|
Kể từ năm 1558, khi Nguyễn Hoàng theo lời khuyên của
Trạng Trình tìm cách vào nam để tránh sự mưu hại của Trịnh Kiểm
qua lời khuyên bóng bẩy "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân"
(một dãy đèo ngang có thể dung thân muôn đời), vùng đất phía nam
Đèo Ngang nghĩa là từ biên giới phía bắc tỉnh Quảng Bình trở vào
đã thành một vùng đất hoành cứ riêng biệt của dòng họ Nguyễn với
chín đời chúa, mười ba đời vua từ niên đại kể trên cho đến năm
1945. Các vị chúa Nguyễn đa số đều là những người được huấn
luyện trong môi trường chiến tranh giữa Đàng Trong với Đàng
Ngoài cho nên họ đều xuất thân là con nhà tướng, giỏi việc binh
đao nhưng tài văn chương thi phú lại không có cơ phát triển. Đến
đời các vị vua nhà Nguyễn, sau khi Gia Long thống nhất đất nước,
thiên hạ thái bình, đa số đều là những vị vua giỏi văn thơ như
Minh Mạng, Thiệu Trị, nhất là Tự Đức vì cuộc đời của họ không
phải đánh nam dẹp bắc, bận rộn chiến chinh. Nếu trong cuộc nam
bắc phân tranh dưới thời hai họ Trịnh Nguyễn, vùng đất từ Đèo
Ngang vào cho đến đèo Hải Vân là căn cứ đầu não của Đàng Trong,
bãi chiến trường giữa hai vương quốc Đàng Trong và Đàng Ngoài
(Quảng Bình) và Thuận Hóa là kinh đô thời chiến thì vùng đất ba
tỉnh Bình Trị Thiên cũng đã từng là đầu đề văn thơ xướng họa của
các thi nhân hay các bậc tao nhân mặc khách trong Hương Bình Thi
Xã, một thi đàn có tiếng của đất Thần kinh hơn sáu thập kỷ trước
đây mà trong đó nổi bật vai trò chủ soái của Ưng Bình Thúc Giạ
Thị, cháu nội của Tuy Lý Vương Miên Trinh, và một số thi hữu tài
danh của cụ.
1.- Từ những câu thơ bước đầu xây dựng đất trấn
nhậm Đàng Trong...
Kể từ ngày Thuận Hóa trở thành nơi trấn nhậm của
Nguyễn Hoàng, vị chúa thủy tổ của nhà Nguyễn, vùng này đã trở
thành chốn văn chương nếp đất với nhiều giai thoại liên quan đến
các biến động lịch sử cũng như tôn giáo. Tư liệu lịch sử chính
thức của nhà Nguyễn như Thực Lục Tiền Biên không hề ghi
một dòng nào khả dĩ cho biết về học vấn hay tài văn chương của
Nguyễn Hoàng mà chỉ viết về ông như sau: "Tướng vai lân, lưng
hổ, mắt phượng, trán rồng, thần thái khôi ngô, thông minh, tài
trí, người thức giả đều biết là bậc phi thường" 1.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, tài liệu ngoài dân gian có nói về một
cuộc xướng họa thi văn nơi quán trọ xứ Thanh ngày xưa để tỏ bày
tâm chí giữa Nguyễn Hoàng với Đào Duy Từ trước khi ông này vào
nam "đầu quân" cho chúa Sãi.
"Nguyễn Hoàng xướng:
Vó ngựa sườn non đá chập chùng
Cầu hiền lặn lội biết bao công.
Đào Duy Từ tiếp:
Đem câu phò Hán ra dò ý
Lấy nghĩa tôn Lưu để ướm lòng.
Nguyễn Hoàng nối:
Lãnh thổ đoán chia ba xứ sở
Biên thùy vạch sẵn một dòng sông.
Đào Duy Từ kết:
Ví chăng không có lời Nguyên Trực,
Thì biết đâu mà đón Ngọa
Long!"
2
Trong tập sách Phủ tập Quảng Nam ký sự
của tác giả Mai Thị 3 (có lẽ là Mai Đình Dũng, một bộ
tướng của Nguyễn Hoàng) có ghi lại những thư từ trao đổi giữa
Nguyễn Hoàng với Bùi Tá Hán lúc bấy giờ làm trấn thủ Quảng Nam,
ngày nay cũng được coi là những tư liệu phản ảnh chính sách cai
trị và mở mang vùng đất mới của Chúa Tiên.
