|
Trong sách Tôn tử Binh
pháp, một binh thư nổi tiếng của Trung Hoa thời cổ, Tôn Tử
hay cũng gọi là Tôn Vũ (thế kỷ VI-V trước CN) đã nói về tình
báo như sau : "Một đạo quân mà không có các tổ chức mật
báo thì cũng hệt như một người mà không có mắt hay tai."
(An army without secret agents is exactly
like a man without eyes or ears.- In Sun-tzu, "Employment of
Secret Agents (23), The Art of War, Samuel B. Griffith, 1963.)
Ai cũng biết tai mắt là những cơ
quan trọng yếu của con người được dẫn ra so sánh với vấn đề tình
báo, điều đó chứng tỏ rằng tình báo quan trọng cho sự sống còn
của một quốc gia, một tổ chức đến mức nào. Với cuốn binh thư mà
tác giả được các giới Đông cũng như Tây ca tụng là bậc thầy của
các nhà quân sự mọi thời, nhất là đối với các nhà quân sự Việt
Nam từ thời lập quốc đến ngày nay 1, Tôn Tử đã viết
mười ba bài trong đó bài sau hết có tên "Dụng gián thiên"
(Dùng gián điệp) chứng tỏ sự quan trọng của ngành tình báo có
khả năng vượt thời gian và không gian.
1.-
Một cái nhìn tổng quát về tình báo
Vấn đề
an ninh của một tổ chức, nhất là tổ chức chính trị, cũng giống
như sự sống còn của một quốc gia liên hệ mật thiết tới tình báo,
điệp báo hay gián điệp (espionage) đó là một khẳng định đã từng
được minh chứng trong lịch sử. Sự bành trướng của một dân tộc
nhờ vào sức mạnh vật chất cũng như tinh thần thông qua các nỗ
lực tranh đấu như chiến tranh, thương thảo hòa bình, bành
trướng, ngoại giao, thương mại, kể cả những trao đổi, giao lưu
văn hóa sở dĩ đạt được thành quả phần lớn phải dựa trên các dữ
kiện do ngành tình báo cung cấp. Tình báo hay gián điệp nói
chung là tai mắt để thu thập, nghe ngóng, moi móc tin tức nhằm
hoàn tất nhiệm vụ cung cấp các dữ kiện chính xác để người lãnh
đạo quốc gia hay người cầm nắm tổ chức có đủ yếu tố quyết định
các vấn đề trọng đại của đất nước hay có liên hệ tới sinh hoạt
tổ chức nội bộ của mình. Ngày nay, tình báo còn lấn qua lãnh vực
xã hội và kinh tế với đà phát triển của các ngành tin học,
truyền thông có khả năng cung cấp sự kiện trên mạng lưới điện tử
hay các thiết bị truyền thông siêu điện tử đủ sức vượt biên giới
quốc gia và hoàn toàn không bị hạn chế với không gian cũng như
thời gian. Tình báo nhắm vào đối tượng có khi là một quốc gia,
một tổ chức, một phong trào hay một cá nhân. Nhân viên tình báo
được chính quyền hay các tổ chức khác gửi vào hoạt động trong
vùng địch hay vùng đất nghi ngờ có thể trở thành thù địch của
mình để thu thập tin tức.
Trong
lãnh vực ngôn ngữ, tình báo được mệnh danh là quyền lực thứ năm
đứng sau các quyền như hành pháp, lập pháp, tư pháp và báo chí.
Cũng có khi tình báo được gọi là đạo quân thứ năm để nói lên sức
mạnh của nó không khác gì một đạo quân.
Tình
báo, tiếng Pháp gọi là
Intelligence service nhấn mạnh đến yếu tố intelligent tức
là thông minh, một đòi hỏi tất yếu đối với người hay tổ
chức thi hành các công tác mà ngành tình báo đòi hỏi. Có lẽ cần
nói rõ hơn Intelligence là information sau khi đã được đánh giá,
kiểm chứng. Dĩ nhiên tình báo đòi hỏi rất nhiều điều kiện, yếu
tố từ khả năng đến tâm lý, tình cảm, phong thái con người, sắc
diện thật cũng như ảo, phong cách xử lý công việc, tài chánh,
nhân sự v.v... Phạm vi hoạt động của tình báo rộng rãi không
giới hạn trong một môi trường nào nhưng có thể nói là có mặt
khắp mọi nơi, dưới nhiều hình thức, qua nhiều khuôn mặt không
thể nào lường được, vì thế mà tình báo lại được chia ra nhiều
ngành hoạt động trong nhiều giới như quân báo (tình báo
sử dụng trong quân đội), điệp báo (gián điệp sử dụng
trong các công tác đặc biệt), dân báo hay tình báo
nhân dân hoạt động trong dân chúng. Do các mục tiêu dài hạn
hay ngắn hạn mà người ta tổ chức các cụm tình báo chiến lược
hay chiến thuật, một nhân viên tình báo cộng tác một
lúc với hai phe đang chống nhau, nhưng trung thành với một phe
thì gọi là nhị trùng (agent double). Tình báo nói chung
là một ngành rất cũ kể từ khi có con người xuất hiện trên trái
đất, tồn tại cho tới ngày nay theo cùng với nhịp sống của nhân
loại để trở thành một ngành rất mới, càng ngày càng được kiện
toàn với đà tiến bộ của kỹ thuật hiện đại.
Ngày
nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có ngành tình báo
riêng của họ, đặc biệt là các cường quốc như Hoa Kỳ, Anh, Pháp,
Nga, Nhật Bàn, Trung Quốc, Do Thái v.v...
Ở Mỹ,
năm 1945 khi Tổng thống Harry Truman giải tán tổ chức OSS (the
Office of Strategic Services) vì cho rằng cơ quan này không còn
cần thiết vì là giai đoạn sau chiến tranh, nhưng vào tháng 9 năm
1947, do nhu cầu an ninh thế giới, một cơ quan tình báo mới CIA
(Central Intelligence Agency) được Quốc Hội thành lập do thông
qua Đạo Luật An Ninh Quốc Gia (the National Security Act) dựa
trên kinh nghiệm với tổ chức của họ trước đây với rất nhiều
ngành, phân ngành tình báo thuộc các quân binh chủng. Mục đích
của cơ quan tình báo CIA là chống lại các mặt trận tình báo,
gián điệp do Liên Xô đang nỗ lực tiến hành với các hoạt động lật
đổ của họ tại các quốc gia khác mà cuộc chiến tranh lạnh (the
Cold War) đang khởi đầu. Ngoài ra còn có cơ quan điều tra liên
bang gọi tắt là FBI (Federal Bureau of Investiagation) giữ vai
trò chính là phản gián mà phạm vi hoạt động nằm trong nội địa
Hoa Kỳ.
