LTS:
Đồ Gốm Trung Hoa là một công trình biên sọan qua nhiều khảo
cứu tìm tòi công phu của hai tác giả Nguyễn Đăng Khải và
Quản Thị Thái. Hai vị giáo chức địa chất với cùng một đam
mê: nghiên cứu về đồ gốm sứ Trung Hoa qua các thời đại và
triều đại. Họ đã miệt mài gần suốt cuộc đời của mình cưu
mang nuôi dưỡng đứa con tinh thần nầy. Đây là một quyển sách
giá trị về ngành đồ gốm. Khoahoc.net vừa được nhị vị tác giả
gửi gấm bản thảo của sách Đồ Gốm Trung Hoa nầy và chúng tôi
xin hân hạnh cống hiến độc gỉa xa gần những bài trích đăng
để chia sẻ và phổ biến tác phẩm nầy cùng lời chào mừng đến
thành quả của hai vị. Sách hiện đang được duyệt lại ở phần
Anh ngữ trước khi thực hiện việc in ấn.
* * *

GHI CHÚ:
Trừ những bức ảnh ghi rõ nguồn gốc trích dẫn, còn lại là những
hiện vật thuộc bộ sưu tập của bản thân tác gỉa. Ảnh và hình vẽ
lẫn trình bầy trang bìa đều do tác gỉa cùng cộng sự thực hiện.
Mọi dịch thuật, sao chép, tái bản, trích
xuất ảnh và bản vẽ, kể cả phôtôcopy nếu không được sự đồng ý
của tác gỉa đều bị coi là vi phạm luật bản quyền.

LỜI NÓI ÐẦU
Kể từ
những đồ đất nung có men đầu tiên vào cuối đời Thương dến các kỳ
vật tuyệt tác của đời Minh ,Thanh qua suốt hơn 3.000 năm của
chặng đường phát triển và sáng tạo nghệ thuật gốm sứ của mình
thì nền gốm sứ Trung Hoa luôn được coi là người khởi xướng , dẫn
đầu và là đỉnh cao của nghệ thuật gốm sứ thế giới .
Bởi
vậy, trước sự phát triển rất đa dạng và phong phú với một khối
lượng đồ sộ của ngàn vạn lò nung , cho ra hàng triệu triệu sản
phẩm khác nhau thì việc chỉ dựa vào một số bộ sưu tập , dù to
lớn và phong phú tới mức nào, cũng không thể xét đóan chính xác
về cả một gia sản khổng lồ của gốm sứ Trung Quốc . Có khác chi
muốn hiểu biết một cánh rừng rậm mà mới chỉ xét qua một vài
giống loài cỏ cây . Nhưng thực ra, dù rừng cây có rậm rạp đến
mấy , người ta chỉ cần nắm vững một trắc đồ rừng với những giống
loài đặc trưng , cũng có thể hiểu được kiểu hệ sinh thái của
cánh rừng đó , một khi đã gạt bỏ được các yếu tố ngoại lai của
hệ động-thực vật .
Hơn nữa
, gốm sứ là một nghệ thuật thể hiện tài năng tạo hình và chế tác
men hay sự nhạy bén về hỏa độ nung để biến hóa các nguyên liệu
vốn có sẵn trong tự nhiên . Không chỉ là một việc biến các thứ
tầm thường như bùn, như đất thành các kỳ báu vật như cổ nhân đã
từng nói “Thổ thành kim , nê tác bảo” thiên nhiên không tạo ra
được , nhưng lại rất gần gũi với thiên nhiên mà còn mang theo
cái hồn mỹ cảm của con ngừơi đối với đất đá, cỏ cây, muông thú ,
với nứơc non , rừng biển .
Một
điều kỳ thú, con ngừơi ngày càng tiến hóa, khoa học phát triển
đến bất ngờ và vô cùng. thế mà người ta không sao tái tạo đựơc
những tuyệt tác của đời xưa . Dù có xuất sắc đến mấy , các đồ
tân tạo ngày nay vẫn cứ thiếu vắng một cái gì đó rất khó cảm
nhận . Phải chăng do điều kiện , nguyên liệu nung khác trứơc hay
thực ra do thiếu mất cái hồn mỹ cảm , cái thần thái của thợ gốm
cổ đại . Dù có bằng phương pháp cân, đong, đo, đếm hiện đại của
thời điện tử ngừơi ta vẫn đành bó tay .
