con thỏ so với con mèo của văn hoá Việt Nam. Một cách
giải thích sự khác biệt này là sự cố tình đổi chữ và âm
của người TH thời tiền Hán như đã nói trong phần 2 đã được đăng
(phần nguồn gốc oan trái của tên 12 con giáp, lưu trữ vào tháng
6, 8 năm 2006 trên khoahoc.net). Ngoài ra, mèo rất gần với đời
sống dân ta qua những thành ngữ hay ca dao tục ngữ như ‘ăn như
mèo ngửi’, ‘mèo già hoá cáo’, ‘khỉ vẫn là khỉ, mèo vẫn hoàn
mèo’, ‘mèo cào không sẻ vách vôi’, ‘mèo mù vớ được cá rán’, ‘mèo
vật đống rơm’, ‘mèo hay ỉa bếp’, ‘mèo uống nước bể chẳng bao giờ
cạn’, ‘mèo nhỏ bắt chuột con’, ‘mèo nhỏ bắt chuột to’ hay ‘mèo
con bắt chuột cống’ - ‘mèo vật đống rơm’, ‘mèo nào cắn mỉu
nào’…và …‘con mèo mà trèo cây cau, hỏi thăm chú chuột đi đâu
vắng nhà…’
‘Con mèo con mẻo con meo
Muốn ăn thịt chuột phải leo xà nhà’
Hay
‘Mèo khen mèo dài đuôi
Chuột khen chuột nhỏ dễ chui dễ trèo’
Hay
‘Mèo lành ai nỡ cắt tai
Gái kia chồng rẫy khoe tài chi em’
Và ‘Mèo hoang lại gặp chó hoang
Anh đi ăn trộm gặp nàng bứt khoai’
‘Mèo lành ở mả bao giờ
Của yêu ai có bày ra ở ngoài’
Và ‘Mèo tha miếng thịt xôn xao
Kễnh tha con lợn thì nào thấy chi’
Các câu này được người viết nhắc đi nhắc
lại nhiều lần
trong các bài viết vì trong đó có hình
ảnh 3 con vật cũng
là biểu tượng cho 3 chi thuộc 12 con
giáp, ngoài ra các câu
này rất sâu sắc cho
thấy tim đen con người (trích từ cuốn
‘Tục Ngữ Phong Dao’ tác giả Ôn Như
Nguyễn Văn Ngọc
và ‘Từ điển thành
ngữ ca dao’ Viện Ngôn Ngữ Học 1994)
Mèo được nuôi ở
khắp nơi trong nước, và cũng có nhiều loại mèo hoang. Ở nông
thôn, người ta thường chôn mèo chết dưới gốc cây khế chua, cho
rằng như vậy sẽ làm cho khế ngọt. Từ mèo được dùng một lần trong
truyện Kiều
‘Ra tuồng mèo mả gà đồng’ (câu
1731)
Cách dùng ‘mèo’ để
chỉ người tình, cũng như ‘mèo mỡ’, ‘mèo thấy mỡ’… không thấy
dùng trong ngôn ngữ TH, cho thấy sự rất gần gũi của loài mèo với
con người Việt Nam. So với cách dùng mèo trong văn hoá TH, ta
thấy trong vốn từ bây giờ có chữ miêu HV, māo/máo BK - giọng
Quảng Đông là miu4, mau4, mau1, giọng Hẹ là miu2, miu5 … viết
bằng bộ trỉ (loài bó sát không có chân, bộ thủ thứ 153) hợp với
chữ miêu (mầm mống) hài thanh (HT) hay bộ khuyển hợp với chữ
miêu HT. Tương phản với văn hoá Việt, miêu ít thấy dùng trong
các thành ngữ hay ca dao tục ngữ TH - chỉ vài ba câu như
‘Miêu thử đồng miên’
(mèo chuột ngủ chung, ý nói sự a dua làm
chuyện xấu)
‘Miêu khốc lão thử giả từ bi’
(mèo khóc khi chuột chết, ý nói sự đạo
đức giả)
Các thành ngữ ca
dao dính líu đến mèo thường mang tính cách tiêu cực trong cả hai
nền văn hoá VN hay TH, như một điển tích đời Đường cho thấy
‘Lý Miêu tên là Lý Nghĩa Phú, tính nham
hiểm mà
ngoài mặt vẫn giữ vẽ hiền lành nên người
đương thời
gọi là Lý Miêu’ (Tầm Nguyên Tự Điển, Bửu
Kế)
Nếu hình ảnh con
mèo rất hiếm thấy trong văn hoá TH thì ngược lại, chúng ta
thường gặp hình ảnh con thỏ hơn - một loài vật hình dạng giống
như mèo như hai tai rất lớn, khối lượng (mass) cũng gần nhau … –
chúng ta sẽ trở lại vấn đề này khi phân tách chữ viết/khắc cổ
của chữ mèo và thỏ vì chữ viết (Hán Cổ, như Giáp Cốt Văn, Chung
Đỉnh Văn) thường tượng hình. Lông thỏ thường dài hơn lông mèo và
dùng làm bút để viết chữ Hán. Loài thỏ chịu được nhiệt độ cao
nhất khoảng 32oC so với loài mèo chịu được tối đa 52oC,
phản ánh loài vật sống ở miền lạnh cùng với dân du mục1
ở phương Bắc so với loài vật sống ở phương Nam ấm hơn với khuynh
hướng sống về nông nghiệp.
