|
Cicero (106-43 trước
Công-Nguyên), một nhà hùng biện kiêm chính trị gia lừng danh
thời cổ La mã đã có nói: “Lịch sử là thầy dạy của cuộc đời”
(Historia, magistra vitae). Câu nói này vốn để lại nhiều suy gẫm
về ý nghĩa cho biết bao thế hệ từ đó cho đến ngày hôm nay. Bài
học lịch sử là bài học kinh nghiệm đúc kết qua thời gian, kinh
qua bản thân mình hay tha nhân, bạn cũng như thù, người xưa cũng
như người nay. Bài học đó được viết đi viết lại dưới nhiều hình
thức của văn chương, qua nhiều nhãn quan và cảm hứng tùy theo
trình độ của người viết, môi trường họ được nuôi dưỡng và huấn
luyện, dạy dỗ và lớn lên, trưởng thành để thâu thái kinh nghiệm.
Bài học lịch sử không vì ảnh hưởng của giới tính, tuổi tác,
chủng tộc hay tôn giáo của tác giả mà mất đi giá trị nội tại của
nó nhưng trái lại nó đã hiện diện như một thực thể không cần
chứng minh cũng tựa như bầu khí ta đang thở không thấy mà vẫn
có, và vẫn trường tồn bất diệt mà mọi người đều có thể tự do sử
dụng, tha hồ học hỏi, giống như lời thi hào Tô Đông Pha nói
trong bài phú Tiền Xích Bích của văn học cổ Trung Hoa: “thủ
chi vô cấm, dụng chi bất kiệt” (lấy mà không cấm,
dùng mà không hết). 1
Đối với dân tộc Việt nam, các
biến cố lịch sử đã được ghi nhận qua từng triều đại dưới các
ngòi bút thuộc nhiều quan điểm khác nhau hay thuộc nhiều trường
phái khác biệt đôi khi chống phá lẫn nhau 2 cho nên
việc tìm hiểu giá trị của các khuynh hướng sử học xuyên qua cung
cách, bút pháp, quan điểm ghi lại các biến cố thời đại luôn luôn
vẫn là điều cần thiết. Sử học là một khoa học nhân văn so trong
chương trình giáo dục của Việt Nam trước đây vẫn còn khá mới mẻ,
bởi vì cách đây hơn một nửa thế kỷ, chúng ta vẫn còn phải học
câu “Nos ancêtres sont des Gaulois” (tổ tiên của chúng ta
thuộc giống Gôloa) 3. Có nhiều khuynh hướng viết lịch
sử, theo nhiều thể loại, với các dụng tâm khác nhau cho nên việc
góp ý về một vài vấn đề lịch sử vốn đã từng bị hiểu lệch lạc,
sai lầm xét ra cũng có tác dụng làm phong phú thêm kho tàng tư
liệu sử học. Ngày nay, việc viết lại lịch sử, hay đóng góp một
số nhận định, phân tích về các đề tài lịch sử luôn luôn là vấn
đề cần thiết nhất là góp ý vạch trần chính sách lợi dụng bộ môn
sử học để tuyên truyền ru ngủ quần chúng đặc biệt những giới
bình dân ít học, hoặc lợi dụng lịch sử để xây dựng những biểu
tượng dối trá, đánh bóng lãnh tụ, tôn sùng thần thánh hóa cá
nhân 4 mà mục đích chỉ nhằm dối gạt quần chúng, đánh
lừa dư luận hòng tiếp tục ngồi trên ghế cai trị của một tập đoàn
bất nhân như chế độ Cộng sản tại Việt Nam hiện nay, thiết tưởng
cũng cần được lưu tâm cảnh giác không chỉ trong giới nghiên cứu
sử học hoặc trong giới hoạt động chính trị mà còn ở ngoài quần
chúng nữa. Đối với những người Việt nam tuổi đời từ 40, 50 trở
lên tương đối có ít nhiều hiểu biết và đóng góp vào lịch sử Việt
nam kinh qua cuộc chiến tranh quốc-cộng, có thể họ không bị sách
vở và hệ thống tuyên truyền của chế độ Cộng sản đánh lừa, nhưng
đối với các thế hệ trẻ người Việt lớn lên tại hải ngoại chắc
chắn lớp người đi sau sẽ không tránh khỏi bị đầu độc, tiêm nhiễm
các luận điệu sai lầm khi đọc lịch sử đất nước thông qua các tài
liệu do chế độ Cộng Sản cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp. Tuy
nhiên, do ý thức bén nhậy và nỗ lực tìm hiểu sự thật của các
tầng lớp trí thức trẻ tuổi, chắc chắn họ sẽ tiếp cận được với
chân lý của lịch sử bao lâu họ có quyết tâm tìm về các nguồn sử
học chân chính, tìm hiểu thực chất của các khuynh hướng biên
soạn lịch sử nước nhà, phân tích được giá trị của các nguồn tư
liệu, sử phẩm có trong thư viện hay được dùng trong chương trình
giáo dục của nhà trường với tinh thần vô tư, khoa học.
Dưới nhiều hình thức của các bộ
môn văn chương, lịch sử Việt nam đã được ghi lại rất sớm, có
người cho rằng từ thời nhà Ngô, Đinh rồi Tiền Lê đã có những
hoạt động ghi lại các biến cố lịch sử 5 tuy nhiên dư
luận chung vẫn cho rằng Lê Văn Hưu (1230- 1322) với bộ Đại
Việt Sử Ký là người khởi đầu cho một quá trình biên soạn
lịch sử của một đất nước đã có kỷ cương nền nếp. Có nhiều khuynh
hướng biên soạn lịch sử được tạm thời tổng quát hóa theo các
quan điểm sau đây: chính sử, dã sử, sử học do người ngoại quốc
viết, sử quan duy vật mác xít, sử học quốc gia.
