TÌNH BÁO, NHU CẦU SINH TỬ ĐỐI VỚI QUỐC GIA

HAY ĐAM MÊ NGHỆ THUẬT CỦA CÁ NHÂN ?


 

Nguyễn Đức Cung

23 tháng 08 năm 2007

Trong sách Tôn tử Binh pháp, một binh thư nổi tiếng của Trung Hoa thời cổ, Tôn Tử hay cũng gọi là Tôn Vũ (thế kỷ VI-V trước CN) đã nói về tình báo như sau : "Một đạo quân mà không có các tổ chức mật báo thì cũng hệt như một người mà không có mắt hay tai." (An army without secret agents is exactly like a man without eyes or ears.- In Sun-tzu, "Employment of Secret Agents (23), The Art of War, Samuel B. Griffith, 1963.) Ai cũng biết tai mắt là những cơ quan trọng yếu của con người được dẫn ra so sánh với vấn đề tình báo, điều đó chứng tỏ rằng tình báo quan trọng cho sự sống còn của một quốc gia, một tổ chức đến mức nào. Với cuốn binh thư mà tác giả được các giới Đông cũng như Tây ca tụng là bậc thầy của các nhà quân sự mọi thời, nhất là đối với các nhà quân sự Việt Nam từ thời lập quốc đến ngày nay 1, Tôn Tử đã viết mười ba bài trong đó bài sau hết có tên "Dụng gián thiên" (Dùng gián điệp) chứng tỏ sự quan trọng của ngành tình báo có khả năng vượt thời gian và không gian.

 

1.- Một cái nhìn tổng quát về tình báo

Vấn đề an ninh của một tổ chức, nhất là tổ chức chính trị, cũng giống như sự sống còn của một quốc gia liên hệ mật thiết tới tình báo, điệp báo hay gián điệp (espionage) đó là một khẳng định đã từng được minh chứng trong lịch sử. Sự bành trướng của một dân tộc nhờ vào sức mạnh vật chất cũng như tinh thần thông qua các nỗ lực tranh đấu như chiến tranh, thương thảo hòa bình, bành trướng, ngoại giao, thương mại, kể cả những trao đổi, giao lưu văn hóa sở dĩ đạt được thành quả phần lớn phải dựa trên các dữ kiện do ngành tình báo cung cấp. Tình báo hay gián điệp nói chung là tai mắt để thu thập, nghe ngóng, moi móc tin tức nhằm hoàn tất nhiệm vụ cung cấp các dữ kiện chính xác để người lãnh đạo quốc gia hay người cầm nắm tổ chức có đủ yếu tố quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước hay có liên hệ tới sinh hoạt tổ chức nội bộ của mình. Ngày nay, tình báo còn lấn qua lãnh vực xã hội và kinh tế với đà phát triển của các ngành tin học, truyền thông có khả năng cung cấp sự kiện trên mạng lưới điện tử hay các thiết bị truyền thông siêu điện tử đủ sức vượt biên giới quốc gia và hoàn toàn không bị hạn chế với không gian cũng như thời gian. Tình báo nhắm vào đối tượng có khi là một quốc gia, một tổ chức, một phong trào hay một cá nhân. Nhân viên tình báo được chính quyền hay các tổ chức khác gửi vào hoạt động trong vùng địch hay vùng đất nghi ngờ có thể trở thành thù địch của mình để thu thập tin tức.

Trong lãnh vực ngôn ngữ, tình báo được mệnh danh là quyền lực thứ năm đứng sau các quyền như hành pháp, lập pháp, tư pháp và báo chí. Cũng có khi tình báo được gọi là đạo quân thứ năm để nói lên sức mạnh của nó không khác gì một đạo quân.

Tình báo, tiếng Pháp gọi là Intelligence service nhấn mạnh đến yếu tố intelligent tức là thông minh, một đòi hỏi tất yếu đối với người hay tổ chức thi hành các công tác mà ngành tình báo đòi hỏi. Có lẽ cần nói rõ hơn Intelligence là information sau khi đã được đánh giá, kiểm chứng. Dĩ nhiên tình báo đòi hỏi rất nhiều điều kiện, yếu tố từ khả năng đến tâm lý, tình cảm, phong thái con người, sắc diện thật cũng như ảo, phong cách xử lý công việc, tài chánh, nhân sự v.v... Phạm vi hoạt động của tình báo rộng rãi không giới hạn trong một môi trường nào nhưng có thể nói là có mặt khắp mọi nơi, dưới nhiều hình thức, qua nhiều khuôn mặt không thể nào lường được, vì thế mà tình báo lại được chia ra nhiều ngành hoạt động trong nhiều giới như quân báo (tình báo sử dụng trong quân đội), điệp báo (gián điệp sử dụng trong các công tác đặc biệt), dân báo hay tình báo nhân dân hoạt động trong dân chúng. Do các mục tiêu dài hạn hay ngắn hạn mà người ta tổ chức các cụm tình báo chiến lược hay chiến thuật, một nhân viên tình báo cộng tác một lúc với hai phe đang chống nhau, nhưng trung thành với một phe thì gọi là nhị trùng (agent double). Tình báo nói chung là một ngành rất cũ kể từ khi có con người xuất hiện trên trái đất, tồn tại cho tới ngày nay theo cùng với nhịp sống của nhân loại để trở thành một ngành rất mới, càng ngày càng được kiện toàn với đà tiến bộ của kỹ thuật hiện đại.

Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có ngành tình báo riêng của họ, đặc biệt là các cường quốc như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nga, Nhật Bàn, Trung Quốc, Do Thái v.v...

Ở Mỹ, năm 1945 khi Tổng thống Harry Truman giải tán tổ chức OSS (the Office of Strategic Services) vì cho rằng cơ quan này không còn cần thiết vì là giai đoạn sau chiến tranh, nhưng vào tháng 9 năm 1947, do nhu cầu an ninh thế giới, một cơ quan tình báo mới CIA (Central Intelligence Agency) được Quốc Hội thành lập do thông qua Đạo Luật An Ninh Quốc Gia (the National Security Act) dựa trên kinh nghiệm với tổ chức của họ trước đây với rất nhiều ngành, phân ngành tình báo thuộc các quân binh chủng. Mục đích của cơ quan tình báo CIA là chống lại các mặt trận tình báo, gián điệp do Liên Xô đang nỗ lực tiến hành với các hoạt động lật đổ của họ tại các quốc gia khác mà cuộc chiến tranh lạnh (the Cold War) đang khởi đầu. Ngoài ra còn có cơ quan điều tra liên bang gọi tắt là FBI (Federal Bureau of Investiagation) giữ vai trò chính là phản gián mà phạm vi hoạt động nằm trong nội địa Hoa Kỳ.