Chẳng
nói đâu xa , đời Thanh , một niên đại kéo dài gần 300 năm , với
nhiều bậc thày sứ gốm như Thang Ưng Tuyển , Ðường Anh thì gốm
men trắng , gốm men céladon và đặc biệt gốm men túy hồng cực kỳ
đẹp , sắc đỏ tươi nhưng vẫn mang tính chất lạnh như thủy tinh vô
cảm như sáp nến , chứ không có đựơc nét thâm trầm , sâu lắng của
gốm trắng Bạch Ðịnh , céladon Nhữ diêu , Quan diêu đời Tống hay
cái nóng ấm của dòng máu chảy ở gốm túy hồng cổ đời Tuyên Ðức
Minh .
Bởi
vậy, cuốn sách này có một tham vọng duy nhất : với sự hạn chế về
số lựơng hiện vật của bộ sưu tập cá nhân tác gỉa , tuy có dày
công sưu tầm và chọn lọc , với sự hạn hẹp về tri thức và nghèo
nàn về nguồn văn liệu lẫn vật chất , chỉ mong muốn khái quát ,
hệ thống hóa sao cho dễ đọc dễ nhập tâm , gíup cho ngừơi mới
nhập môn sưu tầm cổ vật gốm sứ , có thể sơ bộ nắm bắt và hiểu
đựơc những nét cơ bản của các hiện vật tiêu biểu của một nền gốm
sứ sáng chói nhất của Nhân loại . Ðồng thời gíup cho tránh đựơc
phần nào sự thiệt hại tiền của , công sức, trong việc theo đuổi
một đam mê đầy tính văn hoá và nghệ thuật , một thích thú đáng
trân trọng , khi muốn tự giải thóat khỏi những căng thẳng trí
não vì những điều nhỏ nhặt phiền toái hàng ngày . Ta có thể tìm
thấy một chất Thiền _ZEN trong việc chiêm ngưỡng cổ vật sứ gốm .
So với
sự đồ sộ của di sản gốm sứ Trung Hoa thì kiến thức của một cuốn
sách vô cùng nghèo nàn và hạn hẹp này, có khác chi một cọng cỏ
trước rừng cây rực rỡ đầy hoa thơm và cỏ lạ, càng không tránh
khỏi những sai lầm chủ quan . Bởi vậy, một sự góp ý và lượng thứ
cho việc kém hiểu biết, sự nông cạn , thiếu lôgic của người viết
là điều các tác giả cuốn sách này bày tỏ lòng biết ơn tới độc
gỉa và đặc biệt đối với các tác gỉa của các văn liệu được trích
dẫn hoặc tham khảo trong cuốn sách này ,
Nhân
đây, các tác gỉa cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ông ,
Bà Lê Ðình Kiều ở quận Hai Bà Trưng, Hà nội và Ông, Bà Trần Vũ
Bản hiện đang sinh sống tại Caldwell . Chicago, Illinois . Hoa
Kỳ , những người đã có tâm huyết góp nhiều ý kiến quí báu và tài
trợ để giúp cho cuốn sách này sớm ra mắt bạn đọc.
[
CHƯƠNG I
THỜI ÐẠI ÐÁ MỚI - NEOLITHIC
Trước
khoảng 4.500 năm trước Công Nguyên (TCN) , ở phần Bắc Trung Quốc
, trên châu thổ sông Hoàng Hà , trong khu vực Cam Túc hoặc Thanh
Hải , đã xuất hiện những đò vật bằng gốm đầu tiên có gía trị mỹ
học thuộc nhiều nền văn hóa khác nhau .
