ĐỒ GỐM TRUNG HOA ( đoạn 3)

 


 

Nguyễn Đăng Khải và Quản Thị Thái

08 tháng 11 năm 2007

LTS: Đồ Gốm Trung Hoa là một công trình biên sọan qua nhiều khảo cứu tìm tòi công phu của hai tác giả Nguyễn Đăng Khải và Quản Thị Thái. Hai vị giáo chức địa chất với cùng một đam mê: nghiên cứu về đồ gốm sứ Trung Hoa qua các thời đại và triều đại. Họ đã miệt mài gần suốt cuộc đời của mình cưu mang nuôi dưỡng đứa con tinh thần nầy. Đây là một quyển sách giá trị về ngành đồ gốm. Khoahoc.net vừa được nhị vị tác giả gửi gấm bản thảo của sách Đồ Gốm Trung Hoa nầy và chúng tôi xin hân hạnh cống hiến độc gỉa xa gần những bài trích đăng để chia sẻ và phổ biến tác phẩm nầy cùng lời chào mừng đến thành quả của hai vị. Sách hiện đang được duyệt lại ở phần Anh ngữ trước khi thực hiện việc in ấn.  

* * *

                                                            

GHI CHÚ: Trừ những bức ảnh ghi rõ nguồn gốc trích dẫn, còn lại là những hiện vật thuộc bộ sưu tập của bản thân tác gỉa. Ảnh và hình vẽ lẫn trình bầy trang bìa đều do tác gỉa cùng cộng sự thực hiện.

Mọi dịch thuật, sao chép, tái bản, trích xuất ảnh và bản vẽ, kể cả phôtôcopy nếu không được sự đồng ý của tác gỉa đều bị coi là vi phạm luật bản quyền.

 

CHƯƠNG V

NHÀ HÁN - ( 207 T.CN - 220 S.CN )

Sau khi Tần Thuỷ Hoàng ốm chết, con trai là Doanh Hợi lên nối ngôi lấy đế hiệu là Tần Nhị Thế . Nhưng thực chất triều đình nhà Tần bị viên cận thần Lý Tư và thái giám Triệu Cao thao túng gây bao sự bất mãn trong triều thần lẫn dân chúng . Vì thế khi Lưu Bang chém rắn khởi nghĩa thì nhà Tần sớm đi đến chỗ diệt vong . Chỉ sau vài năm , sau khi tiêu diệt được nhà Tần , Lưu Bang lên ngôi Hoàng Ðế lấy niên hiệu là Hán Cao Tổ , mở đầu cho một nhà Hán hùng mạnh với một lịch sử kéo dài hơn 400 năm , bao gồm hai giai đọan chính :

Tây Hán : 207 TCN - 24 SCN .

Ðông Hán : năm 24 _ 220 .

Ðến thời kỳ Hán , nguyên liệu đồng trở nên khan hiếm . Ðồ đồng trở thành đồ vật quí gía và xa xỉ phục vụ riêng cho triều đình , các tầng lớp qúi tộc, quan lại và phú hộ giàu có . Vì thế , để đáp ứng nhu cầu thiết yếu về vật dụng thường ngày của các tầng lớp dưới , thợ thủ công chuyển sang quan tâm sản xuất nhiều đồ gốm - sành .

+ Giai Ðọan Tây Hán : Gốm hầu hết có cốt thai pha tạp lẫn nhiều cát , có tráng một lớp men màu lục hay không màu hoặc men trắng, loại men giấy mỏng . Men rất mỏng,bắt không đều , chảy nhễu hoặc vón cục , dễ tróc vảy hay từng mảng ( ảnh 13 và 14). Men thường dễ rạn. Cốt thai chưa đạt mức sành.

Trong giai đoạn này, gốm Hán tiếp tục kế thừa gốm Tần với những từ khí đất nung (Terra-Cotta) vẽ màu (ảnh 15 và 16) có cốt thai xám hoặc là những đồ đất nung không màu , đa phần là những món đồ có kích thứơc nhỏ bé .

Ảnh 13 : Bình gốm men áo kiềm . Tây Hán .H : 24 cm. Có 6 quai đều quay dọc . Men lục nhạt phớt xám bắt không đều, chảy thành dòng hay vón cục . Ðộ bắt men kém , tróc mảng lớn .Men rạn mau và nhỏ kiểu rạn trứng cá và chân rết . Cốt xám nâu , dạng đất nung .

Ảnh 14 : Bát men trắng . Tây Hán .H : 4 ; D : 10,6cm .Cốt thai thô, màu nâu vàng , pha tạp nhiều cát, rõ độ hạt . Men rất mỏng rạn trứng cá nhỏ , tróc gần hết men . Men trắng ố vàng .Chỉ bôi men trong lòng bát .

Ảnh 15 : Bình gốm có nắp (hũ),cốt xám vẽ màu tinh xảo.Tây Hán sớm . H : 53,3 cm. Cốt thai màu xám vẽ bằng hai màu trắng và đỏ . Trích dẫn : Danh mục Sotheby's New-York . 3/1996 . ảnh 138 .

 

Ảnh 16 . Hũ bốn cạnh vẽ màu . Tây Hán .Trích dẫn : Trần Tùng Hiền_idem_Tr.3

 

+ Giai Ðoạn Ðông Hán : Bước sang thời kỳ Ðông Hán , kỹ thuật gốm ngày càng nâng cao cả về chất lượng cốt thai lẫn men . Cốt thai đã được tinh lọc , mịn và trắng xám , nung cao lửa gần đạt mức sành . Ðồng thời men bắt khá đều tuy còn mỏng,dễ rạn và bong tróc,kèm theo các hoa văn đơn giản,nhưng đôi khi đi vào kỹ thuật tạo hoa văn bằng phương pháp khoét bỏ ( Sgraffito) (ảnh 17 ) có thể coi là nguyên mẫu của gốm Từ Châu Tống sau này .