Thỏ hay thố HV viết
bằng bộ nhân cho thấy sự quan trọng của chữ này trong ngôn ngữ
TH, giọng BK bây giờ là tù so với giọng QĐ tou3, Hẹ là tu5, Ngô
là thu5 … Xem lại các truyền thuyết trong văn hoá dân gian ta
thấy bóng đen2 trên mặt trăng ‘giống hình’ chú cuội
ngồi gốc cây đa… khác hẳn với truyền thuyết TH về con thỏ trên
mặt trăng nên mặt trăng3 còn được gọi là ngọc thố,
thỏ bạc, thỏ ngọc, bóng thỏ (bóng trăng), thỏ phách, bạch thố
(con thỏ trắng giã thuốc, ý chỉ mặt trăng) … hay thành ngữ ‘thỏ
giỡn trăng’, ‘thỏ thoát’ (thoát đi như thỏ) … cũng như một số
thành ngữ cổ điển HV như
‘Thỏ tử cẩu phanh’
(hễ thỏ chết thì đến lượt chó bị làm
thịt, hết dùng được thì ăn đi)
‘Thổ tử hồ bi’
(thỏ chết thì ngay cả cáo/chồn cũng buồn
thương)
‘Thỏ dinh tam quật’
(thỏ khôn có ba hang, có nhiều cách tính
và lối thoát)
Cũng như
‘Giảo thố tam quật’
(thỏ khôn có ba hang, khôn có nhiều lối
thoát)
‘Thỏ khởi phù cử’
(nhanh như thỏ và vịt trời khi khởi
động)
‘Thỏ khởi ban cưu lạc’
(nhanh như thỏ chạy hay chim ban cưu
đáp)
‘Thỏ ti yến mạch’
(chỉ có hư danh thôi, ‘có tiếng mà không
có miếng’)
‘Thỏ tử bất ngật oa biên thảo’
(thỏ không ăn cỏ ở gần ổ, ý nói kẻ gian
không lương lẹo với hàng xóm)
‘Thổ tử vi ba trường bất liễu’
(đuôi thỏ không dài ra được, ý nói một
sự kiện rõ ràng ‘như ban ngày’)
‘Thủ chu đãi thố’
(khư khư chờ thỏ đến, như ‘há miệng chờ
sung rụng’ việc khó đến)
Thật ra, thỏ đã
hiện diện ngay trong Kinh Thi4 qua tựa một thiên là
Thố Thủ (đầu thỏ),
‘Hữu thố tư thủ,
bào chi táo chi’
(có đầu thỏ để quay để nướng, ý nói vật
nhỏ cũng có công dụng …)
Các thí dụ trên cho
thấy hai nền văn hoá VN và TH phát triển rất khác nhau qua hình
ảnh mèo và thỏ. Ngay trong tiếng nói hàng ngày, tiếng Việt chỉ
dùng nhóm từ sứt môi (hare lip, cleft lip) so với tiếng TH là
tùchún (giọng BK hay thố thần HV, môi thỏ ý nói sứt môi giống
loài thỏ)5 và chúnliè (thần liệt, môi sứt) … Tuy rất
xa lạ với tộc Việt, ảnh hưởng về sau của thỏ còn thấy trong
truyện Kiều, chữ thỏ được dùng hai lần so với mèo chỉ được một
lần mà thôi
‘Ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm
gương’ (câu 1370)
‘Lần lần thỏ bạc ác vàng’
(câu 1269)
2. Các liên hệ hay
lẫn lộn giữa mèo và thỏ
2.1 Như đã viết ở
bài 2 phần ‘Nguồn gốc oan trái của tên 12 con giáp’, mãn (Việt
Cổ) là mèo chỉ hiện diện trong tiếng Việt mà các dạng biến âm
khác có thể là miễn, mãn, wan mà tàn tích rất hiếm trong tiếng
TH như miễn (thỏ con), man (mèo hoang). Biến âm từ oan (hay môi
hoá thành man) ra mãn hay miễn có thể giải thích được, nhưng từ
chữ miễn trở thành thố như trong cách viết cổ thời Xuân Thu thì
khó giải thích hơn – có thể các giọng địa phương bị ‘thanh lọc’
bởi nhóm nắm quyền hành thời đó, hay vì cố tình thay đổi. Trường
hợp này vẫn thấy trong tiếng Việt qua cách gọi chợ Đông Ba
(trước là Đông Hoa) hay cầu Bông (trước là cầu Hoa) vì kỵ huý bà
Hồ Thị Hoa - mẹ vua Thiệu Trị - giọng địa phương trong trường
hợp này là Thừa Thiên. Tương quan Mão-Thố còn có thể liên hệ đến
cách dùng tương đương của mạo-thù (oán), mão-thủ (đều nghĩa là
đầu), mạo-thụ/thọ (sống già)… Điều này còn thấy trong một cách
đọc qŭ
(thủ/thỏ HV)6 rất khác với âm
miáo
(mão, miêu HV) của thành phần HT của chữ miêu (mèo).
