ĐỌC “QUẢNG BÌNH, CHÍN TRĂM NĂM NHÌN LẠI”

CỦA NGUYỄN ĐỨC CUNG


 

Nguyễn Ngọc Bích

17 tháng 01 năm 2008

            Quảng-bình ngày hôm nay là một trong 64 tỉnh, thành của Việt-nam.  Nhìn từ biên-giới Trung-hoa xuống đến mũi Cà-mau, tức hết chiều dài của đất nước chúng ta, Quảng-bình nằm khoảng gần giữa nước, có thể nói là hơi nhích một chút về phía Bắc.  Nhưng trong 900 năm qua, đất Quảng-bình đã là đất chứng-kiến biết bao can qua vì vị-trí biên-thùy của nó, khởi đầu từ cái tên Địa-lý mà Nguyễn Trãi, trong cuốn sách địa-dư đầu tiên của nước mình mang tên Dư-địa-chí (1438), còn giải thích “tức là Nam-giới [của nước ta] bây giờ.”

            Trên đất Quảng-bình, từ đời “Nhân-tông, năm Thái-ninh thứ 4 (1075), ất mão, vua sai [Lý] Thường Kiệt đi tuần biên thùy, vẽ địa đồ hình thế núi sông ba châu ấy dâng lên, đổi tên Địa-lý làm châu Lâm-bình, Ma-linh làm châu Minh-linh, chiêu dân đến ở.  Từ đấy đất phía nam Hà-hoa ngoài đất Hoành-sơn mới vào bản đồ nước ta.” (Lê Quý Đôn, Phủ-biên tạp-lục)

            Như vậy, trước đó, ta có thể hiểu được rằng đây là một vùng biên-giới tranh-chấp giữa ta và Chăm-pa dân cư thưa thớt nên mới phải “chiêu dân đến ở.”  Nhưng ngay trong bốn chữ này, ta đã có thể thấy manh nha một trong những chủ-trương chính của chính-sách mà sau này được gọi là cuộc Nam-tiến của dân-tộc Việt-nam.  Vì Lý Thường Kiệt hiểu rằng đất mà không có người thì chưa phải là “nước,” chưa phải là lãnh-thổ thực-sự của một quốc gia.  Cũng như một hoang-đảo, nếu chưa có ai đến chiếm-cứ thì chưa thể cho được là một phần lãnh-thổ của một quốc gia, ngay như theo công-pháp quốc-tế.

            Và trong manh nha chính-sách này, chúng ta đã thấy một triết-lý của cha ông chúng ta đối nghịch với quan-niệm của người Chăm, giỏi về nghề đi biển, khoẻ về đánh nhau nên như người Viking ở bên Âu-châu, họ chỉ thích đột nhập đất liền cướp bóc rồi rút đi chứ không thích lập đồn lũy, đem dân đem lính tới sống chết với đất, giữ cho bằng được.  Hậu-quả như thế nào thì ngày nay ta đã quá rõ, với Việt-nam kéo dài hơn một nửa nước nữa đến mũi Cà-mau trong khi vương-quốc Chăm thì căn-bản là bị sát nhập vào lãnh-thổ của Việt-nam vào năm 1471 và người Chăm thì hoặc bị đồng-hóa hoàn-toàn hoặc chỉ còn là một thiểu-số nhỏ bé trên một vùng thu hẹp của đất tổ của họ.

            Thế không có nghĩa là giữa hai dân-tộc Việt-Chăm đã không có những cuộc tranh chấp đẫm máu.  Và đất Quảng-bình là đất đã chứng-kiến biết bao nhiêu những đội-quân hùng mạnh của các vua Chăm, tranh chấp với quân Trung-hoa từ khi người Tàu còn xâm-chiếm nước ta (dưới thời Bắc-thuộc) và tiếp-tục tranh chấp sau khi ta đã lấy được lại độc-lập, khi thì đi đường biển khi thì đi đường bộ kéo ra đánh phá đến tận Thăng-long dưới đời nhà Trần.  Và hiển-nhiên, mỗi lần quân kéo qua thì dù là quân ta hay quân Chăm thì người chết vẫn không thiếu, nhiều khi máu đổ như sông.

