|
Những nghiên cứu về tiếng Việt hiếm khi chú trọng đến nguồn gốc và đặc tính của
đại danh từ. Có lẽ vì nguồn gốc tiếng Việt vẫn còn trong vòng tranh cãi, vì
thiếu một khung lý thuyết khả tín về nguồn gốc của các tự vựng, ngoài điều đã
được minh thị và chấp nhận qua quy ước về sự khác biệt giữa hai loại từ ngữ,
Hán-Việt và thuần Nôm.
Gần đây, Nguyên [1] đề nghị một mô hình mới, dựa vào mô hình ‘Cây-và-Đất’, để
giải thích về sự tiến hoá thành lập tiếng Việt, gần sát với lý thuyết về
nguồn gốc người Việt. Theo mô hình ‘Cây và Đất', tiếng Việt là một hỗn hợp
qua lịch sử và tiến hóa lâu dài của các thứ tiếng thuộc nhiều tộc người khác
nhau. Trong mô hình này, tiếng Việt cơ bản là Môn-Khmer phối hợp với Thái-cổ
cộng với khối Đa-Đảo, chồng chất và đan xen với các thứ tiếng xuất phát từ khối
Bách Việt xưa ở miền Hoa Nam, từ Vân Nam (Điền Việt) trải qua Quảng Đông (Tây và
Đông Việt) cho đến Phúc Kiến - Triều Châu (Mân Việt), Ngô (Thượng Hải-Triết
Giang) và Hải Nam, v.v. hỗ trợ bằng nhóm tiếng Hẹ (Hakka, tức Hạc Việt) và
Miêu-Dao (Miao-Yao hay Hmong-Mien). Trong bài này, sẽ dùng mô hình ‘Cây-và-Đất’
xem xét lại các đại từ, các kết quả thích hợp sẽ được dùng để vừa giải thích vừa
chứng minh cho mô hình này trong giới hạn các ngôn ngữ kể trên.
Trong các đặc điểm của đại danh từ tiếng Việt, có hai đặc tính nổi trội nhất cuả
đại từ tiếng Việt: một là chúng liên hệ đến những từ nói về quan hệ gia đình hay
xưng hô liên quan đến vai vế ngoài xã hội, và hai là đại từ ngôi thứ nhất số
nhiều, “chúng tôi, chúng ta” dưới cả hai hình thức bao gồm và phân cách, hình
thức hóa qua sự dùng từ (chúng / tụi / bọn). Hai đặc tính trên, được
trình bày dưới đây, thật ra cũng thấy trong một số ngôn ngữ láng giềng hay những
phương ngữ khác trên đất Việt, mà Nguyên [2] đề ra, như là những thành phần cấu
tạo của ngôn ngữ Việt trong quá trình thành lập.
1. Đại từ cho ngôi thứ nhất: Tôi, ta, tớ, tui, tao…
Tiếng Việt có nhiều từ dùng cho ngôi thứ nhất số ít.: Tôi, ta, tớ,
tui, tao, mỗ, mình, miềnh, qua, … cùng với một loạt các ngữ vựng chỉ địa vị
của người nói trong xã hội: Anh/em, chị/em, chú/cậu, con/cháu, thầy/cô,
bố/mẹ,ba/ má, … Hãy xem các đại danh từ ngôi thứ nhất số ít, áp dụng cho cả
nam lẫn nữ, dưới đây
Tôi (and
Tớ): thường có một biến dạng
của Tôi là TUI - đặc biệt trong tiếng Nam bộ, theo luật hoán chuyển âm giữa [u]
<=> [ô], như trong ‘Kung-Fu’ <=> Công Phu: Quan thoại Gong/Cung
(bow), Quảng Đông Ung/Ông, tùng/tong = tùng chinh/tòng chinh,
thúi/thối..
Nhiều tự điển, đặc biệt vài cuốn đầu tiên, như cuốn Annamite-Portuguese-Latin
của Alexandre de Rhodes [3], cho rằng ‘tôi đòi’, ‘đầy tớ’, ‘tôi
tớ’, xuất phát từ Tôi và Tớ. Điều này hoàn toàn phù hợp với
phát âm ngày nay trong tiếng Hẹ và Quảng Đông từ [Toi] {儓}.
Phiên âm Quan Thoại cho [toi] có 2 cách: [tai-2] và
[dai-4], có nghĩa ‘tôi đòi’, hay ‘đầy tớ’, rất giống với Quan
thoại [tai dai]. Thật ra ’Tớ’ có âm rất gần với từ [tsut] hay [su] trong
tiếng Hẹ, và [zeot] hay [syu] Quảng Đông viết là豎
hay 卒,
cả hai có nghiã ‘tôi đòi’. Tuy vậy, nguồn gốc gần hơn
là từ [Tub] trong tiếng Hmong có nghiã
’Tớ’, “b’ là dấu chỉ âm cao giống như với dấu sắc
trong tiếng Việt. Trong tiếng Tày-Nùng, “Khỏi” tương đương với ‘Tôi” với cả hai
nghĩa: Tôi và đầy tớ.