Năm 1601, Nguyễn Hoàng xây chùa Thiên Mụ cũng là
theo một giai thoại văn chương mang dấu ấn lịch sử. Trong
Quảng Bình, chín trăm năm nhìn lại, chúng tôi có
viết : "Lý do xây chùa được ghi lại như sau theo bài viết của
A. Bonhomme dựa trên bản dịch tư liệu chữ Hán của linh mục
Cadière: "Năm tân sửu 1601, niên hiệu 44 Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế
hay Tiên vương, về mùa hạ, tháng sáu người ta xây dựng lần đầu
tiên chùa Thiên Mẫu. Thời ấy vua đi xem liên tiếp các nơi núi
sông địa thế đặc biệt có thấy đồi Hà Khê nổi giữa cánh đồng mang
hình dáng một con rồng ngẩng đầu để nhìn về sau. Ở trước là một
con sông rộng và sau là một con trạch nước đọng. Quang cảnh đẹp
chẳng nơi nào hơn vậy. Sau đó chúa hỏi người vùng đó. Họ đều
đồng loạt trả lời trên đồi đó xảy ra nhiều điều kỳ lạ và rất
thiêng liêng. Truyền thuyết bảo rằng một đêm có một người nằm
mộng thấy một bà già ngồi trên chóp đồi mặc áo đỏ, quần lục nói
với người ấy rằng: "Phải cầu một vị chúa của địa phương này đến
xây một đền thờ để tập trung những điều thiêng liêng và như thế
để bảo vệ long mạch." Sau khi nói xong bà già biến mất. Vì vậy
người ta gọi đồi ấy là đồi Thiên Mẫu hay Bà Nhà Trời. Hoàng đế
nhận thấy chỗ đó có những điều linh thiêng nên cho dựng chùa
Thiên Mẫu." 4
Trong lịch sử chính trị Việt Nam, tranh chấp quyền
bính là lý do xuất hiện hai vùng đất đối nghịch Đàng Trong và
Đàng Ngoài từ đó mà có mưu mô liên hệ đến giai thoại văn chương
và lịch sử trong việc chúa Sãi nghe theo lời cố vấn của Đào Duy
Từ, trả lại sắc thư cho chúa Trịnh. "Năm canh ngọ(1630), Văn
Khuông đi sứ Đàng Ngoài, yết kiến chúa Trịnh, lưu loát đối đáp,
dâng lễ vật rồi lẻn về. Cái mâm hai đáy gợi tính tò mò của phủ
chúa Trịnh, và khi bị nạy ra, tờ sắc thư cùng một bài thơ bí
hiểm nằm trong đó. Bài thơ như sau:
Mâu nhi vô dịch
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương địch.
Phủ chúa đang ngẩn ngơ chưa hiểu ý
nghĩa bài thơ đó thì Phùng Khắc Khoan đã nghĩ ra. Ông nói: "Mâu
nhi vô dịch
chỉ chữ dư, Mịch phi kiến tích chỉ chữ bất,
Ái lạc tâm trường chỉ chữ thu, Lực lai tương
địch chỉ chữ sắc. Có nghĩa ta không nhận sắc".
Cả một phủ chúa bàng hoàng giận dữ nhưng không biết làm gì
ngay." 5
Thật sự, văn chương đã góp sức vào công cuộc chiến
đấu giữa Đàng Trong đối chọi với Đàng Ngoài, và bởi vì Đàng
Trong còn yếu so với lực lượng bên ngoài sông Gianh nên người
lãnh đạo Đàng Trong phải vận dụng mọi phương tiện kể cả văn hóa,
văn học vào thế trận chung.
Sau trận năm mậu tí (1648), chúa Trịnh sắp đặt lại
quân ngũ, đặt thú tướng Phạm Tất Toàn đóng đồn Tam Hiệu (tức Ba
Đồn) ở Bắc Bố Chính để đối chọi với Nguyễn Hữu Tiến tại Lưu Đồn
ở Nam Bố Chính, sai Lê Hữu Đức đóng dinh Hữu Trấn quân ở Hoành
Sơn, và Trịnh Đào đóng dinh Tả Trấn quân ở Hà Trung (tức Kỳ
Anh). Hữu Đức có 5.000 quân và Trịnh Đào có hơn một vạn. Mùa
xuân ất hợi (1655) Trịnh Đào truyền cho Tất Toàn đánh vào Nam Bố
Chính.
