Lịch
sử Trung Quốc nói chung đã để lại những bài học hữu ích
cho nhân loại từ những ngày lập quốc cách đây hơn 5,000
năm cho tới thời gian hiện tại thuộc rất nhiều lãnh vực
như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, nhân chủng
v.v... làm thành một nền văn minh riêng biệt gọi là nền
văn minh Trung Hoa.Trong lãnh vực quân sự mà tình báo là
một ngành hoạt động đặc thù của nó, Trung Quốc cũng đã
để lại những trang lịch sử vô cùng quý hiếm cho những ai
muốn tìm hiểu về kỹ thuật chiến tranh du kích cũng như
quy ước, nhất là các hoạt động tình báo, phản gián qua
các triều đại mà tầm ảnh hưởng của nó không chỉ đối với
một số lân quốc như Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên mà
còn đối với cả nhiều đại cường trên thế giới. Tìm hiểu
về ngành tình báo của một đất nước rộng lớn với nhiều
thành phần dân tộc phức tạp như Trung Quốc chắc chắn
không phải là điều dễ dàng bởi vì tình báo là một ngành
dấu mặt với thiên hình vạn trạng cho nên tài liệu nói về
ngành này có thể có nhiều nhưng không phổ biến sâu rộng
lại thuộc vào lãnh vực "bí mật quốc gia" cho nên muốn
tìm hiểu cho thấu đáo cũng là cả một vấn đề thiên nan
vạn nan. Tuy nhiên, như ông tổ tình báo của Trung Quốc
ngày xưa, Tôn Vũ đã từng vạch rõ: "Tri bỉ tri kỷ,
bách chiến bất đãi" (biết người biết ta, đánh trăm
trận, không trận nào thua) 1 tức cũng đặt ra
một vấn đề tiên quyết đó là so sánh tương quan giữa
người với ta, nghĩa là tìm hiểu, dọ thám, đi sâu vào
nghiên cứu tình hình của phe địch. Bởi vậy chúng ta thử
làm quen đôi chút với ngành tình báo này qua nỗ lực khám
phá một vài tư liệu cổ của nền văn học Trung Quốc.
Đối
với lịch sử Trung Quốc, việc nhà Tần thống nhất đất nước
rộng lớn này thu gồm mọi thứ về một mối vào năm 221
trước CN là một biến cố quan trọng cho nên các công
trình nghiên cứu về văn học, nghệ thuật, chính trị hay
xã hội đều thường lấy mốc điểm thời gian này làm giới
hạn: trước thời Tần cũng gọi là Tiên Tần hay thời gian
sau đó. Trong phạm vi nhỏ của bài viết này, chúng tôi
cũng lấy thời điểm đó để thử tìm hiểu về vấn đề tình báo
trong xã hội cổ Trung Quốc.
1.- Một số khái niệm về
ngành tình báo ở Trung Quốc thời cổ.
Nỗ lực của con
người bất cứ ở đâu và bất cứ trong thời đại nào cũng đều
là cố gắng tìm hiểu các hiện tượng xảy ra trong quá khứ
cũng như trong tương lai mà ở Trung Quốc, từ buổi bình
minh của lịch sử. Vấn đề bói toán ở Trung Quốc
thời cổ đã đảm nhiệm vai trò đó.
1.1. Bói toán,
bước mở đầu của ngành tình báo Trung Quốc thời cổ đại.
Bói toán là một hình
thức sinh hoạt có lịch sử lâu dài trong đời sống của
người dân Trung Quốc mà các công trình khai quật của
ngành khảo cổ học đã đem lại nhiều xác quyết thật rõ
ràng. Có thể nói rằng, ở Trung Quốc, hình thức bói toán
là bước đầu của vấn đề tình báo bởi vì bói toán là để có
được những chỉ dẫn, những mách nước qua một số các quyết
định, hay hoạt động trong hiện tại và tương lai.
Theo sử gia Nguyễn Hiến Lê, “Trong
các vụ khai quật ở An Dương, người ta tìm được rất nhiều
giáp cốt ghi các quẻ bói. Vua chúa nhà Thương thờ tổ
tiên trong các nhà riêng đời sau gọi là thái miếu. Mỗi
khi có việc gì quan trọng, họ cũng cầu khẩn tổ tiên phò
hộ cho, hoặc bói một quẻ, xin tổ tiên chỉ bảo cho”.2
Từ đời
nhà Ân (tức Thương) người ta đã sử dụng mai rùa hoặc
xương thú như xương trâu, bò để bói cát hung bằng cách
dùi những lỗ dễ nứt rồi đem hơ lửa, khi xương nứt ra thì
tùy theo kẽ nứt mà đoán sự việc.
Học
giả Đào Duy Anh cho biết “Đương thời người ta lại
dùng phép bói bằng que gỗ, lấy ba que thẳng để biểu thị
dương tượng, cùng ba que có cắt khấc để biểu thị âm
tượng và phối hợp các tượng ấy với nhau để làm thành
quẻ. Đến đời Chu, người ta biên chép những lời bói lại
thành sách, tức là quái từ và hào từ, cùng là dùng nét
bút để hình dung 64 quẻ, thế là thành sách Chu Dịch.”
Cũng theo ông, “Ở đời Chu, kinh Dịch vốn dùng làm
sách bói. Phàm chọn ngày tế tự, phát quân ra lệnh, hoặc
dời đô, hay là muốn giá thú, muốn xem thời tiết, cùng là
muốn quyết định trăm nghìn việc khác, thì trước hết
người ta xem quẻ, rồi bằng vào đó mà quyết định.”3
Ngoài việc dùng mai rùa, xương thú, người ta cũng
dùng cỏ thi để bói.
Trong tác phẩm Từ điển
lịch sử chế độ chính trị Trung Quốc do Chu Phát
Tăng, Trần Long Đào, Tề Cát Tường chủ biên, thầy bói
được gọi là vu sử với các ghi nhận như sau: “Các
Vu sử có địa vị vô cùng quan trọng trong cơ cấu nhà nước
của đời Thương, họ thường có quyền quyết định thật sự
đối với những việc chính trị. Thời kỳ Hạ, Thương, nền
kinh tế của chế độ nô lệ Trung quốc còn chưa phát triển,
trong đời sống chính trị thì thờ cúng và chiến tranh là
hai việc quốc gia đại sự trọngiếu nhất.”Việc lớn của đất
nước, là ở cúng tế và quân sự, hoạt động thờ cúng của
đời Thương phiền hà mà long trọng, quan Vu sử chủ trì
việc thờ cúng là quan chấp chính cao nhất dưới vua.”4
Người Trung Quốc cổ thường
quan niệm rằng giữa trời và người có thể tương cảm mật
thiết với nhau cho nên có một loại người gọi là
vu-nhân có khả năng giao tiếp được với trời
đất, quỉ thần để biết các đối tượng đó muốn gì và thông
đạt lại với con người. Thiên Hồng-phạm trong kinh
Thư có viết rằng : “Nhữ tắc hữu đại nghi, mưu cập nãi
tâm, mưu cập khanh sĩ, mưu cập thứ nhân, mưu cập bốc
phệ” (Ngươi (vua) có điều ngờ lớn, thì tự trong bụng suy
nghĩ cho kỹ, rồi bàn với khanh sĩ, hỏi những thứ nhân,
hỏi bốc phệ.”5
Qua
các tư liệu vừa trích dẫn, có thể nói rằng bói toán là
bước đầu của vấn đề tình báo tại Trung Quốc trong nỗ lực
tìm hiểu những phạm trù chưa biết được hay không thể dự
liệu được do sự suy nghĩ bình thường của con người khi
mà trình độ kiến thức hay văn hóa chung của xã hội còn
nhiều mặt hạn chế.