Tự
điển Alexandre de Rhodes có ghi chú là ‘Tớ’ thường được dùng khi giận dữ:
‘Tớ đã làm chi ngươi’. Ngươi chỉ một người có địa vị hay quan hệ
thấp hơn người phát biểu câu trên, Tớ, nói trong trạng thái giận
dữ.
[tseoi] 余
trong tiếng Quảng Đông hiện nay có thể có cùng nguồn gốc với ‘Tôi’, dùng phát
biểu chính thức trong quan hệ hàng ngày. Phát âm [tseoi] trong tiếng Hẹ và Ngô
(Triết Giang) đọc [Y] {[I]}, rầt gần với đại từ đơn âm cho ngôi thứ ba trong
tiếng Phổ thông và tiếng Việt (coi bảng I). Để ý trong
tiếng Mường, ‘Tôi’ đọc như ‘Thôi’ với âm hơi.
Mỗ: ngày nay Mỗ
ít được dùng thay cho tôi như trước.. Mỗ có thể liên hệ với [mau] trong
tiếng Quảng Đông. Tự điển Huình Tịnh Paulus Của [4] liệt kê某
[mou] có nghĩa là ‘min, tôi’ (I), hoặc ‘tên nọ, tên kia’ chỉ trống khi không rõ
tên họ. Âm [mou] Quan thoại có nghĩa “nào đó, một vài”. Chữ kép [mo lian]
磨
练,
với [mo] rầt gần với âm [mỗ] có nghĩa rèn, luyện sắt/tính tình, thường
dịch qua tiếng Việt là ‘tôi luyện’, cho thấy có
lúc trong quá khứ ‘Mỗ’
và ‘Tôi’ được
dùng thay đổi qua lại lẫn nhau
Để
ý có nhiều chữ mới được tái tạo vào thế kỷ 20, thí dụ
[ma luyện] chữ này được cho rằng
có nguồn gốc Hán Việt, tương đương
với từ Quan Thoại [mo lian] mà không biết đến liên hệ Quảng Đông-Việt giữa
‘Tôi’ và
‘Mỗ.
Trong đoạn ‘những tương đồng qua khoảng cách' trong bài [2],
chúng tôi có nói về
những từ ngữ giống nhau dù ở hai địa điểm rất xa nhau,
Mỗ cũng gần với chữ ‘Moi’ trong
tiếng Pháp.
Mình: trong tiếng Mường và vài
nơi ở miền Trung, đọc là [Miềnh]. Hồi thế kỷ 17, đọc là [Mềnh] hay [Min] [3].
Mình cũng gần với [mi]
微
của Hẹ, [mei] Quảng Đông, và cả tiếng Anh [me]. Cơ bản, Mình dùng cho (thân
mình) [23]. Dần dần,
cách dùng thay đổi. Trong Tự điển Alexandre de Rhodes [3], Mình được cho
là cách xưng hô của người có điạ vị cao hơn người kia.
Ngày nay, có vẻ như Mình
được dùng cho những liên hệ thân mật. Đôi khi nó được dùng như đại danh từ ngôi
thứ hai, chẳng hạn như giữa vợ chồng: Mình ơi, mình ở đâu.
Mình cũng
có cùng nguồn gốc với [Ming] và [*minqu] trong tiếng
Mon-Khmer.
Ta/Tao: Rất chắc chắn là cả hai
‘Ta’ và ‘Tao’ có liên hệ mật thiết với những phương ngữ trong ngữ
hệ Mon-Khmer. Người Miến Điện gọi 'tôi' bằng
[Tjano] hoặc [Tjama],
tuỳ theo người nói là nam hay nữ. [Tjano] và [Tjama] cũng khá gần với ‘Ta‘.
Chữ chính trong tiếng Champa cho đại danh từ ngôi thứ
nhất là [Tahlă]. Cũng vậy, ‘Ta‘ có âm tương đương với
Hẹ [Tsa]
咱
, Quảng Đông [Zaa] và [Saa] [5], Phúc Kiến [Sa]
洒, đều
có nghĩa là Ta/Tao. Trong một tiểu chi Quảng Đông, [Zaa]
咱 đọc
là [gau] tương ứng với âm [Câu] của Tày-Nùng chỉ ‘Ta‘ hoặc ‘Tao‘, Boong Câu =
Bọn Tao.
Theo Hayes [6], ‘tao’ rất gần với tiếng Mon-Khmer [saqu]. Rất có thể ‘Tao’ là
một tiếng bao gồm cả hai âm ‘Ta’ (hay Tôi)
và tiếng Đa Đảo ‘Au’ cho
Ta/Tao” (coi bảng I).