Tại Hoa Kỳ, một nghị định của Tổng Thống mang số 12333 ngày 4 tháng Mười hai năm 1981 chỉ thị cho hệ thống tình báo quốc gia "cung cấp cho Tổng thống các nguồn tin cần thiết làm căn bàn cho các quyết định liên hệ tới việc điều hành và phát triển các chính sách về ngoại giao, quốc phòng và kinh tế và bảo vệ các quyền lợi của quốc gia Hoa Kỳ khỏi những đe dọa về an ninh của ngoại bang". 2 Như vậy, các cơ sở tình báo đương nhiên trở thành cơ quan quan trọng và cần thiết của nhà nước. Cách đây hơn hai thập kỷ, ngân khoản dành để điều hành các cơ quan tình báo quốc nội và trên thế giới của Hoa Kỳ đã lên tới 12 tỉ Mỹ Kim với con số nhân sự khoảng 200,000 người tại trong nội địa Hoa Kỳ và thêm hàng chục ngàn nhân viên trên thế giới. Ngày nay số tiền đó chắc hẳn phải nhiều hơn cùng với số nhân sự phải tăng hơn nhưng biết được con số thật sự cũng không phải là dễ dàng. Các hoạt động về tình báo của Liên Xô trước đây và nước Nga bây giờ chắc hẳn phải khoác những tầm vóc lớn và với các đại cường khác vấn đề tình báo chắc cũng có những nỗ lực tương tự.

Ở Anh quốc, ngành tình báo cũng được tổ chức từ thời Nữ hoàng Elizabeth I với hai cơ quan là Secret Intelligence Service (SIS), vì được chỉ định thành lập trong thời chiến nên có tên MI-6 (tức Military Intelligence 6) và Security Service, thông thường được gọi là MI-5. Cơ quan MI-5 này cũng tương tự như FBI của Hoa Kỳ với bí danh được dùng trong nhiều năm là K xuất phát từ tên của Sir Vernon Kell đứng đầu cơ quan này từ năm 1909 đến 1940.

Tại Pháp, ngành tình báo và phản gián thời hiện đại được coi như một tổ chức hỗn hợp bắt nguồn từ thời Napoléon Bonaparte và một hệ thống tổ chức được phát triển mạnh dưới thời Tướng Charles de Gaulle. Từ năm 1947 đến năm 1981, ngành tình báo Pháp mang tên Service de Documentation Extérieure et de Contre-Espionnage (SDECE).

Từ năm 1981, SDECE được tổ chức lại thành Direction Générale de la Sécurité (DGSE) với cấu trúc thay đổi nhưng nhiệm vụ vẫn y nguyên: thu thập và phân tích các nguồn tin ngoại quốc, điều hành ngành phản gián ở bên ngoài nước Pháp và các hoạt động chính trị bí mật ở hải ngoại.

Năm 1968, SDECE của Pháp bị giao động mạnh vì cuốn hồi ký của Philippe Thyraud de Vosjoli vốn là một nhân viên trọng yếu trong ngành tình báo Pháp phục vụ đã trên 20 năm. De Vosjoli đã xác quyết rằng cơ quan SDECE đã bị tình báo Liên Xô xâm nhập sâu rộng trong những thập niên 1950, nhưng chính quyền Pháp đã cực lực phủ nhận việc này. Ông này cũng cho biết có những thời kỳ xảy ra những cuộc cạnh tranh kịch liệt giữa tình báo Pháp và tình báo Hoa Kỳ. 3

Tại Trung Quốc, ngành tình báo cũng tương tự với hệ thống của Liên Xô với bốn đơn vị chính: tình báo của Đảng, tình báo của Hội Đồng Nhân Dân (bộ máy thư lại của chính quyền), tình báo Bộ Quốc Phòng và tình báo Bộ Ngoại Giao. Ngoài ra còn chằng chịt không biết bao nhiêu hệ thống nhỏ của các cấp bộ tình báo, phản gián xuất phát từ bốn đơn vị chính đó. Hai nhân vật tình báo thượng thặng của hai chế độ đối nghịch cộng sản và quốc gia tại Trung Hoa đó là Khang Sinh (K'ang Sheng 1903- ) và Tai Li (1895-1945) cùng hoạt động tại Thượng Hải trong những năm của thập niên 20 của thế kỷ trước nhưng chưa bao giờ gặp nhau, vốn đã để lại nhiều hành tung kỳ bí trong kho sử tình báo thế giới. 4

Ở Do-Thái, cơ quan tình báo trung ương (The Central Institute for Intelligence and Security) thường gọi là Mossad chỉ huy các hệ thống tình báo quốc ngoại. Danh từ Mossad có nghĩa là thể chế (institution) trong ngôn ngữ Do Thái. Cơ quan thứ hai gọi là Shin Bet (General Security Services) có nhiệm vụ chính là phản gián quốc nội. Cơ quan thứ ba là thường gọi là Tình báo Quân sự (Military Intelligence hoặc The Intelligence Corps of the Defense Forces) được kể là một đối thủ của Mossad.

Tình báo mang những mẫu thức riêng tùy theo từng phạm trù như chính trị, quân sự hay kinh tế, xã hội kể cả các giai đoạn lịch sử theo đà tiến bộ của đất nước.

Về chính trị, ngành tình báo theo dõi các hoạt động của chính quyền, đảng phái đối lập qua các hoạt động như bầu cử, ứng cử nhất là tìm hiểu về chính sách, đường lối đấu tranh của các ứng cử viên, các người làm chính sách (policy makers). Nguồn tin tình báo chính thường là các bản báo cáo do các nhà ngoại giao cung cấp lấy từ các nguồn thông tin qua báo chí, sách vở của cac nước sở tại. Bộ máy tình báo chuyên nghiệp sẽ là người cung cấp thêm các tin tức cho nỗ lực làm việc của các nhà ngoại giao. Trong phạm trù này, tình báo ngoài việc thu nhận tin tức còn phải tiến hành các hoạt động phản gián tức là phản tình báo (counterintelligence), một ngành mà chúng tôi sẽ đề cập đến ở sau.

Trong một quốc gia dân chủ, ngành tình báo thường do chính quyền (hành pháp) tổ chức và điều hành theo đường hướng, chính sách của vị nguyên thủ quốc gia được dân chúng bầu chọn theo quy định của hiến pháp. Hoạt động của tình báo thường là bí mật để bảo vệ nhân sự và các đường dây tổ chức. Các ám số, bí danh được sử dụng khi tiến hành công tác thu lượm tin tức, gặp gỡ các đường dây, theo dõi người và việc, quyết định các sự việc, ngân khoản, tình huống v.v... Tùy theo công tác, mục tiêu dài hạn hay ngắn hạn mà nhân sự đảm trách công tác tình báo được lựa chọn, đủ loại người không phân biệt trình độ học vấn, tri thức xã hội, văn hóa, giới tính, địa phương.