Kể từ khi có con
người là ắt có chiến tranh, và hễ có chiến tranh là phải
có vấn đề tình báo. Dân tộc Trung Hoa hình thành rất sớm
trong lịch sử lập quốc cho nên ngành tình báo của nước
họ cũng xuất hiện và phát triển theo liền buổi đầu, dĩ
nhiên cũng đơn giản và thô phác trong quan niệm và cách
tổ chức. Khảo cổ học thế giới giúp ta biết được rằng kể
từ khi con người homo sapiens (người khôn ngoan)
xuất hiện với việc kiến tạo chỗ cư trú (nhà ở) có cửa ra
vào là ở trên nóc, thì điều đó buộc ta nghĩ rằng người
thái cổ đã có ý thức phòng vệ mà căn nhà của họ là chỗ
đáng phòng vệ nhất. Sự bắt chước nhau giữa bộ tộc này
với bộ tộc khác trong lãnh vực kinh tế, sinh hoạt, kỹ
thuật chiến tranh, phương thức tấn công và phòng ngự
trong đó chắc chắn ngành tình báo (dọ thám tình hình,
theo dõi địch quân, bắt chước, mô phỏng) cũng đóng góp
rất nhiều công sức và bài học hữu ích.
1.2.
Sinh hoạt chính trị và xã hội tác động đến ngành tình
báo Trung Quốc thời xưa.
Đối với một nước Trung Hoa thời cổ, sự di
chuyển kinh đô từ phía tây sang phía đông như trường hợp
xảy ra trong thời nhà Chu để lịch sử ghi lại qua hai
triều đại Tây Chu và Đông Chu cũng là một sự kiện lịch
sử đáng ghi nhớ. Trong ba triều đại mà các sử gia thường
gọi là Tam Đại gồm có Hạ, Thương (hay Ân) và Chu thì Chu
là triều đại dài nhất (chín thế kỷ, 1121-221 tr. CN)
cũng có lẽ dựa trên các quyết định và tin tức tình báo.
Nhà Chu khởi nghiệp với Võ vương vì cuộc sống vô đạo
của vua Trụ (nhà Thương, khoảng 1766 - 1122 tr. CN). Võ
vương buổi đầu lên ngôi đế, thành lập kinh đô ở đất
Phong, đất Cảo (vốn thuộc huyện Trường An, đạo Quang
Trung, tỉnh Thiểm Tây) gọi là Tây-Chu (1121-770)
đến đời Chu Bình vương bị các dân tộc du mục Hiểm Doãn
và Khuyển Nhung ở phía tây uy hiếp nên phải dời đô qua
Lạc Dương ở phía đông (tỉnh Hà Nam ngày nay) gọi là
Đông Chu. Thời gian của Đông Chu gồm hai thời kỳ
nữa đó là thời Xuân Thu (722-479) và thời
Chiến Quốc (478-221). Trong một tác phẩm văn học
Trung Hoa mới xuất bản gần đây và gây nhiều chấn động
trong nước và thế giới, cuốn tiểu thuyết Tôtem sói
của nhà văn Khương Nhung viết về loài sói
Mông Cổ nhưng cũng chuyển tải cho độc giả một số ý niệm
về sự hung hãn của các nhóm dân du mục vào những thời kỳ
đầu của lịch sử Trung Quốc. 6
Xã hội
Trung Quốc xây dựng trên nền văn minh nông nghiệp và các
tư liệu khảo cổ học cho thấy nền văn minh đó có những
nét đặc thù về phương diện kỹ thuật canh tác và các loại
sản giống. Trong khi dân tộc Trung Hoa thành lập quốc
gia trên vùng bình nguyên sông Hoàng Hà và sinh sống dựa
trên việc trồng lúa mì, kê và chăn nuôi súc vật nghĩa là
họ chưa biết kỹ thuật trồng lúa nước, thì các dân tộc ở
phía nam (Bách Việt) đã biết đến kỹ thuật nông canh này.
Theo các nhà khảo cổ học, nền văn minh lúa nước được
triển khai từ vùng dưới phát triển trở lên chứ không
phải cái gì của nền văn minh Hoa Hạ cũng đều từ phía bắc
truyền xuống.
Trong thời Xuân Thu, có lẽ
quan niệm về vấn đề tình báo tuy có nhưng không đạt mức
triệt để và toàn diện bằng cớ là phong cách giao chiến
của đội quân hai bên vẫn còn mang dấu chất lý tưởng, đại
diện hay tượng trưng trong khuôn khổ lễ giáo mà nhà văn
Nguyễn Hiến Lê đã có một số ghi nhận lại như sau: "Chỉ
có tướng hai bên chiến đấu với nhau thôi, quân lính đứng
ở sau ngó, y như trong truyện Tam Quốc Chí.
Trước khi ra trận họ bói, rồi định ngày, giờ giáp chiến.
Họ dùng chiến xa, khi gặp nhau, họ tặng nhau một bình
rượu, chào hỏi nhau, nếu chức tước ngang nhau thì mới
giao chiến; nếu một bên chức tước lớn hơn thì bên kia
không dám đánh, sợ mang tiếng là vô lễ. Có lần chiến xa
của Tấn lún trong bùn, không tiến được. Một tướng của Sở
đứng nhìn và khuyên người đánh xe của Tấn cách thoát ra
khỏi chỗ lầy. Đặc biệt nhất là lần Tống Tương công giao
chiến với quân Sở Thành vương ở sông Hoằng. Công tử Mục
Di bảo Tương công:
"-
Quân họ nhiều, quân ta ít, nên đánh ngay khi họ chưa qua
sông."
Tương
công không nghe, quân Sở qua sông rồi chưa bày trận, Mục
Di lại bảo:
- "Nên
đánh đi".
Tương
công bảo:
- Đợi
cho họ bày trận xong đã.
Quân
Sở bày trận xong, quân Tống tấn công và đại bại.
Tương
công bị thương ở đùi. Người trong nước oán ông, ông nói:
- Đấng
quân tử ai lại làm khó người khác trong lúc người ta
quẫn bách."
Họ cho thắng bại là do ý
trời, mà giữ đạo đức, lễ nghĩa là cái vinh dự của người
quân tử."
7
Đọc qua đoạn văn vừa trích,
chúng ta hiểu được tâm lý chung của dân tộc Trung Hoa
sống dưới thời nhà Chu khi họ cho rằng dân nào cũng là
dân của nhà Chu và đất nào cũng là đất của nhà Chu cho
nên vì thế mới có tình trạng, một người dân ở nước này
không được thì sang một nước khác, một người trí thức
tìm đến phục vụ nhà vua này không được thì tìm đến một
vua khác. Có lẽ ý thức về tình báo thời bấy giờ chưa nảy
sinh khi cuộc sống của người dân còn thuần phác, ý niệm
về chiến tranh còn đượm nét lễ giáo của phong kiến, mang
tính dị đoan (coi bói trước khi ra trận, cấp bậc nhỏ hơn
thì không dám giao chiến với đối thủ mà cấp bậc lớn hơn
vì sợ thất lễ) rất ư là quân tử "tàu", thấy chiến xa
địch lún lại ra tay giúp đỡ, chờ đợi địch bài binh bố
trận xong xuôi rồi mới đánh, thật khác với ý kiến của
nhà binh pháp Tôn Tử về sau, đó là "xuất
kỳ bất ý, công kỳ vô bị".