2.2 Ngoài ra, một
chữ hiếm thấy là nâu/nậu6, viết bằng bộ thanh hợp với
chữ thố, giọng BK bây giờ là nóu, nau4 QĐ, neu2 Hẹ cũng như một
giọng đọc Hẹ nữa là
wan5
– theo người viết chính là một dạng của âm mãn phương Nam
(mèo). Chữ này có nghĩa là một tên cũ của thỏ. Xem cách
viết/khắc cổ của chữ thố và miễn, ta thấy rất giống nhau (hai lỗ
tai rất rõ nét) trừ một dấu phẩy ở bên phải chỉ đuôi con thỏ.
Các chữ hiếm khác
như lưu, liễu HV (líu, lĭu BK) viết bằng bộ thử (chuột) hợp với
chữ mão HT hay lưu HT đều có nghĩa là một loài thú có kích thước
như con thỏ - điều này cho thấy cách phân loại xưa kia rất mơ hồ
và rất dễ lẫn lộn. Thành ra mèo và thỏ rất dễ thay đổi cho nhau
mà ít ai có thể nhận ra được !
2.3 Ta hãy xem vài
tiếng vẫn còn dùng trong vốn từ TH hiện nay :
thố tôn
HV (tùsūn BK hay sá-lị tôn shēlìsūn BK) là một loại mèo hoang
hay mèo
rừng dù rằng dùng chữ thố/thỏ. Loài mèo này có lông dày làm áo
lạnh rất tốt (theo Từ Nguyên).
Dã miêu
HV hay yĕmāo BK có nghĩa là
thỏ
rừng hay mèo rừng!
2.4 Ngay cả nhà bác
học Lê Quý Đôn (1726-1784) đều diễn giải chi thứ tư Mão bằng con
thỏ, so với tự điển Việt-Bồ-La (1651) của giám mục Alexandre de
Rhodes – ghi nhận giờ Mẹo (mèo) bằng con mèo trước ‘Vân Đài Loại
Ngữ’ hơn cả trăm năm ! Điều này cho thấy tình trạng hỗn loạn của
văn chương ‘bác học’ lệ thuộc vào tiếng TH hay HV (nâng cấp mèo
thành ra thỏ), tương phản với văn chương bình dân vẫn khư khư
giữ nguyên dạng cũ (mèo). Nhờ các sự sai biệt này mà ta có cơ
hội để truy nguyên các chữ.
2.5 Trong khi tra
cứu thêm về dữ kiện khảo cổ để viết bài này, người viết có dịp
đọc qua một bản tin từ Tân Hoa (Xinhua News Agency, ngày 22
tháng Tám, 2006) trên mạng7 về các xương thú tìm thấy
sau khi bị chôn sống cách đây khoảng 1700 năm. Các xương thú vật
tìm thấy gồm có
mèo,
chó, heo, dê, trâu và trừu… Đây là lần thứ hai xương các con mèo
được tìm thấy trong những mộ cổ khai quật bên Trung Hoa. Những
khám phá về khảo cổ ở TH và Việt Nam rất quan trọng để kiểm
nghiệm lại nguồn gốc chính xác của 12 con giáp, hỗ trợ cho kết
quả từ ngôn ngữ học - tại sao không có xương thỏ ? Mèo là loài
động vật ăn thịt (carnivore) và săn đuổi chuột, mà lại không ăn
hại thóc lúa nên rất thích hợp cho xã hội nông nghiệp – khác với
loài thỏ. Năm 2004, xương mèo và người đã được tìm thấy ở Cyprus
(xem thêm
http://en.wikipedia
) và tuổi ngôi mộ cổ này ước lượng cách đây khoảng 9500 năm cho
thấy thời kỳ thuần hoá mèo xẩy ra khá lâu.
