Quảng-bình ngày hôm nay là một trong 64 tỉnh, thành của
Việt-nam. Nhìn từ biên-giới Trung-hoa xuống đến mũi
Cà-mau, tức hết chiều dài của đất nước chúng ta,
Quảng-bình nằm khoảng gần giữa nước, có thể nói là hơi
nhích một chút về phía Bắc. Nhưng trong 900 năm qua,
đất Quảng-bình đã là đất chứng-kiến biết bao can qua vì
vị-trí biên-thùy của nó, khởi đầu từ cái tên Địa-lý mà
Nguyễn Trãi, trong cuốn sách địa-dư đầu tiên của nước
mình mang tên Dư-địa-chí (1438), còn giải thích
“tức là Nam-giới [của nước ta] bây giờ.”
Trên
đất Quảng-bình, từ đời “Nhân-tông, năm Thái-ninh thứ 4
(1075), ất mão, vua sai [Lý] Thường Kiệt đi tuần biên
thùy, vẽ địa đồ hình thế núi sông ba châu ấy dâng lên,
đổi tên Địa-lý làm châu Lâm-bình, Ma-linh làm châu
Minh-linh, chiêu dân đến ở. Từ đấy đất phía nam Hà-hoa
ngoài đất Hoành-sơn mới vào bản đồ nước ta.” (Lê Quý
Đôn, Phủ-biên tạp-lục)
Như
vậy, trước đó, ta có thể hiểu được rằng đây là một vùng
biên-giới tranh-chấp giữa ta và Chăm-pa dân cư thưa thớt
nên mới phải “chiêu dân đến ở.” Nhưng ngay trong bốn
chữ này, ta đã có thể thấy manh nha một trong những
chủ-trương chính của chính-sách mà sau này được gọi là
cuộc Nam-tiến của dân-tộc Việt-nam. Vì Lý Thường Kiệt
hiểu rằng đất mà không có người thì chưa phải là “nước,”
chưa phải là lãnh-thổ thực-sự của một quốc gia. Cũng
như một hoang-đảo, nếu chưa có ai đến chiếm-cứ thì chưa
thể cho được là một phần lãnh-thổ của một quốc gia, ngay
như theo công-pháp quốc-tế.
Và
trong manh nha chính-sách này, chúng ta đã thấy một
triết-lý của cha ông chúng ta đối nghịch với quan-niệm
của người Chăm, giỏi về nghề đi biển, khoẻ về đánh nhau
nên như người Viking ở bên Âu-châu, họ chỉ thích đột
nhập đất liền cướp bóc rồi rút đi chứ không thích lập
đồn lũy, đem dân đem lính tới sống chết với đất, giữ cho
bằng được. Hậu-quả như thế nào thì ngày nay ta đã quá
rõ, với Việt-nam kéo dài hơn một nửa nước nữa đến mũi
Cà-mau trong khi vương-quốc Chăm thì căn-bản là bị sát
nhập vào lãnh-thổ của Việt-nam vào năm 1471 và người
Chăm thì hoặc bị đồng-hóa hoàn-toàn hoặc chỉ còn là một
thiểu-số nhỏ bé trên một vùng thu hẹp của đất tổ của họ.
Thế
không có nghĩa là giữa hai dân-tộc Việt-Chăm đã không có
những cuộc tranh chấp đẫm máu. Và đất Quảng-bình là đất
đã chứng-kiến biết bao nhiêu những đội-quân hùng mạnh
của các vua Chăm, tranh chấp với quân Trung-hoa từ khi
người Tàu còn xâm-chiếm nước ta (dưới thời Bắc-thuộc) và
tiếp-tục tranh chấp sau khi ta đã lấy được lại độc-lập,
khi thì đi đường biển khi thì đi đường bộ kéo ra đánh
phá đến tận Thăng-long dưới đời nhà Trần. Và
hiển-nhiên, mỗi lần quân kéo qua thì dù là quân ta hay
quân Chăm thì người chết vẫn không thiếu, nhiều khi máu
đổ như sông.