Nền
văn hóa Trung Quốc là nền văn hóa nông nghiệp cho nên có
liên hệ mật thiết đến "nước" (nước, phân, cần,
giống). Hai con sông lớn Hoàng Hà và Dương Tử với những
vùng châu thổ rộng lớn nuôi sống hàng trăm triệu người
dân Trung Hoa qua nhiều thế kỷ, nhưng cũng gây cho dân
tộc này biết bao tai họa vì nạn lụt. Lịch sử Trung Hoa
ghi lại công lao "trị thủy" của ông Vũ, một thánh vương
của dân tộc Trung Hoa cổ thời. Từ đời nhà Thương, người
dân đã biết đào kênh lấy nước vào ruộng. Các nỗ lực
trong công tác dẫn thủy nhập điền đã cải biến khuôn mặt
kinh tế nông nghiệp của Trung Quốc thời cổ. Kinh tế nông
nghiệp của Trung Quốc biến đổi, càng ngày càng phát
triển theo cùng với diện tích đất đai được khai hoang
phục hóa. Thời đại đồ đồng chuyển qua đồ sắt càng
làm cho bộ mặt kinh tế và chiến tranh biến đổi nhiều hơn
bởi vì các vũ khí, vật dụng chế tạo bằng sắt tinh xảo
hơn, sắc bén hơn khiến cho kỹ thuật chiến tranh trở nên
sinh động, tinh vi hơn nhiều, và vì vậy kỹ thuật tình
báo (theo dõi, ghi nhận, nghe ngóng địch tình) cũng biến
đổi, phức tạp và sâu sắc hơn.
Trong
lãnh vực sinh sống hàng ngày, muối là thức ăn cần
thiết của nhân loại nói chung và của Trung Hoa nói riêng
từ thời cổ. Theo truyền thuyết, ngay từ thời Viêm Đế, bộ
lạc Túc Sa đã bắt đầu đun nước biển làm muối nên được
coi là ông tổ của nghề đun muối. Trong sách Thượng
Thư cóthiên Vũ Cống ghi rằng: "Thanh châu
nộp muối, lụa" cho thấy thoạt kỳ thủy muối không bị
đánh thuế mà coi như đồ cống phẩm do quan Thái tể đời
Chu trông coi, dưới có quan thuộc cấp là "Diêm nhân".
Thời
Xuân Thu, Quản Trọng tức Quản Di Ngô, cũng gọi là Quản
tử (?-654 tr. C.N.) làm Tể tướng nước Tề, đã có con mắt
thật tinh tường khi nhìn vào muối để thấy ra cả một thứ
vũ khí chiến lược. Ông đã "thực thi chế độ bán muối
độc quyền, căn cứ vào số đầu người để tính ra lượng muối
tiêu thụ rồi tính ra số thu nhập của thuế muối, khiến
cho tài chính quốc gia vô cùng sung túc, bình thường thì
tồn trữ muối, khi công việc đồng áng mùa xuân bận bịu
thì hạn chế nấu muối, để duy trì giá muối không bị hạ,
còn sắp xếp quan lo về việc chuyên chở và bán muối, tất
cả những việc này, đều phải có một nhóm quan lại chuyên
trách về muối, thiết nghĩ, các quan trung ương, quan địa
phương, cơ quan diêm vụ, nhất định phải được tổ chức rất
nghiêm ngặt..." 8 Việc buôn bán muối, độc
quyền thương mãi món hàng cần thiết này tại Trung Quốc
cũng là một trong những vấn đề mà tình báo phải nghiên
cứu, theo dõi về phương thức sản xuất, vận hành, tổ chức
thương mãi, quy định thuế má trong thời chiến cũng như
trong thời bình. Khi có độc quyền muối từ khâu sản xuất
đến vận hành buôn bán ở trong tay nhà nước thì chắc chắn
cũng phải có việc sản xuất lậu ở trong dân chúng, do vậy
mà có sự theo dõi, dọ thám, xem xét các hoạt động của
dân chúng liên hệ đến món hàng quốc doanh này. Vả lại
nếu có sự phát hiện ra các dịch vụ sản xuất muối lậu thì
người phát hiện sẽ được thưởng công và như vậy giữa
người sản xuất và người theo dõi dĩ nhiên cũng có những
nỗ lực để theo dõi hoặc để ngụy trang.
Thời
Xuân Thu, nhờ vào số lượng muối sản xuất ở Cừ Triển,
Đông Lai mà Quản Trọng làm cho nước Tề giàu mạnh.
Truy
nguyên về ngành tình báo cổ Trung Quốc, người ta đọc lại
Lão Tử với Đạo Đức Kinh và nhất là tìm hiểu về
Trang Tử qua tác phẩm Nam Hoa Kinh để thấy cốt
lõi của vấn đề tình báo cũng gặp thấy tản mạn trong các
sách đó. Cũng thật lạ lùng khi những câu đơn giản như: "Đạo
khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh"
lại ẩn tàng cả một triết lý về tình báo tức biến cái
hư thành cái thực và cái thực thành cái hư.
Trong tác phẩm phiên dịch
Tôn tử binh pháp ra tiếng Anh (The Art of War),
Thomas Cleary đã cho rằng sự quan trọng để hiểu được cái
yếu tố của Đạo gia trong Tôn tử binh pháp cũng
khó mà bị khuếch đại lên. Không chỉ tác phẩm cổ điển này
thấm nhuần với tư tưởng của các tác phẩm có tính cách
Đạo gia vĩ đại như Dịch kinh và Đạo đức kinh, nhưng nó
còn bày tỏ những điều căn bản của Đạo gia như là suối
nguồn tối hậu của ngành võ học truyền thống Trung quốc.
9
Theo
cùng với những biến đổi tiến bộ trong việc hình thành
các loại vũ khí, sự tinh khôn của con người trong kỹ
thuật điều động chiến tranh, áp dụng binh pháp, đưa sáng
kiến tình báo vào sử dụng để tranh đoạt phần thắng về
cho mình, các nhà quân sự Trung Quốc thời cổ đã xuất
hiện với một số chủ thuyết về binh pháp của mình mà
trong đó nổi tiếng hơn cả phải kể đến Tôn Vũ hay cũng
gọi là Tôn Tử với một tác phẩm được coi là do ông viết
gọi tên là Tôn Tử binh pháp còn truyền tụng cho
đến bây giờ.
Có khi tình báo
được mệnh danh là một nghệ thuật thì chắc có lẽ cũng
không ngoa bởi vì tình báo khi đạt tới trình độ siêu
đẳng thì chẳng những là một đam mê cá nhân mà nhiều khi
đã trở thành một nghệ thuật chan hòa giữa cái sống và
cái chết. Triết lý nhị nguyên đã mang tới cho tình báo
khuôn mặt thứ hai đó là phản tình báo, gián điệp và phản
gián và một người làm việc cho cả hai bên nhưng chỉ
trung thành với một bên thì gọi là nhị trùng (double
agent).
2.- Tôn Vũ và quan niệm
về tổ chức tình báo trong binh pháp của ông.
Tôn Vũ sống vào
một thời đại mà chiến tranh đã trở thành một môi trường
để tiến thân cho nên những gì ông viết và để lại cho hậu
thế đã làm ông trở thành một binh gia nổi tiếng của
đương thời và của thế giới sau này trong đó có vấn đề
tình báo.
2.1. Một thoáng
nhìn về tiểu sử và sự nghiệp của Tôn Vũ.
