|
Trong
bài trước 1 chúng tôi đã có dịp nói về dã sử tức là
nguồn sử liệu tư do tư nhân viết khác với nguồn sử liệu công do
quốc sử quán ngày xưa hay nhân viên nhà nước gọi là sử quan
viết, và thấy được vai trò của nó trong việc bổ túc những thiếu
sót, khiếm khuyết của chính sử. Trong quá trình biên khảo loạt
bài này, chúng tôi lại có cơ hội được đọc một số tài liệu phản
ảnh ý kiến của một số nhà sử học về vấn đề sử liệu trong đó có
nói tới dã sử và thẩm định giá trị của nó thì thiết tưởng đó
cũng là dịp tốt cho phép chúng tôi khai triển thêm.
Thật sự, dã sử là một vấn đề khá phức tạp và vai trò
cùng giá trị của nó có khi lại được đánh giá một cách hết sức
tùy tiện mà nhịp độ của thủy triều lên xuống trong việc thẩm
định lại chính là lòng thương ghét của nhà viết sử chiếu theo
nhu cầu viết lách của họ và cảm tính thời thượng trong xã hội.
Nền sử học chính thống hình thành do các nguồn sử phẩm của các
triều đình quân chủ nước ta thông qua hoạt động của quốc sử
quán, vốn có sự đóng góp tích cực của nguồn sử liệu dã sử trong
đó có chuyện thật xen lẫn chuyện hoang tưởng. 2 Khi
sử dụng dã sử, người ta cần áp dụng phương pháp sử để phân tích,
cẩn án, khảo chứng (evidential research) các tư liệu đưa ra dùng
để “gạn đục khơi trong”, hầu lọc lấy phần tinh hoa của sự thật,
được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Danh xưng của nguồn tư liệu dã sử
cũng có nhiều cách gọi tùy theo đặc tính và công dụng của nó.
Ở Trung
Hoa, loại dã sử cũng có những khác biệt với chính sử mà trong
một tác phẩm biên khảo rất công phu về ngành thư tịch học Trung
Hoa, cuốn Chinese History, A Manual, (Trung Quốc
Lịch Sử Thủ Sách), Endymion Wilkinson đã có
đề cập đến như sau:
1.- Các bộ môn cùng loại với dã sử trong nền sử
học Trung quốc:
Tư sử (sishi) : Theo tác giả này, có rất
nhiều công trình biên soạn lịch sử do tư nhân đảm trách đã phụ
trợ đắc lực cho ngành viết sử do nhà nước chủ trì. Theo ông, các
tác phẩm như Tả Truyện (Zuozhuan) hoặc Sử Ký
(Shiji) là những cuốn sách sử rất nổi tiếng mặc dù khởi công từ
sáng kiến của chính quyền nhưng đều cũng đã được tin tưởng giao
phó cho các tư nhân biên soạn. 3 Trong các sử phẩm
ấy, các học giả cũng tự do đưa ra các điều biện luận thông tuệ,
nghiên cứu các tài liệu nguyên bản và các tài liệu bút ký.
Tả Truyện hay có tên gọi khác là Tả Thị Xuân Thu ra
đời vào khoảng cuối thế kỷ thứ IV trước Công nguyên do tác giả
là Tả Khâu Minh. Đây là bộ sử Xuân thu viết theo thể loại biên
niên. Tả Truyện là sách vừa chú giải kinh Xuân thu của
đức Khổng, vừa chép sử Trung Hoa thời Xuân Thu, và chứa đựng
nhiều chi tiết hơn bộ kinh Xuân thu 4. Đầu đời Hán,
có hai nhà chú giải kinh Xuân Thu là Công dương Cao và
Cốc lương Xích. Đối với Sử Ký 5 của Tư Mã
Thiên, hầu hết mọi người đều thừa nhận tầm vóc vĩ đại của nó,
nhất là tinh thần tự do sáng tác của tác giả thật là khoáng đạt.
Tư Mã Thiên tên chữ là Tử Trường, người đất Hạ dương, quận Tả
Phùng Dực, con của Tư Mã Đàm nối đời chuyên nghiệp viết sử. Để
chuẩn bị kiến thức cho công tác biên khảo sử học sau này, Tư Mã
Đàm đã khuyên con đi du lịch khắp nơi để mở rộng kiến thức. Nhữ
Thành viết về các chuyến đi (du khảo hay điền dã) khá liên tục
của Tư Mã Thiên như sau: “Tư Mã Thiên trước tiên đi về nam
đến Trường Giang, vượt sông Hoài, sông Tứ, thăm mộ mẹ Hàn Tín,
đoạn lên núi Cối Kê xem nơi vua Hạ Vũ triệu tập chư hầu, vào
hang Vũ Động tìm di tích vua Vũ. Ở Cối Kê ông đã nghe những
chuyện kể về vua Việt Câu Tiễn. Ông lên Cô Tô tìm di tích Ngũ Tử
Tư, đi thuyền trên Thái Hồ sưu tầm truyền thuyết về Tây Thi,
Phạm Lãi. Sau đó, ông đi ngược lên Trường Sa, đến bến Mịch La
khóc Khuất Nguyên, đến sông Tương trèo lên núi Cửu Nghi nhìn dấu
vết mộ vua Thuấn và khảo sát những tục cũ từ thời Hoàng Đế. Ông
lên miền bắc vượt sông Vấn, sông Tứ đến nước Tề,
nước Lỗ, bồi hồi nhìn lăng miếu của Khổng Tử, say sưa nghe nhân
dân kể chuyện Trần Thiệp, đến đất Tiết thăm hỏi di tích của Mạnh
Thường Quân, lên Bành Thành quê hương Lưu Bang để tìm hiểu rõ
thời niên thiếu của những con người đã dựng nên nhà Hán. Ông
sang nước Sở thăm đất phong của Xuân Thân Quân, đến nước Ngụy
hỏi chuyện Tín Lăng Quân rồi trở về Tràng An. Sau chuyến đi ấy
kéo dài ba năm ông còn đi những chuyến khác cũng để tìm tài liệu.”
6 Năm đầu Thái sơ (104 tr. CN) Tư Mã Thiên khởi viết
bộ Sử Ký . Năm 98 tr. CN, vì bênh vực cho người bạn là Lý
Lăng trong vụ đầu hàng Hung Nô, Tư Mã Thiên bị tống giam vào
ngục và chịu nhục hình bằng cách bị thiến bộ phận sinh dục.
Nhiều lần ý nghĩ tự tử đã đến với ông nhưng ông quyết vượt lên
để sống mà viết sách, hoàn thành cho được lời di huấn của cha.
Trương Đại Khả đã nói về tâm sự u uất của Tư Mã Thiên như sau: “Chịu
họa Lý Lăng khiến cho lập trường của Tư mã Thiên có sự thay đổi
lớn.Ông đã giải thoát khỏi sự buồn giận cá nhân, căm hờn biên
soạn. Sau khi ra khỏi ngục, đảm nhiệm chức Trung thư lệnh
7, tuy tuân mệnh nhậm chức, nhưng lòng như tro lạnh.
Ông đã trút sự căm tức và bất bình của mình vào trong bộ Sử ký,
trở thành “một trường phái riêng” 8. Kết quả làm
việc của ông là một công trình sử học lừng danh cổ kim do tinh
thần bền chí, nhẫn nhục và thiên tài của ông ra đời với hơn 53
vạn chữ, gồm 130 thiên, mở đầu cho thể kỷ truyện khai sáng một
thời đại mới trong sự phát triển của nền sử học Trung Hoa.