Qua: ‘Qua’ có thể là một
đại danh từ ít được biết trong tiếng Việt, từ này thường bị hiểu lầm như là một
từ Nam Bộ. Thật ra, có nhiều từ cùng gốc ở nhiều nơi cách xa nhau. Trước nhất
trong tiếng Mưòng là ‘Qua’ hay ‘Wa’ cho đại danh từ ngôi thứ nhất ‘Tôi/chúng
tôi/Ta‘, nhưng thông thường hơn là dùng để chỉ ‘Chúng tôi/chúng ta‘
Tương tự tiếng Phúc Kiến/Hải Nam, [gua] để chỉ ‘Tôi‘. Tiếng Nhật có vẻ hợp cả 2
“Wa” và ‘Ta’ = Watashi vào một chữ dùng cho đại danh từ ngôi thứ nhất. Và cuối
cùng ‘Qua’ cũng có các từ cùng gốc trong hệ ngôn ngữ Mon-Khmer [6]: *aku, *nqua,
*iqua, *inquan, vv…
Một đại danh từ ngôi thứ nhất khá phổ thông trong tiếng Việt là ‘Anh’,
thường dùng khi người nói là anh lớn hay người lớn tuổi, có thể có liên hệ nguồn
gốc với từ [?ənh] hay [ănh]
hay [?inh] trong Mon-Khmer để chỉ ‘Tôi‘,
[enh] trong tiếng Mường, ‘Ani’ trong tiếng Nhật, hay xa
hơn nữa, ‘aîné’ trong tiếng Pháp.
Trong tiếng Mường, từ thường dùng cho Ta/Tao
là [Ho], có cùng nguồn gốc với tiếng Phúc Kiến
là [Hou]
予, Tày-Nùng
là [Hây]. [Ho] Mường có cùng âm với tiếng [o] Quảng Đông, cũng là một phát âm
khác của [ngo] 我
mà tiếng Phổ Thông (Trung Hoa) là [Wo] cho ‘Ta/Tao’
[15]. ‘O’ trong tiếng Việt có hai nghĩa ‘bà cô’ (aunt) hay cô gái (miss), cũng
có thể từ chữ [o] này của Quảng Đông.
Nghi vấn đại danh từ để hỏi ‘AI’, (Who trong tiếng Anh) đã được bàn đến trong
[1] & [2]. ‘Ai‘ có cách đọc khác là [Ngai], trong tiếng Hẹ, nghĩa là ‘Tôi’ /’Ta‘
có âm giống nhiều ngôn ngữ khác trong vùng như:
- [Ai] : Mạ ở miền Trung Việt Nam, Khả sinh sống dọc biên giới Lào-Việt
- [Atashi]: Nhật (có thể dùng cho phụ nữ)
- [Aku]: Malay
- [Au]: Maori, Tahiti và Fiji, thuộc ngữ hệ Đa Đảo
Cách đọc [Ngai] trong tiếng Hẹ có lẽ đã được chuyển biến từ ngôi thứ nhất sang
ngôi thứ hai, để gọi người khác một cách kính trọng, kiểu “thưa ngài” hay ‘Your
Excellency’ trong tiếng Anh. Các âm tương tự như [Ngai] trong một số phương ngữ,
kể cả tiếng Mường tương đương với từ ‘người’, để chỉ một người hay loài
người [19].
2. Đại từ cho ngôi thứ hai: anh/em,chú cậu/cô dì……
Đại từ ngôi thứ hai cho thấy ảnh hưởng văn hóa rất mạnh trong liên hệ bà con
thân thuộc và hệ thống xưng hô theo nguyên tắc kính trọng trên dưới, in hệt như
trong tiếng Môn-Khmer hay những ngôn ngữ khác trong vùng. Giống như đại
danh từ Ta/Tao, có thể dùng bất cứ danh từ nào chỉ người bà con hay người
khác với người nói, như đã trình bày ở trên: Anh/Em,
Ông/Bà, Cô/Chú, ông Nội/ông Ngoại, bà Nội/bà Ngoại [8]
v.v….
Theo Gilbert và Hang [7], tiếng Khmer có tới 17 chữ dùng cho ngôi thứ hai, tuỳ
theo liên hệ gia đình, họ hàng và vị trí trong xã hội. Trong số các từ, tiếng
dành cho cha là [bpaa], cho chú là [bpuu]. Cả hai tiếng Khmer và tiếng Việt
giống nhau, không những về nghĩa mà còn được dùng rất rộng [2], [Bhpaa] nghĩa là
cha và [Bpuu] nghĩa là ‘Chú' theo nghĩa rộng không chỉ để gọi em ruột của cha,
còn chỉ một người đàn ông (có liên hệ họ hàng hay không) lớn tuổi gần bằng cha
mình.