Tại Đàng Trong, người ta cũng muốn thừa thắng xông
lên để tiến hành những cuộc hành quân vượt sông Gianh, kéo thẳng
ra Đàng Ngoài. Chúa Nguyễn, lúc bấy giờ là Nguyễn Phúc Tần, đã
để ý đến sự tác động của thi văn và dấu bên trong cả một mưu
lược và dụng ý vận động nhân tâm qua kết cấu của một bài thơ có
lẽ do chính ông sáng tác nhưng lại nói là của vị thần cho. Bài
thơ như thế này:
Tiên kết nhân tâm thuận
Hậu thi đức hóa chiêu
Chi diệp kham tồi lạc
Căn bản dã nan diêu.
Nghĩa
là:
Trước kết lòng người thuận
Sau thi đức sáng hay
Cành lá cằn rụng được
Gốc rễ khó lung lay.
Phúc
Tần gợi ý rằng trong bài thơ có hai chữ quan trọng là thuận
để chỉ Thuận Nghĩa hầu (tước của Nguyễn Hữu Tiến) và
chiêu để chỉ Chiêu Vũ hầu (tước của Nguyễn Hữu Dật. Dựa trên
bài thơ đó, ông quyết định chọn hai tướng này đảm nhiệm chức vụ
chỉ huy việc đánh ra Bắc: Nguyễn Hữu Tiến với chức tiết chế và
Nguyễn Hữu Dật với chức đốc chiến. Bài thơ của một vị thần cho
mà lại có tên hai vị tướng thì hẳn nhiên việc đề cử các chức vị
chỉ huy này không còn là do người nữa mà do thần linh chỉ định.
Vả lại một khi sự việc đã do thần linh sắp xếp thì còn ai dám tị
hiềm, tranh cãi hay so bì?
Miền địa đầu của Đàng Trong vẫn tiếp tục thăng hoa
về mặt văn học với sự tổ chức các kỳ thi dưới thời các chúa
Nguyễn và Nho học vẫn phát triển không như luận cứ của sử gia Li
Tana cùng một số nhà nghiên cứu khác đồng ý với bà khi cho rằng
Nguyễn Hoàng và các vị chúa nhà Nguyễn đã dùng Phật giáo Đại
thừa để thay thế cho ý thức hệ Khổng giáo ở Đàng Trong. 6
2.- Đến một dòng thơ của Hương Bình Thi Xã qua
tâm thức Huế và tôn giáo.
Nói đến thi ca xứ Huế mà không nhắc đến Ưng Bình
Thúc Giạ Thị cùng với Hương Bình Thi Xã là một điều thiếu sót
lớn lao. Thật vậy, Huế là đất một thời là kinh đô cả nước nên
cũng đã trở thành chốn văn vật theo thời gian và vị trí lịch sử
của địa phương này.
a./- Về vị chủ soái thi đàn đất Thần Kinh:
Ưng Bình Thúc Giạ Thị là con trai của cụ Hiệp tá
Tiểu Thảo Hường Thiết, cháu nội của ngài Tuy Lý Vương Miên
Trinh, sinh tại làng Vĩ Dạ, quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên ngày
9 tháng 3 năm 1887. Ưng Bình là tên, Thúc Giạ Thị là hiệu. Thân
phụ của cụ Ưng Bình là tác giả của "Tứ Tự ca" (truyện thơ
lịch sử Việt Nam từ thời Hồng Bàng), cùng tập thơ chữ Hán "Liên
Nghiệp hiên thi tập". Cụ còn có khả năng hội họa qua bức vẽ
"Đại Nam quốc toàn đồ năm 1890". Thân mẫu Ưng Bình
là bà Nguyễn Thị Huệ là người thông thạo Hán học, có làm nhiều
thơ chữ Nôm nổi tiếng như các bài "Nhớ quê", "Thượng
cầm hạ thú", "Xuất gia"...