Ban Cố
(32-92 sau CN), tác giả Tiền Hán Thư, đã phê bình về tác phẩm
của Tư Mã Thiên như sau: “Thánh nhân (chỉ Tư Mã Thiên – N.D.)
e cũng có chỗ sai, nói về Đạo lớn lại nhắc đến Hoàng Lão (tức
Hoàng đế và Lão tử, chỉ Đạo gia vào đời Hán – N.D.) trước rồi
sau đó mới đến Lục kinh, viết lời tựa về du hiệp thì chê ẩn sĩ
mà tiến dẫn gian hùng, kể về kinh doanh buôn bán thì sùng kính
kẻ thế lực mà dè bỉu kẻ nghèo hèn, đó là cái tệ của ông.”
(Hán thư, “Tư mã Thiên truyện”). 9
Nhà sử
học Trương Đại Khả đã nhận định về lời phê phán của Ban Cố và
phân tích quan điểm sử học của Tư Mã Thiên bằng những lời lẽ
chắc nịch như sau: “Ban Cố phê bình cái “tệ” của Tư mã Thiên
lại hoàn toàn là cái “sáng suốt” (minh) rực rỡ đẹp mắt trong tư
tưởng của Tư mã Thiên. Tư mã Thiên “nói về Đạo lớn mà lại nhắc
đến Hoàng Lão trước rồi sau đó mới đến Lục kinh” chính là khẳng
định sự thái bình trong cách trị nước của Văn Cảnh 10
mà phủ định sự suy bại được tạo thành do những ham muốn của Hán
Vũ Đế; kể về kinh doanh buôn bán lại viết truyện cho thương nhân
là khẳng định thương nhân đã thúc đẩy phát triển sản xuất, có
cống hiến đối với sự phồn vinh của kinh tế xã hội; khen ngợi
hiệp sĩ là khẳng định đạo đức của loại người này có thể hy sinh
thân mình, cứu người nguy khốn. Trên thực tế, qua việc ca ngợi
Hoàng Lão, thương nhân, hiệp sĩ, Tư mã Thiên đã bày tỏ sự ngưỡng
vọng của ông đối với chính trị cởi mở, khẳng định ý thức cầu lợi
của nhân dân và phản đối thế lực cường bạo đối với nhân dân.
Chính những tư tưởng này đã thể hiện thước đo khen chê nhân vật
và sự kiện lịch sử của Sử ký, không chịu sự hạn chế của tư tưởng
chính thống giai cấp thống trị, mà là lập luận từ lợi ích của
nhân dân bị áp bức trên một mức độ nhất định, đây chắc chắn là
tư tưởng tiến bị nhất của thời đại lúc bấy giờ”.
11
Phải
nói rằng những nhận định của nhà sử học họ Trương được phát biểu
một cách ngay thẳng, khá tự do trong tình hình chính trị của
Trung quốc mấy năm gần đây vốn không khác gì tình hình Trung
quốc cách nay gần hai ngàn năm, vô hình trung càng làm nổi bật
cái nhìn viễn kiến của sử gia Tư Mã Thiên, thí dụ đối với vai
trò của thương nhân (trong bài Hóa thực liệt truyện) hay
chế độ chính trị đầy áp bức của giới cầm quyền đối với nhân dân
trong nước (Trung Hoa hay Việt Nam cũng giống nhau vậy thôi),
mặc dù tác giả này cũng đã cố gắng tránh né không trả lời đích
thực vào những điểm Ban Cố phê phán về Tư Mã Thiên như “chê
ẩn sĩ mà tiến dẫn gian hùng, sùng kính kẻ thế lực mà dè bỉu kẻ
nghèo hèn” ! Trương Đại Khả nhận xét thêm rằng: “Tư mã
Thiên không phải là “ca sĩ của nhân dân”, ông tuyên dương đại
nhất thống, phục vụ cho sự củng cố phong kiến thống trị, cho nên
Sử ký được coi là chính sử.” 12
Thật
ra, với chính sách bãi truất bách gia, độc tôn nho thuật, Hán
Vũ-Đế (140-88 tr. CN) đã mở đường cho các hạng nho sĩ, trí thức
Trung quốc đi vào chính quyền qua sách vở của thánh hiền (Nho
học, khoa cử). Các sáng tác của giới nho sĩ nếu có đề cao chính
quyền đương thời cũng là chuyện tất nhiên, bởi vì uống nước phải
nhớ nguồn ...
Bút
ký (biji): Cũng theo Endymion
Wilkinson, đây cũng là một loại tư sử nhưng mang một hình thức
khác mà công dụng là cũng để góp phần bổ túc cho những thiếu sót
của chính sử. Danh từ bút ký (informal jottings) có thể hiểu như
đoản bút khác với lối dùng của thể văn bút ký ta dùng hiện nay.13
Biệt sử (bieshi): Loại này cũng thay đổi theo
thời gian và được dùng để gọi những tư liệu không thuộc ngành
chính sử và đàng khác nó cũng không phải loại sử liệu được viết
theo thể biên niên hay thể kỷ truyện. Tác giả E. Wilkinson cho
rằng biệt sử là một thể loại để chỉ những sử phẩm tương đối
nghiêm túc nằm giữa loại chính sử và dã sử.
Bại sử (baishi): Theo Thiều Chửu trong Hán
Việt Tự Điển, chữ bại này viết một bên chữ hòa (lúa) một bên
chữ ti (thấp) có hai nghĩa : 1.- Một thứ cỏ giống lúa hơi đắng,
có thể nấu cháo ăn được. 2.- Nhỏ mọn, như bại thuyết- truyện
tiểu thuyết; bại quan- chức quan bé. Hiểu theo ý
nghĩa thứ hai thì bại sử là loại sử chuyên viết về những chuyện
vụn vặt, tản mạn, bên lề của một sự việc, một biến cố, một nhân
vật nào đó. Với tác giả E. Wilkinson, bại sử là thuật ngữ thỉnh
thoảng được dùng trong các cuốn danh mục về sách và như vậy
thuật ngữ này cũng nằm ngoài chính sử.
Ngoài ra, E. Wilkinson còn cho biết các thuật ngữ
như biệt sử, tạp sử, bại sử hay tư sử cũng có khi được kể chung
như là dã sử. Dã sử vốn là ngành rất thịnh hành trong
thời Nam Bắc Triều (220-589), Tống (960-1279), Minh (1368-1644).
14 Sự phong phú trong các thuật ngữ Trung Hoa dành
cho loại dã sử cùng các loại có phong cách viết lách tương tự đã
được các tài liệu sách vở nước này trưng dẫn đầy dẫy trong các
tạp chí, sách nghiên cứu, và các quyển từ điển giá trị như
Khang Hy tự điển, Từ Nguyên, Từ Hải v.v... định nghĩa
và phân tích tường tận.
2.- Các loại tư liệu trợ lực cho chính sử Việt
nam.