Từ thời đại Thịnh Đường,
trong một bài thơ Bạch Cư Dị đã có câu ca tụng hai binh
gia nổi tiếng của Trung Quốc thời cổ là Tôn Vũ và Ngô
Khởi như sau: “Binh lược trữ Tôn Ngô”(Nghĩa là
mưu cơ, đường lối chiến trận đều thấy tích chứa trong
hai ông Tôn, Ngô). Tôn Vũ cũng là một trong sáu vị đại
thần của Tấn quốc, chủ trương cải cách điền địa làm cho
nước phú cường. 10
Tôn tử Vũ hay Tôn Vũ
sinh năm 544 tr. CN. tại nước Tề và mất năm 496 tr. CN.
tại nước Ngô, là một binh gia nổi tiếng sống cùng thời
với Khổng Tử. Ông cũng là một triết gia, một nhà thực
nghiệm về lý thuyết liên lạc quốc tế. Ở Trung Quốc thời
tiên Tần, người ta hay thêm chữ tử sau tên họ để
chỉ lòng tôn kính, thí dụ Khổng tử, Mạnh tử, Tuân tử
v.v…
Trong tác phẩm Tôn Ngô
Binh Pháp, dịch bản của Trúc-Khê Ngô Văn Triện,
người ta đọc thấy đôi chút tiểu sử của Tôn Vũ như sau: “Xét
Ngô Tử vốn người nước Tề, sau chạy sang Ngô, cho nên
sách Ngô Việt Xuân Thu bảo là người Ngô. Sách
Tính thị biện chứng của Đặng Danh Thế nói rằng: cháu
năm đời của Kính Trọng nước Tề tên là Thư làm quan đại
phu nước Tề, đi đánh nước Cử có công, vua Cảnh Công ban
cho họ Tôn, cho ấp ăn lộc ở Nhạc-án. Thư sinh ra Phùng,
làm quan khanh nước Tề. Phùng sinh ra Vũ, tự là Trường
Khanh. Vì bọn mấy họ Điền, Bảo mưu làm loạn, Vũ phải
chạy sang Ngô rồi làm tướng quân.”
11
Tài liệu viết về Tôn
Vũ ngày nay càng trở nên phong phú, đặc biệt người ta
thường hay trích dẫn một câu chuyện được ghi lại trong
Sử Ký của Tư Mã Thiên từ thế kỷ 2 trước CN. nói
về phong cách hành sử của ông trong kỹ luật chiến tranh,
như sau:
"Tôn
Tử tên là Vũ, người nước Tề, đem sách binh pháp yết kiến
vua Ngô là Hạp Lư. Hạp Lư nói:
- Ta
đã đọc cả mười ba thiên của ông rồi, nay ông thử áp dụng
binh pháp điều khiển quân đội một cách tiểu qui mô có
được không?
Tôn Tử
đáp:
- Được
ạ.
Hạp Lư
nói:
- Đem
đàn bà ra thí nghiệm có được không?
Tôn Tử
đáp:
- Được
ạ.
Vua bèn bằng lòng cho gái đẹp
trong cung ra, tất cả một trăm tám mươi người. Tôn Tử
chia ra làm hai đội lấy hai người quí phi
vua nuông chiều làm đội trưởng,
sai tất cả đều cầm giáo.
Tôn Tử
ra lệnh nói:
- Các
ngươi có biết quả tim, tay phải, tay trái và lưng không?
Bọn
con gái nói:
- Có.
Tôn Tử
nói:
- Khi
ta nói "đằng trước" thì các ngươi nhìn vào quả tim, nói
"bên trái" thì nhìn tay trái, nói "bên phải" thì nhìn
tay phải, "đằng sau" thì nhìn đằng sau lưng.
Bọn
đàn bà đều nói:
- Dạ.
Sau
khi đã đưa ra kỷ luật, Tôn Tử bèn đặt phủ việt, ban lệnh
ba lần, nhắc nhở năm lượt. Sau đó đánh trống ra lệnh
nhìn về bên phải. Bọn con gái cười rộ. Tôn Tử nói:
- Kỷ
luật không rõ ràng, nhắc nhở hiệu lệnh không kỹ càng, đó
là tội của tướng.
Lại ra
lệnh và nhắc lại ba lần năm lượt; rồi đánh trống ra lệnh
nhìn về bên trái. Bọn con gái lại cười rộ. Tôn Tử nói:
- Kỷ
luật không rõ ràng, nhắc nhở hiệu lệnh không kỹ lưỡng là
tội của tướng; nay đã hiểu rõ kỷ luật rồi mà lại không
theo lỷ luật là tội của đội trưởng.
Tôn Tử
muốn chém hai người đội trưởng. Ngô Vương đứng trên đài
xem, thấy ông ta sắp chém hai người ái cơ, hoảng sợ, vội
vàng sai sứ giả truyền lệnh nói:
- Quả
nhân biết cách dùng binh của tướng quân rồi! Không có
hai ái cơ ấy thì quả nhân ăn không ngon, xin đừng chém!
Tôn Tử
nói:
- Thần
đã vâng mệnh bệ hạ làm tướng, tướng đã ở trong quân thì
có khi không theo lệnh vua.
Bèn
sai chém hai người đội trưởng để thị uy, đem người kế
tiếp theo làm đội trưởng. Sau đó lại đánh trống chỉ huy.
Bọn con gái nhìn bên trái, bên phải, trước, sau, quì,
đứng dậy đều nghiêm chỉnh đứng đắn, không ai dám ho he.
Tôn Tử sai sứ giả báo với nhà vua:
- Binh
đã chỉnh tề, bệ hạ có thể xuống xem. Bệ hạ có thể dùng
nó thế nào cũng được, dù có sai nó nhảy vào lửa, nước
cũng được.
Ngô
Vương nói:
-
Tướng quân ra quán trọ mà nghỉ, quả nhân không muốn
xuống xem.
Tôn Tử
nói:
- Đại
Vương thích nói suông, mà không thể dùng trong việc
thực.
Do đó, Hạp Lư biết Tôn Tử có
tài dùng binh và cho Tôn Tử làm tướng. Phía tây quân Ngô
phá nước Sở mạnh, đi vào đất Sinh; phía bắc uy hiếp nước
Tề, nước Tấn, nổi tiếng ở chư hầu, Tôn Tử có công ở
đấy."
12
Một số
tư liệu ngày nay cho biết Tôn Vũ sống lâu đời ở đất Lạc
An, nước Tề, tìm đến ra mắt vua nước Ngô (thuộc các tỉnh
Giang Tô, An Huy, Chiết Giang) là Ngô Hạp Lư sau khi Hạp
Lư lên ngôi vào năm 514 trước C.N. thời Xuân Thu, làm
tướng nước Ngô, chỉ huy các cuộc chiến Bách Cử năm 506
tr. C.N., trải qua cuộc chiến Ngải Lăng (địa danh nước
Tề thời Xuân Thu, nay thuộc tỉnh Sơn Đông) giữa Ngô và
Tề năm 484 tr. C.N. và cuộc hội minh ở Hoàng Trì năm 482
tr. C.N. đặc biệt là cuộc chiến Bách Cử được nhận định
là "đánh dấu sự thay đổi về kết cấu chiến tranh và
xu hướng chín muồi của bộ chiến." 13
Tuy nhiên, điều làm cho mọi thời đại đều khen ngợi ông
là Mười ba bài Tôn tử binh pháp do ông để
lại đã gây được ảnh hưởng sâu rộng tại Trung Quốc thời
xưa cho đến nhiều quốc gia trên thế giới ngày nay.
Tổng
kết kinh nghiệm từ những cuộc chiến nói trên, từ thời
Xuân Thu và cả trước đó nữa, Tôn Vũ đã đề ra những quy
luật quân sự đã trở nên phổ biến như:
-
Tri
bỉ tri kỷ, bách chiến bất đãi.
-
Công
kỳ vô bị, xuất kỳ bất ý.