Tại Hoa
Kỳ, một nghị định của Tổng Thống mang số 12333 ngày 4 tháng Mười
hai năm 1981 chỉ thị cho hệ thống tình báo quốc gia "cung cấp
cho Tổng thống các nguồn tin cần thiết làm căn bàn cho các quyết
định liên hệ tới việc điều hành và phát triển các chính sách về
ngoại giao, quốc phòng và kinh tế và bảo vệ các quyền lợi của
quốc gia Hoa Kỳ khỏi những đe dọa về an ninh của ngoại bang".
2 Như vậy, các cơ sở tình báo đương nhiên trở
thành cơ quan quan trọng và cần thiết của nhà nước. Cách đây hơn
hai thập kỷ, ngân khoản dành để điều hành các cơ quan tình báo
quốc nội và trên thế giới của Hoa Kỳ đã lên tới 12 tỉ Mỹ Kim với
con số nhân sự khoảng 200,000 người tại trong nội địa Hoa Kỳ và
thêm hàng chục ngàn nhân viên trên thế giới. Ngày nay số tiền đó
chắc hẳn phải nhiều hơn cùng với số nhân sự phải tăng hơn nhưng
biết được con số thật sự cũng không phải là dễ dàng. Các hoạt
động về tình báo của Liên Xô trước đây và nước Nga bây giờ chắc
hẳn phải khoác những tầm vóc lớn và với các đại cường khác vấn
đề tình báo chắc cũng có những nỗ lực tương tự.
Ở Anh
quốc, ngành tình báo cũng được tổ chức từ thời Nữ hoàng
Elizabeth I với hai cơ quan là Secret Intelligence Service
(SIS), vì được chỉ định thành lập trong thời chiến nên có tên
MI-6 (tức Military Intelligence 6) và Security Service, thông
thường được gọi là MI-5. Cơ quan MI-5 này cũng tương tự như FBI
của Hoa Kỳ với bí danh được dùng trong nhiều năm là K xuất phát
từ tên của Sir Vernon Kell đứng đầu cơ quan này từ năm 1909 đến
1940.
Tại
Pháp, ngành tình báo và phản gián thời hiện đại được coi như một
tổ chức hỗn hợp bắt nguồn từ thời Napoléon Bonaparte và một hệ
thống tổ chức được phát triển mạnh dưới thời Tướng Charles de
Gaulle. Từ năm 1947 đến năm 1981, ngành
tình báo Pháp mang tên Service de Documentation Extérieure et de
Contre-Espionnage (SDECE).
Từ năm
1981, SDECE được tổ chức lại thành Direction Générale de la
Sécurité (DGSE) với cấu trúc thay đổi nhưng nhiệm vụ vẫn y
nguyên: thu thập và phân tích các nguồn tin ngoại quốc, điều
hành ngành phản gián ở bên ngoài nước Pháp và các hoạt động
chính trị bí mật ở hải ngoại.
Năm 1968,
SDECE của Pháp bị giao động mạnh vì cuốn hồi ký của Philippe
Thyraud de Vosjoli vốn là một nhân viên trọng yếu trong ngành
tình báo Pháp phục vụ đã trên 20 năm. De Vosjoli đã xác quyết
rằng cơ quan SDECE đã bị tình báo Liên Xô xâm nhập sâu rộng
trong những thập niên 1950, nhưng chính quyền Pháp đã cực lực
phủ nhận việc này. Ông này cũng cho biết có những thời kỳ xảy ra
những cuộc cạnh tranh kịch liệt giữa tình báo Pháp và tình báo
Hoa Kỳ. 3
Tại Trung
Quốc, ngành tình báo cũng tương tự với hệ thống của Liên Xô với
bốn đơn vị chính: tình báo của Đảng, tình báo của Hội Đồng Nhân
Dân (bộ máy thư lại của chính quyền), tình báo Bộ Quốc Phòng và
tình báo Bộ Ngoại Giao. Ngoài ra còn chằng chịt không biết bao
nhiêu hệ thống nhỏ của các cấp bộ tình báo, phản gián xuất phát
từ bốn đơn vị chính đó. Hai nhân vật tình báo thượng thặng của
hai chế độ đối nghịch cộng sản và quốc gia tại Trung Hoa đó là
Khang Sinh (K'ang Sheng 1903- ) và Tai Li (1895-1945) cùng hoạt
động tại Thượng Hải trong những năm của thập niên 20 của thế kỷ
trước nhưng chưa bao giờ gặp nhau, vốn đã để lại nhiều hành tung
kỳ bí trong kho sử tình báo thế giới. 4
Ở Do-Thái,
cơ quan tình báo trung ương (The Central Institute for
Intelligence and Security) thường gọi là Mossad chỉ huy các hệ
thống tình báo quốc ngoại. Danh từ
Mossad có nghĩa là thể chế (institution) trong ngôn ngữ Do Thái.
Cơ quan thứ hai gọi là Shin Bet (General Security Services) có
nhiệm vụ chính là phản gián quốc nội. Cơ quan thứ ba là thường
gọi là Tình báo Quân sự (Military Intelligence hoặc The
Intelligence Corps of the Defense Forces) được kể là một đối thủ
của Mossad.
Tình
báo mang những mẫu thức riêng tùy theo từng phạm trù như chính
trị, quân sự hay kinh tế, xã hội kể cả các giai đoạn lịch sử
theo đà tiến bộ của đất nước.
Về
chính trị, ngành tình báo theo dõi các hoạt động của chính
quyền, đảng phái đối lập qua các hoạt động như bầu cử, ứng cử
nhất là tìm hiểu về chính sách, đường lối đấu tranh của các ứng
cử viên, các người làm chính sách (policy makers). Nguồn tin
tình báo chính thường là các bản báo cáo do các nhà ngoại giao
cung cấp lấy từ các nguồn thông tin qua báo chí, sách vở của cac
nước sở tại. Bộ máy tình báo chuyên nghiệp sẽ là người cung cấp
thêm các tin tức cho nỗ lực làm việc của các nhà ngoại giao.
Trong phạm trù này, tình báo ngoài việc thu nhận tin tức còn
phải tiến hành các hoạt động phản gián tức là phản tình báo
(counterintelligence), một ngành mà chúng tôi sẽ đề cập đến ở
sau.
Trong
một quốc gia dân chủ, ngành tình báo thường do chính quyền (hành
pháp) tổ chức và điều hành theo đường hướng, chính sách của vị
nguyên thủ quốc gia được dân chúng bầu chọn theo quy định của
hiến pháp. Hoạt động của tình báo thường là bí mật để bảo vệ
nhân sự và các đường dây tổ chức. Các ám số, bí danh được sử
dụng khi tiến hành công tác thu lượm tin tức, gặp gỡ các đường
dây, theo dõi người và việc, quyết định các sự việc, ngân khoản,
tình huống v.v... Tùy theo công tác, mục tiêu dài hạn hay ngắn
hạn mà nhân sự đảm trách công tác tình báo được lựa chọn, đủ
loại người không phân biệt trình độ học vấn, tri thức xã hội,
văn hóa, giới tính, địa phương.