Ta
chưa đánh quỵ được Chăm-pa (1471) bao lâu thì ngay trong
nội-bộ đất nước chúng ta đã chia đôi, chia ba với nhà
Mạc lên cầm quyền ở Thăng-long (1527), vua Lê lui về
Thanh-hóa, rồi Trịnh-Nguyễn phân-tranh (1558) dẫn đến
hai quốc-gia riêng biệt, Đàng Trong (của các chúa
Nguyễn) và Đàng Ngoài (của vua Lê chúa Trịnh), kéo dài
hơn 200 năm đến tận 1771 khi anh em Nguyễn Huệ dấy binh
lên ở Tây-sơn, Bình-định. Thời-gian này, con sông Gianh
(còn gọi là Linh-giang) trở nên nổi tiếng như một con
sông chia cắt hai miền, rồi nhà Nguyễn củng-cố, khác với
các vua Chăm, ở phía Bắc bằng một hệ-thống đồn lũy rất
kiên cố mà nổi tiếng nhất là hệ-thống Lũy Thầy do Đào
Duy Từ (1572-1634) dựng nên. Phải chăng địa-thế của
Quảng-bình trong đó có dẫy Hoành-sơn đã đủ hiểm trở để
cho cụ Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể, theo một
truyền-thuyết, gợi ý với sứ-giả của Nguyễn Hoàng (ở ngôi
chúa 1558-1613) là một dải Hoành-sơn có thể giúp cho nhà
Nguyễn “muôn đời dung thân” ở phía Nam?
Một tác-phẩm địa-chí “nói có sách, mách có chứng” thật
phong phú
Sách
Quảng-bình: Chín trăm năm nhìn lại, 1075-1975 của
tác-giả Nguyễn Đức Cung ra mắt hôm nay mới chỉ là tập
đầu trong một tác-phẩm đồ sộ mà tôi nghĩ sẽ có ít nhất
là hai tập. Mới Tập I này đã dầy 652 trang chữ nhỏ,
chứng tỏ sức làm việc khá phi thường của tác-giả. Riêng
chỉ một mình tôi cũng đã có dịp đưa ra những nhận xét về
hai tác-phẩm công-phu mà ông đã cho ra mắt độc-giả từ
ngày sang Mỹ, cuốn Lịch sử vùng cao qua Vũ Man Tạp
Lục Thư (Nhật-Lệ xb, 1998) và Diên-Lộc Quận-Công
Nguyễn Thân (Nhật-Lệ xb, 2002). Ông còn có những
tác-phẩm khác nữa như tập thơ Trong cõi vô thường
(1999) và cuốn Tù cải tạo của Lê-Hồng Tuấn mà ông
đã có công nhuận sắc và giới thiệu. Cộng thêm tác-phẩm
Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên nói về các chúa
Nguyễn và dịch từ nguyên-tác chữ Hán mà ông đã cho in,
do nhà Khai Trí xuất bản, trước năm 1975 thì phải nói
ông đã xây dựng được danh tiếng như một sử-gia có hạng
của chúng ta ở hải-ngoại.
Dù ta
chưa biết Tập II của tác-phẩm Quảng-bình này sẽ
nói gì, riêng trong tập I chúng tôi như một độc-giả đã
khám-phá hay được học hỏi rất nhiều và cặn kẽ về những
“dấu tích tiền sử và lịch sử” của Quảng-bình với những
đề-tài thật hấp dẫn như “Minh-Cầm, địa chỉ của một nền
văn minh thạch khí mới” hay “Bàu Tró, di chỉ khảo cổ
học, từ ngữ giao thoa của hai nền văn hóa Việt-Chăm”;
rồi Quảng-bình qua “các bút lục chứng tích” trong
lịch-sử như sách Ô Châu Cận Lục, một trong những
địa-chí cổ nhất của ta về một địa-phương do Dương Văn An
viết từ thế-kỷ XVI dựa theo bản thảo gốc do hai “chàng
thư sinh... đồng hương” khởi thảo (mà rất tiếc ta không
có được tính danh).