Tình báo hay gián điệp là sự thể hiện cố gắng của chính quyền một cách bí mật hay qua các động tác giả để có thể lấy tin tức của một chính quyền khác khó thu được qua các ngõ ngách thông thường. Thật ra không chỉ giới hạn trong phạm vi chính quyền, ngành tình báo cũng được sử dụng giữa các hảng xưởng chuyên ngành kỹ nghệ, các chính đảng nhằm thu thập tin tức về các đối thủ của mình, thí dụ rõ nhất là việc đảng Cộng Hòa đã sử dụng kỹ thuật nghe lén gài đặt trong trụ sở đảng Dân Chủ để gây ra biến cố chính trị là vụ scandal Watergate (1972-1974).

Về quân sự, nhất là khi một quốc gia đang có chiến tranh, tình báo thường được thi hành, cung cấp tin tức qua các tùy viên quân sự (attaché militaire) thuộc các tòa đại sứ. Một điều cũng khá hài hước là tình báo quân sự khó thực hiện có hiệu quả trong thời bình mà lại tỏ ra rất có năng lực trong thời chiến bởi vì trong thời gian có chiến tranh người ta có thể khai thác tin tức qua các tù binh, hàng binh, các thiết bị thu được, các tư liệu như nhật ký, hồi ký của binh sĩ, sĩ quan tham chiến của hai bên, các tin tức thu lượm được từ các cuộc hành quân, kiểm soát mục tiêu, thanh toán chiến trường.

Về kinh tế, nhu cầu tin tức trong lãnh vực này có liên hệ đến những người soạn thảo chính sách của một quốc gia, một số ngành kỹ nghệ sản xuất vật dụng kể cả giới tiêu thụ, thí dụ nạn thất nghiệp ở Nhật Bản, sự thiếu hụt thực phẩm ở Ấn Độ, tình trạng sản xuất lúa gạo của một số quốc gia ở Đông Nam Á, tình trạng dịch cúm gia cầm ở Việt Nam, Trung Quốc và gần đây sự phát hiện các loại thuốc âu dược được chế tạo một cách gian dối cũng tại các nước này. Thu thập được các dữ liệu về kinh tế với những sự kiện xác đáng qua các con số và thời điểm hẳn hoi sẽ giúp cho chính quyền ở tầm mức quốc gia đưa ra những quyết định quan trọng về phương diện ngoại giao, trao đổi các chương trình kinh tế, huấn luyện, trang bị.

Ngày nay, tình báo đã có những bước tiến quan trọng liên hệ tới nhiều lãnh vực và theo cùng với sự phát triển tột bực trong các công nghệ tin học, truyền thông, ngành tình báo thu thập các dữ kiện liên hệ tới khí hậu, thổ nhưỡng, dân số, bệnh tật, môi sinh. Tại trong hầu hết các cường quốc, ngành tình báo rất đa dạng, đa diện chi phối nhiều hoạt động, nhiều giới dân chúng cũng như người cầm quyền trong xã hội.

Tình báo thông thường được phân theo ba loại: tình báo chiến lược hay cũng gọi là tình báo quốc gia, tình báo chiến thuật, phản gián.

Danh từ tình báo chiến lược cho ta một ý niệm về thời gian mà thường là khoảng thời gian dài, thí dụ việc xây dựng một nhân vật từ nhỏ đến lớn rồi tìm cách cài đặt vào trong một tổ chức như tôn giáo chẳng hạn mà mục đích là vận động, chỉ đạo, hướng dẫn nhân vật đó trở thành cán bộ được tin tưởng, có uy tín, có năng lực của tôn giáo đó nhằm thu thập tin tức của tôn giáo về báo cáo lại cho tổ chức của mình. Trong quan niệm cổ điển của ngành tình báo, tình báo chiến lược được coi là hệ thống tin tức có liên hệ đến các khả năng và ý đồ của các nước bên ngoài. Khả năng dĩ nhiên thuộc nhiều lãnh vực như chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và ý đồ cũng có nghĩa là chính sách hiện thời cũng như tương lai của các quốc gia này đối với các quốc gia khác. Tình báo chiến thuật cũng có khi được gọi là tình báo hành quân hay tình báo tác chiến, là tin tức được yêu cầu cung cấp do bởi các vị chỉ huy chiến trường. Sự phân biệt giữa tình báo chiến lược với tình báo chiến thuật đôi khi cũng chỉ có trên ngôn từ chứ trong thực tế nhất là trong thời đại hỏa tiễn và phi cơ phản lực như ngày nay, một vị tư lệnh chiến trường nhiều khi cũng có những đòi hỏi về nhu cầu tin tức, tình báo không khác gì một vị tổng thống và hội đồng an ninh quốc gia hay ngược lại.

Phản gián là gì? Phản gián hoạt động liên hệ đến việc bảo vệ các nguồn tin tình báo của mình và sự bí mật của các cuộc hành quân tình báo. Mục đích của công tác phản gián là ngăn chặn gián điệp hay điệp viên của một nước ngoài không xâm nhập được vào trong chính quyền, các cơ sở quân sự hay các cơ quan tình báo của mình. Phản gián cũng có liên quan đến việc việc bảo vệ ngành kỹ thuật cao của một quốc gia, ngăn ngừa nạn khủng bố và đối phó với hoạt động buôn bán ma túy quốc tế.

 

2.- Tình báo qua một tư liệu tôn giáo

Trong các nỗ lực tranh đấu để sinh tồn, tình báo cung cấp cho con người một số các dữ kiện về đối phương như tình trạng dân số, khả năng chiến đấu, tình hình thực phẩm dự trữ, vũ khí, sơ đồ đồn lũy, báo cáo thời tiết, hệ thống thủy văn, họa đồ chỗ cư trú và thành quách kể cả thói quen, tập quán của người chỉ huy hay của dân chúng, các lễ lạc hội hè của địa phương v.v... khi có khả năng xảy ra các cuộc chiến tranh giữa phe này với nhóm nọ. Đây là các dữ kiện cần thiết giúp cho các phe phái nắm vững để lên kế hoạch chiến đấu hay thương thuyết hòa bình. Tình báo là một ngành đi trước, chuẩn bị, dọn sẵn con đường để cho các hoạt động khác như tập kích, khai chiến, lủng đoạn hàng ngũ đối phương bằng lực lượng quân sự hay bằng các cuộc vận động tuyên truyền chính trị đánh vào các lực lượng của địch hay môi trường tâm lý của dân chúng bên đối phương. Tình báo là một mô thức hoạt động đa diện của chiến tranh mà chiến tranh lại là một biểu hiện của chính trị dưới một hình thức khác.