-
Trí
nhân nhi bất trí vu nhân.
Sách Tôn Tử
Binh Pháp cũng còn có tên Ngô Tôn Tử Binh Pháp,
hay Tôn Vũ Binh Pháp đã trở thành Binh Kinh cho
mọi người tìm đọc, thấm nhuần và sùng mộ, đã được dịch
ra nhiều thứ tiếng trên thế giới như Nhật ngữ, Anh,
Pháp, Nga, Đức, Ý, Hy Lạp, Ả Rập v.v… Tôn tử binh
pháp đã được Tống Thần Tông liệt vào hàng đầu trong
"Bảy sách võ kinh" mà các văn nhân, võ sĩ đều phải đọc,
phải xem. Binh thư này đã được dịch ra tiếng Nhật (rất
sớm, từ thế kỷ VII). Những binh gia nổi tiếng trên thế
giới như Napoléon, Mao Trạch Đông, Võ Nguyên Giáp... đều
đọc Tôn Tử và đều suy tôn ông làm bậc thầy của mình.
Trong
lãnh vực thương mại, dịch vụ, các nước Cộng Hòa Nhân Dân
Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, hay Hồng Kông cũng đang
cố gắng tìm trong sách Tôn tử binh pháp những đòn
phép ứng dụng để thay đổi công việc làm ăn của mình. Sự
tận dụng đó cho thấy giá trị ngàn đời của pho sách người
xưa để lại.
Tuy nhiên ở Trung Quốc ngay
từ thế kỷ 13 có người như Diệp-Thích (1150-1223) đã mở
đầu cho một phong trào đặt lại vấn đề lịch sử của nhân
vật Tôn Vũ, nghĩa là nhân vật này có thật hay chỉ là hư
cấu hoang đường. Có vài người cho rằng nhân vật Tôn Vũ
và Tôn Tẫn là một. Nhưng với sự phát hiện một bản văn
rất sớm của Tôn Tử binh pháp trong ngôi cổ mộ
thời Hán thuộc thế kỷ 2 trước CN., hầu hết các học giả
ngày nay đều đã chấp nhận Tôn Vũ và Tôn Tẫn như là những
nhân vật lịch sử. 14
2.2. Vai trò
tình báo dưới con mắt Tôn Vũ.
Mười
ba bài trong sách Tôn tử binh pháp là: 1."Kế
thiên" (Tính toán, lo liệu); 2. "Tác chiến thiên" (Chuẩn
bị chiến tranh); 3. "Mưu công thiên" (Dùng mưu lược
thắng địch); 4. "Hình thiên" (Thực lực quân sự và biểu
hiện ở bên ngoài); 5. "Thế thiên" (Tình thế, khí thế);
6. "Hư thực thiên" (Binh lực phân tán yếu ớt và binh lực
tập trung mạnh mẽ); 7. "Quân tranh thiên" (Hai bên tranh
thắng); 8. "Cửu biến thiên" (Cực kỳ thay đổi, linh
hoạt); 9. "Hành quân thiên" (Đi đánh trận); 10. "Địa
hình thiên" (Xem xét địa hình); 11. "Cửu địa thiên"
(Chín loại đất dụng binh); 12. "Hỏa công thiên" (Tấn
công bằng lửa); 13. "Dụng gián thiên" (Dùng gián điệp).
Một số sách vở ngày
nay khi có dịp cũng trích dẫn tư tưởng của Tôn Tử, thí
dụ trong cuốn Chaos under Heaven, the shocking story
behind China's search for democracy, viết về vụ
tranh đấu cho dân chủ của sinh viên Trung Quốc ở Thiên
An Môn, Gordon Thomas đã để cho một nhân vật nữ nhớ lại
những mách bảo quý báu của Tôn Tử trong lối hành sử hiện
tại: "Cô nhớ lại điều mà Tôn Tử, một tư tưởng gia
quân sự rất được kính trọng ở Trung Quốc từng viết: 'Khi
có khả năng thì giả vờ như không có khả năng; khi hành
động thì làm như bất động. Khi gần thì làm như mình đang
ở xa; khi xa thì làm như gần. Dùng mồi để nhữ kẻ thù;
giả bộ hỗn loạn để tìm cách đánh nó."
15
Đó là một trong những
điều cốt yếu của kỹ thuật tình báo đã từng là khuôn vàng
thước ngọc cho những ai hoạt động trong lãnh vực này
chấp hành nghiêm chỉnh. So sánh với các thời Hạ, Thương,
Chu sử dụng bói toán như một hình thức vấn kế quỷ thần
hay tiên đoán một cách khá vu vơ những chuyện của hiện
tại hay tương lai, Tôn Vũ đã nhìn vấn đề tình báo là
công việc của hiện thực mang tính khoa học với những
nhận thức, tính toán, sắp đặt hết sức cụ thể.
Dụng gián thiên
của Tôn Tử đã viết những gì trong đó ? Sau đây là
phần trích dẫn từ tác phẩm Tôn Ngô Binh Pháp của
Trúc-Khê Ngô Văn Triện gồm những đoạn văn ngắn của Tôn
Vũ nổi tiếng của thời cổ Trung Hoa và ý kiến bình luận
của một số binh gia nổi tiếng ngày trước của Trung Quốc
như Tào Công (tức Tào Tháo), Trương Dự, Đỗ Mục, Lý
Thuyên, Mai Nghiêu Thần, Đỗ Hựu, Trần Hạo… đã được ghi
lại thành sách vở và lưu truyền lại đến nay. Những điều
Tôn Vũ viết về tình báo ngắn gọn, cô đọng đã được mười
một nhà chú thích sống sau ông giải thích thêm đã làm
thành những quy tắc căn bản có thể gọi là “khuôn vàng
thước ngọc” cho ngành tình báo của thế giới. Các phần
trích dẫn tư tưởng của Tôn Vũ dưới đây sẽ được in đậm để
chúng ta có thể theo dõi một cách dễ dàng những điều đã
được vị binh gia nổi tiếng này viết ra cách đây gần 25
thế kỷ. 16
Trong một cuộc chiến tranh,
việc nắm vững tình hình của địch quân là điều quan trọng
nhất cho nên Tào Tháo và Lý Thuyên đã nói rằng: “Gián
là phải dùng gián điệp để biết tình thực của bên địch.”
2.2.1.- Sự quan
trọng của gián điệp
Trương
Dự nói rằng: “Muốn biết rõ địch tình, phi dùng gián điệp
không thể được, nhưng sự dùng gián điệp, nên phải kín
nhiệm cho lắm, cho nên thiên này ở dưới thiên Hỏa-công.”
Tôn-tử nói: Phàm dấy quân mười vạn ra binh nghìn dặm,
trăm họ tốn phí, nhà chúa cung phụng, ngày tốn nghìn
vàng, trong ngoài tao động, lại dọc đường vất vả không
làm việc, bảy mươi vạn nhà.
Tôn tử
cũng nhận định sự cần thiết để biết tình hình quân địch
như sau:
Giữ
nhau mấy năm, để tranh lấy sự thắng một ngày, thế mà
tiếc tước tộc, trăm vàng, để không biết tình hình bên
địch, là bất nhân rất mực.
Đỗ Mục rằng: Nói không
biết đem món lợi to để sai gián điệp.
Mai
Nghiêu-Thần rằng: Giữ nhau mấy năm thì 70 vạn nhà tốn
kém rất nhiều, thế mà lại tiếc cái nhỏ nhặt tước lộc bạc
vàng, không sai gián điệp đi dò địch tình để đánh mà lấy
thắng, đó là kẻ bất nhân rất mực.