Một
trong những chương thích thú nhất đối với tôi là chương
III, “Dấu tích Chăm-pa trên đất Quảng-bình,” giúp ta
nhìn lại một số vấn-đề mà bấy lâu nay vẫn có ngộ-nhận về
Vương-quốc Chăm-pa, rồi “chiến-tranh Chăm-Hán trên đất
Quảng-bình” với những di-tích như “Khu-Túc, chiến trường
giằng co suốt năm thế kỷ” (TK II đến VII) hoặc “Khu-Túc
qua tư liệu, thư tịch và luận cứ trên thực địa,” chưa kể
còn “Ninh-Viễn và một số di tích khác.” Hấp dẫn không
kém là đề-tài “dấu tích Chăm-pa trong ngôn ngữ và đời
sống xã hội,” đặc-biệt đối với tôi là người đã từng viết
cách đây gần 20 năm về “Tiếng Việt, tiếng Nhật và họ Mã
lai – Đa đảo” in trong Dòng Việt số 2, Tập II,
mang tên “Tuyển-tập Ngôn-ngữ và Văn-học Việt-nam” (1994,
trang 437-480) trong đó tôi chủ-trương là địa-tầng thấp
nhất, tức là cổ nhất, trong tiếng Việt là tầng ngôn ngữ
Mã lai – Đa đảo mà Chăm là một chi nhánh ở trong đó.
Ngày
nay, ai về Việt-nam mà không tìm cách đi thăm động
Phong-nha ở Quảng-bình, được UNESCO xếp là một trong
những di-sản thiên-nhiên hàng đầu của nước ta, không kém
Vịnh Hạ-long bao nhiêu. Rồi nếu tôi không lầm thì ở
Quảng-bình người ta cũng đã tìm ra một số giống vật thật
hiếm quý của nhân-loại, mấy thứ chim muông thuộc loại
“endangered species” cần phải được bảo vệ.
Tác-giả đã bỏ ra bốn chương trong sách, 250 trang để nói
về những công lao và thành-tích của các chúa Nguyễn ở
Đàng Trong (chương V đến chương VIII). Những đề-tài
này, từ Linh-giang (tức sông Gianh) (chương VI) đến
“Sông Nhật-lệ và hệ thống Lũy Thầy trong chiến-tranh
Trịnh-Nguyễn” (chương VII) hay “Từ việc mở đất Gia-định
đến cuộc phát triển kinh tế ở Quảng-bình” (chương VIII),
là những đề-tài được khai triển một cách rất đầy đủ nên
khá mới ngay cả với một người thích lịch-sử như chính
tôi.
Ông
cũng dành ra hai chương (IX và X) để nói về “Đạo
Công-giáo trên đất Quảng-bình, khi hạt giống vừa gieo
xuống...” và “Thập giá và những chiếc mũ triều thiên
vinh quang” cho ta thấy nhiều điều thật đáng ghi nhớ
trong lịch-sử của đất nước ta, nhất là khi các bộ sử
lưu-hành ở trong nước trong lúc này đều có khuynh-hướng
xem nhẹ hay xuyên-tạc sự đóng góp của Thiên-chúa-giáo
vào trong lịch-sử nước nhà.