Trong số các tư liệu tôn giáo có lẽ Cựu Ước (the Old Testament) là sách nói về tình báo đầu tiên khi Mô-sê, một thủ lãnh của dân tộc Do Thái đã dẫn đưa dân tộc đang bị nô lệ này ra khỏi Ai Cập về miền Đất Hứa là đất Ca-na-an. Biến cố này xảy ra vào khoảng năm 1250 trước CN. Sách Dân số của Cựu Ước có kể lại câu chuyện Thiên Chúa đã chỉ thị ông Mô-sê gởi một đoàn do thám vào đất Ca-na-an như sau: "Ngươi hãy sai người đi do thám đất Ca-na-an, đất mà Ta sẽ ban cho con cái Ít-ra-en. Các ngươi sẽ sai đi mỗi chi tộc một người và tất cả phải là kỳ mục trong dân. Vậy từ sa mạc Pa-ran, ông Mô-sê đã sai họ đi, theo lệnh ĐỨC CHÚA truyền. Tất cả họ đều là những người đứng đầu trong con cái Ít-ra-en. Đây là danh sách họ: Thuộc chi tộc Rưu-vên, có ông Sam-mu-a, con ông Dắc-cua. Thuộc chi tộc Si-mê-ôn, có ông Sa-phát, con ông Khô-ri. Thuộc chi tộc Giu-đa, có ông Ca-lếp, con ông Giơ-phun-ne. Thuộc chi tộc Ít-xa-kha, có ông Gích-an, con ông Giô-xép. Thuộc chi tộc Ép-ra-im, có ông Hô-sê-a, con ông Nun. Thuộc chi tộc Ben-gia-min, có ông Pan-ti, con ông Ra-phu. Thuộc chi tộc Dơ-vu-lun, có ông Gát-đi-en, con ông Xô-đi.Thuộc chi tộc Giu-se, ngành Mơ-na-se, có ông Gát-đi, con ông Xu-xi.Thuộc chi tộc Đan, có ông Am-mi-ên, con ông Gơ-ma-li. Thuộc chi tộc A-se, có ông Xơ-tua, con ông Mi-kha-ên. Thuộc chi tộc Náp-tali, có ông Nác-bi, con ông Vóp-xi. Thuộc chi tộc Gát, có ông Gơ-u-ên, con ông Ma-khi Đó là tên những người ông Mô-sê sai đi do tham đất. Rồi ông Mô-sê đặt tên cho Hô-sê-a, con ông Nun, là Giô-suê. Ông Mô-sê sai họ đi do thám đất Ca-na-an. Ông bảo họ: "Anh em hãy qua miền Ne-ghép mà lên, lên miền núi. Anh em sẽ xem đất, xem nó thế nào, dân ở đó mạnh hay yếu, ít hay nhiều, đất họ ở tốt hay xấu, thành thị của họ là lều trại hay đồn lũy, đất đai màu mỡ hay cằn cỗi, có cây cối hay không. Anh em hãy can đảm, và lấy ít hoa trái miền đó đem về." Bấy giờ là đầu mùa nho. Họ đi lên và do thám đất, từ sa mạc Xin đến Rơ-khốp, trên đường vào Cửa Ải Kha-mát. Họ qua miền Ne-ghép đi lên và tới tận Khép-rôn, ở đó có A-khi-man, Sê-sai và Tan-mai là con cháu của A-nác. Khép-rôn đã được xây bảy năm trước Xô-an bên Ai-cập. Họ vào đến thung lũng Ét-côn, ở đó họ chặt một nhành nho và một chùm nho, rồi hai người dùng sào mà khiêng, họ cũng lấy cả lựu và vả. Người ta gọi nơi ấy là thung lũng Ét-côn, vì chùm nho mà con cái Ít-ra-en đã hái ở đó." 5 Một số họa phẩm từ đầu thế kỷ 14 tại Đức ghi lại hình ảnh đoàn do thám trở về với cảnh hai người khiêng một nhành nho chĩu nặng trái đã được in lại trong nhiều sách vở. 6

Sự kiện Mô-sê đưa dân DoThái thoát ách nô lệ của Ai-Cập xảy ra khoảng một nghìn ba trăm năm trước Công-Nguyên và nhóm tình báo do ông chỉ định gồm 12 người với danh tính còn lại đến ngày nay. Nhóm đó tiến hành công tác do thám khoảng bốn mươi ngày và sau đó trở về báo cáo mọi sự việc lại cho vị thủ lãnh của mình, cho biết vùng đất đó là một vùng đất "tràn trề sữa và mật". Các chỉ thị của Mô-sê cho nhóm người do thám này khá cụ thể chứng tỏ Mô-sê là một nhà lãnh đạo tài ba. Mô-sê là tên có nghĩa là "được vớt ra khỏi nước" thường được xem là tác giả Ngũ Thư (The Pentateuch) và bộ Luật Mô-sê. Đối với người Do Thái, ông là Moshe Rabbenu (Mo-sê Thầy chúng ta). Cha mẹ ông là Amram và Jochebed thuộc dòng họ Lê-vi, dân tộc Do-Thái đã dấu ông trong nhà khi ông được ba tháng để tránh lệnh truyền giết các trẻ Do-Thái của vua Pharaoh Ai Cập. Nhưng sau đó mẹ ông phải đan một cái sọt trét dầu rái bỏ ông vào trong và đem thả xuống dòng sông Nile. Một công chúa con vua Pharaoh vớt được đem vào cung nuôi. Khi lớn lên Mô-sê đã tìm về với dân Do-Thái và đã được Thiên Chúa chọn làm nhân vật lãnh tụ để đem dân Do-Thái ra khỏi Ai Cập. Mô-sê về sau được dân Do-Thái coi như là một trong những tổ phụ của họ.