Tóm lại, mèo và thỏ rất dễ bị lẫn lộn mà tàn
tích còn thấy trong các cách dùng trên. Có tác giả cho rằng nước
Việt xưa không có thỏ, nên đổi thỏ qua mèo - người viết không
đồng ý vì không phù hợp với các dữ kiện ngôn ngữ trên và sự thay
đổi chữ miễn/mãn thành chữ thố. Các điều này cho thấy nguyên
thuỷ chi thứ tư có thể là Mão/Mẹo/mèo và bị đổi thành thỏ, cũng
phù hợp với ảnh hưởng văn hoá Cổ Đại của phương Nam (lên phương
Bắc TH) trước khi TH thống nhất, thời kỳ Tần Hán và sau đó văn
học Đường Tống khởi sắc và chiều ảnh hưởng lại từ phương Bắc lan
ra khắp nơi.
3. Phụ âm đầu m-
của Mão/Mẹo/mèo
Chữ Mão thường được
dùng làm thành phần HT để tạo ra các chữ Hán khác như sao Mão
(bộ nhật hợp với chữ Mão), sông Mão (bộ thuỷ hợp với chữ Mão),
như liễu (cây liễu, bộ mộc hợp với Mão), mậu (mua bán, bộ bối
hợp với chữ Mão) - mậu HV còn là mù, loà - để ý các âm đầu m và
l … Nhưng cũng có khi đọc khác hơn như chữ lưu (ở lại, bộ điền
hợp với chữ Mão), kiếu/giáo (hầm hố, bộ huyệt hợp với chữ Mão,
có thể đọc là liêu/lưu) … Các dạng trên cùng với các phương ngữ
TH như BK, QĐ, Hẹ, Ngô (Thượng Hải) và Hán Việt… cung cấp cho ta
một số dữ kiện để có thể phục hồi một dạng âm Thượng Cổ của Mão
là *mru? Phù hợp với dạng phục hồi của William Baxter trong cuốn
‘A Handbook of Old Chinese Phonology’ (1992), để ý phụ âm l có
thể hoán chuyển với r , nhưng theo Bernhard Karlgren thì hơi
khác với dạng *mlôg trong cuốn ‘Grammata serica recensa’ (1957).
Có những tác giả khác đề nghị dạng lm- thay vì ml- như Andrew
Miller chẳng hạn (1951) dựa vào các cách viết và phát âm tiếng
Hán Thượng Cổ …v.v… Dù dạng gì đi nữa, ta dễ nhận ra tàn tích
của âm liu- và lau- như đã ghi lại trong phần 2.2 ở trên, cũng
như âm miêu của HV. Nhìn rộng ra các tiếng phương Nam chỉ con
mèo như mèu (Kơho), maau (Thái), maau (Lào), chmaa (Kampuchia),
maau (QĐ), māo BK … so với tiếng mèo kêu là miu, meo (Việt),
miāo BK, miu (Thái) … cho thấy một tương quan khá rõ nét giữa
tiếng mèo kêu và tiếng chỉ con mèo8, và đương nhiên
là tiếng gọi chi thứ tư Mão/Mẹo/mèo. Vậy mà tài liệu TH từ thời
tác giả Vương Sung (27-97, trong ‘Thiên Sinh luận’ cuốn “Luận
Hành’ thời Hán) cho đến tận ngày hôm nay vẫn cho rằng thỏ là con
vật biểu thị cho chi Mão/Mẹo/mèo !