1 . VĂN HÓA NGƯỠNG THIỀU
Từ năm
4.200 đến 3.500 TCN . Ở vào giai đoạn nguyên thủy, văn hóa
Ngưỡng Thiều bao gồm các gốm cốt xám có hoặc không có trang trí
hoa văn , thường là những vét in thừng hay phên đan . về sau
phát triển thêm đồ gốm có cốt thai nâu đỏ có vẽ mầu các con vật
có sừng, cá , bò sát nhỏ hay các hình kỷ hà . Hình như các gốm
có hoa văn vẽ động vật (ảnh 1a,1b) thì cổ hơn các gốm có hoa văn
vẽ hình kỷ hà ( ảnh 1c ) .
Văn hoá
Ngưỡng Thiều phát triển mạnh ở vùng Hà Nam,Thiểm Tây,với các nền
văn hóa Mă Gia Diêu gồm các gốm (cốt) đỏ vẽ môtíp chủ yếu là các
hình kỷ hà (ảnh 2 và 3) hoặc văn hoá Ðại Sá Khẩu (ảnh 4) cũng
mang nét tương tự gốm Mã Gia Diêu. Ngoài ra còn có các nền văn
hoá Ðại Khê ,Khuất Gia Lãnh , hay Bán Sơn .
Những
sản phẩm gốm của văn hoá Ngưỡng Thiều đẹp nhất ở vào giai đoạn
muộn hơn,thuộc các di chỉ Mã Gia Diêu hay Bán Sơn, phát hiện ở
Bán Pha cách Tây An 6km về phía đông. Các di vật văn hoá Ngưỡng
Thiều có giá trị nhất,hiện hầu hết nằm tại các bảo tàng Châu Âu
và Mỹ, đa phần có nguồn gốc từ Cam Túc và Thanh Hải .
Ảnh 1a
. Bát gốm (cốt) màu, hoa văn cá .Văn hoá Bán Pha.
Ngưỡng Thiều .
Ảnh 1b
. Bình hai tai . Gốm (cốt) màu vẽ ếch nhái kiểu Mã Xưởng . Văn
hóa Mã Gia Diêu .
Ảnh 1c
. Bát gốm (cốt) màu . Văn hóa Ðại Sá Khẩu .
Ảnh 2 .
Vò gốm (cốt) màu . Văn hóa Mã Gia Diêu
Ảnh 3 .
Hũ gốm (cốt) màu . Văn hóa Mã Gia Diêu .
Ảnh 4 .
Bát gốm (cốt) màu . Văn hóa Ngưỡng Thiều .
2 . VĂN HÓA LONG SƠN
Nếu như
gốm Ngưỡng Thiều nổi bật với những hoa văn vẽ màu thì gốm Long
Sơn lại có vẻ đẹp của đường nét , góc cạnh của hình dáng và có
màu đen sáng chói tuyệt đẹp .
Các gốm
đen mỏng. bóng ngời kiểu Long Sơn đựơc phát hiện ở các vùng phía
Ðông Trung Quốc từ Hà Bắc tới Chiết Giang cho đến Hồ Nam .
Theo
Beurdeley, gốm (cốt) đen Long Sơn được nung trong lò kín ở môi
trường khử . Ðể có được độ đen bóng cao. người ta phải tạo khói
ở giai đọan nung cuối cùng . Cốt thai phải mỏng để khói xâm nhập
được vào . Hầu hết loại gốm này mảnh mai dễ vỡ .
Beurdeley còn cho biết , với những khai quật vào năm 1954 tại
các di chỉ Mao Ðịa Khẩu và HouKeang, gần Ngân Dương (NganYang),
các di vật cho thấy văn hóa Long Sơn có sau và là sự nối tiếp
của văn hóa Ngưỡng Thiều .
Nhà
nghiên cứu Trung Quốc,Trần Tùng Hiền, có giới thiệu một chiếc
đỉnh ba chân gốm (cốt) đen ( ảnh 5 ) thuộc nền văn hóa Long Sơn
.
(Ảnh 5)
Ðỉnh 3 chân , gốm cốt đen . Văn hóa Long Sơn . Cốt thai đen bóng
láng như sơn, mỏng manh, chỉ dày chừng 1-2mm. Ba chân có cách
điệu mặt ma quỉ .