Từ
quan điểm lịch sử cung đình...
Gọi tên “lịch sử cung đình” là
lối gọi có tính cách thời thượng, hiện đại thật ra đó là một lối
viết được gán cho khuynh hướng ghi chép các biến cố lịch sử của
“chính sử” hay “sử học chính thống” nếu nói theo danh từ của môn
Phương pháp sử học nhằm phân biệt với “dã sử”. Chính sử
là sử sách do cơ quan chính thức của triều đình quân chủ biên
soạn thường gọi là Quốc sử quán do các viên chức khoa bảng của
triều đình được chỉ dịnh đứng ra sưu tập tài liệu và biên soạn
lịch sử các triều đại hay các biến cố của quốc gia. Dã sử
(dã là đồng nội, chốn dân gian – theo Đào Duy Anh) là sử
sách do dân chúng ngoài xã hội viết về các biến cố quân sự,
chính trị, văn hóa, kinh tế v.v... Sử gia Nguyễn Phương đã gọi
một cách tổng quát hai nguồn sử liệu chính sử và dã sử
là sử liệu công và sử liệu tư 6.
Sử học truyền thống Việt Nam vốn
chịu nhiều ảnh hưởng của nền sử học truyền thống Trung Hoa cho
nên các sử gia chính thống nước ta trước đây đã sử dụng các lối
chép sử của Bắc phương trong khi biên soạn tác phẩm của mình đó
là lối kỷ truyện, biên niên và cương mục.
Trước hết, lối kỷ truyện
bắt chước theo phương pháp của sử gia Tư Mã Thiên (145-86 ? tr.
C.N.) khi ông này viết bộ Sử Ký tức là lối viết lịch sử
dưới hình thức tiểu sử các nhân vật “lấy nhân vật làm trung
tâm, đã kể lại có hệ thống lịch sử hoạt động các loại nhân vật
trong ba nghìn năm của Trung quốc cổ đại, phơi bày hình tượng
lịch sử rực rỡ đẹp mắt trong một quyển sách dài, các bài truyện
ký đều có tình tiết câu chuyện rất sinh động, miêu tả các cảnh
hoạt động và chi tiết một cách sống động như thật, khẩu ngữ hóa
ngôn ngữ một cách linh động hoạt bát...” 7 Một
lối viết có tên liệt truyện cũng được các nhà biên soạn
sử học Việt Nam dưới các triều đại quân chủ trước đây sử dụng
với các bộ sử có tên như Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, Đại
Nam Chính Biên Liệt Truyện v.v... mà hình thức cũng
không khác lối kỷ truyện bao nhiêu.
Thứ đến là lối biên niên
đã được Khổng Tử sáng tạo đầu tiên để cắt bỏ và sửa chữa sử nước
Lỗ mà biên soạn thành sách Xuân Thu, một tác phẩm có lẽ ngài đã
gửi gắm sở nguyện rất nhiều trong đó khi nói rằng “biết ta
cũng là nhờ sách Xuân Thu, buộc tội ta cũng là vì sách
Xuân Thu” (tri ngã dã kỳ duy Xuân Thu hồ, tội ngã dã kỳ duy
Xuân Thu hồ!). Sách này chứa đựng cả một triết lý về chính trị:
vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha, con cho ra con,
mọi người đều phải cư xử theo đúng danh phận của mình. Đây là
lối viết của tất cả các bộ chính sử, kể lại sự kiện theo thứ tự
thời gian, thí dụ muốn chép một sự việc nào, trước hết người ta
ghi niên hiệu của hoàng đế, rồi đến tháng, mùa, có khi ngày, và
nếu có hiện tượng thiên văn gì cũng ghi nhận luôn. Lối viết này
cũng gây trở ngại cho người đọc là khó nắm bắt được các sự kiện
vốn phải liên lạc mật thiết với nhau nhưng lại bị dàn trải rải
rác trong thời gian.
Nhận định về sử biên niên, giáo
sư Nguyễn Phương cho rằng “Trong loại nầy, sử gia lấy thời
gian làm bố cuộc, thuật hết chuyện ngày nầy mới qua chuyện ngày
khác, hết tháng nầy rồi mới qua tháng khác, v.v... Lấy thời gian
làm đơn vị căn bản như thế, một chuyện xảy ra bên tây có thể nằm
bên cạnh một chuyện xảy ra bên đông, nếu cả hai xảy ra trong
cùng một ngày. Vì thế đặc điểm của loại sử biên niên là thiếu
tính cách tổng hợp. Ngoài ra, những sử gia chép loại sử biên
niên, như các tác giả của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và Khâm Định
Việt Sử Thông Giám Cương Mục thường ít có óc khảo chứng nên sự
kiện có nhiều chỗ phi phỏng.” 8
Sau hết, lối cương mục tức
là thể loại phỏng theo phương pháp của bộ Cương mục của
Chu Hy (1130-1200), nhà tư tưởng và nhà giáo dục trứ danh thời
Nam Tống. Trình bày ý nghĩa và phân tích sự lợi hại của lối chép
sử này, giáo sư Nguyễn Thế Anh đã viết: “Các việc đều chép
theo thứ tự thời gian đã đành (phép chép biên niên), nhưng ngoài
ra còn tóm đại ý việc định chép trong một đoạn hoặc một câu ngắn
để nêu lên như một tiểu đề, rồi ở dưới mới chép tự sự rõ ràng
các công việc đã xảy ra (cương là giềng, tức là dây cái
của lưới; mục là mắt lưới). Nhưng vì chú ý nêu việc lớn
làm cương để ghi việc nhỏ làm mục ở sau, đã phải
bỏ đi rất nhiều việc khó gắn vào làm mục cho cương
đã nêu ra.” 9 Tuy nhiên theo nhận định của giới
nghiên cứu sử học gần đây lối cương mục cũng là một hình thức
ghi chép lịch sử có tính tổng hợp cao hơn phép biên niên.