Không phải là tướng của người ta.
Không
phải là tá của vua chúa.
Không
phải là chủ của sự thắng.
Trương Dự rằng: Nói
không biết dùng gián điệp thì không thể làm tướng, không
thể giúp chúa, không thể làm người đứng chủ để nên công
thắng trận. Nói đi nói lại như thế là có ý phàn nàn.
Cho
nên vua minh tướng giỏi, sở dĩ hễ cử động là phải thắng,
thành công vượt hơn mọi người là bởi vì biết trước.
Lý
Thuyên rằng: Tại dùng gián điệp.
Đỗ Mục
rằng: Biết tình hình bên địch.”
Ngay
từ thời cổ, Tôn Vũ đã phi bác và đánh giá lại một số
quan niệm về tình báo chẳng hạn như sự tin cậy vào quỷ
thần để biết được tin tức nghĩa là làm công việc của
tình báo:
Muốn biết trước không nên lấy ở quỷ thần.
Trương Dự rằng: Quỷ
thần nhìn không thấy, nghe không biết, không nên đảo cầu
để dò hỏi.
Không nên bằng ở tượng loại.
Đỗ Mục rằng: Nói không
nên lấy việc khác để suy ra việc này.
Trương
Dự rằng: Nói không nên lấy cái việc giống nhau mà suy
cầu một cách tưởng tượng.
Không nên nghiệm ở độ số.
Lý Thuyên rằng: Này
dài ngắn, rộng hẹp, xa gần, lớn nhỏ, thì có thể nghiệm ở
độ số, nhhưng sự thực dối của người thì không thể nghiệm
như thế được.
Tất
phải lấy ở người để biết tình hình của bên địch.
Mai Nghiêu-Thần rằng:
Cái tình quỷ thần, có thể dùng bói toán mà biết, cái vật
hình khí, có thể lấy tượng loại mà tìm, cái lẽ trời đất
có thể lấy độ số mà nghiệm, duy cái tình ở bên địch, tất
phải do gián điệp rồi mới biết được.
2.2.2. Phân bố
các loại gián điệp:
Tôn Vũ
đã cho biết có nhiều hình thức gián điệp như ông đã khái
quát hóa và được các tác giả binh gia giải thích thêm
như sau:
Cho
nên dùng gián có năm: có nhân gián, có nội gián, có phản
gián, có tử gián, có sinh gián.
Năm
gián đều dùng, kẻ địch chẳng biết đường lối nào, ấy là
cương kỷ của thần linh, báu trọng của vua chúa đó.
Tào-công rằng: Đồng
thời dùng cả năm cách gián.
Đỗ Mục
rằng: Năm cách gián đều làm kẻ địch không biết cái đường
lối tiết lộ tình hình bởi đâu, ấy là cương kỷ của quỷ
thần, báu trọng của tướng đó.
Giả
Lâm rằng: Nói kẻ địch đều không biết ta làm thế nào mà
biết được, tưởng như suốt được đường lối quỷ thần.
Nhân
gián là dùng người quê của kẻ địch.
Đỗ Hựu rằng: Nhân
người quê hương của địch, có thể biết được tình hình
trong ngoài hư thực, bèn dùng ngay họ để khiến dò xét.
Đỗ Mục
rằng: Dùng người quê hương của bên địch, hậu đãi để
khiến làm gián điệp. Thứ-sử Dự-châu nhà Tấn là Tổ Địch
trấn ở Ung-khâu, yêu người trọng sĩ, dù kẻ sơ giáo, kẻ
tiện dịch cũng đều lấy ân lễ mà hậu đãi, những đồn đóng
bên sông của rợ Hồ, đều ngầm giao thông với cả, thỉnh
thoảng sai quân sang cướp vờ để tỏ những đồn ấy không
quy phụ gì với mình. Các đồn cảm mean thấy rợ Hồ có sự
mưu tính gì lại mật báo cho biết, những sự thắng tiệp
trước sau đều bởi đó cả. Tây Ngụy Vi Hiếu Khoan sai
người Tề chém Hứa Bồn đem lại, cũng là nghĩa ấy.
Nội
gián là dùng quan thuộc của kẻ địch.
Đỗ Hựu rằng: Dùng
những người làm quan mà mất chức, những con cháu của
người bị giết cùng là những nhà phải phạt, nhân có hiềm
khích, bèn lấy mà dùng.
Đỗ Mục
rằng: Quan chức bên địch, có người hay mà mất chức, có
người lỗi mà bị hình, cũng có người được yêu mến mà lại
tham tiền của, có người phải lún ở ngôi thấp, có người
không được cất dùng, có người nhân khi táng bại, muốn
tìm nơi để trổ cái tài năng của mình, có người tráo trở
biến trá thường cầm hai lòng, những viên quan như thế
đều có thể ngầm thông thăm hỏi, hậu tặng vàng lụa mà
giao kết, nhân dò tình hình trong nước và xét xem họ
định mưu tính gì mình, lại làm chia rẽ vua tôi khiến
không hòa đồng với nhau được.
Phản
gián là dùng gián điệp của địch.
Đỗ Hựu
rằng: Địch sai gián điệp đến dò ta, ta biết thóp, lại
tặng hậu cho nhiều để trái lại, lại làm gián điệp cho
ta. Tiên Thế Hàm nói: Nói bên địch sai người đến dò ta,
ta vờ không biết, phô trương ra những sự không đúng, kỳ
hẹn hành động thì nói dịch lên trước hoặc nói lùi lại
sau, khiến về mà bảo với nhau, ấy là phản gián.
Đỗ Mục rằng: Bên
địch có lén (gián) đến nhòm ta, ta phải biết trước, hoặc
nut lout cho nhiều để dụ làm lén cho ta, hoặc vờ như
không biết, phô bày những sự giả dối rồi để cho về, như
vậy lén của địch lại thành ra làm việc cho ta.
Tử gián là làm sự
dối trá ra ngoài, khiến gián điệp của ta biết, bảo với
bên địch.
Đỗ Hựu rằng: Làm
sự dối trá ở bên ngoài, vờ để tiết lậu, khiến gián điệp
của ta thấy, khi gián điệp của ta sang bên địch, bị họ
bắt được, tất đem cái việc dối trá đã thấy nói với bên
địch, địch theo mà phòng ngừa, sau ta làm không đúng như
thế thì gián điệp của ta phải chết. Lại rằng: Gián điệp
của bên địch đến, nghe thấy việc dối của ta thì đem về,
nhưng sự thực thì không dùng. Hai hạng gián điệp đều
không thể biết được sự tối mờ sâu kín, cho nên gọi là tử
gián. Tiêu Thế Hàm nói: Bắt được quân địch, cùng là
những quân lính lẩn trốn có tội nặng, cố ý tha ra, dặn
không được nói hở chuyện gì, vờ không giấu diếm, để cho
gián điệp của bên địch nghe biết, rồi nhân thả lỏng cho
trốn được, tất trốn về bên địch mà đem tin về, sau việc
không đúng thì sẽ phải chết, cho nên gọi là tử gián (lén
chết).
Sinh gián là gián
điệp trở về trình báo.
Đỗ Hựu rằng: Chọn
người hiền tài trí năng của mình, có thể giao thiệp được
với người thân quý bên địch, xét xem động tĩnh, dò biết
những công việc của họ định làm, khi đã biết được sự
thực rồi thì về trình báo với ta, vì thế gọi là sinh
gián (lén sống).
Lý Thuyên rằng:
Những sứ giả đi lại.