Phụ âm đầu m có thể
là tàn tích của nhóm phụ âm ml- mà ta thấy trong tự điển
Việt-Bồ-La như mlầm mlở là lầm lở, mlạt là lạt, mlẽ là lẽ…với âm
đầu (tiền tố) m mất đi. Mlầm còn bị ngạc hoá (palatalisation) để
cho ra nhầm, mlạt > nhạt, mlẽ > nhẽ, mlớn > lớn và nhớn …
Alexandre de Rhodes cũng nhận ra điều này khi ông ghi mnhầm,
mnhẽ là lầm, lẽ. Khuynh hướng ml- ngạc hoá cho ra nh- giải thích
được sự hiện diện của chữ nheo : mi > *nhi > nheo , lông mi
chính là lông nheo. Người viết nhớ lại trong thập niên 1960, khi
ảnh hưởng người Mỹ bắt đầu gia tăng ở miền Nam, trong khẩu ngữ
từng dùng âm Mẽo để chỉ Mỹ/Mĩ cho thấy biến âm i-eo còn có thể
xẩy ra gần đây hơn
4. Nguyên âm a và e
của Mão/Mẹo/mèo
Mẹo và mèo là âm cổ
hơn của Mão, các nguyên âm chính ở trước (front vowels) như e
thường là dạng âm
cổ hơn của các nguyên âm sau (back vowels) như a. Thí dụ :
Xa (Hán
Việt) xe (Việt) Giao
HV keo V
Hoá Huế
Giao kèo
Trà
chè Giáo
kéo
Hoạ
vẽ
Giáp kép, kẹp
Ma mè (vừng)
Tham ken, chen
Khoa khoe
Giảm kém
Báo beo
Giả kẻ
Xảo khéo
Trản chén
Trạo chèo
Trảm chém
…v.v…
Để ý một số nguyên
âm e BK bây giờ đã từng có âm cổ a, hay nguyên âm a BK bây giờ
có các dạng âm cổ hơn là o, ô và u – và cũng tuỳ các phụ âm đứng
trước cùng thanh điệu chứ không thống nhất như chuỗi biến âm
mèo-Mẹo-Mão9. Một điểm đáng chú ý là từ mẹo còn có
nghĩa là phương thức (mưu mẹo) khi viết chữ Nôm thì mượn trực
tiếp chữ Mão HV. Mưu HV viết bằng bộ ngôn hợp với chữ mỗ HT,
giọng BK móu so với mau4 QĐ, meu2, meu3, miu2, miau3 Hẹ và âm
mẹo
cũng là âm cổ của
mưu
HV vẫn hiện diện trong tiếng Việt. Điều này phù hợp với khuynh
hướng tương đồng của nguyên âm sau so với các nguyên âm trước (o/u
~ e)
cũng như
a ~ e đã
nói phần trên. Ngoài ra yêu10 HV viết bằng bộ nhục
hợp với chữ yêu HT, yāo BK là giọng bây giờ so với jiu1 QĐ,
jau1, jeu1, rau1 Hẹ, io1 (Ngô), iau1 (Minnan/Đài Loan) mà eo là
một dạng âm cổ hơn được duy trì trong tiếng Việt.
5. Thanh điệu và
kết luận phần 4
Nguồn gốc thanh
điệu tiếng Việt vẫn gây nhiều tranh luận9, tuy nhiên
liên hệ mèo-Mẹo và Mão cho thấy những thanh điệu còn lại qua một
thời gian giao lưu văn hoá rất lâu. Vài nhận xét sơ khởi là
mả-mồ-mộ
so với
mô, mu, mồng, mộng
và giọng BK bây giờ mù, mú (viết bằng bộ thổ hợp với chữ mô HT)
mou6 QĐ, mu5, mu6 Hẹ, mo6 (Ngô) và bong7 (Minnan/Đài Loan - để ý
dạng bong7 tương ứng với bùng, bồng, bung, bổng…). Các thanh
huyền, nặng và ngang đều thuộc thanh (âm) vực trầm (trọc), nhưng
thanh hỏi mả cho thấy sự khác biệt do thời gian trong tiếng Việt
lâu hơn nên có nhiều biến dạng hơn. So sánh các thanh điệu sau
đây
Mẹo HV Mão
HV đợi đãi
hoạ vẽ
lợi/lời lãi
ngựa
mã dị dễ
cựu
cũ dụ dỗ, rũ
mạo
mũ từ chữ
sợ
hãi tu sửa,
chữa …v.v…
Thâm
HV hay shēn, shèn BK, sam1 QĐ, chim1, cim1, cihm1 Hẹ, chhim1
(Minnan/Đài Loan), sơng1 (Ngô/Thượng Hải) có các dạng khác nhau
như sâm, xâm (xâm xẩm),
thẳm
(thăm thẳm),
đậm, thầm
(tối tăm)11…
cho thấy tương quan thanh điệu như mả-mồ-mộ-mô trên, cũng như
một liên hệ có từ rất lâu - trước thời Đường Tống khi các biến
âm sh-th, s-t xẩy ra một cách hệ thống hơn và khi hệ thống âm
thanh Hán Việt bắt đầu hoàn chỉnh hơn. Liên hệ mèo-Mẹo-Mão và
meo cũng phù hợp với những biến đổi thanh điệu như trên : các
thanh huyền (mèo), nặng (Mẹo), ngang (meo) và ngã (Mão) đều
thuộc thanh vực trầm.
