ĐỒ GỐM TRUNG HOA ( đoạn 1)

 


 

Nguyễn Đăng Khải và Quản Thị Thái

25 tháng 10 năm 2007

LTS: Đồ Gốm Trung Hoa là một công trình biên sọan qua nhiều khảo cứu tìm tòi công phu của hai tác giả Nguyễn Đăng Khải và Quản Thị Thái. Hai vị giáo chức địa chất với cùng một đam mê: nghiên cứu về đồ gốm sứ Trung Hoa qua các thời đại và triều đại. Họ đã miệt mài gần suốt cuộc đời của mình cưu mang nuôi dưỡng đứa con tinh thần nầy. Đây là một quyển sách giá trị về ngành đồ gốm. Khoahoc.net vừa được nhị vị tác giả gửi gấm bản thảo của sách Đồ Gốm Trung Hoa nầy và chúng tôi xin hân hạnh cống hiến độc gỉa xa gần những bài trích đăng để chia sẻ và phổ biến tác phẩm nầy cùng lời chào mừng đến thành quả của hai vị. Sách hiện đang được duyệt lại ở phần Anh ngữ trước khi thực hiện việc in ấn.  

 

* * *

 

                                                            

GHI CHÚ: Trừ những bức ảnh ghi rõ nguồn gốc trích dẫn, còn lại là những hiện vật thuộc bộ sưu tập của bản thân tác gỉa. Ảnh và hình vẽ lẫn trình bầy trang bìa đều do tác gỉa cùng cộng sự thực hiện.

Mọi dịch thuật, sao chép, tái bản, trích xuất ảnh và bản vẽ, kể cả phôtôcopy nếu không được sự đồng ý của tác gỉa đều bị coi là vi phạm luật bản quyền.

LỜI NÓI ÐẦU

Kể từ những đồ đất nung có men đầu tiên vào cuối đời Thương dến các kỳ vật tuyệt tác của đời Minh ,Thanh qua suốt hơn 3.000 năm của chặng đường phát triển và sáng tạo nghệ thuật gốm sứ của mình thì nền gốm sứ Trung Hoa luôn được coi là người khởi xướng , dẫn đầu và là đỉnh cao của nghệ thuật gốm sứ thế giới .

Bởi vậy, trước sự phát triển rất đa dạng và phong phú với một khối lượng đồ sộ của ngàn vạn lò nung , cho ra hàng triệu triệu sản phẩm khác nhau thì việc chỉ dựa vào một số bộ sưu tập , dù to lớn và phong phú tới mức nào, cũng không thể xét đóan chính xác về cả một gia sản khổng lồ của gốm sứ Trung Quốc . Có khác chi muốn hiểu biết một cánh rừng rậm mà mới chỉ xét qua một vài giống loài cỏ cây . Nhưng thực ra, dù rừng cây có rậm rạp đến mấy , người ta chỉ cần nắm vững một trắc đồ rừng với những giống loài đặc trưng , cũng có thể hiểu được kiểu hệ sinh thái của cánh rừng đó , một khi đã gạt bỏ được các yếu tố ngoại lai của hệ động-thực vật .

Hơn nữa , gốm sứ là một nghệ thuật thể hiện tài năng tạo hình và chế tác men hay sự nhạy bén về hỏa độ nung để biến hóa các nguyên liệu vốn có sẵn trong tự nhiên . Không chỉ là một việc biến các thứ tầm thường như bùn, như đất thành các kỳ báu vật như cổ nhân đã từng nói “Thổ thành kim , nê tác bảo” thiên nhiên không tạo ra được , nhưng lại rất gần gũi với thiên nhiên mà còn mang theo cái hồn mỹ cảm của con ngừơi đối với đất đá, cỏ cây, muông thú , với nứơc non , rừng biển .