Tình
báo hay gián điệp là sự thể hiện cố gắng của chính quyền một
cách bí mật hay qua các động tác giả để có thể lấy tin tức của
một chính quyền khác khó thu được qua các ngõ ngách thông
thường. Thật ra không chỉ giới hạn trong phạm vi chính quyền,
ngành tình báo cũng được sử dụng giữa các hảng xưởng chuyên
ngành kỹ nghệ, các chính đảng nhằm thu thập tin tức về các đối
thủ của mình, thí dụ rõ nhất là việc đảng Cộng Hòa đã sử dụng kỹ
thuật nghe lén gài đặt trong trụ sở đảng Dân Chủ để gây ra biến
cố chính trị là vụ scandal Watergate (1972-1974).
Về quân
sự, nhất là khi một quốc gia đang có chiến tranh, tình báo
thường được thi hành, cung cấp tin tức qua các tùy viên quân sự
(attaché militaire) thuộc các tòa đại sứ. Một điều cũng khá hài
hước là tình báo quân sự khó thực hiện có hiệu quả trong thời
bình mà lại tỏ ra rất có năng lực trong thời chiến bởi vì trong
thời gian có chiến tranh người ta có thể khai thác tin tức qua
các tù binh, hàng binh, các thiết bị thu được, các tư liệu như
nhật ký, hồi ký của binh sĩ, sĩ quan tham chiến của hai bên, các
tin tức thu lượm được từ các cuộc hành quân, kiểm soát mục tiêu,
thanh toán chiến trường.
Về kinh
tế, nhu cầu tin tức trong lãnh vực này có liên hệ đến những
người soạn thảo chính sách của một quốc gia, một số ngành kỹ
nghệ sản xuất vật dụng kể cả giới tiêu thụ, thí dụ nạn thất
nghiệp ở Nhật Bản, sự thiếu hụt thực phẩm ở Ấn Độ, tình trạng
sản xuất lúa gạo của một số quốc gia ở Đông Nam Á, tình trạng
dịch cúm gia cầm ở Việt Nam, Trung Quốc và gần đây sự phát hiện
các loại thuốc âu dược được chế tạo một cách gian dối cũng tại
các nước này. Thu thập được các dữ liệu về kinh tế với những sự
kiện xác đáng qua các con số và thời điểm hẳn hoi sẽ giúp cho
chính quyền ở tầm mức quốc gia đưa ra những quyết định quan
trọng về phương diện ngoại giao, trao đổi các chương trình kinh
tế, huấn luyện, trang bị.
Ngày
nay, tình báo đã có những bước tiến quan trọng liên hệ tới nhiều
lãnh vực và theo cùng với sự phát triển tột bực trong các công
nghệ tin học, truyền thông, ngành tình báo thu thập các dữ kiện
liên hệ tới khí hậu, thổ nhưỡng, dân số, bệnh tật, môi sinh. Tại
trong hầu hết các cường quốc, ngành tình báo rất đa dạng, đa
diện chi phối nhiều hoạt động, nhiều giới dân chúng cũng như
người cầm quyền trong xã hội.
Tình
báo thông thường được phân theo ba loại: tình báo chiến lược
hay cũng gọi là tình báo quốc gia, tình báo chiến thuật,
và phản gián.
Danh từ
tình báo chiến lược cho ta một ý niệm về thời gian mà
thường là khoảng thời gian dài, thí dụ việc xây dựng một nhân
vật từ nhỏ đến lớn rồi tìm cách cài đặt vào trong một tổ chức
như tôn giáo chẳng hạn mà mục đích là vận động, chỉ đạo, hướng
dẫn nhân vật đó trở thành cán bộ được tin tưởng, có uy tín, có
năng lực của tôn giáo đó nhằm thu thập tin tức của tôn giáo về
báo cáo lại cho tổ chức của mình. Trong quan niệm cổ điển của
ngành tình báo, tình báo chiến lược được coi là hệ thống tin tức
có liên hệ đến các khả năng và ý đồ của các nước bên ngoài. Khả
năng dĩ nhiên thuộc nhiều lãnh vực như chính trị, quân sự, kinh
tế, văn hóa, xã hội và ý đồ cũng có nghĩa là chính sách hiện
thời cũng như tương lai của các quốc gia này đối với các quốc
gia khác. Tình báo chiến thuật cũng có khi được gọi là
tình báo hành quân hay tình báo tác chiến, là tin tức được yêu
cầu cung cấp do bởi các vị chỉ huy chiến trường. Sự phân biệt
giữa tình báo chiến lược với tình báo chiến thuật đôi khi cũng
chỉ có trên ngôn từ chứ trong thực tế nhất là trong thời đại hỏa
tiễn và phi cơ phản lực như ngày nay, một vị tư lệnh chiến
trường nhiều khi cũng có những đòi hỏi về nhu cầu tin tức, tình
báo không khác gì một vị tổng thống và hội đồng an ninh quốc gia
hay ngược lại.
Phản
gián là gì? Phản gián hoạt động
liên hệ đến việc bảo vệ các nguồn tin tình báo của mình và sự bí
mật của các cuộc hành quân tình báo. Mục đích của công tác phản
gián là ngăn chặn gián điệp hay điệp viên của một nước ngoài
không xâm nhập được vào trong chính quyền, các cơ sở quân sự hay
các cơ quan tình báo của mình. Phản gián cũng có liên quan đến
việc việc bảo vệ ngành kỹ thuật cao của một quốc gia, ngăn ngừa
nạn khủng bố và đối phó với hoạt động buôn bán ma túy quốc tế.
2.-
Tình báo qua một tư liệu tôn giáo
Trong
các nỗ lực tranh đấu để sinh tồn, tình báo cung cấp cho con
người một số các dữ kiện về đối phương như tình trạng dân số,
khả năng chiến đấu, tình hình thực phẩm dự trữ, vũ khí, sơ đồ
đồn lũy, báo cáo thời tiết, hệ thống thủy văn, họa đồ chỗ cư trú
và thành quách kể cả thói quen, tập quán của người chỉ huy hay
của dân chúng, các lễ lạc hội hè của địa phương v.v... khi có
khả năng xảy ra các cuộc chiến tranh giữa phe này với nhóm nọ.
Đây là các dữ kiện cần thiết giúp cho các phe phái nắm vững để
lên kế hoạch chiến đấu hay thương thuyết hòa bình. Tình báo là
một ngành đi trước, chuẩn bị, dọn sẵn con đường để cho các hoạt
động khác như tập kích, khai chiến, lủng đoạn hàng ngũ đối
phương bằng lực lượng quân sự hay bằng các cuộc vận động tuyên
truyền chính trị đánh vào các lực lượng của địch hay môi trường
tâm lý của dân chúng bên đối phương. Tình báo là một mô thức
hoạt động đa diện của chiến tranh mà chiến tranh lại là một biểu
hiện của chính trị dưới một hình thức khác.