Một hiện tượng nên
được ghi nhận nơi đây là sự rút ngắn âm cuối12
(apocope). Tác giả Lê Hữu Mục trong cuốn ‘Truyện Kiều và tuổi
trẻ’ (Toronto, Canada 1998) có nhận xét về ‘…luật n/i rất nổi
tiếng và tôi học được từ thầy tôi..’ (trang 93), được trích ra
như sau
chui
chun ngườt viết
bể biển
lụi
lụn xin thêm vào chả
chẳng
mai khôi mân
khôi tí
tiểu
bí
bôn
mèo-mãn
mơ mộng
mì
miến tử/tý-tím vua
vương
tươi
tiên mào-mồng đã/đá đánh
tỏi
toản vô-vong tệ
tiền
…v.v…
vu-võng mạ mắng
Hiện tượng rút gọn
âm cuối cũng xẩy ra trong tiếng TH hiện nay như wú-wáng BK
(vô-võng HV), nán-ná BK (nam HV), màn-mù-mò BK (mành), xìng-sōu
(tân HV, đỏ) … hay khi mượn từ tiếng TH vào tiếng Nhật như hōng
(hồng) thành ko-, wăng thành mo- ..
Một số tác giả cho
rằng khi rút gọn âm cuối thì tạo ra thanh điệu, điển hình và đầu
tiên hết là nhận xét của học giả André Haudricourt trong các bài
viết từ năm 1954, sau đó Edwin Pulleyblank bổ túc thêm về nguồn
gốc thanh điệu qua các dữ kiện về tiếng Hán Cổ. Thí dụ như vào
đầu công nguyên, tiếng Việt không có thanh điệu và quá trính các
biến âm ghi lại trong bảng sau
Đầu
công nguyên Thế kỷ VI Thế kỷ XII
Ngày nay
(không
thanh) (ba thanh) (sáu thanh)
sla,
hla hla
la la
la la
là là
las,
lah là
lã lã
pax,
pa? pá
pá bá
bax,
ba? pá
pạ bạ
…v.v…
Tóm lại, liên hệ
của Mão-Mẹo-mèo có thể giải thích qua các dạng âm cổ phục hồi
như trên, từ âm tiết đến thanh điệu. Để giải thích sự thay đổi
từ mèo qua thỏ/thố, ta cần có liên hệ của mãn-mèo qua hiện tượng
rút gọn âm và vết tích từ các văn tự cổ : chữ thố và miễn (hay
mãn HV wăn BK) viết cùng một chữ trên bia khắc thời Hán và nhà
thờ Vũ Lương thời Đông Hán13. Thành ra ta có cơ sở để
cho rằng Mão-Mẹo đã từng là mèo, nhưng có sự thay đổi chữ viết,
có thể vì cách dùng địa phương (nên triều đại đương quyền muốn
chỉnh đốn lại) hay là cố tình bôi xoá nguồn gốc ‘Nam man’ của
chi thứ tư chăng ? Hay có thể là đổi loài vật cho hợp với gốc du
mục của nhóm cầm quyền ? Nhớ rằng chỉ có tộc Việt14
mới dùng con mèo cho chi thứ tư mà thôi, các ngôn ngữ khác bị
ảnh hưởng văn hoá TH đều dùng thỏ (xem bảng so sánh – bài viết
phần 2).
6. Phụ chú và tài
liệu tham khảo chính
(1) Bằng cách khôi phục lại
môi trường sinh sống của 12 loài vật khi đi ngược dòng thời
gian, ta có thể tìm ra được phần nào địa lý (vùng không gian) mà
chủ nhân của 12 con giáp đã từng cư ngụ - do đó tăng mức chính
xác về nguồn gốc tên 12 con giáp từ lăng kính thời gian và không
gian. Đây là một trong những vấn đề còn mở ngõ. Một thí dụ gần
đây hơn là loại thỏ sống trên núi bên Mỹ, gọi là
pika,
vì khí hậu thay đổi và nhiệt độ tăng dần làm cho chúng phải lên
miền cao hơn để sống và có hiểm hoạ diệt chủng !
(2) Các bóng đen
trên mặt trăng thật ra là các thung lũng do chất lỏng nóng
(lava) từ các núi lửa xưa chảy xuống. Vì có nhiều chất sắc
(iron) nên trở thành màu đen nếu quan sát bằng mắt trần hay viễn
vọng kính (telescope) từ trái đất. Các bóng đen này gọi là
maria (tiếng La Tinh nghĩa là biển) vì các nhà thiên văn xưa
kia tưởng chúng là những hố lớn chứa nước … Chính các nhà khoa
học từng lầm nữa huống chi những người bình thường dùng mắt
trần. Các hình ảnh trên mặt trăng không rõ ràng như trên đã tạo
ra không biết bao nhiêu huyền thoại tìm thấy qua bao nhiêu nền
văn hoá con người.
(3) Hằng Nga hay
Thường Nga, vợ Hậu Nghệ, lấy trộm thuốc trường sinh của Tây
Vương Mẫu và bay lên cung trăng ở và sống mãi không chết (chuyện
Thường Nga bôn nguyệt). Tương truyền Hằng Nga là cô gái rất đẹp.