Một điều kỳ thú, con ngừơi ngày càng tiến hóa, khoa học phát triển đến bất ngờ và vô cùng. thế mà người ta không sao tái tạo đựơc những tuyệt tác của đời xưa . Dù có xuất sắc đến mấy , các đồ tân tạo ngày nay vẫn cứ thiếu vắng một cái gì đó rất khó cảm nhận . Phải chăng do điều kiện , nguyên liệu nung khác trứơc hay thực ra do thiếu mất cái hồn mỹ cảm , cái thần thái của thợ gốm cổ đại . Dù có bằng phương pháp cân, đong, đo, đếm hiện đại của thời điện tử ngừơi ta vẫn đành bó tay .

Chẳng nói đâu xa , đời Thanh , một niên đại kéo dài gần 300 năm , với nhiều bậc thày sứ gốm như Thang Ưng Tuyển , Ðường Anh thì gốm men trắng , gốm men céladon và đặc biệt gốm men túy hồng cực kỳ đẹp , sắc đỏ tươi nhưng vẫn mang tính chất lạnh như thủy tinh vô cảm như sáp nến , chứ không có đựơc nét thâm trầm , sâu lắng của gốm trắng Bạch Ðịnh , céladon Nhữ diêu , Quan diêu đời Tống hay cái nóng ấm của dòng máu chảy ở gốm túy hồng cổ đời Tuyên Ðức Minh .

Bởi vậy, cuốn sách này có một tham vọng duy nhất : với sự hạn chế về số lựơng hiện vật của bộ sưu tập cá nhân tác gỉa , tuy có dày công sưu tầm và chọn lọc , với sự hạn hẹp về tri thức và nghèo nàn về nguồn văn liệu lẫn vật chất , chỉ mong muốn khái quát , hệ thống hóa sao cho dễ đọc dễ nhập tâm , gíup cho ngừơi mới nhập môn sưu tầm cổ vật gốm sứ , có thể sơ bộ nắm bắt và hiểu đựơc những nét cơ bản của các hiện vật tiêu biểu của một nền gốm sứ sáng chói nhất của Nhân loại . Ðồng thời gíup cho tránh đựơc phần nào sự thiệt hại tiền của , công sức, trong việc theo đuổi một đam mê đầy tính văn hoá và nghệ thuật , một thích thú đáng trân trọng , khi muốn tự giải thóat khỏi những căng thẳng trí não vì những điều nhỏ nhặt phiền toái hàng ngày . Ta có thể tìm thấy một chất Thiền _ZEN trong việc chiêm ngưỡng cổ vật sứ gốm .

So với sự đồ sộ của di sản gốm sứ Trung Hoa thì kiến thức của một cuốn sách vô cùng nghèo nàn và hạn hẹp này, có khác chi một cọng cỏ trước rừng cây rực rỡ đầy hoa thơm và cỏ lạ, càng không tránh khỏi những sai lầm chủ quan . Bởi vậy, một sự góp ý và lượng thứ cho việc kém hiểu biết, sự nông cạn , thiếu lôgic của người viết là điều các tác giả cuốn sách này bày tỏ lòng biết ơn tới độc gỉa và đặc biệt đối với các tác gỉa của các văn liệu được trích dẫn hoặc tham khảo trong cuốn sách này ,

Nhân đây, các tác gỉa cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ông , Bà Lê Ðình Kiều ở quận Hai Bà Trưng, Hà nội và Ông, Bà Trần Vũ Bản hiện đang sinh sống tại Caldwell . Chicago, Illinois . Hoa Kỳ , những người đã có tâm huyết góp nhiều ý kiến quí báu và tài trợ để giúp cho cuốn sách này sớm ra mắt bạn đọc.

[

CHƯƠNG I

THỜI ÐẠI ÐÁ MỚI - NEOLITHIC

Trước khoảng 4.500 năm trước Công Nguyên (TCN) , ở phần Bắc Trung Quốc , trên châu thổ sông Hoàng Hà , trong khu vực Cam Túc hoặc Thanh Hải , đã xuất hiện những đò vật bằng gốm đầu tiên có gía trị mỹ học thuộc nhiều nền văn hóa khác nhau .