Anh trai của cha gọi là
bác, có thể từ
chữ ‘Ba’. Cha và Chú cũng có liên hệ như vậy, hoặc [Bpaa] và [Bpuu] như
trong tiếng Khmer. Để ý Bác và Cậu rất giống với [Baak] và [Kau]
trong tiếng Quảng Đông, trong khi ‘Chú’ có thể là do sự gộp chung các âm
[Bpuu] Cambodia, [chek] Phuc Kien và [shu] Quan Thoai. (shu]
叔
(tương đương với ‘Thúc’
trong tiếng Nôm, và [suk] trong tiếng Quảng Đông và Hẹ.)
Vợ của Chú, gọi là
‘Thím’ tuơng đương với âm [tsim] Hẹ, và [chim]
嬸Mân
Nam. ‘Cô’ bắt nguồn
từ [ku] Chiết Giang, hay [kou] {姑}
Phúc Kiến, trong khi ‘Dì’
laị bắt nguồn từ [yi] 姨
Quan thoại, Hẹ, Quảng Đông và Phúc Kiến [I]. Vợ của cậu, ‘Mợ’, có nguồn
gốc từ [kau-mou] [13].
Hệ
xưng hô dựa vào liên hệ gia đình và vị trí trong xã hội của tiếng Việt cũng có
vài sự giống nhau với các đại danh từ trong tiếng Quảng Đông cũng như tiếng
Mường. Có một ngoại lệ, đó là [Nei] (Ni) Quảng Đông, hay [Da] Mường, dùng rất …
thoải mái cho ngôi thứ hai, dù lớn hay nhỏ, địa vị cao hay thấp cũng đều dùng
được cả.
Da
ti no? Mày đi đâu?.
Da ăn chi? Anh ăn gì? [9]
Giống
từ [nong] 儂trong
Quan Thoại chỉ ‘Tôi‘ hay ‘anh ấy/cô ấy/nó’, và ‘Anh’ trong các tiếng thổ âm
Thượng Hải, Ngô, [Da], hay [za] hoặc [ya] hoán chuyển giữa các đại danh từ ngôi
thứ nhất, thứ hai và thứ ba có thể được xem là sự hoán chuyển trong lãnh vực
diễn giải trừu tượng, thường thấy ở các ngôn ngữ trong giai đoạn đầu thành hình,
trong sự trộn lẫn của các ngôn ngữ hay thổ âm của các dân tộc khác nhau [10].
Đôi
khi, có thay đổi của từ vựng, thí dụ ‘Da’, trong tiếng Hẹ [za] cho ngôi thứ nhất
[24] và ngôi thứ ba, còn [ya] trong tiếng Việt chỉ dùng cho ngôi thứ ba (Bảng
I).
Giống
như [nong] 儂
trong tiếng Phổ thông cho Ta/Tao, ông ấy/bà ấy, hoặc ông/bà trong phương ngữ
Thượng Hải/Ngô, sự thay đổi của [Da] hay [za] hay [ya] giữa đại
danh từ ngôi thứ nhất, thứ hai và thứ ba có thể được cho là do sự biến đổi ẩn dụ
trừu tượng, thường thấy ở các ngôn ngữ trong giai đoạn thành hình, do sự pha
trộn ngôn ngữ của các nhóm dân tộc.
Có lẽ
các từ phổ thông nhất để gọi trong tiếng Việt, dùng để chỉ sự kình trọng là
“Ông/Bà”. Ông, có hai nghĩa: Một nguời đàn ông, hay ông nội/ngoại, có
liên hệ gốc với tiếng Champa [Ông], [Ù] trong tiếng Miến Điện, hay trong tiếng
Thái [Ong] để tôn kính các địa vị tuyệt đối như nhà vua hay các bậc tu hành.
Trái lại, Bà, để gọi Mẹ, phụ nữ trọng tuổi, hoặc tỏ sự kính trọng, ví dụ
như trong [iBu] (Indonesian), [poo ying] Thai, [Ba] Miến Điện, [Bawng] Khmer, và
rất nhiều phưong ngữ ở Hoa Nam có cùng âm [Pu] hay [Bu], hay thừong thấy nhất,
[Bo] (ví dụ [lao bo] để gọi vợ).
Tiếng
Việt cổ có đại danh từ chung cho cả nam hay nữ, [Bạu] [3] sau này biến từ thành
‘bậu bạn’ hay ‘bạn’ ngày nay dùng cho bạn bè hay người quen biết
sàn sàn bằng tuổi nhau. Bạn, thật ra có liên hệ với tiếng Khmer
[bouung] và Quảng Đông [pang]
朋. Từ đôi
‘Anh em’ (như trong ‘người anh em’), bắt nguồn từ tiếng Trung Hoa
[xiong di] (huynh đệ), nghĩa là anh hay em ruột [8].