10
Nói chung, các nguồn sử liệu này
có những giá trị nằm trong các phạm trù riêng biệt mà khi sử
dụng người ta cần phải cẩn án theo phương pháp sử để tìm ra sự
thật lịch sử. Có người cho rằng “sử quan thường là quan lại
của triều đình hoặc là những sĩ phu thấm nhuần tư tưởng nho
giáo. Họ ghi chép đúng ý của triều đình và theo quan điểm nho
giáo. Lịch sử được phản ảnh trong điều kiện đó cho nên không hẳn
hoàn toàn trung thực. Lịch sử cung đình được soạn thảo chính
thức để lưu truyền công khai. Thậm chí dân chúng còn bị bắt buộc
phải chấp nhận quan điểm lịch sử cung đình. Nó được giảng dạy ở
nhà trường, được lưu trữ ở các thư quán, văn khố. Đó là cách ghi
chép sử và truyền bá dưới chế độ phong kiến chuyên chế. Ai nói
khác sẽ mắc tội phản quốc hoặc khi quân phạm thượng bay đầu như
chơi...” 11
Thật ra phong cách viết sử của
các sử gia chính thống dưới các chế độ quân chủ nhiều khi tỏ ra
rất phóng khoáng, tự do, chứ không quá khắt khe, cứng ngắc, xưng
tụng một chiều quá đáng dòng họ thống trị. Các sử gia chính
thống cũng đã biết phối hợp các nguồn tài liệu để đạt tới chân
lý lịch sử, khen chê những chỗ hợp tình, hợp lý, sử dụng bút
pháp một cách cẩn trọng, không đến nỗi quá phiến diện, thiên
chấp. Đọc đoạn văn sau đây sẽ thấy chỗ dụng công của các nhà
viết sử chính thống: “Người ta hay chê chính sử có nhiều
thiên lệch như trường hợp sử quan nhà Nguyễn gọi Tây sơn là ngụy
Tây, Tây tặc, gọi các cuộc chiến đấu của anh em họ là “nhập
khấu” (vào ăn cướp)... Sử quan chỉ chép những sự việc của Tây
sơn, Trịnh Lê khi chúng có liên quan tới Chúa của họ thôi. Dã sử
sẽ bổ khuyết vào sự thiếu sót đó... Chính sử quan nhà Nguyễn
cũng biết bổ khuyết tài liệu mình có được bằng cách tham bác dã
sử khi viết về tổ chức quân chính triều Tây sơn chẳng hạn. Họ
cũng đã dùng những chữ rất kêu để khen tài Nguyễn Huệ, cũng
không giấu tật xấu say sưa của Nguyễn Văn Thành, tật ham chơi
trong tình trạng chiến tranh của Thành, Duyệt, Huỳnh Đức... Cho
đến cả việc quan quân Gia Định có người đi cướp của dân, sách
nhiễu dân chúng, họ cũng ghi rõ”. 12 Đó là nhận
định của một nhà nghiên cứu sử học miền nam trước năm 1975 khi
ngòi bút của giới sử học ở đây không bị câu thúc, không bị lãnh
đạo bởi một ý thức hệ chính trị nào.
Ngược dòng quá khứ, ngay chính
vua Tự Đức khi ban bút phê về việc biên soạn pho Khâm định
Việt sử Thông Giám Cương mục, cũng đã có những ý kiến khoa
học, mới mẻ về phương cách chép sử, đã tỏ dấu nghi ngờ về hai
niên kỷ Kinh Dương vương và Lạc Long quân, cũng như về phạm vi
quá rộng rãi của nước Văn Lang ngày xưa mà cho rằng “chẳng
qua là sử cũ chép quá phô trương đó thôi.” 13
Để tìm hiểu quan điểm của giới
nghiên cứu sử học miền bắc đối với các nguồn sử liệu chính thống
hay trường phái “lịch sử cung đình”, chúng ta thử đọc vào đoạn
văn sau đây: “Nói chung nguồn sử liệu chính thống phản ánh tư
tưởng, mong muốn và ý đồ chính thức của giai cấp thống trị. Mặt
khác, nó cũng mang những thông tin – ở những mức độ chính xác
khác nhau – về tình hình chung của cả nước hoặc ở từng đơn vị
hành chính. Nguồn sử liệu chính thống bao gồm nhiều mặt khác
nhau: chính trị, pháp luật, tài chính, kinh tế, văn hóa, giáo
dục, quân sự, ngoại giao v.v... Trong hoàn cảnh nước ta trước
đây, khi mà những điều kiện ghi chép sự việc chưa phát triển,
nhất là trong các tổ chức tư nhân, nguồn sử liệu chính thống hết
sức quý giá. Chẳng hạn, các bộ sử biên niên chính thống của nước
ta trước đây (như bộ Đại Việt sử kí toàn thư chẳng hạn) có thể
coi là nguồn sử liệu lớn nhất và đáng tin nhất về các thời đại
được ghi chép. Một bộ luật còn lại như luật Hồng Đức không chỉ
giúp chúng ta hiểu được tư tưởng của giai cấp thống trị ở thế kỉ
XV mà còn để lại cho chúng ta một số thông tin đáng quý về tình
hình xã hội”14 Tình hình xã hội là gì, dưới con
mắt những người viết sử thuộc giai cấp vô sản, nếu không phải là
thực trạng của cuộc sống mọi tầng lớp dân chúng. Khối tài liệu
lịch sử viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm (chính sử) còn giữ lại
được trong các văn khố quốc gia hay tại các thư viện tư nhân
chính là bằng chứng hùng hồn về sức sống mãnh liệt và sinh động
của dân tộc Việt Nam.