(4) Kinh Thi là một
trong Ngũ Kinh nổi tiếng của TH gồm có 305 bài thơ, có bài viết
từ 1000 TCN (Trước Công Nguyên) – tương truyền Khổng Tử (551-479
TCN) có đóng góp trong việc soạn lại Kinh Thi.
(5) Hiện tượng
(bệnh) sứt môi ít thấy trong các loài chó, và rất là hiếm thấy
trong các loài mèo. Năm 2004, một loại gen đặc biêt đã được tìm
thấy làm tăng gấp 3 lần khả năng bệnh này. Thổ dân Mỹ và người Á
Châu bị nhiều nhất so với dân Mỹ gốc Phi.
(6) xem thêm
http://www.chinalanguage.com/cgi-bin/dict.php
(7) xem thêm
http://www.china.org.cn/english/features/Archaeology
(8) phải cẩn thận
khi so sánh những tiếng nói khi có thể chúng là tiếng tượng
thanh (nhái lại tiếng động của đối tượng, sound symbolism) - rất
có thể chúng không có liên hệ họ hàng (họ ngôn ngữ, language
family) và các tính chất giống nhau là do sự nhái lại của cùng
một âm thanh (cùng nguồn) mà thôi, hay sự trùng hợp có tính cách
ngẫu nhiên (accidental). Đây là mục đích của các khảo cứu về
nguồn gốc ngôn ngữ con người rất lí thú nhưng không nằm trong
phạm trù các bài viết này. Để ý tiếng mèo kêu (thường lắp láy)
là miaau (tiếng Afrikaans), mjau (Albani), miaou (Ả Rập), mijau
(Croatia), miauw (Hà Lan), miaou (Pháp), miau (Đức), miau
(Hungari), miyau (Do Thái), mya:u (tiếng Ấn Độ/Hindi), miao
(Ý/Itali), meow (Thái), miyauv (Thổ Nhĩ Kỳ), miau (Ba Lan), mjau
(Thuỵ Điển), myau (Nga) … so với nyaa (Nhật), ngeong
(Inđônêsia), (n)ya-ong (Đại Hàn), ngoeo (Việt) …v.v… Nhưng khi
xét các từ chỉ động vật như voi, chuồn chuồn, bướm, ong, mèo,
cóc, vịt …cũng như tên 12 con giáp thì còn các vết tích trên
trong vốn từ TH hiện nay, dù rằng rất hiếm và đã biến dạng nhiều
từ âm thanh đến phạm trù nghĩa. Điều này cho thấy một kết quả
của một ‘nước TH rời rạc’ đã từng tiếp xúc với các dân tộc
phương Nam thời Thượng Cổ, trước khi TH thống nhất và ngôn ngữ
phản ánh dân tộc cầm quyền phương Bắc mà hệ thống âm thanh rất
khác so với phương Nam.
(9) xem thêm các
tác giả William Baxter (sđd), Bernhard Karlgren (sđd) và Edwin
G. Pulleyblank qua cuốn ‘Lexicon of reconstructed pronunciation
in early Middle Chinese, late Middle Chinese and early Mandarin’
(1991), ‘Middle Chinese : a study in historical phonology’
(Vancouver, Canada 1984). Tác giả Nguyễn Tài Cẩn qua cuốn ‘Một
số vấn đề về chữ Nôm’ (Hà Nội, 1985) và ‘Lịch sử ngữ âm tiếng
Việt’ (Hà Nội, 1995) cũng phân tách các khuynh hướng biến âm
trên như Lê Văn Quán qua cuốn ‘Nghiên cứu về chữ Nôm’ (Hà Nội,
1981)
(10) yêu HV có phạm
trù nghĩa không rõ ràng : có thể là cái lưng, thận hay thường
dùng hơn là cái eo. Các từ chỉ bộ phận con người như bàng (bả
vai, cánh tay trên, bong bóng..), đỗ (bụng, dạ dày..), cổ (bắp
vế, hông..) có nghĩa không chính xác vì quá rộng hay mơ hồ, và
trải qua một thời gian rất lâu - tương ứng với hiện tượng đặt
tên các loài thú như mèo-thỏ, rồng (không có định nghĩa rõ
ràng), rắn (trăn, lươn ?) … Khuynh hướng phương Tây đi vào chi
tiết các tên gọi như trong tiếng Anh, thỏ là rabbit, hare, pika,
cottontail, bunny (hay bunny rabbit), coney (hay cony), buck
(thỏ đực), doe (thỏ cái); Mèo tiếng Anh là cat, tom (mèo đực,
hay tomcat), queen (mèo cái), một đàn mèo gọi là clowder …v.v…
so sánh với hai chữ thỏ/thố và mèo trong vốn từ tiếng Việt. Các
loài vật được phân loại theo họ, chi … theo hệ thống rõ ràng như
sau (rất tóm tắt)
Phân
loại Thỏ Mèo
Kingdom
Animalia Animalia
Phylum
Chordata Chordata
Class
Mammalia Mammalia
Order
Lagomorpha Carnivora
Family
Leporidae Felidae
…..