Về mặt
công nghệ chế tác, cũng như Beurdeley, ông cho là lúc đó cùng
với sự tiến bộ của tri thức , con người biết lợi dụng nguyên lý
thẩm thấu của muội than mà ông gọi là thán tố , trong thiêu kết
đã ăn nhập vào cốt thai .
Chiếc
đỉnh dày vỏn vẹn 1 đến 2 mm , mỏng manh như vỏ trứng khiến cho
cốt thai đen bóng , láng như sơn .
Dưới
góc độ xã hội học , Trần Tùng Hiền cho rằng chiếc đỉnh này có
dáng tạo hình khác hẳn , với các đường chiết khúc , góc cạnh ,
chân lại cách điệu các mặt ma quái đã tạo cho từ khí có dáng hài
hoà, uy nghi, cộng với phần đen bóng của nó đã làm tăng sự trang
trọng và tính thần bí của chiếc đỉnh gốm đen này.Vì thế nó thể
hiện rõ cái quyền uy của giơí chủ nô trong chế độ nô lệ mới manh
nha, đang bước qua thời kỳ đồ đồng (thau) .
Ông còn
cho rằng gốm đen là buổi ban mai của gốm màu sau này nó nói lên
tính tất yếu của một bước tiến bộ xã hội và là nguyên mẫu của sự
chế tác đồ đồng về sau, ở đời Thang (Thương) .
CHƯƠNG II
THỜI KỲ THANG (THƯƠNG) - ÂN
( 1751
- 1111 TCN )
Trải
qua những thời kỳ dã sử còn mang nặng tính truyền thuyết với Tam
Hoàng - Ngũ Ðế như Ðế Hoàng , Ðế Cốc...rồi Ðế Nghiêu , Ðế Thuấn
và sự hình thành nhà Hạ mà kết thúc là cái chết của một bạo chúa
-vua Kiệt. Rồi thì sự ra đời của nhà Thương (1751- 1111) cũng
kết thúc bằng việc vua Trụ nhà Ân sai đốt cung điện để tự nhảy
vào lửa mà chết .
Kế thừa
nền văn hoá Long Sơn, gốm Thang Ân cũng bao gồm gốm cốt đen và
cốt đỏ, nhưng thông dụng nhất là loại cốt xám mang hoa văn kiểu
trang trí Long Sơn . Cuối thời kỳ Thang, kiểu cách nhái lại xít
xao kiểu dáng đồ đồng đã xuất hiện từ cuối văn hoá Long Sơn (ảnh
6) .
Ảnh 6.3
tước gốm cốt xám . Ðời Thang .H : từ 11,4 đến 14 cm . Trích dẫn
: Danh mục đấu giá Sotheby's New-York . 3/1995 .
Trong
giai đoạn này còn xuất hiện một loại gốm cốt trắng , rất mịn ,
có chứa một lượng kaolin và sét trắng là những thành phần cơ bản
của gốm sứ đời sau . Nhưng lúc này hầu như người ta chưa nắm
chắc được qui luật điều phối thành phần vật liệu để chế tạo cốt
thai , nên có nhiều lỗ hổng và dễ vỡ vụn , có thể do thành phần
silic tự do quá cao .
Ðặc
biệt cũng trong giai đọan cuối Thang , do biết sửa đổi cấu tạo
lò nung , biết điều chỉnh hỏa độ và phối liệu của cốt thai nên
gốm Thang đạt một loại cốt bền chắc hơn và được gọi là ngạnh đào
(gốm cứng) tức là sành . Vì nung ở nhiệt độ cao hơn, nên thành
phần ôxyt silic trong cốt thai đã thủy tinh hóa nhưng thường vẫn
lẫn nhiều cát và kaolin chưa thuần khiết .Vì thế người Trung
Quốc cho rằng nhà Thang là người đầu tiên phát hiện ra bí quyết
chế tạo ra gốm sứ và đã tạo ra một loại sành chứa kaolin , không
lỗ hổng, cứng và có tiếng vang khi gõ được gọi là sứ ( Từ ) .
Nhưng ngừơi phương Tây cho rằng loại này vẫn chưa đủ tiêu chuẩn
một món đồ sứ .