Về phương diện đánh giá một sử
phẩm, mà ở đây lại là một sử phẩm có liên hệ với “lịch sử cung
đình”, sử gia Nguyễn Phương đã viết: “Các sử phẩm tồn tại
được để thách thức với thời gian thường nhờ hai tính cách: tính
cách độc nhất của nó, hay là tính cách đúng đắn hợp với sự trình
bày tuyệt diệu của nó. Về phương diện độc nhất, một sử phẩm dầu
không hay ho gì, cũng vẫn được mọi người quý mến vì những chứng
tích chứa đựng trong nó, mà người ta không thể gặp được ở bất cứ
một nơi nào khác. Bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư , chẳng hạn, về mặt
văn chương, chẳng có gì hấp dẫn bao nhiêu, nhưng nó đã sống được
mấy thế kỷ và thiết tưởng bao lâu còn nước Việt Nam nó còn sống
mãi như vậy.” 15
Trong giới sử học Việt Nam, nhất
là tại miền nam trước năm 1975, đã có những nỗ lực để đánh giá
lại các công trình biên khảo sử học của trường phái “lịch sử
cung đình” chẳng hạn như các công trình biên khảo của sử gia
Nguyễn Phương đăng tải trên tạp chí Bách Khoa ở Sài gòn, tạp chí
Đại Học ở Huế trong hai thập niên 60 và 70 với mục đích thử
giải quyết một số vấn đề sử học như nguồn gốc dân tộc Việt Nam,
phương pháp sử học, vấn đề Tây Sơn (dẫn đến cuộc bút chiến với
Văn Tân, viện trưởng viện Sử học Hà Nội, năm 1963, về chủ đề “Ai
đã thống nhất Việt Nam, Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh
?”) qua đó thẩm định giá trị các nguồn sử liệu chính thống
như Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu, Đại Việt Sử Ký Toàn
Thư của Ngô Sĩ Liên, phân tích giá trị quyển Hoàng Lê
Nhất Thống Chí của Ngô Thời Chí. Cũng thông qua các công
trình biên khảo sử học quý giá như Việt Nam, Thời Khai Sinh
(1965), Việt Nam Thời Bành Trướng: Tây Sơn (1967),
Việt Nam Thời Bành Trướng : Trịnh Nguyễn (chưa xuất
bản) nhất là qua tác phẩm Cổ Sử Việt Nam Trong Ngoại Kỷ Toàn
Thư (chưa xuất bản), sử gia Nguyễn Phương đã mạnh dạn đánh
giá lại các tác phẩm sử học kinh điển của tiền nhân với tinh
thần khách quan, khoa học chắc chắn sẽ giúp cho chúng ta có thêm
nhiều tư liệu để thẩm định giá trị các sử phẩm ngày xưa một cách
công bình, sáng suốt hơn.16
Dưới thời các vua nhà Nguyễn,
ngành biên soạn sử học đã đi vào nền nếp với những công trình
đại qui mô nói lên tầm vóc của nhà nước quân chủ phong kiến như
các bộ Khâm Định Việt sử Thông giám Cương mục, Thực
Lục, Liệt Truyện Chính Biên, Liệt Truyện Tiền Biên,
Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, Đại Nam Nhất Thống
Chí, Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu... được tiếp tục
bổ sung, biên soạn qua nhiều thế hệ của triều đại nhà Nguyễn.
Nhận định về các công trình biên soạn đó, nhà sử học Tạ Chí Đại
Trường cho rằng “tổ chức ghi chép sử có hệ thống và công
trình lưu lại đồ sộ nhất là của triều Nguyễn thế kỉ XIX. Nhà
Nguyễn cũng thực hiện một lối viết sử mới có tính chất tổng hợp
hơn so với phép biên niên trước, đó là phép cương mục tóm thâu
sự việc vào một đề tài và đưa chi tiết vào sau đó. Thật ra phép
cương mục cũng dựa vào lề lối của một bộ sử đồ sộ đời Tống, và
Hồ Tông Thốc ở thế kỉ XIV từng viết một bộ Việt sử cương mục đã
thất truyền, nhưng bộ Khâm định Việt sử cương mục của
Quốc sử quán Nguyễn quả là lớn nhất theo lối này ở Việt
Nam.” 17
Sau này cũng đã có nhiều nỗ lực
để phiên dịch và ấn hành các công trình nghiên cứu, biên soạn sử
học của các triều đại quân chủ trong lịch sử Việt Nam của nhà
cầm quyền trước đây ở miền nam do cố gắng của một số cơ quan như
Ủy Ban Phiên Dịch Sử Liệu, Phòng Nghiên Cứu Sử thuộc Viện Đại
học Huế, Viện Khảo Cổ, Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa, và
một số cơ sở tư nhân ở Sài Gòn. Trong tinh thần tự do, dân chủ,
ngành sử học của miền nam đã có những bước phát triển trong quan
điểm nghiên cứu, sáng tác.