Sau khi do thám đất Ca-na-an, những người được sai đi đã trở về báo cáo, và Cựu Ước đã ghi lại như sau: " Sau bốn mươi ngày do thám đất, họ trở về. Họ đến gặp ông Mô-sê, ông A-ha-ron và toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en, tại Ca-đê trong sa mạc Pa-ran. Họ báo cáo với hai ông và toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en, và cho những người đó xem hoa trái miền ấy. Họ thuật lại với ông Mô-sê rằng: 'Chúng tôi đã vào miền đất ông sai chúng tôi đến. Đúng là miền đất tràn trề sữa và mật, và đây là hoa trái miền ấy. Thế nhưng dân cư miền ấy thì mạnh, thành thị lại kiên cố và rộng lớn lắm; ở đó chúng tôi còn thấy cả con cháu A-nác. Có người A-ma-lếch ở miền Ne-ghép, người Khết, người Giơ-vút và người E-mô-ri ở miền núi, còn người Ca-na-an thì ở bờ biển và dọc sông Gio-đan." Bấy giờ ông Ca-lếp truyền cho dân đang phản đối ông Mô-sê phải im lặng, ông nói: "Ta cứ lên chiếm miền ấy, vì chắc chắn ta có thể thắng được". Những người đã lên cùng với ông đáp lại: " Ta không thể lên đánh dân ấy, vì họ mạnh hơn ta." Trước mặt con cái Ít-ra-en, họ bắt đầu chê bai miền đất họ đã do thám, họ nói: "Miền đất chúng ta đã đi qua để do thám là đất nuốt những người ở đó, và tất cả những người chúng tôi thấy ở đó đều là những người cao lớn. Ở đó chúng tôi trông thấy những người khổng lồ, con cháu của A-nác thuộc giống người khổng lồ. Chúng tôi thấy mình chỉ như châu chấu, và họ cũng coi chúng tôi như vậy." 7

Ở đây chúng ta không chú trọng đi sâu vào lãnh vực tín lý hay thần học để phân tích về những đánh giá của nhóm 12 người được sai đi do thám đất Ca-na-an mà trong đó chỉ có hai người là Giô-suê và Ca-lếp là có những nhận định và quyết tâm tiến vào đất mà Thiên Chúa đã hứa trong khi những người khác đã dùng những điều mắt thấy tai nghe để khích động dân Ít-ra-en nổi loạn chống lại Đức Chúa của họ. Dân này đã nổi loạn, cằn nhằn, kêu ca và Thánh Kinh Cựu Ước thuật lại, họ đã bị Thiên Chúa phạt phải đi vòng vo trong sa mạc bốn mươi năm, tất cả thế hệ nổi loạn chống báng đó đều bị chết trong sa mạc, trừ con cháu của họ. Ngay cả Mô-sê cũng không vào được Đất Hứa. Sau những năm dài thử thách trong sa mạc, ông và dân của ông đã tới một địa điểm nằm ngay ở phía đông Ca-na-an. Ỏ đó Mô-sê leo lên núi Nê-bô trên vùng cao nguyên xứ Moab, từ đó ông có thể đưa mắt nhìn về phía tây qua bên kia sông Jordan, nhìn vào Đất Hứa. 8 Trong số các người đi do thám, có Giô-suê và Ca-lếp là được vào Đất Hứa. Tình báo là do thám, theo dõi để thu thập tin tức. Những người Mô-sê sai đi là những chứng nhân trực tiếp, thi hành các chỉ thị, những điều dặn bảo của thủ lãnh. Dĩ nhiên trình độ kiến thức, lý tưởng phục vụ, đức tin tôn giáo của những kẻ được sai đi này cũng có nhiều khác biệt cho nên khi trở về các báo cáo tường trình hay quan điểm của họ trong lời tường thuật lại cũng khác nhau.

 

3.- Tình báo và một vài biến cố trong truyền thuyết và lịch sử Việt Nam

Trong các truyền thuyết về lịch sử Việt Nam, chúng ta đọc thấy câu chuyện liên hệ tới tình báo qua chuyện tình Trọng Thủy, con trai của Triệu Đà và Mỵ châu, con gái An Dương Vương. Cuộc chiến xảy ra giữa Triệu Đà và An Dương Vương vào khoảng thế kỷ III trước CN đã được một số thư tịch cổ của Trung Hoa và truyền thuyết trong sách sử Đại Việt nhắc đến trước đây. Sách Giao châu ngoại vực ký đã viết về cuộc chiến này và sách Thủy kinh chú đã dẫn lại như sau: "Về sau, Nam Việt Vương Úy Đà đem quân đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân tên là Cao Thông giúp chế một chiếc nỏ, bắn một phát giết ba trăm người. Nam Việt vương biết không thể đánh đặng, rút quân về đóng ở huyện Vũ Ninh. Nam Việt Vương sai thái tử là Trọng Thủy hàng phục An Dương Vương. An Dương Vương không biết Cao Thông là thần, đối đãi vô đạo. Thông liền bỏ đi, bảo với vua rằng: "Giữ được nỏ ấy thì làm vua cả thiên hạ, không giữ được nỏ ấy thì mất thiên hạ. An Dương Vương có con gái tên là Mỵ Châu, thấy Thủy đứng đắn, Châu cùng Thủy giao thông. Thủy bảo Châu lấy chiếc nỏ thần cho Thủy xem. Thủy thấy nỏ liền đem cưa trộm cho gãy. Làm xong trốn về nói với Nam Việt Vương. Triệu Đà liền đem quân đến đánh. An Dương Vương lấy nỏ thần ra bắn thì nỏ đã gãy, bị thua. An Dương Vương xuống thuyền đi thẳng ra biển. (Nam) Việt Vương hàng phục được các Lạc tướng." 9 Tư liệu của Thủy Kinh Chú cho biết An Dương Vương có một vũ khí bí mật và vạn năng và đó là lý do Triệu Đà không thể đánh lại Thục Phán (An Dương Vương). Nhu cầu tìm hiểu về thứ vũ khí vạn năng đó buộc một nhà làm tướng như Triệu Đà phải đặt vấn đề hành động để liệu cách diệt trừ cho được vũ khí bí mật và nguy hiểm đó. Trọng Thủy đã được giao phó cho nhiệm vụ tìm hiểu và ông đã sử dụng tình cảm vào trong hoạt động tình báo này. Mỵ Châu đã thiếu cảnh giác và nhất là muốn chiều lòng ý trung nhân, cho nên đã để cho Trọng Thủy xem cái nỏ thần mà không rõ dụng tâm của Thủy. An Dương Vương cũng tỏ ra quá tự tin, thiếu đề phòng để địch nhân xâm nhập được vào bên trong mà nắm được nội tình của mình.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư giúp thêm một số hiểu biết về câu chuyện tình báo trên đây như sau: "Đà biết vua có nỏ thần, không thể địch được, bèn lui giữ núi Vũ Ninh, sai sứ đến giảng hòa. Vua mừng, bèn chia từ Bình Giang (nay là sông Thiên Đức ở huyện Đông NGàn) trở lên phía Bắc thuộc quyền cai trị của Đà, trở về phía Nam thuộc quyền cai trị của vua. Đà sai con là Trọng Thủy vào hầu làm túc vệ, cầu hôn con gái vua là Mỵ Châu. Vua bằng lòng. Trọng Thủy dỗ Mỵ Châu để xem trộm nỏ thần, rồi ngầm bẻ gãy lẫy nỏ, thay cái khác vào, giả vờ về Bắc thăm cha mẹ, bảo Mỵ Châu rằng: "Ân tình vợ chồng không thể quên nhau, nếu lỡ hai nước không hòa, Nam Bắc cách biệt, ta lại tới đây thì làm thế nào mà tìm thấy nhau? Mỵ Châu nói: Thiếp có cái nệm gấm lông ngỗng, thường mang theo mình, đi đến đâu thì rút lông ngỗng rắc ở chỗ đường rẽ để làm dấu". Trọng Thủy về báo cho Đà biết." (Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập I, 1998, trang 138). 10 Không biết nỏ thần của An Dương Vương có liên hệ với cung thần tí của Tô Giàm, viên quan Tống giữ thành Ung châu khi Lý Thường Kiệt đem quân đánh nhà Tống vào năm Ất Mão (1075) hay không, vì theo Hoàng Xuân Hãn trong cuốn Lý Thường Kiệt thì "cung thần tí bắn một phát được nhiều tên. Bắn ra giết nhiều lính và voi." 11 Kỹ thuật rắc lông ngỗng của Mỵ Châu trước đây hơn hai nghìn năm có lẽ cũng đã truyền kinh nghiệm lại cho giới làm tình báo ngày nay qua việc đánh dấu khi đi đường, qua hộp thư sống hay hộp thư chết trong kỹ thuật tình báo hiện đại. Truyền thuyết về câu chuyện tình báo bi thảm này cũng còn được Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại như sau cùng một số tình tiết kết thúc câu chuyện khá bi thảm:"Đà đem quân đến đánh vua, vua không biết lẫy nỏ đã mất, ngồi đánh cờ cười mà bảo: "Đà không sợ nỏ thần của ta sao? Quân của Đà tiến sát đến nơi, vua giương nỏ thì lẫy đã gãy rồi. Vua thua chạy, để Mỵ Châu ngồi trên ngựa, cùng chạy về phía nam. Trọng Thủy nhận dấu lông ngỗng đuổi theo. Vua đến bờ biển, hết đường mà không có thuyền, liền gọi rùa vàng mấy tiếng: "Mau đến cứu ta!" Rùa vàng nổi lên mặt nước, mắng rằng: "Kẻ ngồi sau ngựa là giặc đấy, sao không giết đi?" Vua rút gươm muốn chém Mỵ Châu. Mỵ Châu khấn rằng: "Trung tín trọn tiết, bị người đánh lừa, xin hóa thành ngọc châu để rửa thù nhục này". Cuối cùng vua vẫn chém Mỵ Châu, máu chảy loang mặt nước, loài trai nuốt vào bụng, hóa làm hạt minh châu. Vua cầm sừng tê văn dài 7 tấc xuống biển mà đi (tức như ngày nay gọi là sừng tê rẽ nước. Tục truyền núi Dạ Sơn xã Cao Xá ở Diễn Châu là nơi ấy) Trọng Thủy đuổi theo đến nơi, thấy Mỵ Châu đã chết, thương khóc ôm xác đem về chôn ở Loa Thành, hóa làm đá ngọc. Trọng Thủy nhớ tiếc Mỵ Châu, trở lại chỗ Mỵ Châu tắm gội trang điểm khi trước, thương nhớ không nguôi, cuối cùng nhảy xuống giếng mà chết. Người sau được hạt minh châu ở biển Đông, lấy nước giếng ấy mà rửa, sắc ngọc càng sáng hơn." (Sđd, trang 139). 12