 

1 . VĂN HÓA NGƯỠNG THIỀU

Từ năm 4.200 đến 3.500 TCN . Ở vào giai đoạn nguyên thủy, văn hóa Ngưỡng Thiều bao gồm các gốm cốt xám có hoặc không có trang trí hoa văn , thường là những vét in thừng hay phên đan . về sau phát triển thêm đồ gốm có cốt thai nâu đỏ có vẽ mầu các con vật có sừng, cá , bò sát nhỏ hay các hình kỷ hà . Hình như các gốm có hoa văn vẽ động vật (ảnh 1a,1b) thì cổ hơn các gốm có hoa văn vẽ hình kỷ hà ( ảnh 1c ) .

Văn hoá Ngưỡng Thiều phát triển mạnh ở vùng Hà Nam,Thiểm Tây,với các nền văn hóa Mă Gia Diêu gồm các gốm (cốt) đỏ vẽ môtíp chủ yếu là các hình kỷ hà (ảnh 2 và 3) hoặc văn hoá Ðại Sá Khẩu (ảnh 4) cũng mang nét tương tự gốm Mã Gia Diêu. Ngoài ra còn có các nền văn hoá Ðại Khê ,Khuất Gia Lãnh , hay Bán Sơn .

Những sản phẩm gốm của văn hoá Ngưỡng Thiều đẹp nhất ở vào giai đoạn muộn hơn,thuộc các di chỉ Mã Gia Diêu hay Bán Sơn, phát hiện ở Bán Pha cách Tây An 6km về phía đông. Các di vật văn hoá Ngưỡng Thiều có giá trị nhất,hiện hầu hết nằm tại các bảo tàng Châu Âu và Mỹ, đa phần có nguồn gốc từ Cam Túc và Thanh Hải .

Ảnh 1a . Bát gốm (cốt) màu, hoa văn cá .Văn hoá Bán Pha. Ngưỡng Thiều .

Ảnh 1b . Bình hai tai . Gốm (cốt) màu vẽ ếch nhái kiểu Mã Xưởng . Văn hóa Mã Gia Diêu .

Ảnh 1c . Bát gốm (cốt) màu . Văn hóa Ðại Sá Khẩu .

Ảnh 2 . Vò gốm (cốt) màu . Văn hóa Mã Gia Diêu

Ảnh 3 . Hũ gốm (cốt) màu . Văn hóa Mã Gia Diêu .

Ảnh 4 . Bát gốm (cốt) màu . Văn hóa Ngưỡng Thiều .

 

2 . VĂN HÓA LONG SƠN

Nếu như gốm Ngưỡng Thiều nổi bật với những hoa văn vẽ màu thì gốm Long Sơn lại có vẻ đẹp của đường nét , góc cạnh của hình dáng và có màu đen sáng chói tuyệt đẹp .

Các gốm đen mỏng. bóng ngời kiểu Long Sơn đựơc phát hiện ở các vùng phía Ðông Trung Quốc từ Hà Bắc tới Chiết Giang cho đến Hồ Nam .

Theo Beurdeley, gốm (cốt) đen Long Sơn được nung trong lò kín ở môi trường khử . Ðể có được độ đen bóng cao. người ta phải tạo khói ở giai đọan nung cuối cùng . Cốt thai phải mỏng để khói xâm nhập được vào . Hầu hết loại gốm này mảnh mai dễ vỡ .

Beurdeley còn cho biết , với những khai quật vào năm 1954 tại các di chỉ Mao Ðịa Khẩu và HouKeang, gần Ngân Dương (NganYang), các di vật cho thấy văn hóa Long Sơn có sau và là sự nối tiếp của văn hóa Ngưỡng Thiều .

Nhà nghiên cứu Trung Quốc,Trần Tùng Hiền, có giới thiệu một chiếc đỉnh ba chân gốm (cốt) đen ( ảnh 5 ) thuộc nền văn hóa Long Sơn .

(Ảnh 5) Ðỉnh 3 chân , gốm cốt đen . Văn hóa Long Sơn . Cốt thai đen bóng láng như sơn, mỏng manh, chỉ dày chừng 1-2mm. Ba chân có cách điệu mặt ma quỉ .