Một
đại danh từ ngôi thứ hai dùng cho nguời kém hơn trong địa vị xã hội là ‘Mày', có
thể bắt nguồn từ ‘Bây’ (Bay, [3]), vì cả hai [M] và [B] đều là âm
môi. Tự điển Alexandre de Rhodes [3] ghi chú là từ ‘Bay’ không
được dùng so với từ ‘Anh em'. ‘Mày’ rất gần với ‘Mi’, có
thể là biến dạng của [Mi] của tiếng Hẹ hay tiếng Việt [Min/Mình] vốn dùng để chỉ
ngôi thứ nhất (Bảng I)
Về
âm, EM [21], rất gần về âm với ‘Ủn’ Mường, và ‘Imoto’ Nhật cho em gái.
‘Em’ cũng có thể liên hệ với ‘Enh’ (Mường) chỉ người nam lớn tuổi hơn,
hay [?ənh] trong tiếng Mon-Khmer. Về nghĩa, ‘Em’
bắt nguồn từ ‘em bé’ hay ngừoi còn trẻ, tương đưong với tiếng Thái [awn].
‘Em’ cũng cùng gốc với [eN] trong tiếng Mân Nam (Phúc Kiến), [ei]
Hán-Nhật, [er] Quan Thoại [5] [11] [12]. Chị, cùng gốc với [*tsi] hay
[*ci(q)] hay [*ji(q)] trong tiếng Mon-Khmer [6], và [tsi] Ngô-Triết Giang,
[chia] hay [che] trong tiếng Mân Nam (Phúc Kiến) [5].
3. Đại từ cho ngôi thứ ba: Cậu/Anh/Ông ấy, Chị/bà ấy, Nó …
Đại
từ ngôi thứ ba số ít cho thấy đóng góp của các ngôn ngữ hay phương ngữ khác nhau
trong quá trình hình thành tiếng Việt.
Như chúng tôi đã có dịp trình bày [2], nhiều từ có nghĩa tương
tự, và sự hiện diện của một số từ kép trong hệ thống đơn âm của tiếng Việt cho
thấy có thể có sự pha trộn các dân tộc và ngôn ngữ trong quá khứ.
Vi dụ,
động từ ‘ném' (‘To throw’) và ‘khiêng’ (‘To carry’). ‘Ném‘ có ít nhất 8 động từ
tiếng Việt tương đương: Ném, Liệng, Quăng, Chọi, Đôi, Thảy, Vứt, Phóng..
mỗi từ được cho thấy có sự liên hệ với các ngôn ngữ và thổ âm khác nhau trong
vùng [2]. Động từ ‘Khiêng‘ (‘To carry’ or ‘to bring’) lại cho khoảng 30 chữ
khác: ẵm, bồng,
bế, mang, đem, chở,
đèo, tải, vác, khuân, khiêng, xách, kèm, chuyển-vận, chuyên-chở, đeo, cầm, dẫn,
đái (đới), đảm, công kênh, ôm, cõng, quảy, gánh, bê, độ, cáng-đáng,
tha, bưng, mang, đội, kẹp…
có thể được xếp vào các nhóm dựa vào nguồn gốc ngôn ngữ khác nhau. Nhiều chữ
“kép” cũng rất phổ thông và bắt nguồn từ nhiều ngôn ngữ khác như: đường
xá, chín muồi, thân thể, thẳng tắp, chia sẻ, tâm địa, chậm trễ,.. vv…
Để
làm rõ hơn, chúng ta hãy xem hai từ kép ‘đường xá’ và‘chín muồi’.
Trong ‘đường xá’ thì chữ (Đường) có xuất xứ từ [dou] và [dung]
trong tiếng Quảng Đông, trong khi (xá) cùng gốc với [sala] Chiết Giang và
[salan] Champa. Chín trong ‘chín muồi’ có thể là một hợp âm từ ba
chữ [drih] Champa, [tsing] Quảng Đông và [chheN] Mân Nam (Phúc Kiến, Triều
Châu). Tuy vậy, hai âm [tsing] và [chheN] có vẻ là một hoán chuyển về ý nghĩa:
“còn xanh” = chưa chín. Trái lại, Muồi có thể đến từ chữ [hmède] Miến
Điện và [momoho] Tongan. Cũng rất ngộ nghĩnh khi Muồi có vẻ liên hệ đến
‘mûr’trong tiếng Pháp ‘mûr’, và [mudirnda] trong tiếng Tamil.