Trong
số các tư liệu tôn giáo có lẽ Cựu Ước (the Old Testament)
là sách nói về tình báo đầu tiên khi Mô-sê, một thủ lãnh của dân
tộc Do Thái đã dẫn đưa dân tộc đang bị nô lệ này ra khỏi Ai Cập
về miền Đất Hứa là đất Ca-na-an. Biến cố này xảy ra vào khoảng
năm 1250 trước CN. Sách Dân số của Cựu Ước có kể
lại câu chuyện Thiên Chúa đã chỉ thị ông Mô-sê gởi một đoàn do
thám vào đất Ca-na-an như sau: "Ngươi hãy sai người đi do
thám đất Ca-na-an, đất mà Ta sẽ ban cho con cái Ít-ra-en. Các
ngươi sẽ sai đi mỗi chi tộc một người và tất cả phải là kỳ mục
trong dân. Vậy từ sa mạc Pa-ran, ông Mô-sê đã sai họ đi, theo
lệnh ĐỨC CHÚA truyền. Tất cả họ đều là những người đứng đầu
trong con cái Ít-ra-en. Đây là danh sách họ: Thuộc chi tộc
Rưu-vên, có ông Sam-mu-a, con ông Dắc-cua. Thuộc chi tộc
Si-mê-ôn, có ông Sa-phát, con ông Khô-ri. Thuộc chi tộc Giu-đa,
có ông Ca-lếp, con ông Giơ-phun-ne. Thuộc chi tộc Ít-xa-kha, có
ông Gích-an, con ông Giô-xép. Thuộc chi tộc Ép-ra-im, có ông
Hô-sê-a, con ông Nun. Thuộc chi
tộc Ben-gia-min, có ông Pan-ti, con ông Ra-phu. Thuộc chi tộc
Dơ-vu-lun, có ông Gát-đi-en, con ông Xô-đi.Thuộc chi tộc Giu-se,
ngành Mơ-na-se, có ông Gát-đi, con ông Xu-xi.Thuộc chi tộc Đan,
có ông Am-mi-ên, con ông Gơ-ma-li. Thuộc chi tộc A-se, có ông
Xơ-tua, con ông Mi-kha-ên. Thuộc chi tộc Náp-tali, có ông
Nác-bi, con ông Vóp-xi. Thuộc chi tộc Gát, có ông Gơ-u-ên, con
ông Ma-khi Đó là tên những người ông Mô-sê sai đi do tham đất.
Rồi ông Mô-sê đặt tên cho Hô-sê-a, con ông Nun, là Giô-suê.
Ông Mô-sê sai họ đi do thám đất
Ca-na-an. Ông bảo họ: "Anh em hãy qua miền Ne-ghép mà lên, lên
miền núi. Anh em sẽ xem đất, xem nó thế nào, dân ở đó mạnh hay
yếu, ít hay nhiều, đất họ ở tốt hay xấu, thành thị của họ là lều
trại hay đồn lũy, đất đai màu mỡ hay cằn cỗi, có cây cối hay
không. Anh em hãy can đảm, và lấy ít hoa trái miền đó đem về."
Bấy giờ là đầu mùa nho. Họ đi lên và do thám đất, từ sa mạc Xin
đến Rơ-khốp, trên đường vào Cửa Ải Kha-mát. Họ qua miền Ne-ghép
đi lên và tới tận Khép-rôn, ở đó có A-khi-man, Sê-sai và Tan-mai
là con cháu của A-nác. Khép-rôn đã được xây bảy năm trước Xô-an
bên Ai-cập. Họ vào đến thung lũng Ét-côn,
ở đó họ chặt một nhành nho và một chùm nho, rồi hai người
dùng sào mà khiêng, họ cũng lấy cả lựu và vả. Người ta gọi nơi
ấy là thung lũng Ét-côn, vì chùm nho mà con cái Ít-ra-en đã hái
ở đó." 5 Một số họa phẩm từ đầu thế kỷ 14 tại Đức
ghi lại hình ảnh đoàn do thám trở về với cảnh hai người khiêng
một nhành nho chĩu nặng trái đã được in lại trong nhiều sách vở.
6
Sự kiện
Mô-sê đưa dân DoThái thoát ách nô lệ của Ai-Cập xảy ra khoảng
một nghìn ba trăm năm trước Công-Nguyên và nhóm tình báo do ông
chỉ định gồm 12 người với danh tính còn lại đến ngày nay. Nhóm
đó tiến hành công tác do thám khoảng bốn mươi ngày và sau đó trở
về báo cáo mọi sự việc lại cho vị thủ lãnh của mình, cho biết
vùng đất đó là một vùng đất "tràn trề sữa và mật". Các
chỉ thị của Mô-sê cho nhóm người do thám này khá cụ thể chứng tỏ
Mô-sê là một nhà lãnh đạo tài ba. Mô-sê là tên có nghĩa là "được
vớt ra khỏi nước" thường được xem là tác giả Ngũ Thư (The
Pentateuch) và bộ Luật Mô-sê. Đối với người Do Thái, ông là
Moshe Rabbenu (Mo-sê Thầy chúng ta). Cha mẹ ông là Amram và
Jochebed thuộc dòng họ Lê-vi, dân tộc Do-Thái đã dấu ông trong
nhà khi ông được ba tháng để tránh lệnh truyền giết các trẻ
Do-Thái của vua Pharaoh Ai Cập. Nhưng sau đó mẹ ông phải đan một
cái sọt trét dầu rái bỏ ông vào trong và đem thả xuống dòng sông
Nile. Một công chúa con vua Pharaoh vớt được đem vào cung nuôi.
Khi lớn lên Mô-sê đã tìm về với dân Do-Thái và đã được Thiên
Chúa chọn làm nhân vật lãnh tụ để đem dân Do-Thái ra khỏi Ai
Cập. Mô-sê về sau được dân Do-Thái coi như là một trong những tổ
phụ của họ.
Sau khi
do thám đất Ca-na-an, những người được sai đi đã trở về báo cáo,
và Cựu Ước đã ghi lại như sau: " Sau bốn mươi ngày do thám
đất, họ trở về. Họ đến gặp ông Mô-sê, ông A-ha-ron và toàn thể
cộng đồng con cái Ít-ra-en, tại Ca-đê trong sa mạc Pa-ran. Họ
báo cáo với hai ông và toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en, và
cho những người đó xem hoa trái miền ấy. Họ thuật lại với ông
Mô-sê rằng: 'Chúng tôi đã vào miền đất ông sai chúng tôi đến.
Đúng là miền đất tràn trề sữa và mật, và đây là hoa trái miền
ấy. Thế nhưng dân cư miền ấy thì mạnh, thành thị lại kiên
cố và rộng lớn lắm; ở đó chúng tôi còn thấy cả con cháu A-nác.
