Người xưa muốn nhắn gửi gì qua câu tục ngữ

"Gái thương chồng đương đông buổi chợ …”


 

Nguyễn Đức Dương

29 tháng 03 năm 2007

        Gái thương chồng đương đông buổi chợ; trai thương vợ nắng quái chiều hôm là một câu tục ngữ [TN] ý vị. Vậy mà mãi tới giờ giới nghiên cứu ở ta vẫn chưa nhất trí được với nhau về cái nghĩa đích thực của câu trên. Tại sao lại xảy ra tình trạng đó ? Và làm thế nào để trả lời thoả đáng cho câu hỏi: người xưa muốn nhắn gửi gì cho con cháu qua câu TN ấy ?

        Truớc khi trả lời mấy câu hỏi kia, có lẽ chúng ta nên cùng nhau đọc lại lời diễn giải từng được nhắc nhở nhiều ở ta : lời DG của sách Kể chuyện thành ngữ tục ngữ[1]. Theo sách trên, người xưa muốn nhắn gửi cho hậu thế ba điều sau: 

        (1) "[…] phản ánh sự chênh lệch, bất bình đẳng trong quan hệ yêu thương vợ chồng. Tình cảm người phụ nữ bao giờ cũng đậm đà, đầy đặn, mặn mà như buổi chợ đương đông, bởi ngoài lí do giới tính ra, người phụ nữ còn chịu sự ràng buộc của tam tòng tứ đức. Ngược lại, tình thương yêu của người con trai đối với vợ thường nhạt nhẽo, thoáng qua, ví như nắng quái chiều hôm le lói một lát rồi tắt ngấm khi mặt trời lặn ;    

        (2) […] phản ánh mức độ khác nhau trong tình yêu vợ chồng. Người con gái luôn luôn thương yêu chồng bằng tình yêu đậm đa, mặn ma, đầy đặn khác nào đương đông buổi chợ. Còn tình cảm của người con trai chỉ đôi lúc nhưng mãnh liệt như cái nắng quái chiều hôm vậy. Nắng quái chiều hôm tuy ngắn ngủi nhưng sức nóng, sức cháy bỏng của ánh nắng xiên khoai này thật là ghê gớm ;

        (3) […] nói về tính chất biểu hiện tình thương vợ chồng. Khi đã thương yêu chồng, tình cảm của người con gái được thể hiện ra bằng sự hoạt bát, vui nhộn như đương đông buổi chợ. Và người chồng chẳng khó khăn gì trong việc tìm hiểu tình cảm của vợ đối với mình. Ngược lại, chàng trai thâm trầm hơn trong tình yêu. Thậm chí, có khi tình yêu thương của chàng được thể hiện cả bằng sự cáu gắt, khắt khe, nghiệt ngã như nắng quái chiều hôm". 

        Tiếc thay, lời diễn giải này đã không được đông đảo bạn đọc đồng tình lắm vì họ cho rằng  nó để lộ quá rõ hai điểm cần tránh khi diễn giải TN.

        Thứ nhất, nó quá thiên về miêu tả, một điều hết sức xa lạ đối với TN, vì  TN, như ai nấy đều biết, là thể loại sáng tác dân gian chỉ quen đưa ra những nhận định súc tích (như Chim gà; cá lệch – Chó treo; mèo đậy – Vàng gió; đỏ mưa – Nhà gỗ xoan; quan ông nghè, v.v và v.v.) hoặc những lời khuyên nhủ cô đọng (như Chị ngã em nângĂn đầu trả bồ – Ra đường hỏi già; về nhà hỏi trẻ –Yêu trẻ trẻ đến nhà; kính già già để tuổi cho – Ăn cây nào rào cây ấy, v.v. và v.v.), chứ rất ngại đi sâu vào những miêu tả chi li.