Ngành
dã sử ở nước ta cũng không đi ra ngoài khung khổ của ảnh hưởng
Trung Hoa về phương pháp biên soạn. Nội dung của bộ môn dã sử
cũng có những mặt ưu điểm và khuyết điểm; điều quan trọng là
người ta phải biết cách sử dụng để rút ra được những mách bảo
hữu ích vốn có trong tư liệu. Tuy nhiên nếu đem ra so sánh với
các thuật ngữ của Trung Hoa ở trên chắc hẳn loại dã sử của nền
sử học của nước ta cũng không kém phần phức tạp, rắc rối. Giáo
sư Dương Quảng Hàm đã có những nhận thức xác đáng về loại dã sử
như sau: “Xưa nay, người nước ta chỉ biết trọng và đọc
chánh-sử mà có ý khinh thường dã-sử. Thực ra, dã-sử cũng quan
trọng bằng chánh-sử, vì nhiều khi có thể nhờ đấy mà sửa lại được
những điều sai lầm hoặc thiên-lệch của những bộ sử do sử-thần có
khi vì sự tây-vị hoặc thế lực áp-bách mà chép sai đi. Một lẽ nữa
là vì chánh-sử thường chỉ chú trọng về việc nhà vua và việc
triều-đình, nhiều khi chép cả những việc không quan-trọng lắm;
trái lại, thường bỏ khuyết hoặc chép rất sơ-lược những việc có
liên-lạc đến cách sinh-hoạt của dân chúng, tình-hình xã-hội,
kinh-tế trong nước, cùng phong tục, tín-ngưỡng của người dân.
Vậy muốn bồi bổ những khuyết-điểm ấy, nhiều khi phải tra-cứu ở
các dã-sử mới thấy.”15
Ở Trung
Hoa cũng như ở Việt Nam trước kia trong thời quân chủ, ngành
viết sử thường nằm trong tay các bậc khoa bảng, trí thức vốn đại
diện cho một tầng lớp ý thức hệ cầm quyền tức là Nho học, cho
nên người ta vốn có thói quen tôn trọng những cái gì của chính
quyền hoặc xuất phát do chính quyền. Có lẽ ý thức tôn trọng
chính sử không chỉ riêng dân Việt Nam ta mới có nhưng cũng chính
là lề thói khá phổ biến trong nhiều nước trên thế giới do việc
viết sử trước đây ngay cả nghề viết sử được coi là chuyên biệt
của những nhà văn thuộc giai cấp thống trị hay có khi là một
nghề “truyền tử lưu tôn” như trường hợp Tư Mã Thiên chẳng hạn.
Tính cách độc quyền trong việc chép sử ở Tây phương thời xưa
cũng được tiết lộ nhờ Suétone 16 “có để lại cho chúng
ta một bản văn của Cornelius Nepos (khoảng 100- 25 trước t.l.),
trong đó ông này ngạc nhiên vì một người nô lệ mới được giải
phóng đã dám cả gan viết sử.” 17 Những lời của giáo
sư Dương Quảng Hàm trích dẫn ở trên kia vốn là quan điểm của một
người cầm bút cách đây hơn sáu mươi năm, chứng tỏ mặc dù tuy
không phải là chuyên gia về ngành sử học nhưng ông lại có thái
độ rất chính chắn khi nhận xét về vai trò của các loại chính sử
và dã sử. Sách của ông đã từng được nhiều thế hệ sinh viên, học
sinh sử dụng trong chương trình giáo dục tại học đường và cũng
đã được rất nhiều thế hệ giáo sư dùng làm sách giáo khoa cho các
bậc trung học. Chính sử không phải luôn luôn là đáng tin cũng
như dã sử không phải luôn luôn là cái đáng ngờ vực, là do tưởng
tượng bịa ra. Muốn sử dụng cả hai loại này, người viết sử cần áp
dụng phương pháp sử học nghĩa là cần phải “cẩn án” tài liệu hay
“án khảo chứng tích” 18.
Học giả Trần Trọng Kim khi viết
bộ Việt Nam Sử Lược cũng đã nói rõ cách sử dụng tài liệu
khi viết tác phẩm này: “Soạn giả đã cố sức xem-xét và
góp-nhặt những sự ghi-chép ở các sách chữ nho và chữ pháp, hoặc
những chuyện rải rác ở các dã-sử, rồi đem trích bỏ những sự
huyền-hoặc đi mà soạn ra bộ sách này, cốt để người đồng-bang ta
biết được chuyện nước nhà mà không tin nhảm những sự huyễn-hoặc.
Thời-đại nào nhân-vật ấy và tư-tưởng ấy, soạn-giả cứ bình-tĩnh
cố theo cho đúng sự thực.” 19
Chịu
ảnh hưởng của nền sử học truyền thống Trung Hoa, nền sử học Việt
Nam căn cứ theo nhiệm vụ được triều đình qui định đề phân biệt
chính sử với dã sử. Một số loại tài liệu sau đây được coi như
các môn trợ lực cho các bộ chính sử.
Các văn thư thù tiếp, ngoại giao,
công hàm, quan hàm: Các văn thư chính thức của triều đình trong
thông tin, thông báo, thù tiếp hay ngoại giao v.v... thí dụ
Quân trung từ mệnh tập gồm các thư từ giao dịch giữa Lê Lợi
với quân Minh trong thời gian chiến tranh Hoa-Việt (1417-1427)
do Nguyễn Trãi viết, Bình Ngô đại cáo cũng do Nguyễn Trãi
soạn, Văn tế tướng sĩ trận vong của Nguyễn Văn Thành soạn
20 sau khi Nguyễn Ánh chiến thắng Tây Sơn cũng cung
cấp rất nhiều chất liệu bổ ích trong việc xây dựng lại thời sự
quá khứ. Tuy nhiên vì không chắt lọc được sử tính trong một số
tác phẩm văn chương Việt Nam khi đưa vào sử dụng cho nên điều
này đã khiến cho một số tác giả của ta trước đây không phân
biệt được đâu là văn chương, đâu là lịch sử. Tình trạng đó đã
dẫn người đọc đi vào chỗ lầm lạc từ chuyện giả thành chuyện
thật, từ chuyện hư cấu trở thành chân lý muôn đời. 21
Trường hợp nhà sư Pháp Thuận đối đáp với sứ nhà Tống là Lý Giác
năm 987 trong một bài thơ làm chung có thể coi là một giai thoại
văn chương, nhưng nếu ý nghĩa lịch sử của nó được xác minh qua
thẩm định, cân nhắc thì cũng có thể có khả năng giúp ích cho
việc hiểu thêm chính sử trong giai đoạn lúc bấy giờ . Toàn
Thư chép rằng: “Nhà Tống lại sai Lý Giác sang. Khi Giác
đến chùa Sách Giang, vua sai pháp sư tên là Thuận giả làm người
coi sông ra đón. Giác rất thích nói chuyện văn thơ. Lúc ấy nhân
có hai con ngỗng lội trên mặt nước, Giác vui ngâm rằng:
Nga nga
lưỡng nga nga,
Ngưỡng diện hướng thiên nha.
(Ngỗng ngỗng hai con ngỗng,
Ngửa mặt nhìn chân trời)
Pháp sư đương cầm chèo, theo vần làm nối đưa cho
Giác xem:
Bạch mao phô lục thủy,
Hồng trạo bãi thanh ba.
(Nước lục phô lông trắng
Chèo hồng sóng xanh bơi).”