...Đến khuynh hướng lịch sử dân gian.
Lịch sử
dân gian hay dã sử cũng chỉ là một tức là do dân chúng
ngoài dân gian viết ra, như đã nhắc đến khi phân tích về quan
điểm lịch sử cung đình. Giáo sư Nguyễn Thế Anh đã cho rằng: “Bên
cạnh các bộ chính sử, còn có những bộ dã sử (nhất là từ khoảng
thế kỷ XI trở đi); đấy là những quyển sách do tư nhân soạn, do
những văn gia đã muốn chép lại những sự việc có liên quan đến
lịch sử. Các quyển dã sử này cho phép bổ túc hay đính chính
những điều sai lầm hay thiên lệch của những bộ sử do các sử quan
thực hiện. Tuy nhiên, dù là chính sử hay dã sử, việc chép sử vẫn
chỉ là độc quyền của một giai cấp xã hội hạn chế, giai cấp sĩ
phu. Giới này, dù viết sử tại sử quán theo lệnh của nhà vua, hay
chép sử tự ý mình, cũng chỉ nhìn thấy có một khía cạnh của sự
việc mà thôi, và các tác phẩm của họ chỉ phản ảnh các chuyên tâm
của giai cấp sĩ phu; họ nhìn các giai cấp xã hội khác theo cái
nhìn riêng của giới sĩ phu: các hoạn quan là địch thủ của họ tại
triều đình, thường được trình bày như là những loạn đảng; giới
thương gia của các đô thị ít khi được đề cập đến; nông dân chỉ
được nhắc đến khi mà họ nổi loạn và đe dọa trật tự xã hội”.
18
Những
người viết dã sử hay sử liệu tư nhân đa số đều không muốn để tên
họ rõ ràng trên tác phẩm của mình, có lẽ là do họ ưu tư về những
di lụy, vướng víu với những hệ quả do ảnh hưởng của tác phẩm gây
ra cho họ và cho con cháu về sau, là những tư nhân hay văn gia
có ý muốn biên soạn lại những biến cố hay sự kiện có liên quan
đến lịch sử do ý thích của mình hay do những quan hệ nào khác
khiến cho họ cảm thấy thôi thúc cần viết lại. Vấn đề tư nhân
viết sử, xuất phát do việc Khổng Tử viết sách Xuân Thu, đã làm
tăng thêm tính sáng tạo trong nền sử học Việt Nam vốn chịu rất
nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung quốc 19.
Thật
ra, dã sử cũng đã đóng góp rất nhiều trong việc bổ khuyết cho
chính sử, đã giúp cho người viết sử giải quyết được rất nhiều
vấn nạn trong khi nguồn sử học chính thống không đủ tư liệu để
cung cấp lời giải đáp do vấn đề liên quan đặt ra. Lấy một thí dụ
về cuộc nổi dậy của anh em Tây Sơn, bên cạnh những tài liệu về
chính sử như Thực Lục, Liệt Truyện, Cương
Mục, giới nghiên cứu sử học cũng đã sử dụng rất nhiều tài
liệu dã sử như Tây Sơn sử truyện, Vãn Lê di sử,
Tây Sơn thuật lược, Lê kỷ dã sử, Việt sử bổ di... để xây
dựng lại quá khứ của một thời kỳ nhiễu nhương đen tối trong lịch
sử Việt Nam. Những giai thoại lịch sử, những lời đồn, những câu
ca dao, đồng dao, những lời nói ví von, ẩn dụ mà căn bản là của
những câu chuyện dã sử đã cung cấp cho sử gia rất nhiều chất
liệu để xây dựng lại cả một giai đoạn lịch sử kéo dài từ năm
1775 đến năm 1802. Câu chuyện tấm biển đồng đề các chữ “Tây
sơn Nguyễn Nhạc vi vương” đặt trên núi cao đêm đêm có lửa
rọi vào cũng nằm trong âm mưu thần thánh hóa lãnh tụ do chính
Nguyễn Nhạc tạo dựng nên đã được dã sử ghi lại. Chuyện kể rằng:
“Nhạc là người cơ trí, bèn làm một biển đồng khắc sáu chư
“Tây sơn Nguyễn Nhạc vi vương”. Ban đêm ông sai người đem lên
dựng tận trên đỉnh núi, rồi cứ canh hai cho đốt lửa chiếu vào.
Người ta ai cũng lấy làm lạ. Nhân có ngày giỗ, Nhạc mời người
khắp nơi đến dự. Tối đó, khi ăn uống no say rồi, bọn hương hào
bảo nhau: “Đã hai tháng nay, ở trên núi ban đêm có lửa, không
hiểu chuyện gì?” Tất cả hùa nhau đi xem, Nhạc cũng xin đi theo.
Khi họ đến lưng chứng núi, ở trên bỗng có tiếng hô to xuống
rằng: “Chúng bay lên núi làm gì?Có ai là Nhạc đó không?” Họ
khiếp sợ, Nhạc cũng thất kinh. Họ thưa lại rằng: “Tên thần hỏi
Nhạc làm gì?” Người trên núi nói: “Chúng bay dừng lại đó, chỉ
Nhạc được lên nhận mật thư thôi”. Nhạc run sợ, kêu nài mọi người
xin cho khỏi phải lên, nhưng không sao được. Rồi Nhạc lên núi
nhận xuống một tấm biển mang về nhà. Khi thấy tên học được ghi
rành rành, ai nấy đều kinh khủng. Hôm sau, ông giết trâu bò cùng
dân chúng thề ước chiêu quân. Mọi người đều cho là điềm tốt.