            Ta chưa đánh quỵ được Chăm-pa (1471) bao lâu thì ngay trong nội-bộ đất nước chúng ta đã chia đôi, chia ba với nhà Mạc lên cầm quyền ở Thăng-long (1527), vua Lê lui về Thanh-hóa, rồi Trịnh-Nguyễn phân-tranh (1558) dẫn đến hai quốc-gia riêng biệt, Đàng Trong (của các chúa Nguyễn) và Đàng Ngoài (của vua Lê chúa Trịnh), kéo dài hơn 200 năm đến tận 1771 khi anh em Nguyễn Huệ dấy binh lên ở Tây-sơn, Bình-định.  Thời-gian này, con sông Gianh (còn gọi là Linh-giang) trở nên nổi tiếng như một con sông chia cắt hai miền, rồi nhà Nguyễn củng-cố, khác với các vua Chăm, ở phía Bắc bằng một hệ-thống đồn lũy rất kiên cố mà nổi tiếng nhất là hệ-thống Lũy Thầy do Đào Duy Từ (1572-1634) dựng nên.  Phải chăng địa-thế của Quảng-bình trong đó có dẫy Hoành-sơn đã đủ hiểm trở để cho cụ Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể, theo một truyền-thuyết, gợi ý với sứ-giả của Nguyễn Hoàng (ở ngôi chúa 1558-1613) là một dải Hoành-sơn có thể giúp cho nhà Nguyễn “muôn đời dung thân” ở phía Nam?

 

Một tác-phẩm địa-chí “nói có sách, mách có chứng” thật phong phú

            Sách Quảng-bình: Chín trăm năm nhìn lại, 1075-1975 của tác-giả Nguyễn Đức Cung ra mắt hôm nay mới chỉ là tập đầu trong một tác-phẩm đồ sộ mà tôi nghĩ sẽ có ít nhất là hai tập.  Mới Tập I này đã dầy 652 trang chữ nhỏ, chứng tỏ sức làm việc khá phi thường của tác-giả.  Riêng chỉ một mình tôi cũng đã có dịp đưa ra những nhận xét về hai tác-phẩm công-phu mà ông đã cho ra mắt độc-giả từ ngày sang Mỹ, cuốn Lịch sử vùng cao qua Vũ Man Tạp Lục Thư (Nhật-Lệ xb, 1998) và Diên-Lộc Quận-Công Nguyễn Thân (Nhật-Lệ xb, 2002).  Ông còn có những tác-phẩm khác nữa như tập thơ Trong cõi vô thường (1999) và cuốn Tù cải tạo của Lê-Hồng Tuấn mà ông đã có công nhuận sắc và giới thiệu.  Cộng thêm tác-phẩm Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên nói về các chúa Nguyễn và dịch từ nguyên-tác chữ Hán mà ông đã cho in, do nhà Khai Trí xuất bản, trước năm 1975 thì phải nói ông đã xây dựng được danh tiếng như một sử-gia có hạng của chúng ta ở hải-ngoại.

            Dù ta chưa biết Tập II của tác-phẩm Quảng-bình này sẽ nói gì, riêng trong tập I chúng tôi như một độc-giả đã khám-phá hay được học hỏi rất nhiều và cặn kẽ về những “dấu tích tiền sử và lịch sử” của Quảng-bình với những đề-tài thật hấp dẫn như “Minh-Cầm, địa chỉ của một nền văn minh thạch khí mới” hay “Bàu Tró, di chỉ khảo cổ học, từ ngữ giao thoa của hai nền văn hóa Việt-Chăm”; rồi Quảng-bình qua “các bút lục chứng tích” trong lịch-sử như sách Ô Châu Cận Lục, một trong những địa-chí cổ nhất của ta về một địa-phương do Dương Văn An viết từ thế-kỷ XVI dựa theo bản thảo gốc do hai “chàng thư sinh... đồng hương” khởi thảo (mà rất tiếc ta không có được tính danh). 