Có người A-ma-lếch ở miền Ne-ghép, người Khết, người Giơ-vút và
người E-mô-ri ở miền núi, còn người Ca-na-an thì ở bờ biển và
dọc sông Gio-đan." Bấy giờ ông Ca-lếp truyền cho dân đang phản
đối ông Mô-sê phải im lặng, ông nói: "Ta cứ lên chiếm miền ấy,
vì chắc chắn ta có thể thắng được". Những người đã lên cùng với
ông đáp lại: " Ta không thể lên đánh dân ấy, vì họ mạnh hơn ta."
Trước mặt con cái Ít-ra-en, họ bắt đầu chê bai miền đất họ đã do
thám, họ nói: "Miền đất chúng ta đã đi qua để do thám là đất
nuốt những người ở đó, và tất cả những người chúng tôi thấy ở đó
đều là những người cao lớn. Ở đó chúng tôi trông thấy
những người khổng lồ, con cháu của A-nác thuộc giống người khổng
lồ. Chúng tôi thấy mình chỉ như châu chấu, và họ cũng coi chúng
tôi như vậy." 7
Ở đây
chúng ta không chú trọng đi sâu vào lãnh vực tín lý hay thần học
để phân tích về những đánh giá của nhóm 12 người được sai đi do
thám đất Ca-na-an mà trong đó chỉ có hai người là Giô-suê và
Ca-lếp là có những nhận định và quyết tâm tiến vào đất mà Thiên
Chúa đã hứa trong khi những người khác đã dùng những điều mắt
thấy tai nghe để khích động dân Ít-ra-en nổi loạn chống lại Đức
Chúa của họ. Dân này đã nổi loạn, cằn nhằn, kêu ca và Thánh Kinh
Cựu Ước thuật lại, họ đã bị Thiên Chúa phạt phải đi vòng vo
trong sa mạc bốn mươi năm, tất cả thế hệ nổi loạn chống báng đó
đều bị chết trong sa mạc, trừ con cháu của họ. Ngay cả Mô-sê
cũng không vào được Đất Hứa. Sau những năm dài thử thách trong
sa mạc, ông và dân của ông đã tới một địa điểm nằm ngay ở phía
đông Ca-na-an. Ỏ đó Mô-sê leo lên núi Nê-bô trên vùng cao nguyên
xứ Moab, từ đó ông có thể đưa mắt nhìn về phía tây qua bên kia
sông Jordan, nhìn vào Đất Hứa. 8 Trong số các người
đi do thám, có Giô-suê và Ca-lếp là được vào Đất Hứa. Tình báo
là do thám, theo dõi để thu thập tin tức. Những người Mô-sê sai
đi là những chứng nhân trực tiếp, thi hành các chỉ thị, những
điều dặn bảo của thủ lãnh. Dĩ nhiên trình độ kiến thức, lý tưởng
phục vụ, đức tin tôn giáo của những kẻ được sai đi này cũng có
nhiều khác biệt cho nên khi trở về các báo cáo tường trình hay
quan điểm của họ trong lời tường thuật lại cũng khác nhau.
3.-
Tình báo và một vài biến cố trong truyền thuyết và lịch sử Việt
Nam
Trong
các truyền thuyết về lịch sử Việt Nam, chúng ta đọc thấy câu
chuyện liên hệ tới tình báo qua chuyện tình Trọng Thủy, con trai
của Triệu Đà và Mỵ châu, con gái An Dương Vương. Cuộc chiến xảy
ra giữa Triệu Đà và An Dương Vương vào khoảng thế kỷ III trước
CN đã được một số thư tịch cổ của Trung Hoa và truyền thuyết
trong sách sử Đại Việt nhắc đến trước đây. Sách Giao châu
ngoại vực ký đã viết về cuộc chiến này và sách Thủy
kinh chú đã dẫn lại như sau: "Về sau, Nam Việt Vương Úy
Đà đem quân đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân tên
là Cao Thông giúp chế một chiếc nỏ, bắn một phát giết ba trăm
người. Nam Việt vương biết không thể đánh đặng, rút quân về đóng
ở huyện Vũ Ninh. Nam Việt Vương sai thái tử là Trọng Thủy hàng
phục An Dương Vương. An Dương Vương không biết Cao Thông là
thần, đối đãi vô đạo. Thông liền bỏ đi, bảo với vua rằng: "Giữ
được nỏ ấy thì làm vua cả thiên hạ, không giữ được nỏ ấy thì mất
thiên hạ. An Dương Vương có con gái tên là Mỵ Châu, thấy Thủy
đứng đắn, Châu cùng Thủy giao thông. Thủy bảo Châu lấy chiếc nỏ
thần cho Thủy xem. Thủy thấy nỏ liền đem cưa trộm cho gãy. Làm
xong trốn về nói với Nam Việt Vương. Triệu Đà liền đem quân đến
đánh. An Dương Vương lấy nỏ thần ra bắn thì nỏ đã gãy, bị thua.
An Dương Vương xuống thuyền đi thẳng ra biển. (Nam) Việt Vương
hàng phục được các Lạc tướng." 9 Tư liệu của
Thủy Kinh Chú cho biết An Dương Vương có một vũ khí
bí mật và vạn năng và đó là lý do Triệu Đà không thể đánh lại
Thục Phán (An Dương Vương). Nhu cầu tìm hiểu về thứ vũ khí vạn
năng đó buộc một nhà làm tướng như Triệu Đà phải đặt vấn đề hành
động để liệu cách diệt trừ cho được vũ khí bí mật và nguy hiểm
đó. Trọng Thủy đã được giao phó cho nhiệm vụ tìm hiểu và ông đã
sử dụng tình cảm vào trong hoạt động tình báo này. Mỵ Châu đã
thiếu cảnh giác và nhất là muốn chiều lòng ý trung nhân, cho nên
đã để cho Trọng Thủy xem cái nỏ thần mà không rõ dụng tâm của
Thủy. An Dương Vương cũng tỏ ra quá tự tin, thiếu đề phòng để
địch nhân xâm nhập được vào bên trong mà nắm được nội tình của
mình.
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
giúp thêm một số hiểu biết về câu chuyện
tình báo trên đây như sau: "Đà biết vua có nỏ thần, không thể
địch được, bèn lui giữ núi Vũ Ninh, sai sứ đến giảng hòa. Vua
mừng, bèn chia từ Bình Giang (nay là sông Thiên Đức ở huyện Đông
NGàn) trở lên phía Bắc thuộc quyền cai trị của Đà, trở về phía
Nam thuộc quyền cai trị của vua. Đà sai con là Trọng Thủy vào
hầu làm túc vệ, cầu hôn con gái vua là Mỵ Châu. Vua bằng lòng.