Đặc tính của các ngôn ngữ láng giềng trong tiếng Việt, như đã bàn ở trên, được
thấy rõ trong đại từ ngôi thứ ba số ít. Tiếng Việt đại danh từ ngôi thứ ba
thường ít phân biệt giới tính, dù rằng có nhiều chữ hơn, theo thói quen, cho
cánh đàn ông: hắn, kẻ, gã, y, va (ya). Tuy nhiên, khi dùng chung với
‘này/nọ, kia/ấy’, giới tính được giới thiệu rõ ràng, thí dụ như: Ông kia,
Cô ấy, Bà nầy, Anh nọ …
Đại danh từ ngôi thứ ba được dùng nhiều và phổ thông nhất có lẽ là từ Nó,
được dùng cho cả người (mọi giới tính) và thú vật, như chim, cá. Nó có
cùng gốc với từ [Nả] Mường, [Nws] Hmong {đọc như [Neu]}, [Ne] Tongan, and [Nong]
trong tiếng Hoa Phổ thông. Chữ [Nong] có thể là “tôi, anh/chị, anh ấy, chị ấy”
trong tiếng Thượng Hải. Người P’u-Noi sống gần biên giới Lào-Việt, cũng dùng
[No] [2] như tiếng Thượng Hải [Nong] và giống hệt âm tiếng Việt [Nó].
Hắn, có thể dùng gọi
người không được mấy cảm tình hay chế nhạo. ‘Hắn’ có thể từ [Hang]
牼Quảng
Đông, có nghĩa ‘đàn ông’. [Hang] rất gần với vài phương ngữ Việt như [Héng].
Hắn cũng gần với tiếng Quảng Đông [Heoi], và cũng có liên hệ với ‘Họ’,
ngôi thứ ba số nhiều trong tiếng Viêt. Tiếng Muờng, trái lại, dùng ‘Ho’
(không có dấu Nặng) [16] cho Tôi/Tao. Môt tiếng Mường khác rất phổ thông
để chỉ đại danh từ ngôi thứ ba là ‘Lũ’, giống như tiếng Việt ‘Bọn/Chúng’.
‘Lũ’ cũng có cùng âm với [lei] [5]
娌, tiếng
Ngô (Triết Giang), có nghĩa cô ấy/cậu ấy, ph át âm nh
ư [lei] trong ti ếng Qu ảng Đông [5]. Cũng là điều thú
vị, vì ‘Lũ’ cũng giống âm tiếng Pháp ‘lui’, (bảng [1]), trong khi ‘Y’ và Hắn
(hoặc [heoi] tiếng Quảng Đông) giống ‘Il’ trong tiếng Pháp hoặc He/Him
trong tiếng Anh.
Kẻ và Gã có âm giống
[Ke] và [Goat] trong tiếng Cambodian, và cùng gốc với [Kei], [Keoi] and [Gei] (其
渠)
Quảng Đông. ‘Kẻ’ đồng thời cũng liên hệ với [Koj] Hmong (ngôi thứ hai) và
[kow] Champa (ngôi thứ nhất). Kẻ, đọc là Ké trong tiếng Mường
có âm giống [Ko ia] Rapanui (sắc dân Đa Đảo ở vùng đảo Easter Island) và [O
KOya] Phúc Kiến, cùng dùng cho ngôi thứ ba ‘Ya’.
Y và Va đọc là [Ya], rất
phổ biến trong miền Nam. Cả hai có âm giống nhiều ngôn ngữ trong vùng. ‘Y’
từ: [yi] 伊,
Quan thoại, [Y] Hẹ, [I] Phúc Kiến, [Ee] Hải Nam, [I] Hán- Hàn, [I] Mon-Khmer.
‘Y’ trong Quan thoại cũng có nghĩa là ‘ấy'.
‘Va’ thật ra là chữ quốc ngữ đánh vần sai vì muốn gộp cả 3 âm
[W], [V], [Y] (hoặc [By] {[b]})
của các miền vào làm một chữ [V] duy nhất. ‘Bya’ rất thông dụng ở miền Nam, phát
âm [Ya] hay [Bya] ([ba]).
Phát âm [Ya] hay [ba]
cho đại danh từ ngôi thứ ba tương ứng giống với [za] Hẹ, [Dia] hay [Ia], Mã Lai,
[niya], Tagalog (Phi Luật Tân), [Eya], Sinhalese và [Ia], Đa đảo (Polynesian).
[Ta]
他 phổ
biến nhất trong tiếng Trung Hoa theo nghĩa “bà ấy/ông ấy”, không có trong tiếng
Việt, ngoại trừ ‘Tha Nhân’ với chữ ‘Tha’ thường bị tưởng lầm là
chữ Hán-Việt, nhưng thật ra, có phát âm Phúc Kiến [tha], hoặc Ngô (Triết Giang)
[Tha]. Tiếng Tày-Nùng có âm [Te] [14] [15], xuất phát từ [Ta] để chỉ
“bà ấy/ông ấy”.