…. ….
Các chi được chia
thành những chi động vật phụ (genus) như mèo (nhà) thuộc
chi Felis, và nhánh phụ (species) là F. Silvestris …v.v…
Những cách phân loại rõ ràng và dữ kiện về giải phẫu (anatomy),
quá trình tiến hoá (evolution) làm cho ta dễ phân biệt hơn.
(11)
thâm
HV có thể liên hệ đến
đêm, đen
…là các tiếng
thường gặp trong ngôn ngữ họ Nam Á (Austroasiatic) hay nhánh
Môn-Khme. Tại sao như vậy ? Ta hãy nhìn từ
đen
của tiếng Mường là têm hay zơm (phụ âm t- và z- đầu, liên hệ đến
t/đ- và sh-), bêtăm (tiếng Môn), tam/yong (Kơtu), đăm (Thái),
đơm (Li), hitam (Mã Lai, Chăm) … so với từ
đêm
của tiếng Mường là lêm, têm và mlăm, pđăm (Chăm), rêm, mlăm
(Thái), đăm (Nùng), đêm (Aslian), têm/tăm/đum, htêm, btêm (Môn)
… cho thấy có thể các dạng trên đều cùng một gốc (phương Nam) mà
ra. Trong vốn từ tiếng TH hiện nay có chữ đàm HV ít dùng với
giọng BK bây giờ là tán, tam4 QĐ, tam2 Hẹ so với tham5 Ngô viết
bằng bộ á nghĩa là sâu đậm. Đàm HV viết bằng bộ thuỷ hợp với chữ
đàm HT nghĩa là cái đầm (sâu), đàm HV viết bằng bộ mã hợp với
chữ đàm HT nghĩa là con ngựa đen... cho thấy tàn tích của *đam
(đậm, đen) của phương Nam trong tiếng TH.
(12) hiện tượng
rút ngắn âm cuối thường xẩy ra trong họ Ấn-Âu như trong tiếng
Anh chữ morning trở thành morn, photograph trở thành photo, tên
riêng Alexander trở thành Alex, Thomas thành Tom … Cinéma (tiếng
Pháp) trở thành xi nê … Không những là một cách tạo ‘chữ’ mới,
khuynh hướng rút gọn trên cũng là luật ngữ pháp căn bản cho một
số ngôn ngữ như tiếng Tây Ban Nha : thí dụ như uno (một)
nhưng khi viết thành un mundo (một thế giới) thì âm cuối
–o của uno mất đi…v.v…
(13) chữ thố/thỏ và miễn viết giống nhau thời
Xuân Thu theo các tác giả Triệu Bá Bình và Thời Học Tường, chủ
biên cuốn “Lâm Ngữ Thú Thoại” - bản dịch ra tiếng Việt – NXB Văn
Hoá Thông Tin – Hà Nội (2005)…’ âm đọc của thố và miễn rất gần
nhau, do đó người xưa đã dùng âm đọc của miễn để biểu thị chữ
oan…’ (trang 489)
(14) theo từ điển
‘Việt-Mông’ tác giả Thào Seo Sình, Phan Xuân Thành và Phan Thanh
– NXB Giáo Dục – Hà Nội (1999) : chi thứ tư Mão đọc là mir (mèo)
hay luôr (thỏ). Dân tộc Hmông (hay
Mông, Mèo, Miêu)
có những đặc tính giống tộc Việt như truyền thống con rồng cháu
tiên, rất thích âm nhạc (nhảy múa), dùng trống đồng trong âm
nhạc cổ truyền, cũng thuộc về bộ lạc Si Vưu …v.v… Người viết
chưa đọc được một văn bản hay dữ kiện khảo cổ nào liên hệ tên 12
con giáp đến văn hoá cổ đại của dân tộc Mông, cũng như dân tộc
Lê (ở đảo Hải Nam, thuộc nhóm Bách Việt) vẫn còn tập tục xăm
mình và gọi tên ngày theo tên 12 con giáp. Đây là những vấn đề
cần phải khảo cứu thêm để soi sáng rõ nguồn gốc tên 12 con giáp
thời Thượng Cổ.
Trở về Trang Chính
|