Trọng Thủy dỗ Mỵ Châu để xem trộm nỏ thần, rồi ngầm bẻ gãy lẫy
nỏ, thay cái khác vào, giả vờ về Bắc thăm cha mẹ, bảo Mỵ Châu
rằng: "Ân tình vợ chồng không thể quên nhau, nếu lỡ hai nước
không hòa, Nam Bắc cách biệt, ta lại tới đây thì làm thế nào mà
tìm thấy nhau? Mỵ Châu nói: Thiếp có cái nệm gấm lông ngỗng,
thường mang theo mình, đi đến đâu thì rút lông ngỗng rắc ở chỗ
đường rẽ để làm dấu". Trọng Thủy về báo cho Đà biết." (Viện
Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội,
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập I, 1998, trang 138). 10
Không biết nỏ thần của An Dương Vương có liên hệ với cung
thần tí của Tô Giàm, viên quan Tống giữ thành Ung châu
khi Lý Thường Kiệt đem quân đánh nhà Tống vào năm Ất Mão (1075)
hay không, vì theo Hoàng Xuân Hãn trong cuốn Lý Thường Kiệt
thì "cung thần tí bắn một phát được
nhiều tên. Bắn ra giết nhiều lính và voi." 11 Kỹ
thuật rắc lông ngỗng của Mỵ Châu trước đây hơn hai nghìn năm có
lẽ cũng đã truyền kinh nghiệm lại cho giới làm tình báo ngày nay
qua việc đánh dấu khi đi đường, qua hộp thư sống hay hộp thư
chết trong kỹ thuật tình báo hiện đại. Truyền thuyết về câu
chuyện tình báo bi thảm này cũng còn được Đại Việt Sử Ký Toàn
Thư ghi lại như sau cùng một số tình tiết kết thúc câu
chuyện khá bi thảm:"Đà đem quân đến đánh vua, vua không biết
lẫy nỏ đã mất, ngồi đánh cờ cười mà bảo: "Đà không sợ nỏ thần
của ta sao? Quân của Đà tiến sát đến nơi, vua giương nỏ thì lẫy
đã gãy rồi. Vua thua chạy, để Mỵ Châu ngồi trên ngựa, cùng chạy
về phía nam. Trọng Thủy nhận dấu lông ngỗng đuổi theo. Vua đến
bờ biển, hết đường mà không có thuyền, liền gọi rùa vàng mấy
tiếng: "Mau đến cứu ta!" Rùa vàng nổi lên mặt nước, mắng rằng:
"Kẻ ngồi sau ngựa là giặc đấy, sao không giết đi?" Vua rút gươm
muốn chém Mỵ Châu. Mỵ Châu khấn rằng: "Trung tín trọn tiết, bị
người đánh lừa, xin hóa thành ngọc châu để rửa thù nhục này".
Cuối cùng vua vẫn chém Mỵ Châu, máu chảy loang mặt nước, loài
trai nuốt vào bụng, hóa làm hạt minh châu. Vua cầm sừng tê văn
dài 7 tấc xuống biển mà đi (tức như ngày nay gọi là sừng tê rẽ
nước. Tục truyền núi Dạ Sơn xã Cao Xá ở Diễn Châu là nơi ấy)
Trọng Thủy đuổi theo đến nơi, thấy Mỵ Châu đã chết, thương khóc
ôm xác đem về chôn ở Loa Thành, hóa làm đá ngọc. Trọng Thủy nhớ
tiếc Mỵ Châu, trở lại chỗ Mỵ Châu tắm gội trang điểm khi trước,
thương nhớ không nguôi, cuối cùng nhảy xuống giếng mà chết.
Người sau được hạt minh châu ở biển Đông, lấy nước giếng ấy mà
rửa, sắc ngọc càng sáng hơn." (Sđd, trang 139). 12
Kinh
nghiệm tổ chức tình báo càng được tích lũy và tiến hành theo
cùng với đà xây dựng và giữ gìn đất nước của dân tộc Việt Nam.
Xin lấy một thí dụ trong thế kỷ XI dưới thời nhà Lý qua các trận
chiến giữa Đại Việt với nhà Tống của Trung Hoa.
Trong
tác phẩm Lý Thường Kiệt, giáo sư Hoàng Xuân
Hãn nói về sự giao dịch giữa Đại Việt và nhà Tống như sau: "Ngoài
sự bang giao chính thức bằng các sứ bộ, hai nước Tống Lý có sự
giao dịch hằng ngày ở biên thùy. Trên những chỗ đường thông lộ
lớn, qua biên giới, sự buôn bán khá thịnh, và có tổ chức. Tống
cũng như Lý, sợ người ngoài giả mạo vào buôn bán để do thám. Cho
nên lúc thường, tuy cho đi lại thông thương, nhưng chỉ được tụ
họp tại một nơi nhất định, gọi là bạc dịch trường (chợ
quốc tế)." 13 Người do thám có nhiệm vụ quan sát,
nghe ngóng, lấy tin tức từ chỗ này qua chỗ khác, cho nên việc
quy mọi khách thương vào một chỗ nhất định thì dễ theo dõi, kiểm
soát và có phản ứng thích đáng khi xảy ra tình huống bất ngờ.
Lúc bấy
giờ tình hình giữa nước ta với Trung Hoa có mòi căng thẳng do ý
muốn gây hấn của Vương An Thạch, tể tướng của Trung Hoa. Tiêu
Chú lúc bấy giờ hiểu rõ thế lực nước ta qua những hoạt động thu
thập tin tức tình báo của ông đối với các tù trưởng vùng biên
giới Hoa Việt từ đạo Đặc Ma đến châu Điền Đống. Tuy nhiên Tiêu
Chú cũng rất do dự trước quyết định có nên đánh Giao Chỉ hay
không mặc dù ông được Tống Thần Tông triệu về hỏi tình hình
14. Chính sách khiêu khích của Vương An Thạch cũng khiến
vua Tống có lúc muốn tiến quân nhưng cũng còn ít nhiều ngại
ngùng. Tháng ba năm Giáp Dần, 1074, vua Tống hạ chiếu nói rằng:
"Quảng Tây nhiều lần nói tin thám tử báo rằng Giao Chỉ
tụ binh, muốn phạm vào đất ta. Sợ rằng biên thần không biết
lường sức chúng, mà đưa quân xa thành trại, để đánh lại. Vậy
nên, phải gấp báo cho viên coi Ung Châu là Tô Giàm, dặn nếu quân
man giám phạm đến Ung Châu, thì phải kiểm quân cố thủ, chớ có
tham lập công mà khinh địch." 14
Trong
trận Lý Thường Kiệt vây Ung Châu, ông đã phải chạm mặt với một
viên tướng giữ thành này rất ngoan cường, đó là Tô Giàm. Sách Lý
Thường Kiệt viết rằng: "Lúc thành Ung sắp bị vây, Giàm sai sứ
về Quế Châu, ở cách về phía bắc chừng 400 cây số, để cầu viện.