Về mặt công nghệ chế tác, cũng như Beurdeley, ông cho là lúc đó cùng với sự tiến bộ của tri thức , con người biết lợi dụng nguyên lý thẩm thấu của muội than mà ông gọi là thán tố , trong thiêu kết đã ăn nhập vào cốt thai .

Chiếc đỉnh dày vỏn vẹn 1 đến 2 mm , mỏng manh như vỏ trứng khiến cho cốt thai đen bóng , láng như sơn .

Dưới góc độ xã hội học , Trần Tùng Hiền cho rằng chiếc đỉnh này có dáng tạo hình khác hẳn , với các đường chiết khúc , góc cạnh , chân lại cách điệu các mặt ma quái đã tạo cho từ khí có dáng hài hoà, uy nghi, cộng với phần đen bóng của nó đã làm tăng sự trang trọng và tính thần bí của chiếc đỉnh gốm đen này.Vì thế nó thể hiện rõ cái quyền uy của giơí chủ nô trong chế độ nô lệ mới manh nha, đang bước qua thời kỳ đồ đồng (thau) .

Ông còn cho rằng gốm đen là buổi ban mai của gốm màu sau này nó nói lên tính tất yếu của một bước tiến bộ xã hội và là nguyên mẫu của sự chế tác đồ đồng về sau, ở đời Thang (Thương) .

 

CHƯƠNG II

THỜI KỲ THANG (THƯƠNG) - ÂN

( 1751 - 1111 TCN )

Trải qua những thời kỳ dã sử còn mang nặng tính truyền thuyết với Tam Hoàng - Ngũ Ðế như Ðế Hoàng , Ðế Cốc...rồi Ðế Nghiêu , Ðế Thuấn và sự hình thành nhà Hạ mà kết thúc là cái chết của một bạo chúa -vua Kiệt. Rồi thì sự ra đời của nhà Thương (1751- 1111) cũng kết thúc bằng việc vua Trụ nhà Ân sai đốt cung điện để tự nhảy vào lửa mà chết .

Kế thừa nền văn hoá Long Sơn, gốm Thang Ân cũng bao gồm gốm cốt đen và cốt đỏ, nhưng thông dụng nhất là loại cốt xám mang hoa văn kiểu trang trí Long Sơn . Cuối thời kỳ Thang, kiểu cách nhái lại xít xao kiểu dáng đồ đồng đã xuất hiện từ cuối văn hoá Long Sơn (ảnh 6) .

Ảnh 6.3 tước gốm cốt xám . Ðời Thang .H : từ 11,4 đến 14 cm . Trích dẫn : Danh mục đấu giá Sotheby's New-York . 3/1995 .

Trong giai đoạn này còn xuất hiện một loại gốm cốt trắng , rất mịn , có chứa một lượng kaolin và sét trắng là những thành phần cơ bản của gốm sứ đời sau . Nhưng lúc này hầu như người ta chưa nắm chắc được qui luật điều phối thành phần vật liệu để chế tạo cốt thai , nên có nhiều lỗ hổng và dễ vỡ vụn , có thể do thành phần silic tự do quá cao .

Ðặc biệt cũng trong giai đọan cuối Thang , do biết sửa đổi cấu tạo lò nung , biết điều chỉnh hỏa độ và phối liệu của cốt thai nên gốm Thang đạt một loại cốt bền chắc hơn và được gọi là ngạnh đào (gốm cứng) tức là sành . Vì nung ở nhiệt độ cao hơn, nên thành phần ôxyt silic trong cốt thai đã thủy tinh hóa nhưng thường vẫn lẫn nhiều cát và kaolin chưa thuần khiết .Vì thế người Trung Quốc cho rằng nhà Thang là người đầu tiên phát hiện ra bí quyết chế tạo ra gốm sứ và đã tạo ra một loại sành chứa kaolin , không lỗ hổng, cứng và có tiếng vang khi gõ được gọi là sứ ( Từ ) . Nhưng ngừơi phương Tây cho rằng loại này vẫn chưa đủ tiêu chuẩn một món đồ sứ .