Năm 1904, Ưng Bình tốt nghiệp trường Quốc học Huế,
đỗ đầu kỳ thi ký lục. Ông đỗ Cử nhân Hán học năm 1909, được bổ
làm tri huyện rồi tri phủ, năm 1922 làm bố chánh Hà Tĩnh. Nm
1933 ông về hưu, được thăng hàm Thượng thư, Hiệp ta Đại học sĩ.
Sau khi về hưu, ông làm Hội trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ Trung
kỳ (1939-1940), Viện trưởng Viện Dân biểu Trung kỳ (1940-1945).7
Xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn
chương, Ưng Bình cũng đã tỏ ra có tài văn chương, thi phú. Ông
sở trường về nhiều thể loại: thơ chữ Hán và quốc ngữ, tuồng và
hò Huế. Với tài năng thiên phú cùng với khả năng sáng tác dồi
dào, ông đã để lại một sự nghiệp thi ca đáng kể. Ưng Bình Thúc
Giạ Thị có trên một ngàn bài thơ chữ Việt, thơ chữ Hán có "Lộc
Minh thi tập" gồm 227 bài, hát bội có tuồng "Lộ Địch".
Các tác phẩm đã xuất bản của ông gồm có "Tình Thúc Giạ"
(1942), "Bán buồn mua vui", "Đời Thúc Giạ" (1961),
"Tiếng hát sông Hương" (1972), "Thơ ca tuyển"
(1992). Là người thông thạo Tây học, Ưng Bình đã đọc tác phẩm
của nền văn học Pháp và đã dựa vào một tác phẩm, Le Cid
của P. Corneille mà viết một tác phẩm khá hay cho nền văn chương
Việt Nam qua tuồng "Lộ Địch" xuất bản năm 1936, tái bản năm
1959. Theo nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương "tuồng Lộ Địch được công
diễn từ năm 1928, đã gây tiếng vang trên sân khấu miền Trung và
miền Nam một thời. Điểm đặc sắc ở tuồng "Lộ Địch" khác hẳn với
nguyên tác Le Cid là kết cuộc, tác giả đã để nhân vật chính Chi
Manh đi tu để giữ được trọn vẹn phẩm giá người phụ nữ theo tinh
thần Á Đông." 8
Ngoài tuồng Lộ Địch, Ưng Bình còn viết tuồng "Tào
lao" căn cứ theo sự tích của một chuyện xưa trong đó tác giả
đã sử dụng tới 21 làn điệu dân ca Huế.
Cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị mất tại Huế ngày 4 tháng 4
năm 1961, hưởng thọ 85 tuổi. Một biến cố đặc biệt xảy ra trước
đó là mùa xuân năm 1951, cụ đã tổ chức một lễ sanh điếu (tức
điếu sống) cho mình với sự tham dự của rất nhiều văn, thi hữu
của cụ và Hương Bình Thi Xã.
Trước khi nói đến một số thi nhân tiêu biểu của
Hương Bình Thi Xã, thiết tưởng cần nhắc đến tiền thân của nó đó
là Thi Xã Vỹ Hương được cụ Ưng Bình thành lập từ năm 1933 khi cụ
về hưu. Từ năm 1945 đến 1949, Thi Xã Vỹ Hương tạm ngưng hoạt
động vì lúc đó mọi người lo tản cư, cuộc sống rất bấp bênh, cho
đến năm 1950 cụ lại lập Hương Bình Thi Xã cùng một số các cụ
giỏi làm thơ như An Đình Trần Kinh, Kỉnh Chỉ Phan Văn Hy, Hỷ
Thần Nguyễn Hy, Thảo Am Nguyễn Khoa Vy, Đông Viên Phạm Huy Toại,
Mục Tử Bửu Đồng, Ngư Xuyên Hoàng Xuân Vịnh, Tử Thương Hồ Đình
Lan, Tùng Sơn Trần Đình Kỉnh, Tiểu Xuân Tôn Thất Đỉnh, Quỳ Ưu
Nguyễn Đôn Dư, Thắng Nhạc Hoàng Đình Khải, Thái Sơn Nguyễn Văn
Lệ, Sa Minh Tạ Thúc Khải, Dương Chi Hồ Đắc Liêu, Thái Phong
Nguyễn Tiệu, Hòe Đình Ưng Oanh, Mai Viên Nguyễn Khoa Nghi, Viên
Phong Lê Đình Loan, Vân Phố Hoàng Đệ, Tống Nguyên Nguyễn Hữu
Hậu, Bích Hồ Hoàng Phủ Dực, Bích Hiên Dương Sung, Thanh Huy Thái
Quang Cự, Gia Phu Hường Khanh...