Quan coi Quế Châu là Lưu Di sai viên quan đô giám Trương Thủ
Tiết đem quân đi cứu. Nhưng Thủ Tiết nghe báo rằng ta đông gấp
mười, nên dùng dằng không chịu đi liền. Trái lại Thủ Tiết đem
binh đi vòng theo dường Quý Châu để tới Tân Châu. Y trú binh lại
ở trại Khang Hòa để chờ xem sức Giàm chống lại với ta thắng bại
thế nào đã. Không thấy viện binh đến, mà vòng vây đã thắt chặt,
Giàm phải cho người mang lạp thư, nghĩa là thư viết vào
giấy rồi vò vào trong sáp mà ngậm trong miệng, lọt ra vòng vây
để cấp cáo với đề điểm hình ngục Tống Cầu. Lúc nhận được thư,
Cầu khóc và giục Thủ Tiết tiến binh. Thủ Tiết hốt hoảng không
biết làm thế nào; bèn đem quân đóng ở núi Hỏa Giáp, rồi kéo tới
giữ ải Côn Lôn giữa đường Ung Tân, cách Ung chừng 40 cây số."
15
Thành
Ung Châu bị Lý Thường Kiệt vây trong gần một tháng nhưng nhờ
thành cao và chắc, và do Giàm điều binh khiển tướng rất giỏi nên
quân Đại Việt không làm được gì. Muốn quan sát được bên trong
thành, quân ta dùng vân thê là một thứ thang bắc
chuyền nối nhau rất cao, rồi sai các tù binh trèo lên mà trông
vào thành. Để triệt hạ các vân thê này, Giàm sai bắn hỏa
tiễn tức là một thứ pháo thăng thiên đốt cháy thang.
Quân ta dùng tên độc bắn lên thành. Lý Thường Kiệt
cho quân đào đường hầm, lót da cho kín nước, định
chui vào thành, nhưng Giàm để cho quân ta tiến tới gần rồi phóng
hỏa đốt các huyệt. Có tù binh bắt được ở Côn Lôn tên Triệu Tú
bày cho ta cách dùng hỏa công, nghĩa là bắn các chất cháy như
nhựa thông vào thành. Trong thành thiếu nước, không thể chữa
cháy được. Cũng lại có tù binh xui quân ta dùng phép thổ
công tức là lấy đất bỏ vào bì, xếp chồng vào nhau thành
bực thềm để lên thành. Bao đất chất hàng vạn, dần dần cao như
núi, Chốc lat đã cao đến vài trượng. Quân Lý nối tiếp nhau như
kiến mà trèo lên rồi lọt vào thành. Ấy là ngày Canh Thìn 23
tháng giêng (dương lịch 1-3-10760). Khi thấy mình không đủ sức
chống cự nữa, Giàm nói với bộ hạ rằng: "Ta quyết không chịu
chết về tay giặc" bèn trở về dinh, tự giết 36 người nhà, kể
cả hai con và hai cháu. Giàm giấu thây người nhà vào một cái
hầm, rồi tự thiêu mà chết. Quân Lý giết sạch dân thành, quan
lại, lính tráng, thổ đinh, cư dân cả thảy hơn năm vạn người.
16
Sau
trận Ung Châu, Lý Thường Kiệt kéo quân về, áp dụng chiến thuật
tình báo là do thám tin tức trong khi chuẩn bị chờ đón cuộc phản
kích của nhà Tống. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn viết rằng: "Biết
Tống sắp sửa kéo quân tới trả thù, Lý Thường Kiệt ra sức đề
phòng trước. "Ngày ngày ông sai tụ tập binh lính để tập trận;
nhóm họp voi ngựa, tập duyệt phép chạy, phép xung phong." Một
mặt khác Lý hết sức do thám hành động của quân Tống. Lúc hạ Ung
Châu, có bắt được 2.000 nhà sư. Ta thu lấy bằng sắc. Rồi sai
thám tử cạo đầu, mặc áo cà sa, mang bằng sắc ấy, giả làm sư
Tống, vào đất Tống dò xét. Ta lại dùng dân thuyền chài ở
ven bể, cho lẫn vào đất Tống để thám thính." 17
Tác giả
sách Lý Thường Kiệt cho biết: "Thời bấy giờ, Lý Thường
Kiệt triệt để lợi dụng mọi phương tiện để dò hành động của quân
Tống, và để địch vận, chiêu dụ người Tống theo giúp mình."
18
Về phía
địch quân, các hoạt động phản gián cũng được vua Tống ban hành
triệt để, và đã được phản ảnh ít nhiều qua tác phẩm Lý Thường
Kiệt như sau: "Vua Tống dặn các lộ Quảng Đông, Giang Tây,
Phúc Kiến rằng: " Lúc mộ quân hiệu dụng, phải coi chừng, kẻo tụi
gian lẫn vào. Lại bảo Tô Tử Nguyên (con của Tô Giàm, NĐC chú
thêm): "Coi chừng tụi dân thuyền chài dọc bờ bể, thường làm nghề
đánh cá, mò châu. Chỉ cho chúng ở các vũng bể. Nếu chúng ra vào,
thì phải xét chúng đi đâu; kẻo sợ chúng làm trinh thám
cho Giao Chỉ. Tống phòng bị như thế không phải không có lý. Lý
Thường Kiệt đã sai nhiều thám tử vào Lưỡng Quảng. Ngày 12 tháng
tư, vua Tống hạ chiếu nói: "Nghe Giao Chỉ sai nhiều kẻ gian tới
thám Lưỡng Quảng. Vậy các chỉ huy, các tướng phải coi chừng.
Đừng để nó dò được phép công, thủ, tiến thoái của ta."
19
Cũng
tác phẩm này cho biết : "Lúc trước, khi ta đánh Khâm, Liêm,
có bắt hơn trăm nhà sư. Ta lấy bằng mà quan Tống đã cấp cho các
sư ấy, rồi giao cho gián điệp mang vào đất Tống, giả làm sư
để dò thăm tình hình. Cho nên ngày 28 tháng Tám vua Tống hạ
chiếu cho lộ Quảng Tây đình việc cấp bằng cho các sư. Tuy đề
phòng cẩn thận như thế, nhưng dọc bờ bể, thám tử ta vẫn vào
nhiều. Ngày 11 tháng mười, vua Tống sai các lộ Duyên Hải mộ
quân, nói: "Để bắt quân Giao trốn vào trong sứ để trinh thám".
20
Nhận
xét chung về các nỗ lực tình báo của nhà cầm quyền Trung Hoa lúc
bấy giờ, sách Lý Thường Kiệt cho biết: "Tống muốn
sai thám tử hoặc để dò la, hoặc làm nội ứng, hoặc làm hướng
đạo. Đối với những dân khê động theo ta lúc quân ta vào đánh
Tống, vua Tống bảo: "Dụ chúng cứ tạm theo giặc để cho được yên;
nhưng khi đại binh tới, thì sẽ làm nội ứng; sau khi thắng trận,
sẽ có trọng thưởng. Đối với tù binh ta, vua Tống dặn: "Nếu có
bắt được giặc Giao mà chưa chết, thì dùng chúng làm hướng đạo."