        Thứ hai, các tác giả đã nhầm khi coi câu TN này như một câu so sánh (tức Gái thương chồng NHƯ đương đông buổi chợ; trai thương vợ NHƯ nắng quái chiều hôm), mặc dù trong câu chẳng hề có một từ NHƯ nào và cũng chẳng hề có một dấu hiệu hình thức nào đòi hỏi phải diễn giải như thế cả.

        Lối diễn giải nhầm lẫn đó, đến lượt mình, còn đẩy người diễn giải tới chỗ phải mắc thêm một sơ suất nữa: buộc họ phải xử lí đương đông buổi chợ nắng quái chiều hôm như bổ ngữ chỉ phương thức/bổ ngữ chỉ mức độ cho vị từ THƯƠNG. Do đã lỡ xử lí thế rồi, nên họ đành phải gán cho tám chữ đó những ý nghĩa mà những từ này vốn không có (xin x. những phần gạnh chân trong lời diễn giải đã dẫn) và cũng không thể có trong những văn cảnh khác.

        Sự khiên cưỡng lộ liễu ấy như thầm nhắc chúng ta : chớ có đi tiếp trên con đường các tác giả ấy đã đi. Nghĩa là đừng nên coi câu TN trên như là câu so sánh, mà phải xử lí nó như là câu tỉnh lược, một dạng câu còn thông dụng hơn câu so sánh gấp hàng trăm lần[2].

        Nếu xử lí như thế thì câu có thể được viết lại như sau: "Gái thương chồng [thì phải ứng xử ra sao để bày tỏ được lòng mình ngay cả lúc] đương đông buổi chợ ; trai thương vợ [thì phải ứng xử ra sao để bày tỏ được lòng mình ngay cả lúc] nắng quái chiều hôm"[3].

        Đến lúc này thì việc cần làm chỉ còn là đi tìm những biểu thức ngôn từ [linguistic expression] súc tích nhưng có thể diễn đạt thoả đáng cho những phần bị tỉnh lược vừa nói. Vì đề tài mà câu TN đề cập là tình thương yêu vợ chồng nên biểu thức thích hợp hơn cả có lẽ là : NÊN HẾT LÒNG CHIỀU CHỒNG/ NÊN HẾT LÒNG CHIỀU VỢ.

        Bây giờ, ta hãy thử điền hai biểu thức ấy vào những phần đã tỉnh lược rồi kiểm định xem câu có ổn không. Kết quả thu được khá khả quan: "Hễ thương chồng thì người vợ nào cũng NÊN HẾT LÒNG CHIỀU CHỒNG ngay cả lúc đang bị công việc buôn bán cuốn hút ; hễ thương vợ thì người chồng nào cũng NÊN HẾT LÒNG CHIỀU VỢ ngay cả khi đang phải khổ sở với cái nóng quái ác lúc xế chiều".

        Đó chắc hẳn là điều mà người xưa muốn nhắn gửi cho con cháu. Nói khác đi, ông cha chúng ta muốn khuyên chúng ta rằng : đã yêu nhau thực lòng thì hãy hết lòng vì nhau ngay cả trong những tình huống bất lợi nhất (đối với việc bày tỏ tấm lòng yêu thương ấy).

 


 

[1] Đây là công trình do GS Hoàng Văn Hành cùng các cộng sự biên soạn khá công phu và đã được in đi in lại tới ba lần nên dù có phải ưu tiên cho nó thì âu cũng là chuyện dễ hiểu.

[2] Chẳng hạn, như: Chó treo; mèo đậy – Cha gậy tre; mẹ gậy vông – Bí phân trâu; bầu phân lợn ­– Chiêm hơn chiêm sít; mùa ít mùa nở – Cát liền tay; thịt chầy ngày – Nhất vợ; nhì trời – Vợ đàn bà; nhà hướng nam – v.v. và v.v.

[3] Trong đó phần đặt giữa hai ngoặc vuông là phần đã được lược đi khi sáng tác nên câu TN trên.

 

Trở về Trang Chính