Cái, Kia, Ấy, Nầy, Nọ, Nớ:
Cái thường được dùng trong tiếng Việt như mạo từ đếm [13]. Ví
dụ: 1 cái bàn, 6 cái ghế…‘Cái’ thường được cho là chữ
Nôm mượn từ Hán-Việt ‘Cá‘ có nguồn gốc từ tiếng Quan Thoại [Ge]
個. Thật
ra, cả hai ‘Cá’ và ‘Cái’ có âm giống hệt từ tiếng Hẹ: [Ka] và
[Kai], tương đương với Quan Thoại [Ge] [5] và Hán-Hàn [Kay] [5], là từ đếm bổ
xung cho (này, ni) hay (nọ, kia, ấy).
Kia, Ấy, Nầy, Ni, Nọ, Nớ… đều
có cùng môt âm với các phương ngữ Hoa Nam. Kia
rất gần với其
[kia] Hẹ - cùng chữ giống như Kẻ
và Gã. Ấy tương đương với ‘Y’
伊, có
cả hai nghĩa ‘ấy’ và ‘ông ấy/bà ấy’. (Ấy tương đương với Ái trong Tày/Nùng
[15] [18]). Ấy cũng
cùng âm và gốc vói Mon-Khmer [?a:y].
Nầy, Ni, Nọ, Nớ v.v... có cùng âm với nhiều từ Nam
Trung Hoa mang nghĩa Nầy, Nọ. Thí dụ [nei] Quảng Đông & [ni]
呢 Hẹ nghĩa
là cái này; và那
Hẹ & Quảng Đông [no], [naa] {cái kia}. Ngoài ra “Nầy (Ni)” and “Nọ (Nớ)” cũng
giống như [nih] và [nuh] tiếng Cambodian cho cái này và cái kia.
Bảng I: Đại danh từ, số ít
|
Ngôn ngữ |
Ngôi thứ nhất |
Ngôi thú hai |
Ngôi thứ ba |
Ghi chú |
|
Việt |
Tôi, tớ, tui, mỗ,
ta, tao, mình, qua, em, anh, chú, bác, … |
Anh, chị, mầy,
mi, cô, chú,bác,ông, bà, cụ, … |
Nó, cô ấy, anh ấy,
hắn, kẻ đó, gã, y, va (ya), … |
Tên riêng có thể
dùng như đại danh từ.
Mon-Khmer: ?anh
(anh), saqu (tao), nqua (qua), min (mình) |
|
Mường |
Ho, qua, ha, thôi |
Da, enh, ủn, ông,
… |
Nả, lũ, enh đỉ,
ông đỉ, mễ đỉ, … |
Ha = ta; miềnh =
mình;
ủn= em; đỉ= đó;
enh=anh |
|
Tày-Nùng |
Hây, câu, noọng
|
mầu, pỉ, chai |
Te, mền, ... |
Noọng=tôi (con gái)
Hô= tôi (con trai) |
|
Champa |
Kow, tahlă’ |
Hư
|
Nhu
|
Tahlă’ => ta |
|
Korean |
Nae,na,che, cho |
Dangsin,no |
Kubun,kunyo, ku |
Gu-saram: nguời
đó |
|
Hmong |
Kuv
|
Koj * |
Nws [neu]* |
Koj ~ keoi (QĐ)
ngôi thứ ba |
|
Hẹ |
Mi, ngai, ai, chit,
sa, za, tsa |
Ni, ngi, li, gwi,
nai |
Ta, zih, zu, ix, za |
Chit{Hẹ}~Cháu(Việt)
Za => ta.