b./- Đôi nét về tâm thức Huế trong thơ Ưng
Bình Thúc Giạ Thị:
Huế hiện diện qua lịch sử với các địa danh nổi tiếng
cùng với các đền đài, dinh thự, cung điện hoàng thành, các danh
lam thắng cảnh, các chùa chiền, nhà thờ, miếu đình cổ kính được
phản ánh qua thi ca của địa phương và khắp nơi trong nước, đặc
biệt là của những con người sinh trưởng ở chốn cố đô như cụ Ưng
Bình.
Một số bài thơ của cụ Ưng Bình đã đi vào trong quần
chúng, thấm đậm hồn nước và cho đến nổi người ta đôi khi tưởng
đó là những bài ca dao do các tác giả vô danh sáng tác. Một cách
khái quát, tâm thức Huế trong thi ca Ưng Bình được cảm nhận qua
một số địa danh cùng dấu tích lịch sử và thiên hướng tôn giáo.
Chiều chiều trước bến Văn Lâu, ai ngồi, ai câu,
ai sầu, ai thảm,
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông?
Thuyền ai thấp thoáng bên sông,
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non
!...
Khổ thơ trên nhắc đến chuyện vua Duy Tân giả dạng
người câu cá ngồi trên sông Hương trước Phu Văn Lâu chờ đợi Trần
Cao Vân đến để thảo luận tổ chức cuộc khởi nghĩa năm 1916 nhưng
không thành công. Câu mái đẩy chuyển tải cả một tấm lòng non
nước và hình ảnh một chiếc thuyền không hiện ra rõ rệt mà chỉ là
thấp thoáng, mông lung nét chấm phá tưởng như còn in dấu đậm
nhạt mãi trong lòng người mến nước, thương dân.
Nói đến Phu Văn Lâu ở Huế là nhắc đến một dấu ấn của
lịch sử vì đó là nơi xướng danh và yết tên các vị đỗ đại khoa
(tiến sĩ) dưới thời các vua nhà Nguyễn, nơi đặt các thánh chỉ
của nhà vua. Phu Văn Lâu ở vào vị trí giữa con đường đi lên Kim
Long, lên chùa Thiên Mụ và bên kia là cột cờ của Đại Nội. Nguyễn
Văn Hiền, Lang trung Bộ Công, trong bài viết đăng trên tạp chí
Bulletin Des Amis Du Vieux Hué (Đô Thành Hiếu
Cổ) đã mô tả về kiến trúc của Phu Văn Lâu như sau: "Hướng
về Nam, theo phép địa lý, Phu Văn Lâu có nhiều cột trụ đứng trên
nền cao xây gạch. Trên cao hết, tầng trên thóp vào dạng tầng
chồng có bốn cửa: hai cửa vuông và hai cửa tròn đối diện từng
cặp. Tầng trên được bao quanh bằng một lan can nhỏ nhẹ, xinh xắn
lợp bằng mái lợp có hình dáng tao nhã. Tất cả là 16 cây cột ở
bốn góc, phía trong là 4 cột to hơn các cột khác; các cột này
mang các đố bảng như các cột khác và được sơn mợt lớp sơn đỏ
đậm.
Ngôi đền có chu vi 111 mét An-nam, có
chiều cao 14 mét 50, và nền gạch cao 2 mét 50. Trên cửa về phía
nam của tầng lầu và dưới mái có lan can có treo một bảng gỗ nhỏ
son son thiếp vàng có ba chữ chạm nổi
Phu Văn Lâu.
Trong tầng trệt lúc cần đến thì có treo cái bảng
sơn son thiếp vàng được gọi là Kim bảng dùng để niêm yết
sắc chỉ của nhà vua để loan truyền.
Trước đền, bên phải và bên trái có
dựng hai cái bia trong đó có bốn chữ
Khuynh cái, hạ mã để
báo cho người đi qua phải nghiêng lọng và xuống ngựa..."