22
Bài thơ
trên đây được biết chính là bài Vịnh nga của Lạc Tân
Vương mấy trăm năm về trước mà đây “chỉ là trí nhớ và kiến
thức về học thuật thi văn Trung quốc đem ra đối đáp... đây vừa
là cuộc đấu trí ngoại giao, vừa là một sáng tạo thù ứng
mang tính văn học trong một không gian mới và ở thời điểm có
tính quyết định về vận mệnh của một dân tộc.” 23
Sự suy
luận trong phương pháp sử học cho phép chúng ta đặt lại tính xác
thực trong cách thù tiếp ngoại giao giữa quốc gia này với quốc
gia khác. Ở đây tính đơn giản của lễ nghi thù tiếp một vị sứ giả
ngoại quốc, ngôn từ trao đổi, địa điểm tiếp xúc cho phép tồn tại
nhiều câu hỏi mà sử học cần trả lời.
Bi ký:
Tức là các bài văn bia đặt ở lăng tẩm hay đền đài, lăng mộ của
người đã chết thuộc dòng vua, quan hay dân dã như Lam sơn
Vĩnh lăng thần đạo bi ký do Nguyễn Trãi soạn nói về tiểu sử
của Lê Lợi, Khiêm cung ký do vua Tự Đức soạn 24.
Đa số các bài văn bia này, ngoài những lời xưng tụng thường lệ
theo từng cấp bậc, phẩm tiết con người, những phần viết về hành
trạng cá nhân như ngày sinh, nơi sinh, tên cha mẹ, anh em, ngày
chết , nơi chết, lý do, tuổi tác, chức vụ, cấp bậc, diễn tiến
tổng quát của cuộc đời v.v... hầu hết đều là những sự kiện trung
thực, ít khi có sự dối trá, thiếu trung thực xen vào bên trong.
Vì đây là những tài liệu công khai hóa bên ngoài mà mục đích
thường là để tán tụng, phô diễn công đức người đã khuất cho nên
gia đình con cháu cũng phải nói điều chân thật để tránh sự xoi
bói, mỉa mai của người khác. Tuy nhiên, với con mắt người viết
sử, tất cả tư liệu đó cũng cần phải được xét duyệt cẩn thận
trước khi dùng.
Ngành
phổ hệ học (généalogie), theo giáo sư Nguyễn Thế Anh “nghiên
cứu thế hệ, tổ tiên, dòng dõi, gia đình của các cá nhân. Quan
niệm theo nghĩa hẹp, phổ hệ học sẽ chỉ chú trọng đến ngày sinh,
ngày cưới, và ngày chết của mỗi cá nhân để đặt cá nhân ấy vào
trong gia tộc của họ, cùng với ngày sinh của các con cái của họ
sẽ vĩnh truyền dòng dõi. Nhưng ngay ở trình độ này phổ hệ học đã
cung hiến cho sử gia nhiều hiểu biết quý giá: đối với những giai
đoạn lịch sử xưa, các gia phả là những tài liệu duy nhất cho
chúng ta những chi tiết chính xác về tỷ suất hôn nhân, mắn suất,
tử suất, tuổi sống trung bình.” 25
Các loại
tư liệu sau đây thuộc về ngành phổ hệ học:
Ngọc
điệp hay ngọc phả: Điệp hay
pha (pho) là sổ sách ghi chép lịch sử phát tích của các thế hệ
dòng dõi của họ nhà vua vốn là những tài liệu quý báu và trung
thực giúp cho ngành chính sử tham khảo khi viết về lịch sử hoàng
tộc thí dụ Hoàng Lê ngọc phả, hoặc như gần đây có Nguyễn Phúc
Tộc Thế Phả. Ngọc điệp hay ngọc phả là sách viết về
phổ hệ bắt chước phả điệp (pudie), hệ phả (xipu) hay thế biểu
(shibiao) của Trung quốc . Chính Tư Mã Thiên khi viết Sử Ký,
cũng đã sử dụng các phả điệp đời tiên Tần và các hệ phả thời
Chiến quốc để viết các chương về bản kỷ và dòng dõi của các nhà
cầm quyền trước kia như Tam đại thế biểu, Thập nhị chư tộc niên
biểu, Thế gia. Nhà Tống đã có thành lập Ngọc điệp sở để thu thập
tư liệu nhằm viết loại ngọc điệp. Đời nhà Thanh, có thành lập
Ngọc điệp quán để viết Tông thất ngọc điệp chia ra từng thời kỳ
10 năm bắt đầu từ năm 1661. Ngành gia phả (jiapu) hay tộc phả
(zupu) cũng theo đó mà phát triển từ thời nhà Hán đến nhà Đường
rồi thời Bắc Tống. Nhà Thanh cũng khuyến khích việc biên chép
gia phả hay tộc phả. Gia phả chính là nguồn tài liệu căn bản để
viết lịch sử gia đình, tiểu sử nhân vật, lịch sử địa phương và
nghiên cứu về nhân khẩu học. Trong cuộc cách mạng văn hóa dưới
thời Mao Trạch Đông nhiều tài liệu về gia phả bị tiêu hủy
26.
Gia
phả: Gia phả hay tộc phả ghi lại tiểu
sử, hành trạng của một nhân vật hay các thành viên của một gia
đình để lưu lại cho các thế hệ con cháu mai sau. Gia phả thường
được ghi lại trong những gia đình có học và trước đây thường ghi
bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm. Gia phả tại Việt Nam đã có từ lâu
nhưng cũng thật khó để xác nhận ngành biên soạn gia phả xuất
phát vào thời điểm nào. Trước năm 1975, ở miền nam cũng đã có
phong trào nghiên cứu lại các vấn đề gia phả và vấn đề đó đã
được tác giả Dã Lan Nguyễn Đức Dụ viết trong cuốn Một lối
chép gia phả thật đơn giản, bản in ronéo năm 1973 tại
Sài-gòn. Cách thức viết một quyển gia phả cũng có tính truyền
thống nghĩa là được duy trì từ đời này sang đời khác. Gia phả ở
Việt Nam đã có từ lâu tùy theo từng danh gia vọng tộc mà sự biên
chép có đôi chút khác biệt. Nhờ gia phả mà chúng ta có thể biết
thêm về các sự kiện lịch sử hoặc dựa vào gia phả mà người ta có
thể giải quyết hoặc bổ túc được những điều mà đôi khi chính sử
không biết. Cũng theo giáo sư Nguyễn Thế Anh “trong một vài
trường hợp, sự tham khảo một số gia phả đã cung hiến
những hiểu biết quí giá về lịch sử xã hội và kinh tế”
27
Có thể nói
hầu hết các gia đình lớn tại Việt Nam đều có để lại gia phả mà
theo tài liệu ghi nhận được chúng ta có thể kể một số điển hình
như sau:
Về mặt sử
học, dòng tộc của sử gia Lê Văn Hưu còn lưu lại cuốn gia phả có
tên Lê Thị Gia Pha, gồm 3 quyển không ghi rõ người
soạn và hiện nay do bà Lê Thị Huê giữ. Gia phả chép từ đời khởi
thủy của dòng họ Lê là Trấn quốc bộc xạ Lê Lương, thời Đinh Tiên
Hoàng cho đến các đời gần đây, cả thảy hơn 20 đời. Lê Văn Hưu
thuộc đời thứ bảy và bản gia phả này góp phần làm sáng tỏ quê
hương, dòng họ và tiểu sử của ông. Cũng nhờ vào gia phả mà dòng
tộc của thi hào Nguyễn Du đã được nghiên cứu khá kỹ càng trong
một tác phẩm mới xuất bản gần đây, tất cả đã dọi thêm ánh sáng
ít nhiều vào các sự kiện lịch sử và văn học 28.