Kinh nghiệm tổ chức tình báo càng được tích lũy và tiến hành theo cùng với đà xây dựng và giữ gìn đất nước của dân tộc Việt Nam. Xin lấy một thí dụ trong thế kỷ XI dưới thời nhà Lý qua các trận chiến giữa Đại Việt với nhà Tống của Trung Hoa.

Trong tác phẩm Lý Thường Kiệt, giáo sư Hoàng Xuân Hãn nói về sự giao dịch giữa Đại Việt và nhà Tống như sau: "Ngoài sự bang giao chính thức bằng các sứ bộ, hai nước Tống Lý có sự giao dịch hằng ngày ở biên thùy. Trên những chỗ đường thông lộ lớn, qua biên giới, sự buôn bán khá thịnh, và có tổ chức. Tống cũng như Lý, sợ người ngoài giả mạo vào buôn bán để do thám. Cho nên lúc thường, tuy cho đi lại thông thương, nhưng chỉ được tụ họp tại một nơi nhất định, gọi là bạc dịch trường (chợ quốc tế)." 13 Người do thám có nhiệm vụ quan sát, nghe ngóng, lấy tin tức từ chỗ này qua chỗ khác, cho nên việc quy mọi khách thương vào một chỗ nhất định thì dễ theo dõi, kiểm soát và có phản ứng thích đáng khi xảy ra tình huống bất ngờ.

Lúc bấy giờ tình hình giữa nước ta với Trung Hoa có mòi căng thẳng do ý muốn gây hấn của Vương An Thạch, tể tướng của Trung Hoa. Tiêu Chú lúc bấy giờ hiểu rõ thế lực nước ta qua những hoạt động thu thập tin tức tình báo của ông đối với các tù trưởng vùng biên giới Hoa Việt từ đạo Đặc Ma đến châu Điền Đống. Tuy nhiên Tiêu Chú cũng rất do dự trước quyết định có nên đánh Giao Chỉ hay không mặc dù ông được Tống Thần Tông triệu về hỏi tình hình 14. Chính sách khiêu khích của Vương An Thạch cũng khiến vua Tống có lúc muốn tiến quân nhưng cũng còn ít nhiều ngại ngùng. Tháng ba năm Giáp Dần, 1074, vua Tống hạ chiếu nói rằng: "Quảng Tây nhiều lần nói tin thám tử báo rằng Giao Chỉ tụ binh, muốn phạm vào đất ta. Sợ rằng biên thần không biết lường sức chúng, mà đưa quân xa thành trại, để đánh lại. Vậy nên, phải gấp báo cho viên coi Ung Châu là Tô Giàm, dặn nếu quân man giám phạm đến Ung Châu, thì phải kiểm quân cố thủ, chớ có tham lập công mà khinh địch." 14

