|
Thiên nhiên với sự đa dạng sinh học là một biểu tượng của sức
sống vạn năng trên trái đất mà con người là một trong muôn ngàn sinh vật. Con
người đã biết tận dụng những tài nguyên thiên nhiên trong cuộc sống và phải
tranh đấu sống còn với các sinh vật khác trong môi trường cạnh tranh tiến hóa.
Từ ngàn xưa, bệnh tật là một hiểm nguy đáng sợ đe doa và cắt ngắn cuộc sống của
con người. Ngoài sức đề kháng tự nhiên, con người cũng tìm nhiều cách để trị
bệnh kể cả dùng những mê tín nghi lễ thần chú sơ khai để đuổi bệnh. Trong lịch
sử các nền văn minh, y sĩ, thầy thuốc là những người được quý trọng trong xã
hội. Hầu như mỗi dân tộc đều có y học truyền thống để lại qua nhiều thế hệ từ
sách vỡ hay truyền khẩu. Mặc dầu hiện nay y học truyền thống thường không phổ
biến và có nhiều hiệu quả so với y học hiện đại nhưng y học truyền thống đã có
vài thành quả lớn ảnh hưởng ngay cả đến y học hiện đại. Châm cứu là một thí dụ
điễn hình cũng như thần dược thanh thảo trị bệnh sốt rét mà y học hiện đại cũng
bó tay vì ký sinh trùng gây bệnh sốt rét đã nhờn các loại thuốc chống sốt rét
dùng trước đây.
Thanh thảo (artemisisa annua) bắt nguồn từ Á châu (Trung quốc,
Việt Nam), hiện nay là một loại cây rất phổ thông có mặt ở nhiều nơi trên thế
giới, mọc tốt ở khí hậu ôn đới hay cao nguyên. Có thể tìm thấy ở các cánh đồng,
nông trại, bờ rừng, dọc đường, trên bùn gần bờ sông, rạch... Ở nhiều nơi, chúng
trở thành một loại “cỏ dại”. Theo truyền thuyết Trung quốc, trong những cây dược
thảo ngoài các cây gạo, kê dùng trong canh nông, thì vua Thần Nông có cho biết
là thanh thảo là một dược thảo trị bệnh sốt (fever) tốt. Trong một mộ cổ thời
Hán (168 BC) khai quật được ở Mawandu, người ta tìm thấy một tập sách gọi là
“Phương thức chữa trị 52 loại bệnh” trong đó có nói về cây thanh thảo. Tập sách
y học nổi tiếng nhất là của Xue-Meng (1719-1805) cũng khẵng định cho là thanh
thảo chữa dứt bệnh sốt nóng và lạnh (1).
Cây thanh thảo thuộc họ (genus) Artemisia gồm hơn 300 loài, trong
số đó có Artemisia annua (thanh thảo), Artemisia absinthium (ngãi tây loại
đắng). Artemisia absinthium, một loại cây ngãi tây đắng, được dùng làm thuốc sổ
lãi trong ruột non và thuốc trừ côn trùng. Thanh thảo, như ta biết, có tác dụng
chống sốt rét nhưng chưa được nhiều người biết cho đến khi gần đây.
Năm 1967, chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung quốc, thực hiện chính
sách nghiên cứu chữa bệnh bằng y học truyền thống (đông y). Điều này đòi hỏi xem
xét phân tích tất cả các thảo vật được dùng trong thuốc y học truyền thống. Như
vậy là có khoảng từ 3,000 đến 5,000 loại thảo vật và các loại tập hợp khác nhau
giữa những thảo vật này. Vì thế đây là một công trình rất lớn vẫn còn kéo dài
cho đến tận ngày nay.
Ở Trung quốc, bệnh đáng quan tâm hàng đầu trong thập niên 1960 là
bệnh sốt rét, thường xảy ra ở phía tây nam Trung quốc nhất là vào lúc mùa mưa.
Nghiên cứu lúc đầu cho thấy thanh thảo có tác dụng chống ký sinh trùng sốt rét.
Nhưng hợp chất gì trong thanh thảo chủ yếu hiệu nghiệm chống bệnh sốt rét ?.
Những nghiên cứu để tách ra hợp chất hữu hiệu chống sốt rét đã không thành công
cho đến năm 1971 khi hợp chất này được tách ra thành công từ thanh thảo dùng
diethyl ether. Hợp chất tách ra này chữa lành chuột khi chúng bị nhiễm ký sinh
trùng Plasmodium berghei. Một năm sau, các nhà khoa học thành công tách ly biệt
lập tinh chất kết tinh của hợp chất với cấu trúc hóa học gọi là artemisinene.
Hợp chất artemisinine chống ký sinh trùng sốt rét này thuộc loại terpene, chứ
không phải là loại alkaloid hay amine. Hiệu suất lấy artemisinin từ thanh thảo
là từ 0.01 đến 0.5% trọng lượng cây. Theo các nhà nghiên cứu Trung quốc thì hiệu
xuất cao nhất là từ cây thanh thảo ở tỉnh Sichuan. Năm 1979, nhóm nghiên cứu sốt
rét Trung quốc, đã có một cuộc thử nghiệm lâm sàng dùng artemisini trên 2,099
bệnh nhân (1). Một kết quả không tưởng: tất cả đều trị hết bệnh sốt rét. Thêm
nữa, artemisinin dùng trên 143 bệnh nhân sốt rét với ký sinh trùng đã nhờn thuốc
chloroquine và 141 bệnh sốt rét màng óc với kết quả khả quan. Sau thử nghiệm lâm
sàng này, nhiều thử nghiệm kế tiếp ở Trung quốc và Đông Nam Á cho những kết quả
tương tự. Ở Việt Nam, trong một thử nghiệm lâm sàng năm 1993 (4), với 638 bệnh
nhân, dùng thuốc uống artemisinin cho thấy trong vòng 24 tiếng, 98% ký sinh
trùng sốt rét biến mất. Trong nhóm bệnh nhân dùng thuốc trong 5 ngày, chỉ có 10%
là ký sinh trùng xuất hiện lại. Thuốc artemisinin hiệu nghiệm chống cả hai loại
ký sinh trùng sốt rét falciparum và vivax. Trong một thử nghiệm khác vào năm
1999 (5), kết quả tốt nhất là dùng artemisin và sau đó quinine trong 3 hay 5
ngày sau.