Nhiều kẻ tin theo Nhạc.” 20 Câu chuyện được vận
dụng trong một thời điểm mà sự mê tín vốn là hiện tượng rất phổ
thông trong tâm thức quần chúng Việt Nam, chắc chắn không phải
là không có tác dụng tranh đoạt được sự ủng hộ của dân chúng
nhất là những kẻ ít học.
Với câu
nói ngắn ngủi như “binh triều binh Quốc phó, binh ó binh
Hoàng tôn” tuy là của một tài liệu chính sử 21
nhưng tính chất tuyên truyền mang đậm ý nghĩa đả phá và tôn phù
do Tây sơn đưa ra trong buổi đầu của cuộc khởi nghĩa, lại dường
như mang dáng dấp của một lời đồn chính trị rõ ràng nói lên ý
thức đối kháng giữa hai lực lượng một bên là quân đội của Quốc
phó Trương Phúc Loan (tham nhũng, thối nát)) và một bên là lực
lượng của Tây sơn là lực lượng của đông đảo nhân dân (khi xung
trận thì la ó vang trời để trợ lực cho thanh thế) lúc bấy giờ
đang ủng hộ hoàng tôn Dương, cho thấy “cả một mánh lới tuyên
truyền đầy ý nghĩa và hiệu lực” 22.
Về dáng
dấp, khuôn mặt của một nhân vật lừng danh như Nguyễn Huệ, tài
liệu của sử quan triều Nguyễn mô tả ông là người có tiếng nói
sang sảng như chuông, tướng đi như hổ, cử chỉ nhanh nhẹn như
điện chớp và người đời lúc bấy giờ sợ quân Tây sơn như sợ cọp.
Một tài liệu dã sử khác được cho là tả đúng khuôn
mặt của Nguyễn Huệ một cách thực hơn: “Tóc Huệ quăn, mặt mụn
đầy, có một con mắt nhỏ, nhưng mà cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi
không có đèn thì ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu...”
23 hầu như đem lại cả một phong vị thích thú cho người đọc
sử về sau hơn là khi đọc thấy nhưng lời mô tả chân dung mang
tính ước lệ của văn phong kinh điển của ngòi bút sử quan ngày
trước.
Thêm vào đó những câu ca dao lịch
sử trước sau thuộc vào giai đoạn tao loạn đó cũng có ít nhiều
đóng góp sử sự cho các nhà biên soạn lịch sử về sau như:
Trăm quan có mắt như mờ,
Để cho Huy-quận vào rờ
Chính-cung.
nói về việc thông gian giữa quận Huy Hoàng
Đình Bảo với Đặng Thị Huệ, mẹ của Trịnh Cán dẫn đến sự sụp đổ
của họ Trịnh.
Hay câu:
Đầu
cha lấy làm chân con
Mười
bốn năm tròn hết số thì thôi...
là một lối chơi chữ chiết tự như sau: chữ
quang (tên Quang Trung) có chữ tiểu ở trên đem xuống
để vào phần dưới của chữ cảnh (tên Cảnh Thịnh, con Quang
Trung).
Hoặc câu ca dao được truyền tụng một thời:
Lạy trời cho chóng gió nồm,
Cho
thuyền chúa Nguyễn dong buồm thẳng ra...
nói lên phần nào lòng dân chúng lúc bấy giờ
đối với thời thế có vẻ nghiêng chìu về phía ủng hộ chúa Nguyễn
Ánh.
Dĩ
nhiên lợi điểm thứ nhất của dã sử là không bị ràng buộc vào
khuôn phép khắt khe của triều đình, vào dư luận một chiều hay
bầu không khí hoặc mô thức được đóng khung sẵn của xã hội đương
đại. Tuy vậy, sự phổ cập nội dung một tài liệu dã sử cũng khó
thực hiện nếu nó mang nhiều tính cách chống đối chính quyền hoặc
đi ngược lại với dư luận chung trong xã hội. Tư liệu lịch sử do
đó sẽ chỉ được lưu truyền trong dòng tộc, bà con mang tính cách
của một thứ gia bảo, hay gia phả không tiện phổ biến ra bên
ngoài.
Do những hạn chế trong việc bảo
lưu tài liệu dã sử trong gia đình nên loại tài liệu này đã bị
thất truyền, tam sao thất bản qua thời gian khiến cho việc biên
soạn lại lịch sử đất nước gặp nhiều khó khăn mà chính Ngô Sĩ
Liên, tác giả Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cũng đã phải thốt
lên rằng: “Nước ta thiếu sử sách biên chép, mà sự thực đều do
truyền văn, lời ghi có phần quái đản, công việc hoặc có sót
quên, cho đến sao viết không đúng, biên chép phiền tạp, chỉ làm
loạn mắt...” Dĩ nhiên việc sử dụng tài liệu dã sử đòi hỏi sử
gia óc phê phán, phân tích và tổng hợp theo tinh thần khoa học,
biết cân nhắc các tư liệu khi đến tay, đánh giá sử liệu với đầu
óc nhạy bén, sâu sắc. Việc sử dụng nhuần nhuyễn tài liệu dã sử
đòi hỏi nhiều công phu về cẩn án vì phải truy nguyên nhiều thứ
có liên quan tới tài liệu ví dụ tác giả, nguồn gốc xuất phát tư
liệu, thời điểm, địa điểm, môi trường gia đình, xã hội, thể loại
sáng tác (cũng có liên quan phần nào đến địa phương và thời điểm
lưu hành tác phẩm).