9
Năm 1829, vua Minh Mạng đến xem một trận đấu giữa
cọp và voi tổ chức tại Phu Văn Lâu và năm 1840 vua dự một cuộc
duyệt binh gồm có bộ binh, kỵ binh và thủy binh cũng tại nơi
này. Nhân dịp lễ ngũ tuần của Minh Mạng, nhà vua chiêu đãi các
cụ già tuổi từ 70 trở lên thuộc các tỉnh Thừa Thiên và Tứ Trực
tức các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Quảng Bình. Rất
nhiều sự kiện khác đã diễn ra tại Phu Văn Lâu mà sử sách còn ghi
lại cũng giống như những lời ca "Chiều chiều trước bến Văn
Lâu..." của cụ Ưng Bình đã đi vào tâm thức dân gian, không
bao giờ phai nhạt.
Một vũng nước trong, mười dòng nước đục,
Một trăm người tục, một chục người thanh.
Biết đâu gan ruột gởi mình,
Mua tơ thêu lấy tượng Bình Nguyên Quân.
Bình
Nguyên Quân là một nhân vật trọng nghĩa khinh tài, người có khí
tiết thường được nhắc đến trong tích cũ Trung Hoa.
Viết về cá nhân mình, cụ Ưng Bình có câu:
Vỹ Dạ thôn có lão Vương tôn là Thúc Giạ
Ưng ca, ưng hát, ưng giã gạo hò khoan
Ham vui điệu cổ thi đàn
Nghe câu tuyệt xướng muôn vàng cũng mua.
Vỹ Dạ
là vùng đất nhỏ bé thuộc quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên có nhiều
khu nhà vườn hoặc các vương công phủ đệ ngày trước. Đây cũng là
nơi mà nhà thơ Hàn Mạc Tử đã dùng làm bối cảnh trong một bài thơ
rất nổi tiếng, bài Đây thôn Vĩ Dạ có khi cũng gọi là bài
Về chơi thôn Vĩ :
Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Cụ Ưng
Bình đã ghi lại đôi chút hình ảnh chiến tranh thấp thoáng trên
vùng đất nhỏ bé này:
Tết bữa mồng ba em đi qua Vĩ Dạ,
Thấy đài lô-cốt họ đã xây cao.
Tứ vi bao bọc hàng rào,
Bốn năm ông bảo vệ ra vào với Xuân!
Nhưng
rồi cảnh phồn thịnh lại trở về cùng thôn Vĩ thân thương qua ngòi
bút của vị chủ soái Hương Bìnhthi Xã:
Tết mấy năm tê em về chơi Vĩ Dạ,
Từ trên Đập Đá xuống ngả chợ Dinh.
Dập dìu trai lịch gái thanh,
Ca lâu tửu điếm linh đình mọi nơi!
Và cảnh
vật cũng đổi thay theo với thời gian:
Giáp Ngọ năm nay (1954) cuộc cờ vây mở nước,
Con đường hạnh phúc đã bước gần nơi.
Qua miền Vĩ Dạ ta chơi,
Tháp canh lô-cốt họ đã dời đi đâu!
Trong
hoàn cảnh chiến tranh, tâm thức người dân Huế dĩ nhiên cũng
không thể bình ổn mà vẫn còn ưu tư, thắc thỏm. Tuy nhiên nhà thơ
cũng cố trấn an bạn bè bằng những câu tích cực như:
Không, không, không, cứ yên lòng hỡi bạn,
Trên đường Bến Cạn khách lai vãng thường xuyên.
Thôn Vĩ Dạ đã bình yên,
Một đôi khi tiếng súng ở tận miền xa xa...
c./-
Tâm thức Phật giáo với nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị.
Một chút tâm thức trong thi ca của Ưng Bình Thúc Giạ
Thị mà tôi muốn nhắc tới, đó là tâm thức Phật giáo trong con
người tài tử Ưng Bình. Thuở sinh thời, cụ Ưng Bình quen biết với
nhiều bậc thức giả có danh tiếng trong xã hội, đặc biệt là Hòa
Thượng Thích Trí Thủ. Nhà cụ Ưng Bình ở Vỹ Dạ gần chùa Ba La là
nơi trụ trì của ngài Trí Thủ do đó hai vị thường hay lui tới
thăm nhau. Năm 1946, hòa thượng cùng gia đình cụ Ưng Bình tản cư
về làng Thế Chí, lúc trở về gặp nạn giữa phá Tam Giang. Trên đò
lúc đó gồm gia đình cụ và bốn vị sư: thầy Trí Thủ,thầy Thiện
Siêu, chú Thiên Ân (du học ở Nhật, sau là đại đức Thích Thiên
Ân, đậu tiến sĩ ỡ Đại Học Waseda, có dạy sử Nhật Bản tại Viện
Đại Học Huế và Triết học đông phương tại Đại Học Sài Gòn), chú
Đức Tâm sau lên thượng tọa trụ trì chùa Bảo Quốc, đã mất.