Tống tổ chức gián điệp ở nước ta, hình như không có kết
quả. Vua Tống phải chú ý đến việc lấy hư danh, chức tước để
chiêu hàng." 21
Có lẽ
đỉnh cao của nghệ thuật tình báo xuất hiện trong giai đoạn quân
Lý đụng trận với quân Tống trên mặt trận sông Như Nguyệt, qua
bậc thầy tình báo là Lý Thường Kiệt, đã được giáo sư Hoàng Xuân
Hãn ghi lại như sau: "Trận Như Nguyệt này rất kịch liệt. Quân
ta có khi đã lâm vào thế khốn. Muốn cổ vũ binh sĩ, Lý Thường
Kiệt sai người giả làm thần nhân, nấp trong đền Trương
Hát ở bờ nam cửa sông Như Nguyệt, đọc thơ mắng giặc, và báo
trước rằng giặc sẽ thua. Sách VĐUL chép truyện Trương Hát, thần
sông Như Nguyệt, kể lại rằng chính thần nhân đã đọc bài thơ sau
này:
"Nam
quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt
nhiên định phận tại Thiên thư
Như
hà nghịch lỗ lai xâm phạm!
Nhữ
đẳng hành khan thủ bại hư"
Nghĩa là:
Sông
núi nước Nam, vua Nam coi
Rành
rành định phận ở sách Trời
Cớ
sao lũ giặc sang xâm phạm!
Bay
sẽ tan tành chết sạch toi!
Sách
chép tiếp: "Đang đêm, nghe tiếng vang trong đền dọc bài thơ ấy,
quân ta đều phấn khởi. Quân Tống sợ táng đảm, không đánh đã
tan." 22
Trong
lãnh vực quân sự mà tình báo là một mũi nhọn không thể thiếu
được, Tôn Tử đã từng có những lời dạy khôn ngoan như sau:"Khi
mạnh hãy làm như yếu, khi hành động hãy làm như bất động, khi
gần hãy làm như xa, khi xa hãy làm như gần. Hãy dùng mồi nhữ kẻ
thù, giả bộ hỗn loạn để đánh chúng." 23
Napoléon Bonaparte đã đọc Tôn Tử binh pháp qua bản
dịch của một giáo sĩ thừa sai cách đây hơn hai trăm năm. Mao
Trạch Đông, Võ Nguyên Giáp, các nhà quân sự Nhật Bản, Triều Tiên
đã từng nghiền ngẫm sách của Tôn Tử, nhận Tôn Tử làm bậc thầy
qua tư tưởng về chiến lược, chiến thuật đã dẫn dắc các kỳ công
của họ với những thành quả vang dội trong lịch sử. Ngày nay, một
câu nói hầu như luôn luôn nằm trên cửa miệng mọi người: "Tri
kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng" do chiến lược gia lỗi
lạc cách chúng ta trên 25 thế kỷ đã nói ra, bao gồm nhiều bài
học về quân sự, tình báo, tâm lý, xã hội. Một số các nhà sử học
Hoa Kỳ Thomas Cleary (1988), Ralph D. Sawyer (1994) đã giới
thiệu cùng độc giả Tây phương bằng những công trình nghiên cứu
và dịch thuật đứng đắn 24 về con người, tài năng và
thời đại của Tôn Tử với những khám phá mới chứng tỏ rằng quan
điểm của ông về quân sự, tình báo vẫn có những giá trị vượt thời
gian và không gian. Qua lịch sử, tình báo đã rõ ràng là một nhu
cầu thiết yếu đối với đời sống quốc gia, nhưng qua tình báo cũng
thể hiện nổi đam mê của những con người lao đầu vào nghiệp vụ đó
như một hiến thân của nhà nghệ sĩ đối với nghệ thuật với những
trường hợp "sinh nghề tử nghiệp" mà chúng tôi sẽ có dịp trình
bày trong những loạt bài kế tiếp.
Nguyễn
Đức Cung
New
Jersey 6-8-2007
CHÚ
THÍCH :
1.-
Vương Huệ Mẫn (chủ biên), 100 Danh nhân có ảnh hưởng đến lịch
sử Trung Quốc, bài Tôn Vũ, bậc thầy của các nhà quân sự
mọi thời, tác giả Lý Bảo Sinh, người dịch: Tiến sĩ Nguyễn
Văn Dương, Nhà xuất bản Văn Hóa-Thông Tin, 2002, trang 631.
2.- The
New Encyclopaedia Britannica, Volume 21, bài Intelligence and
Counterintelligence, tr. 782.
3.- Bài
đã dẫn, tr. 787.
4.-
Vincent and Nan Buraneli, Spy/Counterspy, McGraw-Hill
Book Company, 1982, tr. 171 và tr. 310.
5.-
Nhóm phiên dịch các giờ kinh phụng vụ, Kinh thánh trọn bộ Cựu
ước và Tân ước, Tòa Tổng Giám Mục, TP HCM, 1998, tr. 258.
6.-
Joan Comay và Ronald Browrigg, Who's who in the Bible,
Wings Books, tr. 276.
7.-
Kinh Thánh Cựu Ước, Sđd, tr. 259.
8.-
Neal M. Flanagan, osm, Lịch sử cứu độ dẫn vào thần học thánh
kinh, nguyên tác "Salvation history", ấn bản điện tử
của Web. Simonhoadalat.
9.- Hội
đồng Khoa học Xã hội TPHCM, Viện Khoa học Xã hội tại TPHCM,
Lịch sử Việt Nam, Tập 2. Nxb. Trẻ, 2004, tr. 116.
10.-
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập I, 1998, tr. 138.
11.-
Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, lịch sử ngoại giao & tông
giáo triều Lý, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, tr.
143.
12.-
Toàn Thư, Sđđ, tr. 139.
13.-
Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 77.
14.-
Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 121.
15.-
Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 144.
16.-
Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 146.
17.-
Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 147.
18.-
Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 181.
19.-
Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 181.
20.-
Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 182.
21.-
Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 182.
22.-
Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 241.
23.-
Gordon Thomas, Chaos under heaven, the shocking story behind
China's search for democracy, A Birch Lane Press Book, 1991,
tr. 268.
24.-
Sun Tzu, The Art of War, Translated by Thomas Cleary,
Shambhala, Boston & London, 2003; Sun-tzu, The Art of War,
New Translation by Ralph D. Sawyer, Barnes and Nobles, New
York, 1994; O.Edmund Clubb, Twentieth Century China,
Columbia University Press, 1964; Ssu-ma Ch'ien, The Grand
Scribe's Records, Volume VII, The Memoirs of Pre-Han China,
Edited by William H. Nienhauser, Jr. Translated by Tsai-Fa
Cheng, Zongli Lu, William H. Nienhauser, Jr. and Robert Reynolds
with Chiu-Ming Chan. Sử Ký Tư Mã Thiên, Nhữ Thành dịch,
Nxb. Văn Học, Hà Nội 1988, tr. 319.
Trở về Trang Chính
|