Tại Quảng
ngãi, một danh gia vọng tộc từng góp nhiều công sức trong việc
xây dựng sơn phòng Nghĩa Định là dòng tộc của cụ Nguyễn Tấn
(1820-1871) vốn là Tiễu phủ sứ dưới triều vua Tự Đức, đến đời
con là Diên-Lộc Quận-Công Nguyễn Thân cũng đã để lại truyền
thống biên soạn gia phả bằng cách “đời con viết tiểu sử đời
cha, cháu viết tiểu sử của con” như vậy mà truyền lại sự
nghiệp trong gia tộc, gia đình với bộ “ Thạch-Trụ Nguyễn Công
Thị Gia Phả” do Nguyễn Tấn khởi viết từ năm Tự Đức thứ 11
tức năm 1858 được kế tục từ đó cho đến bây giờ .29
Tại Huế là
nơi các vua chúa nhà Nguyễn đóng kinh đô từ thời chúa Tiên
Nguyễn Hoàng cho đến thời vua Bảo Đại, ngoài hoàng tộc ra mà
lịch sử triều đại nói chung còn để lại trong các bộ sử lớn của
quốc sử quán và gần đây trong tập Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả
(1995), Huế còn là nơi phát tích rất nhiều dòng tộc lớn với
nhiều tư liệu gia phả, tộc phả còn để lại như các dòng họ Hà
Thúc, Thân Trọng, Hồ Đắc, Nguyễn Khoa, Phạm Đăng v.v... cũng
giúp ích rất nhiều cho công việc biên soạn lịch sử nước nhà.
Ở Bình
Định, gia phả của dòng họ Lê Đại Cang soạn năm Minh Mạng thứ 17
(1836) là tập Lê Thị Gia Phả, cho biết Lê Công Miễn là
một danh sĩ ở Quy Nhơn, tham gia phong trào Tây Sơn làm đến
Thượng Thư bộ Binh dưới triều Quang Toản, có soạn một bộ luật
hình của triều Tây sơn mà sử sách không ghi chép 30.
Ở Việt
Nam, việc chép gia phả thường phổ biến trong các gia đình có
theo đòi Nho học nên thường viết bằng chữ Hán. Đến khi chế độ
khoa cử cũ bị bãi bỏ, đa số thanh niên theo tây học cho nên việc
ghi chép gia phả phần nhiều bị bỏ vì rất ít người chịu học chữ
Hán và đọc hiểu chữ Hán trong gia phả.
Các sổ
địa bạ, điền bạ: Đây là một trong những nguồn tư liệu rất
quý giá để tìm hiểu về chế độ xã thôn và nông nghiệp nước ta.
Theo công trình nghiên cứu của một số tác giả như Nguyễn Đình
Đầu và Phan Huy Lê, lưu trữ triều Nguyễn còn để lại khoảng
10.044 tập địa bạ. Địa bạ là sổ mô tả và ghi nhận quyền sở hữu
từng mảnh ruộng đất, còn Điền bạ chỉ là sổ tính thuế . Địa bạ
làm một lần khi đo đạc, Điền bạ thì mỗi năm làm một lần 31.
Từ thời Lý, việc tiến hành lập địa bạ đã được tổ chức và gọi là
điền tịch. Dưới các triều đình Lê, Nguyễn, việc lập địa bạ được
tổ chức chu đáo, chặt chẽ. Đây là những tư liệu chính thức của
nhà nước và đã giúp rất nhiều trong việc phục hoạt khuôn mặt xã
hội nước ta qua từng giai đoạn lịch sử, thí dụ qua tài liệu địa
bạ, người ta biết được tình trạng công bằng trong việc cha mẹ để
gia tài, điền sản lại cho con trai, con gái nghĩa là chia đồng
đều cho cả nam lẫn nữ, chia đều đến từng phân ruộng đất, chỉ trừ
một sở làm ruộng hương hỏa để cho con trưởng, hoặc phụ nữ là sở
hữu chủ ruộng đất chiếm con số tỉ lệ khá cao. 32
Các loại
thần tích, thần phả: Là những tư liệu ghi lại sự tích, lịch sử,
hành trạng các nhân vật lich sử địa phương, miền với những giai
thoại, chuyện kể, lời đồn có liên quan đến họ qua những hình
ảnh, hành vi đã được mọi người truyền tụng mang tính cách siêu
nhiên, thần bí, tô điểm cho sự siêu phàm của nhân vật được nhắc
tới.
Các sổ
hộ tịch hàng xứ (registres paroissiaux) là nguồn tư liệu
giúp tạo mối tương quan đắc lực giữa nhân khẩu học và sử học.
Tại Pháp, Trung tâm Nghiên cứu Nhân khẩu học lịch sử đã sử dụng
những sổ hộ tịch hàng xứ , với phương pháp sử, để thiết lập một
tiêu chuẩn nhân khẩu cổ điển, mà đặc điểm là cả sinh suất, tử
suất và mắn suất đều rất cao. Một nhà phổ hệ học Hoa Kỳ, Val D.
Greenwood trong tác phẩm The Researcher’s guide to American
Genealogy cũng đã đi vào nghiên cứu các loại tư liệu mà ông
gọi là Church records (Các tư liệu Giáo hội) để mở ra các
phương cách tiếp cận với sự thật trong công việc biên soạn lịch
sử và đã cung cấp một cái nhìn khá thấu đáo vào ngành học này
33. Tại Việt Nam các sổ bộ giáo xứ như sổ rửa tội, sổ
hôn phối, sổ tang ở những giáo xứ Công giáo cũng giúp chứng minh
tính trung thực của ngày sinh, ngày chết của tiểu sử các nhân
vật. Thí dụ về nhân vật Ngô Đình Khả, thân sinh của cố Tổng
Thống Ngô Đình Diệm , “sổ bộ giáo xứ Phủ cam năm 1887, tờ 27, số
thứ tự 25, thấy ghi: “Năm 1887, ngày 25 tháng Hai... Micae Khả
con của Giacobê Niêm và Ursula Khoa ở Phủ Cam, và Mađalêna Chĩu,
con gái của Micae Quê và Agnatia Quy, ở họ Phủ Cam...” (Chữ ký
cha sở: Eugêne Allys) . Ông lập gia thất với bà Mađalêna Chĩu,
nhưng chẳng may bà Chĩu sớm qua đời. Tháng 3- 1889, ông tục
huyền với bà Anna Phạm Thị Thân, con ông Phaolô Huyên và Anna
Bùi người gốc làng Vân Dương, tổng An Cựu, huyện Hương Thủy, lập
nghiệp ở Phủ Cam. Theo sổ bộ khai tử năm 1923, số thứ tự 237, hồ
sơ lưu trữ của giáo xứ Phủ Cam, thấy ghi như sau: “Năm Thiên
Chúa 1923, ngày 18 tháng Hai, Micae Ngô Đình Khả, ông Thượng, đã
về với Chúa, năm sinh 1857, an táng tại Phủ Cam.” (Chữ ký cha
sở: T.a.Stoeffler)” 34 . Thiết tưởng những loại tài
liệu như vậy chắc chắn sẽ cung cấp cho người viết sử những chứng
tích rõ ràng, chính xác trong việc lập các bản tiểu sử, hành
trạng nhân vật.