Ảnh 17 : Bát men trắng . Ðông Hán .H : 6 ; D : 16 cm. Men trắng ố vàng, mỏng, rạn nhỏ trứng cá . Men bắt khá đều cả phía trong lòng lẫn thành ngoài bát . Hoa văn trang trí là các hình kỷ hà, bằng cách khoét bỏ men trắng rồi bôi một lớp ( men ) màu nâu lên phần men bị khoét bỏ,làm nổi bật các họa tiết trên nền men trắng. Cốt thai màu xám vàng, cứng đanh .

Ngòai ra , men áo kiềm đã được pha thêm màu , chủ yếu là màu lục và vàng .Và đặc biệt đã bắt đầu biết sử dụng men lót nâu bôi lên cốt thai trước khi áo lớp men vàng lên , như thấy ở chiếc âu màu vàng ( ảnh 18 ) . Trên chiếc âu này đã thấy xuất hiện các hổ phù nổi , một môtip quen thuộc trên gốm Hán ở thời kỳ Ðông Hán .

Ảnh 18 : Âu men áo màu vàng . Ðông Hán .H : 13 ; D : 13,5 cm. Men mỏng và trong rạn nhỏ, hình thành trứng cá và chân rết . Men bắt đều , màu vàng có ánh lục , có thể có gốc sắt nung trong môi trường oxy hóa . Cốt thai chưa đạt mức sành , màu nâu nhạt . Ðặc biệt dưới men áo có một lớp men lót màu nâu đen .Hoa văn trang trí đắp nổi kiểu phù điêu , thay cho quai, là 2 hổ phù cùng 2 vòng khuyên và 2 bông hoa mẫu đơn cùng lá .

Nhìn chung , đây là một loại men áo kiềm không chứa fenpat,nhưng có một lượng lớn silic và KOH (potat) . Không bao giờ có hiện tượng phát quang ngũ sắc khi bị chôn vùi .

Ở vùng Trường Sa (Hồ Nam) phát hiện được nhiều từ khí men áo kiềm,có cốt thai màu nâu nhạt _ da nai . Men màu lục phớt ánh nâu .

Ở miền Bắc Viêt Nam cũng thường gặp kiểu từ khí này .

Ngoài kiểu men trên, trong đời Ðông Hán còn xuất hiện một loại men áo chứa chì , và được sử dụng khá nhiều trong việc sản xuất gốm .

Men áo chứa chì được tạo bởi một hỗn hợp các khoáng chì với oxit silic và đá vôi .

Chì đóng vai trò của một chất trợ dung _ chất chảy đối với silicat . Khi nung trong môi trường oxy hoá và ở nhiệt độ tương đối thấp (650 -750o C) men này hoá lỏng (fluide) chảy nhễu trên món đồ thành dòng hay vón cục . Khi nguội bị thủy tinh hoá mang màu tối và đôi chỗ co lại tạo rạn nứt . Nếu thêm vào men này một lượng oxyt đồng , món đồ có màu lục ít nhiều có sắc lam tuỳ thuộc vào độ kiềm của hỗn hợp men .

Qua thời gian hút ẩm, như khi bị chôn vùi, sẽ tạo ra sự phát quang màu trắng bạc hay sắc cầu vồng hoặc ánh sà cừ (ảnh 19) .

Ảnh 19 : Hũ gốm men lục phát quang . Hán . H : 44,4cm .Vai bình đắp nổi những hình dã thú, đầy ấn tượng với các tai cách điệu đầu bò tót , có vòng .

Toàn bộ phủ men lục, hầu hết đã xuống cấp , chuyển thành phát quang màu trắng bạc sáng loáng .

Trích dẫn : Sotheby's New York . 9/1995 . ảnh 371 .

Một số học gỉa cho rằng thợ gốm Trung Hoa đã vay mượn kĩ thuật này _sử dụng men áo chứa chì _từ gốm Trung Cận Ðông . Ðiều này cần được thẩm định để làm sáng tỏ thêm .

Ðặc điểm ở hũ hay liễn thường có quai giả (các vòng tai thường dính chặt vào thân bình không sử dụng được) thường cách điệu bằng các hổ phù là một nét đặc trưng của gốm Ðông Hán .

Cũng ở thời kỳ này, đặc biệt xuất hiện một loại gốm cứng (sành) có men phủ chứa fenpat (tràng thạch ) . Chính Beurdeley nêu rõ, dưới thời Hán men này phát triến mạnh ở khu vực thung lũng sông Hoài và tỉnh Chiết Giang ,đó là các hũ có đáy bằng phẳng và chân thấp, có tai là những hổ phù . Ðể minh họa ông có giới thiệu một chiếc hũ màu lục lốm đốm nâu đen, thuộc bộ sưu tập của Bảo tàng Victoria and Albert Museum London .

Ông cho rằng loại này có thể được coi là một thỉ tổ sứ (protoporcelaine). Phần trên của hũ được bôi một lớp men phủ chứa fenpat sáng bóng, màu lục lốm đốm đen. Men được nung đồng thời với cốt thai ở 1200oC . Phần dưới , không bôi men , không trang trí hoa văn , được phủ bằng một lớp men lót (engobe) bị cháy xém .

 

UYÊN HẠNH phụ trách tuyển đọan trích đăng

Khoahoc.net

 

Đã đăng:

ĐỒ GỐM TRUNG HOA (đọan 1)

ĐỒ GỐM TRUNG HOA (đọan 2)

 

Trở về Trang Chính