Đôi điều phân vân hay thắc mắc
Như
thế, đây là một cuốn sách thật đáng đọc vì một đằng
tác-phẩm tìm cách đưa vào và dung-hòa những khám-phá tìm
tòi của nhiều thế-hệ sử-gia, cả Việt-nam lẫn ngoại-quốc,
rồi của khảo-cổ-học, cả người Pháp lẫn các nhà nghiên
cứu ở miền Bắc sau này, rồi ông còn đưa cả địa-lý,
lịch-sử kinh tế và lịch-sử tôn-giáo (ít nhất cũng của
Thiên-chúa-giáo) vào trong một cuốn địa-chí thật cặn kẽ
về Quảng-bình, quê hương của tác-giả (có lẽ vì thế chăng
mà ông gọi nhà xuất bản của ông là Nhật-lệ, tên một con
sông ở Quảng-bình). Trong công việc này, ông không ngần
ngại đưa vào những tìm tòi hay kết-quả nghiên cứu của
những sử-gia sau này như của Linh-mục Nguyễn Phương
(trước 75 dạy ở Đại-học Huế), Nguyễn Thế Anh
(viện-trưởng VĐH Huế một thời-gian và hiện dạy ở Collège
de France, có chân trong CNRS, tức Centre national de
recherches scientifiques rất có uy-tín của Pháp), Li
Tana (một sử-gia gốc Mã-lai Trung-hoa ở Úc, tác-giả một
luận-án nổi tiếng, The Inner Region: A Social and
Economic History of Nguyen Vietnam in the Seventeenth
and Eighteenth Centuries, đã được dịch sang tiếng
Việt thành Xứ Đàng Trong: Lịch sử kinh tế-xã hội Việt
Nam thế kỷ 17 và 18, Nxb. Trẻ, 1999). Ông cũng dựa
vào những chuyên-gia hàng đầu về Quảng-bình ở trong nước
như cụ Nguyễn Tú, tác-giả của nhiều cuốn sách về đủ mọi
phương-diện về Quảng-bình. Và vì ông cũng đọc thông
thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, chữ Hán, ông đã sử dụng được
các nguồn như Keith Taylor (sử-gia Mỹ hàng đầu về VN,
hiện dạy ở Cornell), Alexander Woodside (dạy ở Harvard),
Stephen Oppenheimer (tác-giả cuốn sách nổi tiếng,
Eden in the East) hay Joseph Buttinger (sử gia lớn
đầu tiên người Mỹ gốc Áo viết về VN) trong tiếng Anh, Po
Dharma, Yoshiharu Tsuboi và Alain Forest trong tiếng
Pháp và hiển-nhiên rồi, Linh-mục Léopold Cadière, người
yêu Quảng-bình và có lẽ viết đầy đủ nhất về Quảng-bình
trước năm 1945 trong bất cứ tiếng nào, v.v.
Tóm
lại, một cuốn sách rất kỹ trong nhiều nghĩa, kể cả một
bảng “sách dẫn” (index) đầy đủ và cặn kẽ cho những ai
muốn đi tìm chi-tiết trong sách và những phụ-đính, tranh
ảnh và bản-đồ minh-họa cùng bảng liệt-kê các chi-tiết
đó.
Tuy-nhiên, đặt cuốn sách xuống, tôi vẫn không khỏi thắc
mắc mà lại về ngay chính chủ-điểm của cuốn sách, tức
chương IV, “Nguyễn Hoàng và chủ nghĩa trị quốc dựa trên
Khổng học.”
Trong
chương này, ông bất đồng ý-kiến với chủ-kiến (“thesis,”
“thèse”) của Li Tana mà G.S. Tôn-thất Thiện đã tỏ ra
ủng-hộ trong một số bài viết trên Thế Kỷ 21 hoặc
một sử-gia không kém nổi tiếng là ông Trần Gia Phụng,
hiện ở Toronto, Canada. Chủ-kiến của Li Tana là nhà
Nguyễn, nhất là các chúa Nguyễn, vì vào một đất mới, đã
không thể áp-dụng được Khổng-giáo như ở miền Bắc, nơi mà
đạo Nho đã bắt rễ từ thời Bắc-thuộc, nên bắt buộc phải
mềm dẻo hơn, dựa vào Phật-giáo.
Mặc
dầu ông đã mạnh dạn, nếu không muốn nói là thẳng thừng
bác bỏ cái chủ-kiến mà ông cho là sai lầm của Li Tana
(và những người ủng-hộ quan-điểm này), tác-giả Nguyễn
Đức Cung, theo tôi, vẫn chưa đủ thuyết phục. Vì sao?