Mi => Mình |
|
Phổ thông quan
thoại |
Wo, yu,… |
Ni, nin |
Ta, tuo, zhi |
TA: Tha nhân=
|
|
Quảng Đông |
Ngoh, mau, o,
mei, jyu, tseoi, zaa, gau |
Nei, lei, joek |
Ta, zi, kei, keoi, heoi |
Tseoi => tôi
Zăa = anh+tôi, tôi => ta
Gau => câu
(Tày-Nùng) |
|
Phúc Kiến |
Sa, gua, hok,
hou, bi |
Ni,kui, joa, Li |
Tha, chi, I [ee] |
Sa ~ ta. Gua
~ qua
[Bi] => [Mi] / bỉ
nhân ) |
|
Hải Nam |
Gua
|
Du |
Y [ee] |
Y ~ He (English),
Il (French) |
|
Persian |
Man
|
Shoma
|
U
|
~ giống nhau |
|
Hindi |
Ma
|
Aap
|
Yeh, voh* |
*yeh/voh= nầy/ nọ |
|
Miến Điện |
Cănaw, Tjano(M)
Cămá, Tjama (F) |
K’ămyà(M) shin
(F) |
Thu / thu
|
Vai trò, liên hệ,
nghề nghiệp
tjano => ta |
|
Thai |
Chan
|
Khun
|
Khao/Thur/Mun |
Khao ~ keoi (QĐ)
ngôi thứ ba. |
|
Khmer |
Kh’nhom |
Nek, boong |
Goat, ke |
Nhiều cách gọi
nguời thứ hai |
|
Malay /
Indonesian |
Saya
|
Anda,kamu suadara |
Dia, ia
|
‘Ia’, ‘Ya’
(Polynesian, Tagalog) ~ Việt [ya] {va}. |
|
Rapanui
|
Ko au |
Ko koe |
Ko ia |
‘Ko ia’ ~ Phúc
Kiến ‘o koya’ |
|
Fiji |
Au, u |
Iko
|
O koya |
Au ~ ai Hẹ,
ai Việt. |
|
Samoa |
A’u / ‘ou |
‘oe / ‘e |
‘o ia |
Ia (Samoa) ~ ya
(Việt) |
|
Tonga |
Au, ku, u |
Ke, koe |
Ne, ia |
Ia (Tonga) ~ ya
(Việt) |
|
Tahiti |
Au / vau |
‘oe |
‘oia / ‘ona |
Au ~ Hẹ / Việt
‘Ai’ |
|
Tagalog |
Ako, ko, sa akin |
Ka, mo, sa iyo, ikaw |
Siya, niya, sa
kaniya |
(ni)ya / (kani)ya ~
ya (Việt) |
-
~ có nghĩa ‘tương đương’ hay
‘gần giống
-
Koj => keoi (Quảng Đông) => Kẻ / Gã (Việt) – Nws => Nó
(Trai/gái)
-
Ta => Tha nhân (người khác)
-
Trong nhiều ngôn ngữ, thí dụ Hindi, để từ (yeh/voh) Nầy,
Nọ trước danh từ sẽ tạo thành đại danh từ ngôi thứ hai/thứ ba.
Bảng II: Đại danh từ, số nhiều
|
Ngôn ngữ |
Chúng tôi (bao
gồm) |
Chúng tôi
(phân cách) |
Ông/bà,
anh/chị… |
Họ, chúng nó |
Ghi chú |
|
Việt |
Chúng ta, tụi
mình, bọn mình |
Chúng tôi, hai
đứa tôi, bọn này,… |
Các anh/ chị,
Chúng bây, quý
ông,… |
Chúng nó, họ, bọn
ấy, bọn nó, đám đó, các cô ấy,… |
Liên hệ/ tên gọi/
vai trò |
|
Mường |
Tàn miềnh, tàn ha |
Qua, chủng thôi |
Tàn pay, chủng
ỗi, chủng da |
Tàn nả, hõ, tàn
lũ, pẫu |
Tàn=chúng
Ha=ta
|
|
Tày-Nùng |
Boong Hây |
Boong Câu |
Boong Mầu
|
Boong Te |
Boong=Bọn |
|
Champa |
Khol ita, khol
trey
Chúng ta
(V) |
Khol tahlă’ [20] |
Oy’ [ụơk] |
Khol nhu [20]
|
Oy’:
nàng
|
|
Korean |
Uri, uri ga |
Uri
|
Dangsin, nohidul
|
Gu-saram,gu-got,
kudul |
Không có đại danh
từ |
|
Hmong |
Peb / ob (2) leeg |
Nej, neb (2) |
Nej, neb (2) |
Lawv, nkawd (2) |
Nej ~ Ni
|
|
Hẹ |
Zam, za |
Ngai-teu |
Ixtngix
|
Zu, zhi |
Za ~ ta |
|
Phổ thông Quan
thoại |
Zan-men,Wo-men |
Wo-men |
Ni-men |
Ta-men |
Đàn ông: số nhiều |
|
Quảng Đông |
Ngoh-deih |
Ngoh-deih |
Neih-deih |
Keui-deih |
Không có baogồm/
phân cách |
|
Phúc Kiến |
Lan
|
Gun
|
Lin
|
?In |
|
|
Hải Nam |
Gua-mui |
Gua-mui
|
Du-mui |
Y-mui (ee-mui) |
Không phân biệt
bao gồm/
phân cách |
|
Persian |
Ma |
Ma
|
Shoma
|
Ishan
|
Ma ~ đàn ông |
|
Hindi |
Ham
|
Aap
|
Ye, ve |
Ye / ve= these,
those |
Cái này/
Cái nọ =>
đại danh từ |
|
Miến Điện |
Cănaw-dó(M),
cămá-dó (F) |
Cănaw-dó(M),
cămá-dó (F) |
K’ămyà-dó(M),
shin-dó (F) |
Thu, thu-dó |
[dó] dùng cho số
nhiều |
|
Thai |
Pouk Rao |
Rao |
Pouk Khun |
Pouk Khao |
| |