Khi đề
cập tới gốm (cốt) trắng đời Thang , Beurdeley có giới thiệu một
chiếc “Lei” (Hũ ?) của di chỉ Anyang , đời Thang , có H : 33 cm
, thuộc sưu tập của Freer Gallery of Washington , đựơc ông coi
là thỉ tổ gốm có men, do silic trong cốt thai khi nung cao lửa
(có thể > 1.000°C) đã bị thủy tinh hóa , gắn kết các phần tử nhỏ
bé của cốt thai chắc lại .
Hơn
nữa, Beurdeley cho rằng do kinh nghiệm khi thấy chỗ nào cốt thai
có dính tro thực vật thì , sau khi bị thiêu đốt, nơi đó đã hình
thành một màng mỏng sáng long lanh nên thợ gốm tìm cách tái hiện
các ngẫu biến này bằng cách phết lên cốt thai một dẫn xuất có
tính kiềm của tro thực vật hoặc của chất đất chứa vôi . Chất
kiềm của tro thực vật tác động như một chất chảy nghĩa là tạo dễ
dàng cho sự nóng chảy và thủy tinh hóa , tạo ra một lớp màng
mỏng cứng , không thấm nước được gọi là men , Và cũng từ đây bắt
đầu hình thành các loại men áo và men phủ .Như vậy chiếc bình
“lei” này được coi là thỉ tổ của loại men áo kiềm dù là hình
thành ngẫu nhiên .
Trần
Tùng Hiền cũng dưa ra một chiếc Hũ ( ảnh 7 ) với vỏn vẹn 3 chữ
“Bạch đào hồ”_ (hũ gốm trắng) mà không nói gì đến chất liệu gốm
, men hay kích thước , nguồn gốc xuất xứ ....Nhưng so sánh ảnh
chiếc hũ này với ảnh của chiếc bình “lei” nói trên thì cả 2
giống hệt nhau đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất. Phải chăng, ở
đây, tuy hai mà thành một, nghĩa là đó vẫn là chiếc “lei” của
sưu tập Freer Gallery of Washington .
Ảnh 7 .
Hũ gốm tráng . Thang .
Trong
cuốn sách “Gốm sứ Trung Hoa”,bản tiếng Pháp, hai tác giảTrung
Quốc Lizhyan và ChengWen, có giới thiệu 1 chiếc chén đại zun (
Tôn) (ảnh 8) H : 28,8cm và gọi nó là một céladon cổ sơ (céladon
primitif) của đời Thương (16-11 TCN) . Vì thế có một số ý kiến
cho rằng các céladon đã xuất hiện từ rất sớm,
Ảnh 8 .
Chén đại céladon cổ sơ . Thương (16-11 TCN) . Phát hiện ở
ZhengZhou (Trịnh Châu). Sưu tập Bảo Tàng Hà Nam . Cốt xám phớt
nâu bằng sét cứng có phủ lớp men không đều,mỏng, màu lục vàng,
thủy tinh hoá . Trích dẫn: LiZhyan . La
Céramique Chinoise . NXB .Ngoại văn chứ không phải chính thức
xuất hiện ở đời Tây Tấn thuộc thời kỳ Lục Triều (220- 558 sau
CN) , bước khởi đầu của loại men phủ.
Vì vậy đời
Thang được coi là buổi ban mai của sự hình thành nghệ thuật sản
xuất gốm sứ Trung Hoa , song song với sự phát triển của thời đại
kim khí, sự đô thị hoá và việc sử dụng ngôn ngữ viết .Trong đời
Thang, nghệ thuật đồ đồng phát triển khá rực rỡ, vì thế nó ảnh
hưởng mạnh mẽ , đậm nét đến sự phát triển gốm sứ của thời kỳ này
- thời đại đồ đồng thau (Age de bronze) - cũng như ở các thời kỳ
sau, cả về hình dáng lẫn hoa văn trang trí..
UYÊN HẠNH phụ trách tuyển đọan trích đăng
Khoahoc.net
ĐỒ GỐM TRUNG HOA. Đọan 1
Trở về Trang Chính
|