Vì sách của ông là một loại sách “xét lại” (revisionist)
nên ông nhấn mạnh những mặt mới mà ông và một số người,
trong đó có thầy của ông là L.M. Nguyễn Phương, đã tìm
ra và khẳng-định. (Ông dành riêng gần như một chương
trong Phụ lục I cho “Linh mục sử gia Nguyễn Phương
(1921-1993)” và cho in lại một bài viết về cụ Nguyễn
Tú.) Làm như vậy, sách của ông dù cặn kẽ song đã không
công-bằng với cái chủ-kiến mà ông không ủng-hộ. Thí dụ,
ông có hai chương (rất cần thiết) về sự du nhập của
Thiên-chúa-giáo vào Việt-nam, nhất là Đàng Trong, nhưng
ông lại chỉ lác đác nhắc đến sự bành-trướng, nếu có, của
Phật-giáo ở Đàng Trong và nhất là ở Quảng-bình.
Ngược
lại, ngay cái chủ-kiến của ông là Nguyễn Hoàng dùng “chủ
nghĩa trị quốc dựa trên Khổng học” cũng không được chứng
minh bằng những cứ-liệu đương-thời (tỷ-dụ, những lời
phán khi sinh-thời của Nguyễn Hoàng) mà chỉ dựa chung
chung lên những hiểu biết mà ta có về đạo Khổng mà ta có
thể nghi là Nguyễn Hoàng cũng biết. Song biết là một
chuyện, có áp-dụng không lại là chuyện khác. Thiếu gì
chuyện ta biết về đạo Khổng, đạo Phật, đạo Chúa mà cuối
cùng ta vẫn không làm được, hoặc vì ta thiếu ý-chí hoặc
vì tình-cảnh, hoàn-cảnh không cho phép, buộc ta phải làm
khác đi. Những phản-chứng, riêng về đời Nguyễn Hoàng
không, không thiếu.
Một
trong những cột trụ của đạo trị quốc dựa trên đạo Khổng,
như ta biết, là các kỳ thi để chọn người tài, có ở nước
ta ít nhất cũng từ đời nhà Lý. Nhưng theo tác-giả Lê
Đình Cai (trong quyển 34 năm cầm quyền của chúa
Nguyễn Phúc Chu, Nxb Đăng Trình, 1971) thì mãi đến
năm 1646, chúa Nguyễn Phúc Lan mới cho “mở khoa thi đầu
tiên ở Đàng Trong.” Mà đến 1646 thì Nguyễn Hoàng đã
chết được 33 năm rồi. Trường-hợp Đào Duy Từ vì là con
nhà hát nên không được đi thi ở Đàng Ngoài phải tìm
đường vào Nam để được sủng-dụng cũng chứng minh là
Nguyễn Hoàng không đặt nặng lắm vấn-đề thi cử (thậm chí
ông không cả đặt ra vấn-đề này suốt thời-gian ông làm
chúa). Chuyện ông mơ thấy có người về báo mộng để rồi
cho xây chùa Thiên-mụ cũng phải kể là một thứ ảnh-hưởng
của Phật-giáo hay ít nhất cũng của tín ngưỡng bình-dân.
Tôi
không phải là sử-gia, tôi không biết đủ và cặn kẽ như
tác-giả Nguyễn Đức Cung, nhưng tôi cho là chủ-kiến của
ông trong cuốn sách này cần được đem đối-chiếu một cách
đầy đủ hơn với những chủ-kiến của các tác-giả nghĩ khác
như Li Tana và một số sử-gia VN khác.
Đọc tại buổi ra
mắt sách
Quảng Bình: Chín trăm năm nhìn lại,
1075-1995
của Nguyễn Đức
Cung
Chủ-nhật,
17-XII-2006
Philadelphia, PA
(tại Hội trường Hùng Vương)