Khi đề cập tới gốm (cốt) trắng đời Thang , Beurdeley có giới thiệu một chiếc “Lei” (Hũ ?) của di chỉ Anyang , đời Thang , có H : 33 cm , thuộc sưu tập của Freer Gallery of Washington , đựơc ông coi là thỉ tổ gốm có men, do silic trong cốt thai khi nung cao lửa (có thể > 1.000°C) đã bị thủy tinh hóa , gắn kết các phần tử nhỏ bé của cốt thai chắc lại .

Hơn nữa, Beurdeley cho rằng do kinh nghiệm khi thấy chỗ nào cốt thai có dính tro thực vật thì , sau khi bị thiêu đốt, nơi đó đã hình thành một màng mỏng sáng long lanh nên thợ gốm tìm cách tái hiện các ngẫu biến này bằng cách phết lên cốt thai một dẫn xuất có tính kiềm của tro thực vật hoặc của chất đất chứa vôi . Chất kiềm của tro thực vật tác động như một chất chảy nghĩa là tạo dễ dàng cho sự nóng chảy và thủy tinh hóa , tạo ra một lớp màng mỏng cứng , không thấm nước được gọi là men , Và cũng từ đây bắt đầu hình thành các loại men áo và men phủ .Như vậy chiếc bình “lei” này được coi là thỉ tổ của loại men áo kiềm dù là hình thành ngẫu nhiên .

Trần Tùng Hiền cũng dưa ra một chiếc Hũ ( ảnh 7 ) với vỏn vẹn 3 chữ “Bạch đào hồ”_ (hũ gốm trắng) mà không nói gì đến chất liệu gốm , men hay kích thước , nguồn gốc xuất xứ ....Nhưng so sánh ảnh chiếc hũ này với ảnh của chiếc bình “lei” nói trên thì cả 2 giống hệt nhau đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất. Phải chăng, ở đây, tuy hai mà thành một, nghĩa là đó vẫn là chiếc “lei” của sưu tập Freer Gallery of Washington .

Ảnh 7 . Hũ gốm tráng . Thang .

Trong cuốn sách “Gốm sứ Trung Hoa”,bản tiếng Pháp, hai tác giảTrung Quốc Lizhyan và ChengWen, có giới thiệu 1 chiếc chén đại zun ( Tôn) (ảnh 8) H : 28,8cm và gọi nó là một céladon cổ sơ (céladon primitif) của đời Thương (16-11 TCN) . Vì thế có một số ý kiến cho rằng các céladon đã  xuất hiện từ rất sớm,

Ảnh 8 . Chén đại céladon cổ sơ . Thương (16-11 TCN) . Phát hiện ở ZhengZhou (Trịnh Châu). Sưu tập Bảo Tàng Hà Nam . Cốt xám phớt nâu bằng sét cứng có phủ lớp men không đều,mỏng, màu lục vàng, thủy tinh hoá . Trích dẫn: LiZhyan . La Céramique Chinoise . NXB .Ngoại văn chứ không phải chính thức xuất hiện ở đời Tây Tấn thuộc thời kỳ Lục Triều (220- 558 sau CN) , bước khởi đầu của loại men phủ.

Vì vậy đời Thang được coi là buổi ban mai của sự hình thành nghệ thuật sản xuất gốm sứ Trung Hoa , song song với sự phát triển của thời đại kim khí, sự đô thị hoá và việc sử dụng ngôn ngữ viết .Trong đời Thang, nghệ thuật đồ đồng phát triển khá rực rỡ, vì thế nó ảnh hưởng mạnh mẽ , đậm nét đến sự phát triển gốm sứ của thời kỳ này - thời đại đồ đồng thau (Age de bronze) - cũng như ở các thời kỳ sau, cả về hình dáng lẫn hoa văn trang trí..

 

UYÊN HẠNH phụ trách tuyển đọan trích đăng

Khoahoc.net

ĐỒ GỐM TRUNG HOA. Đọan 1

 

 

Trở về Trang Chính