Ưng đọc thi tiên, thẳng đó một đường lên Vỹ Dạ
Muốn nghe kinh Phật, cách đây vài cửa đến Ba La.
Đây là
hai câu đối nôm được viết hai bên một cái cổng xây trên có đề ba
chữ "Chu Hương Viên" dẫn vào tư thất của cụ Ưng Bình. Kèm hai
bên đó cũng có thêm một đôi câu đối chữ:
Khoái mã trường chu đông tây đắc lộ
Hầu môn cự thất tả hữu vi lân.
Có
nghĩa là: Phía Đông có đại lộ, phía Tây có bến sông, có thể đi
ngựa trước đường, có thể đi thuyền trên sông, cả hai đường bộ và
đường thủy đều thuận lợi - Bên trái có nhà của một vị đại thần,
bên phải có nhà của một bậc triệu phú, cả hai đều là hàng xóm
láng giềng.
Theo nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương, thời cụ Ngô Đình
Diệm, người ta mở rộng đường để đi Thuận An, nên cái cổng có chữ
"Chu Hương Viên" phải phá đi, cụ Ưng Bình rất buồn nên về sau cụ
trồng ở cửa ngõ hai bụi tre vàng và làm thơ nhắn bạn hữu tới
thăm chơi:
Đường Thượng thôn thẳng tới,
Đò Bến Cạn đưa sang.
Đây đây cửa ngõ tre vàng,
Ghé thăm Thúc Giạ nghe chàng tụng kinh.
Các bạn hữu xa gần tới thăm hỏi sao cụ không viết"nghe
chàng ngâm thơ" mà lại "nghe chàng tụng kinh".
Cụ cười nói: "Tôi làm thế cốt là để siêu thăng cho cái cửa
ngõ". 10 Cũng thật tế nhị mà khá chua cay!
Trong bài thơ "Khuyên học Phật", Ưng Bình
viết"
Đường danh nẻo lợi khó đông đông,
Chen chúc nhau chi đám bụi hồng.
Kìa bóng bạch câu qua chẳng lại
Nọ tranh thương cẩu có rồi không.
Dở cười dở khóc trên sân khấu,
Khi nở khi tàn mấy cụm bông.
Sao kiếp phù sinh cho khỏi lụy
Quyển kinh câu kệ chớ nài công.
Nguyễn
Gia Thiều trong "Cung oán ngâm khúc" cũng nói về những
đau khổ của cuộc đời "tử sinh kinh cụ làm nau mấy lần"
cho nên "quyển kinh, câu kệ" với triết lý của đạo Phật là phương
tiện để giải thoát phiền não.
Đã biết nhà nho theo chánh đạo,
Thường mong cửa Phật đến qui y.
(Bệnh trung ngâm,
viết vào mùa xuân năm mậu tuất
1958, khi tác giả 82 tuổi).
Tuy ước muốn của cụ là như vậy nhưng đời sống thi
ca, văn nghệ của nhà thơ vẫn là yếu tố ngăn cản cụ theo cuộc
sống thiền môn, nương nhờ cửa Phật:
Chưa mến quyển kinh và quyển kệ,
Vì ham câu lý lẫn câu ca.
Mặc dù vậy "tiếng chuông lòng" vẫn là một nhắc
nhở khôn nguôi trong tâm hồn vị chủ soái Thi Xã Hương Bình.
Tiếng chuông lòng dội buổi tan sương,
Đỉnh lễ quy y trước Phật đường.
Soi tỏ tâm linh nhờ đuốc tuệ,
Rưới tan tục lụy sẵn cành dương;
Giữ niềm bác ái không sai chậy,
Thời bệnh sân si khỏi vấn vương.
Tôi cũng như ai phường đạo hữu,
Mong vào cửa Phật đến Tây phương.