3.- Thử phân tích một trường hợp
sử dụng tài liệu dã sử .
Trường hợp mà chúng tôi đưa ra đây
để thử phân tích về việc sử dụng tài liệu dã sử đó là việc khởi
nghĩa của anh em Tây sơn. Trong cuốn sách có tên Những kỳ án
trong Việt sử , nhà xuất bản Non Nước, Canada, 2000, ở trang
106, tác giả Trần Gia Phụng có viết: “Theo sách Liệt truyện,
khi Nguyễn Nhạc làm biện lại Vân đồn, ông tiêu lạm tiền
thuế thu được, bị quan trên thúc đòi, bèn bỏ trốn vào núi nổi
loạn. Viết điều nầy, có thể Liệt truyện muốn chứng tỏ Nguyễn
Nhạc nổi dậy vì hoàn cảnh thúc bách, do việc lạm tiêu tiền thuế,
chứ không phải vì ông chống đối chính quyền lúc bấy giờ. Liệt
truyện hoàn toàn không nói đến lý do vì sao Nguyễn Nhạc thâm lạm
tiền thuế. Sách Dã sử (bằng chữ Nho) thêm vào một chi tiết mới:
đó là biện Nhạc đánh bạc thua hết tiền thuế thu được nên bỏ vào
núi nổi loạn. [8] Nếu quả thật Nguyễn Nhạc ham mê cờ
bạc để đến nỗi lạm tiêu tiền thuế thì sách Liệt truyện
của nhà Nguyễn đã viết rồi, cần gì phải đến sách Dã sử.”
Ở một đoạn dưới, cũng trang 106, tác giả Trần Gia Phụng có ghi
thêm: “Ngoài chức biện lại đi thu thuế ở Vân Đồn, Nguyễn Nhạc
là một tay buôn bán với người miền núi, chính yếu là buôn trầu,
nên thường chi dụng vốn liếng để thâu nguồn hàng. Biết đâu khi
kẹt vốn, Nguyễn Nhạc có thể tạm mượn tiền công quỹ để giải quyết
việc buôn bán, mà chưa kịp trả lại khi quan trên hỏi đến, nên bị
gán cho là thâm lạm công quỹ? Ngang đây, còn có một câu hỏi cần
được đặt ra: Nguyễn Nhạc thâm lạm tiền công quỹ
nên khởi nghĩa, hay vì nhu cầu khởi nghĩa, mua sắm khí giới mà
Nguyễn Nhạc thâm lạm công quỹ?” Sau đó, ở trang 107, tác
giả Trần Gia Phụng cho biết: “ Vậy lý do chính đưa đến cuộc
khởi nghĩa của phong trào Tây Sơn bắt nguồn từ hoàn cảnh xã hội
bi đát của Đàng trong lúc bấy giờ, do chính sách tàn bạo của
quyền thần Trương Phúc Loan, chứ không phải vì chuyện đánh bạc
như Dã sử đã viết. Rất tiếc là chi tiết “Nguyễn Nhạc đánh bạc”
trong Dã sử đã được nhiều sách truyền nhau ghi lại lâu ngày
thành như sự kiện có thật để giải thích về nguyên nhân khởi
nghĩa của anh em Tây Sơn.” [11] Những chú
thích số 8 và 11 trong ngoặc đứng là của tác giả Trần Gia Phụng.
Trong chú thích số 8 (trang 123) thấy ghi bằng chữ nhỏ: “Dã sử,
vô danh, bản chữ Nho chép tay, Nguyễn Phương trích dẫn, sđd. tr.
29, phần chú thích.” Chú thích số 11 (cũng trang 123) ghi: “Trần
Trọng Kim, Hoa Bằng, Phan Khoang, Nguyễn Phương đều theo thuyết
nầy. Đành rằng một biến cố lịch sử trọng đại không nhất thiết
phải bắt nguồn từ một nguyên nhân chính đáng, đôi khi một biến
cố lịch sử chỉ do những yếu tố rất tình cờ đưa đến; nhưng ở đây,
chuyện Nguyễn Nhạc đánh bạc do Dã sử ghi lại, mà dã sử chỉ là
những câu chuyện truyền thuyết kể lại. Người viết chuyện dã sử
hay giai thoại có thể tự do phóng bút viết thêm thắt tùy trí
tưởng tượng của họ mà không thể bị phê bình vì đó là chuyện
dã sử mà thôi.”
Trong cuốn sách nhan đề Những câu
chuyện Việt sử, Nhà xuất bản Non Nước Toronto, Canada, 1997,
tác giả Trần Gia Phụng cũng đã có nêu vấn đề như trên trong bài
viết Ngọc ẩn trong đá (trang 203- 224) với chú thích số
22 mà nội dung tương tự chú thích số 11 nói trên, tuy trong danh
sách không có kê tên của tác giả Hoa Bằng.
Sự thẩm định những công trình nghiên
cứu sử học của tác giả Trần Gia Phụng đã được giới nghiên cứu và
bạn đọc đánh giá. Ở đây chúng tôi trình bày một vài ý kiến góp
cùng tác giả về vấn đề nêu ra ở trên có liên hệ đến cách trưng
dẫn, phê phán và sử dụng tài liệu, nhất là tài liệu dã
sử.
Trước hết
chúng tôi quan niệm rằng không phải hầu hết dã sử đều là những
câu chuyện truyền thuyết kể lại. Dã sử có những phần hàm chứa
các chuyện hoang tưởng nhưng cũng có rất nhiều chuyện là sự
thật. Vả lại như chúng tôi đã trình bày nhiều lần ở trên về các
tư liệu tuy thuộc nguồn dã sử tuy nhiên được viết rất cẩn trọng,
phản ảnh sự thật có thể kiểm chứng một cách rất dễ dàng.
Về việc Nguyễn Nhạc vào rừng.- Tác
giả Trần Gia Phụng viết: “Theo sách Liệt Truyện, khi Nguyễn
Nhạc làm biện lại Vân Đồn, ông tiêu lạm tiền thuế thu được, bị
quan trên thúc đòi, bèn bỏ vào núi nổi loạn...” Cách trưng
dẫn hoặc tóm ý Liệt Truyện như vậy là quá đơn giản, không
trung thực với nội dung của sử liệu. Đại Nam Chính Biên Liệt
Truyện Sơ Tập, (tức Liệt Truyện) quyển 30, tờ 1a chép
: “Hậu Nhạc vi Vân Đồn tuần biện lại, tiêu phụ thuế tiền, đốc
trưng Đằng cấu truy thậm cấp, toại nhập sơn vi đạo.”
Dịch là: Sau Nhạc làm biện lại ở tuần Vân Đồn, lạm tiêu tiền
thuế, đốc trưng Đằng đòi trả ráo riết, bèn vào núi làm kẻ trộm.