Đỗ Mục rằng: Nói
những người đi lại thông báo. Sinh gián tất phải dùng
người trong sáng ngoài ngu hình tồi bụng giỏi, nhanh
nhẹn cứng mạnh, quen với những việc bỉ tiện, có thể nhịn
đói rét, chịu nhuốc nhơ thì mới làm được.
2.2.3. Phong
cách tiếp cận, sử dụng và nhận định về ngành gián điệp.
Một điều thấy rõ
được là Tôn Vũ đã phát triển quan điểm của ông về tình
báo trong cái khung của hệ thống tư tưởng quân sự của
ông và mặc dù trong Tôn Tử Binh Pháp ông đã để
chương nói về gián điệp vào phần cuối nhưng vẫn có những
nối kết của nó vào với các phần thuộc lãnh vực quân sự
viết ở trước.
Tôn Vũ nhận định
rằng:
Cho nên người thân
của ba quân không ai thân bằng gián điệp.
Đỗ Hựu rằng: Nếu
không thân cận vỗ về và hậu thưởng tước lộc, thì họ sẽ
lại làm việc cho bên địch, tiết lậu sự tình của ta.
Trương Dự rằng:
Người trong ba quân tuy đều phải thân cận vỗ về, nhưng
riêng những người gián điệp, thì lấy lòng ruột mà ủy
thác, cho nên lại càng thân mật hơn.
Thưởng không ai
hậu bằng gián điệp.
Mai Nghiêu-Thần
rằng: Tước lộc vàng lụa, ta không tiếc gì.
Trương Dự rằng: Phi tước cao lộc hậu,
không thể sai dùng được gián điệp. Trần Bình nói: Xin bỏ
ra vàng tốt 40 vạn cân để ly gián vua tôi nước Sở.
Không việc gì kín
bằng gián điệp.
Đỗ Hựu rằng: Việc
gián điệp không kín thì hại đến mình.
Trương Dự rằng:
Duy tướng cùng gián điệp được nghe công việc chẳng kín
mà như thế ư?
Phi bực thánh trí
không thể dùng được gián điệp.
Đỗ Mục rằng: Trước
phải lượng biết cái tính của kẻ gián là người thành thực
khôn ngoan, rồi sau mới có thể dùng được; mặt rắn tình
sâu, hiểm như sông núi, phi thánh nhân không thể biết
được.
Trương Dự rằng:
Thánh thì hiểu suốt mọi việc, trí thì biết trước mọi cơ,
rồi mới có thể làm được gián điệp. Hoặc bảo thánh trí
thì biết được người.
Phi người nhân
nghĩa thì không thể dùng được gián điệp.
Họ Mạnh rằng:
Thái-công nói: Nhân nghĩa tỏ rệt thì người hiền theo về,
người hiền theo về thì gián điệp có thể dùng được.
Trần Hạo rằng:
Người nhân thì có nhân tới người, người nghĩa thì làm
việc phải cách. Chủ tướng đã hay lấy nhân mà kết, lấy
nghĩa mà khiến, thì kẻ gián điệp hết lòng mà dò xét, vui
vẻ làm việc cho mình.
Phi người tinh vi
thì không thể được cái thực của gián điệp.
Đỗ Mục rằng: Gián
điệp cũng có khi chỉ cốt lấy được tiền của, không dò
được cái tình thực của bên địch, chỉ đem lời hão để ứng
phó với sự ước hẹn cùng ta, vậy ta phải dụng tâm tính
liệu, mới có thể xét biết được thật dối, hư thực.
Mai Nghiêu-Thần
rằng: Phòng gián điệp lại bị quân địch sai khiến, cho
nên phải suy nghĩ tinh vi thấu đáo.
Kín nhiệm vậy
thay, không có gì không dùng gián điệp.
Đỗ Mục rằng: Nói
việc gì cũng nên dùng gián điệp để biết trước.
Tôn Vũ đã đưa ra
một số nguyên tắc căn bản về tình báo cho các hoạt động
quân sự như:
Phàm quân muốn
đánh, thành muốn chiếm, gnười muốn giết, tất trước phải
biết tên họ của tướng giữ tả hữu, yết giả, môn giả, xá
nhân, khiến kẻ gián điệp của ta phải tìm biết kỳ được.
Tất tìm kẻ lén của
bên địch đến làm việc lén ở ta trao cho cái lợi, mời về
nhà ở.
Cho nên phản gián
có thể mà dùng được.
Nhân đấy mà biết,
cho nên hương gián, nội gián có thể mà khiến được.
Nhân đấy mà biết,
cho nên làm việc dối trá có thể khiến tử gián bảo với
bên địch.
Việc năm cách
gián, chủ tất phải biết.
Biết được là do ở
phản gián, cho nên phản gián không nên không hậu đãi.
Để kết luận cho
các quan điểm về tổ chức tình báo có liên hệ tới chính
sách về quân sự, Tôn Vũ cho rằng:
Cho nên duy có bậc minh quân hiền tướng,
biết lấy bậc thượng trí làm gián, tất nên công to, ấy là
cái chết của việc binh, ba quân trông cậy vào đó mà hành
động vậy.
17
Trong Hư Thực Thiên, Tôn Vũ từng
đề xuất rằng: “Binh vô thường thế, thủy vô thường
hình, năng nhân địch biến hóa nhi thủ thắng giả, vị chi
thần” (nghĩa là: Việc quân cũng không luôn có thế
bình thường, cũng như sông nước cũng không luôn là hình
thái bình thường, phải thừa vào thế biến hóa của địch
quân để mà thủ thắng, thì đấy mới gọi là tính toán như
thần). Thừa thế biến hóa của địch quân tức là sử dụng
các thành quả dọ thám của tình báo để theo dõi quân địch
và biết đánh vào lúc phải đánh.
18
Bắt đầu từ năm 376
trước CN là giai đoạn của thời Chiến Quốc, ở Trung Hoa
có trên mười chư hầu nhưng chỉ có bảy nước đáng kể sử
gọi là Thất hùng: Yên, Tề, Hàn, Ngụy, Triệu, Sở và Tần.
Trong số bảy nước này Tần ở vào phía tây, một vị trí
thuận lợi vì biệt lập và chỉ thông với các nước phía
đông bằng một cửa Hàm Cốc, và biết áp dụng các chính
sách thay đổi mới mẻ của Thương Ưởng (hay Vệ Ưởng) là
tướng quốc của Tần, mà một số chính sách này lại có ảnh
hưởng đến vấn đề tình báo – gián điệp, thí dụ dân không
được lang thang đi đâu tùy ý và người nào cũng phải có
một cái thẻ bài trong người như cái chứng minh nhân dân
ngày nay mà họ gọi là “bằng cứ” cần thiết khi vào
quán trọ thì phải xuất trình, nếu muốn được chứa ở. Ai
không có thẻ thì bị bắt đi làm nô lệ. Tổ chức hành chánh
trong nước Tần được ấn định lại, có 41 huyện. Làng xóm
thì cứ năm hoặc mười nhà làm thành một liên gia có bổn
phận kiểm soát lẫn nhau phòng kẻ gian. Vai trò quý tộc
theo huyết thống bị loại dần mà được xét đến dưới khía
cạnh quân công v.v…
Sử Ký
của Tư Mã Thiên cho biết vua Tần đã sử dụng Lý Tư vào
công tác tình báo như sau: “Vua Tần bèn cho Tư làm
trưởng sử, nghe theo kế của Tư, ngầm sai mưu sĩ mang
vàng bạc châu ngọc, đi du thuyết chư hầu. Xem các danh
sĩ ở chư hầu người nào có thể mua chuộc bằng tiền của
thì cho tiền để liên kết với họ, còn người nào không
nghe thì dùng kiếm sắc đâm chết, cốt để ly gián vua tôi
của họ. Sau đó vua Tần mới phái tướng giỏi đem quân đến
đánh.” 19
Mưu sĩ thực chất
là những nhà du thuyết mà ngôn ngữ thời nay gọi là các
nhà ngoại giao (các tòa đại sứ là những ổ gián điệp)
ngày trước chính là những tay làm tình báo chuyên trách
công tác dọ thám để tìm hiểu tình hình các nước bên
ngoài.