            Một trong những chương thích thú nhất đối với tôi là chương III, “Dấu tích Chăm-pa trên đất Quảng-bình,” giúp ta nhìn lại một số vấn-đề mà bấy lâu nay vẫn có ngộ-nhận về Vương-quốc Chăm-pa, rồi “chiến-tranh Chăm-Hán trên đất Quảng-bình” với những di-tích như “Khu-Túc, chiến trường giằng co suốt năm thế kỷ” (TK II đến VII) hoặc “Khu-Túc qua tư liệu, thư tịch và luận cứ trên thực địa,” chưa kể còn “Ninh-Viễn và một số di tích khác.”  Hấp dẫn không kém là đề-tài “dấu tích Chăm-pa trong ngôn ngữ và đời sống xã hội,” đặc-biệt đối với tôi là người đã từng viết cách đây gần 20 năm về “Tiếng Việt, tiếng Nhật và họ Mã lai – Đa đảo” in trong Dòng Việt số 2, Tập II, mang tên “Tuyển-tập Ngôn-ngữ và Văn-học Việt-nam” (1994, trang 437-480) trong đó tôi chủ-trương là địa-tầng thấp nhất, tức là cổ nhất, trong tiếng Việt là tầng ngôn ngữ Mã lai – Đa đảo mà Chăm là một chi nhánh ở trong đó.

            Ngày nay, ai về Việt-nam mà không tìm cách đi thăm động Phong-nha ở Quảng-bình, được UNESCO xếp là một trong những di-sản thiên-nhiên hàng đầu của nước ta, không kém Vịnh Hạ-long bao nhiêu.  Rồi nếu tôi không lầm thì ở Quảng-bình người ta cũng đã tìm ra một số giống vật thật hiếm quý của nhân-loại, mấy thứ chim muông thuộc loại “endangered species” cần phải được bảo vệ.

            Tác-giả đã bỏ ra bốn chương trong sách, 250 trang để nói về những công lao và thành-tích của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong (chương V đến chương VIII).  Những đề-tài này, từ Linh-giang (tức sông Gianh) (chương VI) đến “Sông Nhật-lệ và hệ thống Lũy Thầy trong chiến-tranh Trịnh-Nguyễn” (chương VII) hay “Từ việc mở đất Gia-định đến cuộc phát triển kinh tế ở Quảng-bình” (chương VIII), là những đề-tài được khai triển một cách rất đầy đủ nên khá mới ngay cả với một người thích lịch-sử như chính tôi. 

            Ông cũng dành ra hai chương (IX và X) để nói về “Đạo Công-giáo trên đất Quảng-bình, khi hạt giống vừa gieo xuống...” và “Thập giá và những chiếc mũ triều thiên vinh quang” cho ta thấy nhiều điều thật đáng ghi nhớ trong lịch-sử của đất nước ta, nhất là khi các bộ sử lưu-hành ở trong nước trong lúc này đều có khuynh-hướng xem nhẹ hay xuyên-tạc sự đóng góp của Thiên-chúa-giáo vào trong lịch-sử nước nhà.