Như vậy rõ ràng sách Liệt Truyện có kê tên người đi đòi
nợ Nguyễn Nhạc là đốc trưng Đằng với tên và chức vụ hẳn hoi chứ
không đơn giản chỉ là “quan trên”, cũng như Liệt Truyện
không hề viết rằng “Nguyễn Nhạc bèn bỏ vào núi nổi loạn”
mà viết là “ vào núi làm kẻ trộm”. Dĩ nhiên chuyện
làm kẻ trộm cũng phải khác với chuyện nổi loạn lúc buổi đầu của
khởi nghĩa Tây Sơn. Các tác giả như Phan Khoang trong Việt
Sử Xứ Đàng Trong, và Nguyễn Phương trong Việt Nam Thời
Bành Trướng: Tây Sơn đều có đọc đến đoạn trên đây của
Liệt Truyện và đều hiểu câu viết “toại nhập sơn vi đạo”
là “bèn vào núi làm kẻ trộm”. 35 Chính Phan
Khoang và Tạ Chí Đại Trường cũng hiểu hai chữ “ vi đạo” là “làm
nghề trộm cướp.” 36 Nổi loạn thì nói lên ý nghĩa
chống đối về chính trị, phá bỏ phép tắc của nhà nước vốn được
tuân thủ lâu nay, còn làm kẻ trộm là phơi bày ý nghĩa của một
hành vi liên hệ tới tệ trạng xã hội.
Về việc Nguyễn Nhạc đánh bạc.- Đây
là điểm mà tác giả Trần Gia Phụng phê bình các nhà viết sử
trước đây như Trần Trọng Kim, Hoa Bằng, Phan Khoang, Nguyễn
Phương là “ Rất tiếc chi tiết ‘Nguyễn Nhạc đánh bạc’
trong Dã sử đã được nhiều sách truyền nhau ghi lại lâu ngày
thành như sự kiện có thật để giải thích về nguyên
nhân khởi nghĩa của anh em Tây Sơn” (Những câu chuyện
Việt sử, tr. 212; Những kỳ án trong Việt sử, tr.
107). Chúng tôi đã thử kiểm tra lại các cuốn sách của các tác
giả nói trên và thấy vấn đề có những phản ảnh khác nhau.
Trước hết,
tác giả Phan Khoang trong cuốn Việt sử xứ Đàng Trong
không hề nhắc đến chuyện Nguyễn Nhạc đánh bạc. 37
Trong mục
Sách báo tham khảo của cuốn Quang Trung Nguyễn Huệ, ông Hoa Bằng
có ghi tên một số sách như Lê kỷ (dã sử), Lê kỷ tục biên (dã
sử), Lê triều dã sử, Lê triều dã sử nhất ký 38 chính
là những tư liệu để tác giả này viết về chuyện thua bạc của
Nguyễn Nhạc.
Tác giả
Trần Trọng Kim viết về Nguyễn Nhạc rằng: “Nguyễn Nhạc trước
làm biện-lại ở Vân-đồn, cho nên sau người ta thường gọi là biện
Nhạc. Nhưng vì tính hay đánh bạc, tiêu mất cả tiền thuế,
sợ phải tội, bỏ đi vào rừng làm giặc.” 39 Chúng
ta cũng thấy được tính cẩn trọng của học giả Trần Trọng Kim khi
nói về cách sử dụng tài liệu chính sử và dã sử của ông để viết
cuốn Việt Nam Sử Lược, cho nên khi đưa ra việc Nhạc là
người có tính hay đánh bạc, chắc chắn sử gia Trần Trọng Kim có
nhiều tư liệu cụ thể chứng minh việc đó.
Về chuyện
Nguyễn Nhạc đánh bạc, chúng tôi thấy sử gia Nguyễn Phương, trong
cuốn Việt Nam Thời Bành Trướng: Tây Sơn, đã rất cẩn thận
ghi ở cước chú số 2: “Về chỗ Nhạc vào rừng nầy, Liệt truyện
chép:Sau, Nhạc làm tuần biện ở Vân đồn, tiêu lạm tiền thuế. Đốc
trưng Đằng đòi hỏi gắt gao, nên Nhạc vào núi làm kẻ trộm. Hiến
gọi Nhạc đến nói riêng rằng: “Sấm có câu: Tây khởi nghĩa, Bắc
thâu công. Mầy là người Tây sơn, hãy gắng lên”. Nhạc cho là
phải và mầng thầm. (q.30, 1b). Theo đó, không có nói đến việc
Nhạc đánh bạc. Nhưng chi tiết đánh bạc được nêu lên trong Dã sử
với mấy chữ “đỗ phụ quan tiền”. Dầu sao, chúng ta thấy rõ một
điều là Nhạc vào rừng là vì tình thế bắt buộc, chứ không phải là
chỉ vì có chí lớn muốn dẹp gian thần để giúp nước mà thôi, như
ông Lê Dư đã chủ trương. Trong Nam phong (số 97, trang 12) Lê Dư
viết: “Xưa kia Nhạc làm biện ở Vân đồn, thấy khi ấy trong đất
Thuận Quảng phải Trương phúc Loan chuyên quyền chiếm cứ, cả gan
làm càn, dân tình oán giận. Nhạc muốn nhân thời ấy
nổi lên, mới thu lấy món tiền công khoản vào thủ hiểm trong núi”.
40
Khi đưa
chuyện Nguyễn Nhạc đánh bạc vào trong tác phẩm kể trên của mình,
có lẽ sử gia Nguyễn Phương đã không “truyền nhau”, nghĩa
là bắt chước nhau để kể lại một câu chuyện đã được các sách viết
trước ông nhắc tới, nhưng sử dụng dã sử, cũng là nguồn sử liệu
đầu tay, để viết về chuyện Nguyễn Nhạc và với sự phân tích cẩn
thận các tư liệu có nói tới việc Nguyễn Nhạc vào rừng. Vả lại,
sử gia Nguyễn Phương là người hay đặt vấn đề 41
cho nên trong biến cố Nguyễn Nhạc vào rừng, tác giả Nguyễn
Phương cũng đã có đặt vấn đề nghĩa là làm một cuộc đối chiếu lại
giữa các nguồn sử liệu với nhau, và nhất là cũng muốn bảo lưu
một nguồn dư luận trong dân gian có lẽ sát đúng với thực tế về
tính hay đánh bạc của Nguyễn Nhạc. Đánh bạc dĩ nhiên có khi
thắng khi thua, vì là cuộc đấu trí và tùy rủi may chứ không thể
nói dứt khoát như Tạ Chí Đại Trường rằng “ Cho nên, đánh bạc,
Nhạc nào có dễ gì để cho người ta lột!” 42. Vấn
đề tác giả Trần Gia Phụng nêu lên câu hỏi là phải chăng Nguyễn
Nhạc đã dùng số tiền công quỹ kia để mua sắm khí giới khởi
nghĩa? Câu trả lời có lẽ là không vì nhiều tư liệu để lại cho
biết lúc ban đầu khởi nghĩa, quân của Tây Sơn trang bị vũ khí
tầm thường, chỉ toàn giáo mác, cung tên, cũng có ít súng tay.43
Nếu tiền lạm thuế để sử dụng vào việc mua vũ khí là một số
tiền lớn thì tất khi khởi nghĩa Tây sơn phải có những súng ống
mua của phương Tây, mà sự việc ấy không thấy có ghi lại.