Trong trận Lý Thường Kiệt vây Ung Châu, ông đã phải chạm mặt với một viên tướng giữ thành này rất ngoan cường, đó là Tô Giàm. Sách Lý Thường Kiệt viết rằng: "Lúc thành Ung sắp bị vây, Giàm sai sứ về Quế Châu, ở cách về phía bắc chừng 400 cây số, để cầu viện. Quan coi Quế Châu là Lưu Di sai viên quan đô giám Trương Thủ Tiết đem quân đi cứu. Nhưng Thủ Tiết nghe báo rằng ta đông gấp mười, nên dùng dằng không chịu đi liền. Trái lại Thủ Tiết đem binh đi vòng theo dường Quý Châu để tới Tân Châu. Y trú binh lại ở trại Khang Hòa để chờ xem sức Giàm chống lại với ta thắng bại thế nào đã. Không thấy viện binh đến, mà vòng vây đã thắt chặt, Giàm phải cho người mang lạp thư, nghĩa là thư viết vào giấy rồi vò vào trong sáp mà ngậm trong miệng, lọt ra vòng vây để cấp cáo với đề điểm hình ngục Tống Cầu. Lúc nhận được thư, Cầu khóc và giục Thủ Tiết tiến binh. Thủ Tiết hốt hoảng không biết làm thế nào; bèn đem quân đóng ở núi Hỏa Giáp, rồi kéo tới giữ ải Côn Lôn giữa đường Ung Tân, cách Ung chừng 40 cây số." 15

Thành Ung Châu bị Lý Thường Kiệt vây trong gần một tháng nhưng nhờ thành cao và chắc, và do Giàm điều binh khiển tướng rất giỏi nên quân Đại Việt không làm được gì. Muốn quan sát được bên trong thành, quân ta dùng vân thê là một thứ thang bắc chuyền nối nhau rất cao, rồi sai các tù binh trèo lên mà trông vào thành. Để triệt hạ các vân thê này, Giàm sai bắn hỏa tiễn tức là một thứ pháo thăng thiên đốt cháy thang. Quân ta dùng tên độc bắn lên thành. Lý Thường Kiệt cho quân đào đường hầm, lót da cho kín nước, định chui vào thành, nhưng Giàm để cho quân ta tiến tới gần rồi phóng hỏa đốt các huyệt. Có tù binh bắt được ở Côn Lôn tên Triệu Tú bày cho ta cách dùng hỏa công, nghĩa là bắn các chất cháy như nhựa thông vào thành. Trong thành thiếu nước, không thể chữa cháy được. Cũng lại có tù binh xui quân ta dùng phép thổ công tức là lấy đất bỏ vào bì, xếp chồng vào nhau thành bực thềm để lên thành. Bao đất chất hàng vạn, dần dần cao như núi, Chốc lat đã cao đến vài trượng. Quân Lý nối tiếp nhau như kiến mà trèo lên rồi lọt vào thành. Ấy là ngày Canh Thìn 23 tháng giêng (dương lịch 1-3-10760). Khi thấy mình không đủ sức chống cự nữa, Giàm nói với bộ hạ rằng: "Ta quyết không chịu chết về tay giặc" bèn trở về dinh, tự giết 36 người nhà, kể cả hai con và hai cháu. Giàm giấu thây người nhà vào một cái hầm, rồi tự thiêu mà chết. Quân Lý giết sạch dân thành, quan lại, lính tráng, thổ đinh, cư dân cả thảy hơn năm vạn người. 16

Sau trận Ung Châu, Lý Thường Kiệt kéo quân về, áp dụng chiến thuật tình báo là do thám tin tức trong khi chuẩn bị chờ đón cuộc phản kích của nhà Tống. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn viết rằng: "Biết Tống sắp sửa kéo quân tới trả thù, Lý Thường Kiệt ra sức đề phòng trước. "Ngày ngày ông sai tụ tập binh lính để tập trận; nhóm họp voi ngựa, tập duyệt phép chạy, phép xung phong." Một mặt khác Lý hết sức do thám hành động của quân Tống. Lúc hạ Ung Châu, có bắt được 2.000 nhà sư. Ta thu lấy bằng sắc. Rồi sai thám tử cạo đầu, mặc áo cà sa, mang bằng sắc ấy, giả làm sư Tống, vào đất Tống dò xét. Ta lại dùng dân thuyền chài ở ven bể, cho lẫn vào đất Tống để thám thính." 17

Tác giả sách Lý Thường Kiệt cho biết: "Thời bấy giờ, Lý Thường Kiệt triệt để lợi dụng mọi phương tiện để dò hành động của quân Tống, và để địch vận, chiêu dụ người Tống theo giúp mình." 18

Về phía địch quân, các hoạt động phản gián cũng được vua Tống ban hành triệt để, và đã được phản ảnh ít nhiều qua tác phẩm Lý Thường Kiệt như sau: "Vua Tống dặn các lộ Quảng Đông, Giang Tây, Phúc Kiến rằng: " Lúc mộ quân hiệu dụng, phải coi chừng, kẻo tụi gian lẫn vào. Lại bảo Tô Tử Nguyên (con của Tô Giàm, NĐC chú thêm): "Coi chừng tụi dân thuyền chài dọc bờ bể, thường làm nghề đánh cá, mò châu. Chỉ cho chúng ở các vũng bể. Nếu chúng ra vào, thì phải xét chúng đi đâu; kẻo sợ chúng làm trinh thám cho Giao Chỉ. Tống phòng bị như thế không phải không có lý. Lý Thường Kiệt đã sai nhiều thám tử vào Lưỡng Quảng. Ngày 12 tháng tư, vua Tống hạ chiếu nói: "Nghe Giao Chỉ sai nhiều kẻ gian tới thám Lưỡng Quảng. Vậy các chỉ huy, các tướng phải coi chừng. Đừng để nó dò được phép công, thủ, tiến thoái của ta." 19

Cũng tác phẩm này cho biết : "Lúc trước, khi ta đánh Khâm, Liêm, có bắt hơn trăm nhà sư. Ta lấy bằng mà quan Tống đã cấp cho các sư ấy, rồi giao cho gián điệp mang vào đất Tống, giả làm sư để dò thăm tình hình. Cho nên ngày 28 tháng Tám vua Tống hạ chiếu cho lộ Quảng Tây đình việc cấp bằng cho các sư. Tuy đề phòng cẩn thận như thế, nhưng dọc bờ bể, thám tử ta vẫn vào nhiều. Ngày 11 tháng mười, vua Tống sai các lộ Duyên Hải mộ quân, nói: "Để bắt quân Giao trốn vào trong sứ để trinh thám". 20

Nhận xét chung về các nỗ lực tình báo của nhà cầm quyền Trung Hoa lúc bấy giờ, sách Lý Thường Kiệt cho biết: "Tống muốn sai thám tử hoặc để dò la, hoặc làm nội ứng, hoặc làm hướng đạo. Đối với những dân khê động theo ta lúc quân ta vào đánh Tống, vua Tống bảo: "Dụ chúng cứ tạm theo giặc để cho được yên; nhưng khi đại binh tới, thì sẽ làm nội ứng; sau khi thắng trận, sẽ có trọng thưởng. Đối với tù binh ta, vua Tống dặn: "Nếu có bắt được giặc Giao mà chưa chết, thì dùng chúng làm hướng đạo." Tống tổ chức gián điệp ở nước ta, hình như không có kết quả. Vua Tống phải chú ý đến việc lấy hư danh, chức tước để chiêu hàng." 21