Một điểm cần lưu ý là sử liệu tư
nhân đa số đều là những nguồn sử liệu tiên nguyên, sử
liệu trực tiếp hay là sử liệu đầu tay nghĩa là “tác
giả trực tiếp biết sự kiện hoặc là nhờ chính mắt thấy, hoặc nhờ
chính tai nghe, hay là chính tác giả là người đã đóng một vai
trong các việc xảy ra”. 24 Trường hợp này
có thể dẫn chứng với tác phẩm Vũ Man Tạp Lục Thư của
Nguyễn Tấn (1821-1871) 25. Tác giả là một viên Tiễu
phũ sứ thuộc sơn phòng Quảng Ngãi, đã tình nguyện đảm nhiệm
công cuộc bình định nhóm man Đá Vách từng gây nhiều khốn đốn cho
triều đình nhà Nguyễn từ năm 1770 cho đến gần một trăm năm sau.
Năm 1863, ông lãnh trách nhiệm ra quân dẹp giặc mọi ở miền núi
hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Sau chưa đầy ba năm, ông dẹp
xong và thu thập tất cả mọi hiểu biết của ông về núi rừng địa
phương cùng phong tục tập quán của các sắc dân thiểu số ở đó,
lịch sử kiến trí duyên cách miền thượng du để viết nên tác phẩm
độc đáo Vũ Man Tạp Lục Thư mà chính cụ Cao Xuân Dục đã
đánh giá là “Tập sách này cũng dùng để bổ túc cho các sách sử
trước đây chưa đầy đủ, soi rõ thêm các điều chưa tường tận”
và Henri Maitre, một nhà nhân chủng học nổi tiếng ở Đông Dương
trước đây nhận xét đó là một tập hồi ký cung cấp những ghi nhận
rất chính xác, rất quý giá về các sắc dân thiểu số ở Quảng Ngãi,
thêm vào một trang sử rất kỳ thú về lịch sử xứ ta.26
Vũ Man Tạp Lục Thư đã là một nguồn tài liệu đầu tay và
tiên khởi viết về lịch sử vùng thượng du Quảng Ngãi, Bình Định
do viên Tiễu phủ sứ đầu tiên viết ra và truyền lại cho con cháu
trong dòng tộc ông ở Quảng Ngãi làm kim chỉ nam cho việc bình
định các sắc tộc thiểu số ở đây. Các sách vở, trước tác, biên
khảo của người Pháp viết về vùng cao Nghĩa Định, rồi phần lớn
các sử liệu của triều Nguyễn hoặc sách vở của các tác giả Việt
Nam về sau, khi muốn truy cứu về các sắc dân thiểu số ở hai tỉnh
này đều dựa trên tác phẩm Vũ Man Tạp Lục Thư. Chính một
người trong dòng tộc Nguyễn Tấn, Diên-Lộc quận công Nguyễn Thân
cũng đã nối tiếp sự nghiệp của cha ông từ chốn rừng cao núi cả
của Nghĩa Định sơn phòng, ổn định cuộc sống người dân thượng du
ở đó, phát triển các phương lược chiến đấu và củng cố tư thế
vững mạnh cho cơ sở quốc phòng và phát triển ở núi rừng miền tây
Trung kỳ, nhờ vào kinh nghiệm tích lũy từ cuốn sách Vũ Man
Tạp Lục Thư này 27.
Đối với những người viết sử theo
khuynh hướng vô sản mác xít, việc thừa nhận các thành quả của
nền sử học tư sản quả thật là khó khăn. Tuy vậy, trước những kết
quả khó lòng phủ nhận được giá trị của nguồn tư liệu chúng ta đã
thử lược qua ở hai phần tham khảo và nhận định nói trên, chính
họ cũng phải xác nhận rằng “sử liệu tư nhân thực sự là nguồn
sử liệu có giá trị và phong phú nhất về sinh hoạt xã hội và kinh
tế, văn hóa hiện đại cũng như thời xưa. Nghiên cứu các vấn đề
lịch sử kinh tế, xã hội thời xưa mà thiếu nguồn sử liệu tư nhân
tức là thiếu về cơ bản tình hình thực tế của các vấn đề đó.”
28
Từ khi việc biên soạn lịch sử do
độc quyền của các viên chức nhà nước dưới các chế độ quân chủ
phong kiến hình thành có qui củ đến ý thức tự viết lấy lịch sử
và do đó tạo nên khuynh hướng dã sử ở ngoài khuôn khổ của triều
đình, thật ra nền sử học Việt Nam nói chung cũng chỉ nhắm
nhiều vào mục đích nêu gương tốt, bài trừ việc xấu, răn dạy hậu
thế với những sử sự điển hình, chung chung. Đến khi người Pháp
có mặt ở Đông Dương, khuynh hướng viết sử mang một chiều
hướng mới, và về sau sử học lại đi tới nhiều bước phát triển
quan trọng chứa đựng các sắc thái cá biệt, xung khắc lẫn nhau
trong khuôn khổ của các cuộc chạm trán ý thức hệ chính trị mà
chúng tôi sẽ đề cập đến trong một bài nghiên cứu sau.
Nguyễn Đức Cung
CHÚ THÍCH:
1.- Một
bài phú nổi danh của Tô Thức tức Tô Đông Pha (1036-1101) thời
Đường.