Nhận xét thêm về sự thành công của nhà
Tần, học giả Nguyễn Hiến Lê cho biết: “Tần đã thành
công nhờ chính sách độc tài, sự tổ chức chặt chẽ, chiến
thuật đại tài, mà cũng nhờ mưu mô xảo quyệt: dùng một
bọn do thám cho lẻn vào tất cả các nước, vung tiền ra
mua chuộc các đại phu, tướng quân của địch, mua chuộc
không được thì ám sát. Những cách đó thành công
rồi, lúc đó Tần mới đưa quân vô. Hàn (230),
Triệu (228), Ngụy (225), Sở (223), Tề (221) đều vì vậy
mà bị diệt.”20
Những điều nhà Tần
thực hiện trước đây hơn hai nghìn năm trong các hoạt
động tổ chức khống chế, tấn công, lật đổ đối với các
nước nhỏ yếu chung quanh để cướp lấy chính quyền nhằm
thống nhất Trung Quốc, sau này cũng được chính Mao Trạch
Đông và các quốc gia Cộng sản đem ra áp dụng một cách
triệt để chính là noi theo những điều dạy bảo của Tôn
Tử Binh Pháp trong đó đặc biệt có kế sách về tình
báo.
Nói chung, các dấu
ấn và thư tịch về tình báo của Trung Quốc thời cổ đã
vạch ra một số nguyên tắc căn bản và có được ảnh hưởng
trong lãnh vực tư tưởng quân sự đối với nhiều nước bên
ngoài. Dĩ nhiên ngành tình báo cũng đã phát triển thiên
hình vạn trạng theo đà tiến bộ của nhân loại theo trí óc
con người nên muốn tìm hiểu cũng phải mất nhiều công phu
nghiên cứu mà lãnh vực tình báo cũng là một phạm trù
rộng rãi đòi hỏi nhiều cố gắng để đạt tới không kém gì
lãnh vực văn hóa vậy.
Nguyễn Đức Cung
New Jersey 22.02.2008
CHÚ THÍCH:
1.- Thông thường người ta
thường truyền tụng câu nói “Tri bỉ tri kỷ bách chiến
bách thắng”, nhưng theo bác sĩ Hoàng Xuân
Chỉnh trong Từ Điển Nhân danh, Địa danh & Tác phẩm
Văn học Nghệ thuật Trung Quốc, (Tập II, ấn bản II,
2006, trang 1149) thì câu đó nguyên văn là “Tri
bỉ, tri kỷ, bách chiến bất đãi”(bất đãi là
không trận nào thua). Tác phẩm của BS Hoàng Xuân Chỉnh
được đánh giá là một công trình biên khảo có giá trị về
Trung Quốc ở hải ngoại. Xem thêm Talawas ngày 5.12.2006,
bài viết của Trần Hữu Thục Về
cuốn Từ điển nhân danh, địa danh và tác phẩm văn học
nghệ thuật Trung Quốc.
Trong cuốn sách
Twentieth Century China, do Columbia University
Press in năm 1964, tr. 306, O. Edmund Clubb cũng
viết : “Know the enemy and
yourself, and in a hundred battles [you’ll suffer] no
defeat.”
2.- Nguyễn Hiến Lê,
Sử Trung Quốc, Văn Nghệ xb., 2003, tr. 60.
3.-
Đào Duy Anh, Trung Hoa Sử Cương, Từ nguyên thủy đến
1937, Bốn Phương xb., 1954, tr. 60.
4.-
Chu Phát Tăng, Trần Long Đào, Tề Cát Tường (chủ biên),
Từ điển lịch sử chế độ chính trị Trung Quốc, Dịch
giả: Tiến Sĩ Nguyễn Văn Dương, Nxb. Trẻ, 2001, tr.13.
5.-
Trần Trọng Kim, Nho Giáo, quyển thượng, Bộ Giáo
Dục – Trung Tâm Học Liệu xb, tr. 5.
6.-
Khương Nhung là bút danh của một nhân vật có trong chính
quyền Trung Quốc hiện nay mà theo dư luận nếu ông này để
tên thật thì chưa chắc tác phẩm Tôtem Sói đã được
in ra. Tác giả Khương Nhung cho rằng sói là tôtem (vật
tổ) của dân Trung Quốc chứ không phải con rồng. Trong
thời kỳ cách mạng văn hóa ở Trung Quốc (1968), tác giả
đã tự nguyện đến một vùng đất phía tây trên thảo nguyên
Mông Cổ để sống và sinh hoạt với dân thiểu số và đã viết
nên tập bút ký nổi danh này. Tác phẩm đã được Trần Đình
Hiến dịch ra Việt ngữ,, Nxb. Công An Nhân Dân, 2006, gây
xôn xao du luận trong giới cầm bút tại Hà Nội với người
khen kẻ chê. Hội nhà văn tại Hà Nội đã có tổ chức một
buổi tọa đàm về tác phẩm này (Theo tin tóm lược của Web
Talawas).
7.-
Nguyễn Hiến Lê, Sđd, tr. 74.
8.-
Chu Phát Tăng và nhóm chủ biên, Sđd, bài Chính sách
về muối, tr. 477-556 , nói về các phương thức sản
xuất, mua bán, tiêu thụ và luật lệ về muối.
9.-
Thomas Cleary, The Art Of War, Shambhala, Boston
& London, 2003, tr. 3.
10.-
Hoàng Xuân Chỉnh, Sđd., tr. 1144.
11.-
Ngô Văn Triện, Tôn Ngô Binh Pháp, bản in lại ở
hải ngoại, không đề năm, tr. 9.
12.-
Nhữ Thành, Sử Ký Tư Mã Thiên, Nxb. Văn Học, Hà
Nội, 1988, tr. 319.
13.-
Vương Tuệ Mẫn (chủ biên), 100 Danh nhân có ảnh hưởng
đến lịch sử Trung Quốc, Nxb. Thông Tin – Văn Hóa,
2002, tr. 632.
14.-
Ssu-ma Ch’ien, The Grand Scribe’s Records, Volume
VII, The memoirs of Pre-Han China, Edited by William H.
Nienhauser, Jr. Translated byTsai-Fa Cheng, Zongli Lu,
William H. Nienhauser, Jr., and RobertReynolds with
Chiu-Ming Chan, 1994, tr. 37.
15.-
Gordon Thomas, Chaos under Heaven , the shocking
story behind China’search for democracy, A Birch
Lane Press Book, 1991, tr. 268.
16.[-
Tư liệu của Ngô Văn Triện không cho biết thời điểm xuất
hiện tác phẩm của Tôn Vũ cùng những lời bình luận của
nhóm tác giả gọi là “Bọn Tào Tháo mười nhà chú thích”.
17.-
Trong các phần trích dẫn chúng tôi chú trọng đến phần tư
tưởng của Tôn Vũ và một vài tác giả chú thích bổ túc, và
đã lược bỏ một số dẫn chứng có tính cách lịch sử của các
tác giả khác.
18.-
Hoàng Xuân Chỉnh, Sđd, tr. 1145
19.-
Nhữ Thành, Sđd, tr. 583.
20.-
Nguyễn Hiến Lê, Sđd, tr. 112.