Có lẽ đỉnh cao của nghệ thuật tình báo xuất hiện trong giai đoạn quân Lý đụng trận với quân Tống trên mặt trận sông Như Nguyệt, qua bậc thầy tình báo là Lý Thường Kiệt, đã được giáo sư Hoàng Xuân Hãn ghi lại như sau: "Trận Như Nguyệt này rất kịch liệt. Quân ta có khi đã lâm vào thế khốn. Muốn cổ vũ binh sĩ, Lý Thường Kiệt sai người giả làm thần nhân, nấp trong đền Trương Hát ở bờ nam cửa sông Như Nguyệt, đọc thơ mắng giặc, và báo trước rằng giặc sẽ thua. Sách VĐUL chép truyện Trương Hát, thần sông Như Nguyệt, kể lại rằng chính thần nhân đã đọc bài thơ sau này:

"Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm!

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư"

Nghĩa là:

Sông núi nước Nam, vua Nam coi

Rành rành định phận ở sách Trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm!

Bay sẽ tan tành chết sạch toi!

Sách chép tiếp: "Đang đêm, nghe tiếng vang trong đền dọc bài thơ ấy, quân ta đều phấn khởi. Quân Tống sợ táng đảm, không đánh đã tan." 22

Trong lãnh vực quân sự mà tình báo là một mũi nhọn không thể thiếu được, Tôn Tử đã từng có những lời dạy khôn ngoan như sau:"Khi mạnh hãy làm như yếu, khi hành động hãy làm như bất động, khi gần hãy làm như xa, khi xa hãy làm như gần. Hãy dùng mồi nhữ kẻ thù, giả bộ hỗn loạn để đánh chúng." 23 Napoléon Bonaparte đã đọc Tôn Tử binh pháp qua bản dịch của một giáo sĩ thừa sai cách đây hơn hai trăm năm. Mao Trạch Đông, Võ Nguyên Giáp, các nhà quân sự Nhật Bản, Triều Tiên đã từng nghiền ngẫm sách của Tôn Tử, nhận Tôn Tử làm bậc thầy qua tư tưởng về chiến lược, chiến thuật đã dẫn dắc các kỳ công của họ với những thành quả vang dội trong lịch sử. Ngày nay, một câu nói hầu như luôn luôn nằm trên cửa miệng mọi người: "Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng" do chiến lược gia lỗi lạc cách chúng ta trên 25 thế kỷ đã nói ra, bao gồm nhiều bài học về quân sự, tình báo, tâm lý, xã hội. Một số các nhà sử học Hoa Kỳ Thomas Cleary (1988), Ralph D. Sawyer (1994) đã giới thiệu cùng độc giả Tây phương bằng những công trình nghiên cứu và dịch thuật đứng đắn 24 về con người, tài năng và thời đại của Tôn Tử với những khám phá mới chứng tỏ rằng quan điểm của ông về quân sự, tình báo vẫn có những giá trị vượt thời gian và không gian. Qua lịch sử, tình báo đã rõ ràng là một nhu cầu thiết yếu đối với đời sống quốc gia, nhưng qua tình báo cũng thể hiện nổi đam mê của những con người lao đầu vào nghiệp vụ đó như một hiến thân của nhà nghệ sĩ đối với nghệ thuật với những trường hợp "sinh nghề tử nghiệp" mà chúng tôi sẽ có dịp trình bày trong những loạt bài kế tiếp.

 

Nguyễn Đức Cung

New Jersey 6-8-2007

 

CHÚ THÍCH :

1.- Vương Huệ Mẫn (chủ biên), 100 Danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung Quốc, bài Tôn Vũ, bậc thầy của các nhà quân sự mọi thời, tác giả Lý Bảo Sinh, người dịch: Tiến sĩ Nguyễn Văn Dương, Nhà xuất bản Văn Hóa-Thông Tin, 2002, trang 631.

2.- The New Encyclopaedia Britannica, Volume 21, bài Intelligence and Counterintelligence, tr. 782.

3.- Bài đã dẫn, tr. 787.

4.- Vincent and Nan Buraneli, Spy/Counterspy, McGraw-Hill Book Company, 1982, tr. 171 và tr. 310.

5.- Nhóm phiên dịch các giờ kinh phụng vụ, Kinh thánh trọn bộ Cựu ước và Tân ước, Tòa Tổng Giám Mục, TP HCM, 1998, tr. 258.

6.- Joan Comay và Ronald Browrigg, Who's who in the Bible, Wings Books, tr. 276.

7.- Kinh Thánh Cựu Ước, Sđd, tr. 259.

8.- Neal M. Flanagan, osm, Lịch sử cứu độ dẫn vào thần học thánh kinh, nguyên tác "Salvation history", ấn bản điện tử của Web. Simonhoadalat.

9.- Hội đồng Khoa học Xã hội TPHCM, Viện Khoa học Xã hội tại TPHCM, Lịch sử Việt Nam, Tập 2. Nxb. Trẻ, 2004, tr. 116.

10.- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập I, 1998, tr. 138.

11.- Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, lịch sử ngoại giao & tông giáo triều Lý, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 143.

12.- Toàn Thư, Sđđ, tr. 139.

13.- Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 77.

14.- Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 121.

15.- Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 144.

16.- Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 146.

17.- Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 147.

18.- Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 181.

19.- Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 181.

20.- Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 182.

21.- Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 182.

22.- Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr. 241.

23.- Gordon Thomas, Chaos under heaven, the shocking story behind China's search for democracy, A Birch Lane Press Book, 1991, tr. 268.

24.- Sun Tzu, The Art of War, Translated by Thomas Cleary, Shambhala, Boston & London, 2003; Sun-tzu, The Art of War, New Translation by Ralph D. Sawyer, Barnes and Nobles, New York, 1994; O.Edmund Clubb, Twentieth Century China, Columbia University Press, 1964; Ssu-ma Ch'ien, The Grand Scribe's Records, Volume VII, The Memoirs of Pre-Han China, Edited by William H. Nienhauser, Jr. Translated by Tsai-Fa Cheng, Zongli Lu, William H. Nienhauser, Jr. and Robert Reynolds with Chiu-Ming Chan. Sử Ký Tư Mã Thiên, Nhữ Thành dịch, Nxb. Văn Học, Hà Nội 1988, tr. 319.

 

Trở về Trang Chính