2.- Nói
về những cuộc luận chiến giữa các quan điểm sử học mác-xít và sử
học quốc gia trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam trước đây khởi
đi từ việc bút chiến giữa Văn Tân của Viện sử học Hà Nội với
giáo sư Nguyễn Phương ở Sài gòn trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử
(1959) và tạp chí Bách Khoa & tạp chí Đại Học (1963, 1964) ở Sài
Gòn và Huế về chủ đề “Ai đã thống nhất Việt Nam, Nguyễn Huệ hay
Nguyễn Ánh” đến việc các sách vở Cộng Sản viết sau năm 1975 lên
án một số các sử gia miền nam như Nguyễn Phương, Tạ Chí Đại
Trường về các vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt Nam, phương pháp
luận sử học, vấn đề Tây sơn v.v... và trong các trại học tập cải
tạo của nhân viên và quân đội chế độ VNCH sau ngày 30-4-1975.
3.-
Trương Như Tảng, A Viet Cong Memoir, Nhà xuất bản Vintage
Books, New York, 1985, tr.5.
4.- Trần Gia Phụng, Án tích
Cộng Sản Việt Nam, Nxb. Non Nước, Toronto, Canada, 2001, xem
Lột trần huyền thoại Hồ Chí Minh, tr. 335.
5.- Tạ Chí Đại Trường, Những
bài văn sử, Nxb. Thanh Văn, California, tr. 137.
6.- Nguyễn Phương, Phương pháp
sử học, Phòng Nghiên Cứu Sử, Viện Đại Học Huế xb.,1964, tr.
71.
7.- Vương Tuệ Mẫn (chủ biên),
100 Danh Nhân Có Ảnh Hưởng Đến Lịch Sử Trung Quốc, bài Tư
Mã Thiên, sử gia thông hiểu những thay đổi xưa nay tự trở thành
trường phái riêng, tác giả Trương Đại Khả. Bản dịch
của Tiến Sĩ Nguyễn Văn Dương, Nxb. Văn Hóa - ThôngTin, 2002,
tr. 280.
8.- Nguyễn Phương, Sách đã dẫn,
tr. 133.
9.- Nguyễn Thế Anh, Nhập Môn
Phương Pháp Sử Học, Sài Gòn, 1974, tr. 10.
10.- Tạ Chí Đại Trường, Những
bài văn sử, Nxb. Thanh Văn, Cali., 2000, tr. 137.
11.- Đại Dương, Thư gởi người
mới quen, Diễn Đàn Tự Do số 3, 30-9-1995.
12.- Tạ Chí Đại Trường, Lịch
Sử Nội Chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802, Nxb. Văn Sử Học,
Sài Gòn, 1973, tr. 16.
13.- Nguyễn Phương, Việt Nam
Thời Khai Sinh, Phòng Nghiên Cứu Sử, Viện Đại Học Huế xb,
1965, tr. 155.
14.- Lê Văn Sáu, Trương Hữu
Quýnh, Phan Ngọc Liên, Nhập Môn Sử Học, Nxb. Giáo Dục,
1987, tr.101.
15.- Nguyễn Phương, Phương
Pháp Sử Học, Sđd, tr. 59-60.
16.- Nguyễn Đức Cung, Viết về
một sử gia Việt Nam đã ra đi, Linh mục Trúc Long Nguyễn Phương
(1921-1993), Tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong, số 435-436, tháng 1
và 2 năm 1994, xb. tại Virginia, Hoa Kỳ. Nguyễn Đức Cung,
Tưởng niệm sử gia Nguyễn Phương, nguyệt san Đất Mẹ,
Houston, số 49 , tháng 2 – 1994. Trần Gia Phụng, Sử gia
Nguyễn Phương, người đặt vấn đề, trong Những câu
chuyện Việt sử, tập 2, Nxb, Non Nước, Toronto, 1999, tr.
393.
17.- Tạ Chí Đại Trường, Những
bài văn sử, Sđd. tr. 137.
18.- Nguyễn Thế Anh, Sđd, tr. 5.
19.-Vương Tuệ Mẫn, Sđd, bài
Khổng Tử, gương sáng muôn đời sánh ngang quân thân (vua và
cha mẹ) Trời Đất, của Trương Kỳ Hồng, tr. 41.
20.- Nguyễn Phương, Việt Nam
Thời Bành Trướng: Tây Sơn, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn, 1967, tr.
31.
21.- Chính biên liệt truyện,
q.30, 2b.
22.- Nguyễn Phương, Việt Nam
Thời Bành Trướng: Tây Sơn, Sđd, tr. 41.
23.- Tạ Chí Đại Trường, Lịch
Sử Nội Chiến... Sđd, tr . 271.
24.- Nguyễn Phương, Phương Pháp
Sử Học, Sđd, tr. 69.
25.- Nguyễn Đức Cung, Lịch Sử
Vùng Cao Qua Vũ Man Tạp Lục Thư, Nxb. Nhật Lệ, Philadelphia,
Hoa Kỳ 1998.
26.- Nguyễn Đức Cung, Sđd, tr.
84.
27.- Nguyễn Đức Cung, Diên-Lộc
Quận-Công Nguyễn Thân, Nxb. Nhật Lệ, Philadelphia, Hoa Kỳ,
2002, tr. 90.
28.- Lê Văn Sáu, Trương Hữu
Quýnh, Phan Ngọc Liên, Sđd, tr. 102.
Trở về Trang Chính
|