 

Đôi điều phân vân hay thắc mắc

            Như thế, đây là một cuốn sách thật đáng đọc vì một đằng tác-phẩm tìm cách đưa vào và dung-hòa những khám-phá tìm tòi của nhiều thế-hệ sử-gia, cả Việt-nam lẫn ngoại-quốc, rồi của khảo-cổ-học, cả người Pháp lẫn các nhà nghiên cứu ở miền Bắc sau này, rồi ông còn đưa cả địa-lý, lịch-sử kinh tế và lịch-sử tôn-giáo (ít nhất cũng của Thiên-chúa-giáo) vào trong một cuốn địa-chí thật cặn kẽ về Quảng-bình, quê hương của tác-giả (có lẽ vì thế chăng mà ông gọi nhà xuất bản của ông là Nhật-lệ, tên một con sông ở Quảng-bình).  Trong công việc này, ông không ngần ngại đưa vào những tìm tòi hay kết-quả nghiên cứu của những sử-gia sau này như của Linh-mục Nguyễn Phương (trước 75 dạy ở Đại-học Huế), Nguyễn Thế Anh (viện-trưởng VĐH Huế một thời-gian và hiện dạy ở Collège de France, có chân trong CNRS, tức Centre national de recherches scientifiques rất có uy-tín của Pháp), Li Tana (một sử-gia gốc Mã-lai Trung-hoa ở Úc, tác-giả một luận-án nổi tiếng, The Inner Region: A Social and Economic History of Nguyen Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries, đã được dịch sang tiếng Việt thành Xứ Đàng Trong: Lịch sử kinh tế-xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18, Nxb. Trẻ, 1999).  Ông cũng dựa vào những chuyên-gia hàng đầu về Quảng-bình ở trong nước như cụ Nguyễn Tú, tác-giả của nhiều cuốn sách về đủ mọi phương-diện về Quảng-bình.  Và vì ông cũng đọc thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, chữ Hán, ông đã sử dụng được các nguồn như Keith Taylor (sử-gia Mỹ hàng đầu về VN, hiện dạy ở Cornell), Alexander Woodside (dạy ở Harvard), Stephen Oppenheimer (tác-giả cuốn sách nổi tiếng, Eden in the East) hay Joseph Buttinger (sử gia lớn đầu tiên người Mỹ gốc Áo viết về VN) trong tiếng Anh, Po Dharma, Yoshiharu Tsuboi và Alain Forest trong tiếng Pháp và hiển-nhiên rồi, Linh-mục Léopold Cadière, người yêu Quảng-bình và có lẽ viết đầy đủ nhất về Quảng-bình trước năm 1945 trong bất cứ tiếng nào, v.v.

            Tóm lại, một cuốn sách rất kỹ trong nhiều nghĩa, kể cả một bảng “sách dẫn” (index) đầy đủ và cặn kẽ cho những ai muốn đi tìm chi-tiết trong sách và những phụ-đính, tranh ảnh và bản-đồ minh-họa cùng bảng liệt-kê các chi-tiết đó.

            Tuy-nhiên, đặt cuốn sách xuống, tôi vẫn không khỏi thắc mắc mà lại về ngay chính chủ-điểm của cuốn sách, tức chương IV, “Nguyễn Hoàng và chủ nghĩa trị quốc dựa trên Khổng học.”

            Trong chương này, ông bất đồng ý-kiến với chủ-kiến (“thesis,” “thèse”) của Li Tana mà G.S. Tôn-thất Thiện đã tỏ ra ủng-hộ trong một số bài viết trên Thế Kỷ 21 hoặc một sử-gia không kém nổi tiếng là ông Trần Gia Phụng, hiện ở Toronto, Canada.  Chủ-kiến của Li Tana là nhà Nguyễn, nhất là các chúa Nguyễn, vì vào một đất mới, đã không thể áp-dụng được Khổng-giáo như ở miền Bắc, nơi mà đạo Nho đã bắt rễ từ thời Bắc-thuộc, nên bắt buộc phải mềm dẻo hơn, dựa vào Phật-giáo.