Tâm
thức Phật giáo là nền tảng trong triết lý sống giữa cuộc đời của
nhà thơ Ưng Bình, cho dù nhà thơ đã quen:
Rượu có mùi hương nên uống mãi
Thơ là thuốc bổ cứ ngâm chơi.
Tuy thế
cụ Ưng Bình vẫn viết:
Chữ Phật trong lòng tôi có sẵn,
Rồi đây tôi cũng áo cà sa.
Bởi thế
cho nên nhà văn Phạm Đình Tân đã có lý khi nói rằng "Không
phải rồi ra tiên sinh mới có áo cà sa mà tiên sinh đã có áo cà
sa từ lâu rồi, thứ áo cà sa tinh thần, khoác trong tâm tư, tư
tưởng." 11
Huế có lúc được mệnh danh là thủ đô của Phật Giáo
với hằng trăm ngôi chùa, quốc tự nổi tiếng như Thiên Mụ, Bảo
Quốc, Diệu Đế, Quốc Ân, Từ Hiếu v.v... và những chùa riêng do tư
nhân thiết lập. Ảnh hưởng Phật Giáo lan rộng trong dân chúng
nhưng nếu không chủ tâm nghiên cứu tìm hiểu thì sẽ nhầm lẫn như
trường hợp một giáo sư sử học người ngoại quốc nọ, giáo sư Li
Tana đã sai lầm khi cho rằng chính Nguyễn Hoàng đã thay đổi ý
thức hệ Khổng Giáo để thay vào đó là ý thức hệ Phật Giáo tại
Đàng Trong khi ông là người chống đối chúa Trịnh nên phải phản
lại vua Lê (bất trung). Thật sự thì Nguyễn Hoàng là người trung
thành nhất với vua Lê như cha ông là Nguyễn Kim đã tôn phò nhà
Lê chống lại nhà Mạc ngay từ buổi đầu trung hưng. Một vài nhà
nghiên cứu như Tôn Thất Thiện, Trần Gia Phụng đã tỏ ra khá vội
vã đi theo vết xe của Li Tana. 12
Cần phải trả sự thật lại cho lịch sử. Các tác phẩm
văn học và sử học đứng đắn có khả năng làm được sứ mệnh đó.
Nguyễn Đức Cung (Jersey City, 19-02-2007. )
CHÚ
THÍCH:
1.- Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, Tập I, quyển
1 và 2, bản dịch Nguyễn Ngọc Tỉnh, do Đàoduy Anh hiệu đính, Nhà
xuất bản Hà Nội, 1962, trang 30.
2.- Hương Giang Thái Văn Kiểm, Việt Nam Tinh Hoa.
Mõ Làng xb. 1997, tr. 50.
3.- Nguyễn Đức Cung, Quảng Bình chín trăm năm
nhìn lại, 1075-1975, Nxb. Nhật-Lệ, 2006, tr. 253.
4.- Nguyễn Đức Cung, Sách đã dẫn, tr. 246.
5.- Nguyễn Đức Cung, Sđd, tr. 28.
6.- Nguyễn Đức Cung, Nguyễn Hoàng và chủ nghĩa
trị quốc dựa trên Khổng học, Sđd, từ trang 211 đến 268.
7.- Tôn Nữ Hỷ Khương, Hồi ức về cha tôi: Ưng Bình
Thúc Giạ Thị, Nxb. Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, 2002. Tư liệu
này cung cấp cho tác giả bài báo một số sự kiện về cụ Ưng Bình
Thúc Giạ Thị với các hoạt động của Hương Bình Thi Xã, cùng các
bài thi của Ưng Bình được dẫn chứng trích từ tập hồi ức này.
8.- Tôn Nữ Hỷ Khương, Sách đã dẫn, tr. 15.
9.- Nguyễn Văn Hiền, Bulletin Des Amis Du Vieux
Hué, Tập 2, 1915, Bản dịch Đặng Như Tùng, Những người bạn
cố đô Huế, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1997, tr. 358.
10.- Tôn Nữ Hỷ Khương, Sđd, tr. 31.
11.- Tôn Nữ Hỷ Khương, Sđd, tr. 188.
12.- Nguyễn Đức Cung, Sđd, tr. 215 và tr. 217.
Trở về Trang Chính
|