Khi viết
lại lịch sử, có những chuyện Liệt Truyện biết nhưng cũng
có những chuyện Liệt Truyện không biết. Chính vì thế mà
khi viết sử, sử gia ngoài việc tận dụng tài liệu chính sử, còn
phải để ý nghiên cứu các tài liệu dã sử, và với sự phân tích cẩn
trọng các tư liệu ấy khi dùng. Trong trường hợp này, trường hợp
về cuộc khởi nghĩa của Tây sơn, chính dã sử đã cung cấp rất
nhiều tư liệu cho các sử gia để họ có thể tái tạo lại những
trang sử trung thực của triều đại này hơn.
Nguyễn Đức Cung
CHÚ THÍCH:
1.- Bài thứ nhất với tiêu đề “Từ chính sử đến dã
sử...” có mục đích giới thiệu một số quan điểm về đường
hướng biên soạn lịch sử trong thời đại quân chủ ở nước ta trước
đây, cùng với khuynh hướng biên soạn lịch sử trong dân gian.
2.- Sử học chính thống cung cấp những tác phẩm chính
sử như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Khâm Định Việt Sử
Thông Giám Cương Mục mà những phần mở đầu cũng ghi lại những
câu chuyện truyền thuyết, hoang đường của thời kỳ lập quốc. Xin
đọc Nguyễn Phương, Việt Nam Thời Khai Sinh, Phòng Nghiên
Cứu Sử, Viện Đại Học Huế, 1965.
3.- Endymion Wilkinson,
Chinese History, A Manual, Harvard University Asia Center,
Cambridge (Massachusetts) and London, 1998, trang 481.
4.- Nguyễn Thế Anh, Nhập Môn Phương Pháp Sử Học,
Sài Gòn, 1974, tr. 4.
5.- Trên tạp chí Bách Khoa, in tại Sài gòn,
số 258 ngày 1-10-1967, tác giả Nguyễn Phương đã có bài “Gốc
tiếng sử ký”để đính chính quan điểm của giáo sư Phạm Cao
Dương cho rằng chữ sử ký vốn là danh từ riêng, nguyên là tên một
tác phẩm sử học của người Trung hoa, cuốn Sử Ký của Tư Mã
Thiên, được dùng nhiều mà thành ra danh từ chung.
6.- Nhữ Thành, Sử Ký Tư Mã Thiên, Nxb. Văn
Học, Hà Nội, 1988, tr. 6.
7.- Trung thư lệnh: chức quan coi việc giấy tờ, văn
thư cho nhà vua.
8.- Vương Tuệ Mẫn (chủ biên), 100 Danh Nhân Có
Ảnh Hưởng Đến Lịch Sử Trung Quốc (nguyên bản chữ Hán), Tiến
sĩ Nguyễn Văn Dương dịch, Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin, 2002,
trang 279.
9.- Nguyễn Văn Dương, Sđd, tr. 284.
10.- Văn Cảnh: Tức là Văn đế (179-156 tr. C.N.) và
Cảnh đế (156-140 tr. C.N.), vua thứ 4 và thứ 5 đời Tây Hán.
11.- Nguyễn Văn Dương, Sđd, tr. 285.
12.- Nguyễn Văn Dương, Sđd, tr. 286.
13.- E. Wilkinson, Sđd, tr. 482.
14.- E. Wilkinson, Sđd, tr. 482.
15.- Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu,
Bộ Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu xuất bản (bản in lại của Đại
Nam), tr. 278.
16.- Suétone: Tên viết theo chữ La-tinh là Caius
Suetonius Tranquillus, sử gia La mã, sinh ở Ostie hay Hippone
(khoảng 69 sau C.N.- 125). Ông là tác giả Cuộc đời của mười
hai vị Xê-da.
17.- Nguyễn Thế Anh, Sđd, tr. 13.
18.- Nguyễn Phương, Phương Pháp Sử Học, Nxb.
Sao Mai, Huế, 1964, tr. 81.
19.- Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Nxb.
Tân Việt, bản in lần thứ 7, tr. XII.
20.- Theo Hoàng Xuân Hãn, bài Văn tế trận vong
chiến sĩ là do Nguyễn Huy Lãng (Lượng) làm chứ không phải
Nguyễn Văn Thành. Xin xem La-Sơn Yên-Hồ Hoàng Xuân Hãn,
,Nxb. Giáo Dục, 1998, tập I, tr. 437.
21.- Nguyễn
Phương, Sđd, tr. 112.
22.- Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập I, Nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nợi,
1998, tr. 224.
23.- Võ Văn
Ái, Nhân hai bài thơ của Thiền sư Pháp Thuận, nghĩ đến Hình
ảnh Văn hóa và Văn hóa hình ảnh (Tham luận tại Đại
hội Văn hóa Phật giáo Việt Nam ở San Diego, 4.1.2003).
24.- Thường
gọi là Bia Vĩnh Lăng, do Nguyễn Trãi viết về tiểu sử và
công nghiệp đánh đuổi giặc Minh của Lê Lợi. Bài Khiêm cung ký
do chính tay vua Tự Đức soạn có in trong Đại Nam Thực Lục
và dịch ra tiếng Pháp trong Bulletin Des Amis Du Vieux Hué
(BAVH).
25.- Nguyễn
Thế Anh, Sđd, tr. 30.
26.- E.
Wilkinson, Sđd, tr. 112.
27.- Nguyễn
Thế Anh, Sđd, tr. 63.
28.- Phan Huy
Lê, Tìm Về Cội Nguồn, Tập I, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 1998,
tr. 137. Đặng Cao Ruyên, Bể dâu trong dòng họ Nguyễn Du,
Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2002.
29.- Nguyễn
Đức Cung, Lịch sử vùng cao qua Vũ Man Tạp Lục Thư, Nxb.
Nhật Lệ, Philadelphia, 1998, tr. 66.
30.- Phan Huy
Lê, Sđd, tr. 126.
31.- Nguyễn
Đình Đầu, Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn, Bình Định I,
Nxb. TPHCM, 1996, tr. 9.
32.- Nguyễn Đình Đầu, Sđd, tr. 11.
33.- Val D. Greenwood, The researcher’s guide to
American Genealogy, Genealogical Publishing Co., Inc.
Baltimore, 1977, tr. 358.
34.- Lê Ngọc Bích, Nhân Vật Giáo Phận Huế,
Tập I, Huế 2000, tr. 109.
35.- Phan Khoang, Việt Sử Xứ Đàng Trong, bản
in Xuân Thu, tr. 256.
36.- Tạ Chí Đại Trường, Lịch Sử Nội Chiến Việt
Nam, từ 1771- 1802, Nxb. Văn Sử Học, 1973, tr. 50.
37.- Phan Khoang, Sđd, tr. 256.
38.- Hoa Bằng, Quang Trung Nguyễn Huệ, bản in
Đại Nam, tr. 342.
39.- Trần Trọng Kim, Sđd, tr. 345.
40.- Nguyễn Phương, Việt Nam Thời Bành Trướng:
Tây Sơn, Nxb. Khai Trí, 1967, tr. 29-30.
41.- Chữ của Trần Gia Phụng. Trần Gia Phụng,
Những câu chuyện Việt Sử, II, bài Sử gia Nguyễn
Phương, người đặt vấn đề, Nxb. Non Nước, Toronto, Canada,
1999, tr. 393.
42.- Tạ Chí Đại Trường, Sđd, tr. 51.
43.- Tạ Chí Đại Trường, Sđd, tr. 58.
Trở về Trang Chính
|