            Mặc dầu ông đã mạnh dạn, nếu không muốn nói là thẳng thừng bác bỏ cái chủ-kiến mà ông cho là sai lầm của Li Tana (và những người ủng-hộ quan-điểm này), tác-giả Nguyễn Đức Cung, theo tôi, vẫn chưa đủ thuyết phục.  Vì sao?  Vì sách của ông là một loại sách “xét lại” (revisionist) nên ông nhấn mạnh những mặt mới mà ông và một số người, trong đó có thầy của ông là L.M. Nguyễn Phương, đã tìm ra và khẳng-định.  (Ông dành riêng gần như một chương trong Phụ lục I cho “Linh mục sử gia Nguyễn Phương (1921-1993)” và cho in lại một bài viết về cụ Nguyễn Tú.)  Làm như vậy, sách của ông dù cặn kẽ song đã không công-bằng với cái chủ-kiến mà ông không ủng-hộ.  Thí dụ, ông có hai chương (rất cần thiết) về sự du nhập của Thiên-chúa-giáo vào Việt-nam, nhất là Đàng Trong, nhưng ông lại chỉ lác đác nhắc đến sự bành-trướng, nếu có, của Phật-giáo ở Đàng Trong và nhất là ở Quảng-bình.

            Ngược lại, ngay cái chủ-kiến của ông là Nguyễn Hoàng dùng “chủ nghĩa trị quốc dựa trên Khổng học” cũng không được chứng minh bằng những cứ-liệu đương-thời (tỷ-dụ, những lời phán khi sinh-thời của Nguyễn Hoàng) mà chỉ dựa chung chung lên những hiểu biết mà ta có về đạo Khổng mà ta có thể nghi là Nguyễn Hoàng cũng biết.  Song biết là một chuyện, có áp-dụng không lại là chuyện khác.  Thiếu gì chuyện ta biết về đạo Khổng, đạo Phật, đạo Chúa mà cuối cùng ta vẫn không làm được, hoặc vì ta thiếu ý-chí hoặc vì tình-cảnh, hoàn-cảnh không cho phép, buộc ta phải làm khác đi.  Những phản-chứng, riêng về đời Nguyễn Hoàng không, không thiếu. 

            Một trong những cột trụ của đạo trị quốc dựa trên đạo Khổng, như ta biết, là các kỳ thi để chọn người tài, có ở nước ta ít nhất cũng từ đời nhà Lý.  Nhưng theo tác-giả Lê Đình Cai (trong quyển 34 năm cầm quyền của chúa Nguyễn Phúc Chu, Nxb Đăng Trình, 1971) thì mãi đến năm 1646, chúa Nguyễn Phúc Lan mới cho “mở khoa thi đầu tiên ở Đàng Trong.”  Mà đến 1646 thì Nguyễn Hoàng đã chết được 33 năm rồi.  Trường-hợp Đào Duy Từ vì là con nhà hát nên không được đi thi ở Đàng Ngoài phải tìm đường vào Nam để được sủng-dụng cũng chứng minh là Nguyễn Hoàng không đặt nặng lắm vấn-đề thi cử (thậm chí ông không cả đặt ra vấn-đề này suốt thời-gian ông làm chúa).  Chuyện ông mơ thấy có người về báo mộng để rồi cho xây chùa Thiên-mụ cũng phải kể là một thứ ảnh-hưởng của Phật-giáo hay ít nhất cũng của tín ngưỡng bình-dân.

            Tôi không phải là sử-gia, tôi không biết đủ và cặn kẽ như tác-giả Nguyễn Đức Cung, nhưng tôi cho là chủ-kiến của ông trong cuốn sách này cần được đem đối-chiếu một cách đầy đủ hơn với những chủ-kiến của các tác-giả nghĩ khác như Li Tana và một số sử-gia VN khác.

 

Đọc tại buổi ra mắt sách

Quảng Bình: Chín trăm năm nhìn lại, 1075-1995

của Nguyễn Đức Cung

Chủ-nhật, 17-XII-2006

Philadelphia, PA (tại Hội trường Hùng Vương)

            

Trở về Trang Chính