Đầu thập niên 1980, Ngũ Giác Đài thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ ở
Washington nhận ra là Trung quốc đã có thuốc thanh thảo chống sốt rét và vì thế
sẽ có lợi thế trong quân sự nếu chiến tranh xảy ra. Nhất là lúc ấy ký sinh trùng
sốt rét plasmodia đã nhờn các loại thuốc quinine, chloroquinine. Bộ Tổng tham
mưu Mỹ đã nhờ viện nghiên cứu Walter Reed Institute của quân đội tìm ra bí mật
thuốc thanh thảo và nếu được thì có nơi nào ở Mỹ có cây thanh thảo. Câu trả lời
là nằm ngay trước cửa Ngũ Giác Đài. Trong những vùng dọc sông Potomac chảy qua
tiểu bang Maryland vào Washington sau đó ra biển thì cây thanh thảo mọc nhiều
nơi dọc hạ lưu sông và trong lòng chảo Potamac. Sự hốt hoảng của Ngũ Giác Đài
biến mất nhanh chóng. Thật ra thanh thảo đã được các nhà thực vật Mỹ biết nhiều
trước đây, sau khi cây này được du nhập từ Trung Đông và Á châu vào thế kỷ 19.
Những người lập nghiệp ở Mỹ lúc đầu đã dùng thanh thảo làm mứt ướp và cho thêm
gia vị. Sự gấp rút tìm thanh thảo của chính phủ Mỹ giống như sự hăm hở cố tâm
tìm kiếm vỏ cây cincona (làm thuốc quinine) của các nước Anh, Pháp, Hoà Lan vào
thế kỷ 18 và 19, để khỏi bị Tây Ban Nha chế ngự khi nước này nắm độc quyền có
cây cincona ở Nam Mỹ. Lúc đó bệnh sốt rét là một thảm họa gây tổn thất về nhân
mạng, kinh tế tài chính rất cao. Hoà Lan đã gởi lén người vào Nam Mỹ đánh cắp
giống cây Cincona, các cây bị đánh cắp này được dùng để làm cây giống xây dựng
đồn điền lớn ở Java trồng Cincona, phá đi sự độc quyền thương mại của Tây Ban
Nha sản xuất thuốc quinine, lúc đó rất đắt và khan hiếm.
Trên các lục địa thì Phi châu là nơi mà nạn nhân bệnh sốt rét
nhiều nhất. Theo thống kê cứ mỗi 30 giây là có một trẻ em chết vì bệnh sốt rét
và mỗi năm có từ 300 đến 500 triệu người bị nhiễm ký sinh trùng sốt rét.
Artemisinin là thuốc mang hy vọng lớn nhất trị bệnh sốt rét hiện nay. Ở Tanzania
hiện nay có những đồn điền trồng cây thanh thảo ở khắp nước này. Dọc biên giới
Thái Lan-Miến Điện, bác sĩ Francois Nosten thuộc nhóm nghiên cứu sốt rét Shoklo
đã dùng artmisinin (và mefloquine) trị bệnh sốt rét rất hiêu quả cho những người
tị nạn từ năm 1991. Ký sinh trùng sốt rét Falciparum hầu như đã nhờn các thuốc
tiêu chuẩn chống sốt rét ở vùng này. Lúc đó artemisinin chỉ mới bắt đầu được áp
dụng sau những thử nghiệm lâm sàng ở Trung quốc. Tổ chức Wellcome Trust đã tài
trợ cho bác sĩ Nosten và giáo sư Nick White ở Thái Lan từ những ngày đầu khi
giáo sư Nick White trường đại học Mahidol biết được những thành quả ở Trung quốc
vào năm 1979 khi tình cờ đọc một bài báo cáo khoa học đã cũ kỹ nhăn nheo viết
bằng anh ngữ từ một tạp chí y khoa trung quốc. Giáo sư White đã liên lạc và đến
Quảng Châu nơi nhóm nghiên cứu trung quốc phát hiện artemisinin để học hỏi và
trao đổi. Ông đã được nhóm nghiên cứu Trung quốc tặng một lọ thuốc thanh hảo
mang về Thái Lan. Tổ chức Wellcome Trust định phân tích và nghiên cứu thành phần
cấu tạo thuốc trong lọ nhưng bị một số quan chức y khoa phương Tây ngăn cản vì
họ muốn tự chế tạo ra thuốc bằng phuơng pháp của mình. Nhưng kết quả không đến
đâu nên đến cuối thập niên 1980, giáo sư White bắt đầu nhập các viên thuốc uống
và thuốc chích từ Trung quốc và hợp tác với bác sĩ Nosten để chữa trị sốt rét
cho các người di tản ở biên giới Thái Lan-Miến Điện. Gần đâ được sự trợ giúp
4.7US triệu đô của tổ chức Bill and Melinda Gates Foundation, chương trình trị
bệnh sốt rét bằng artemisinin của bác sĩ Nosten đã nới rộng cho toàn tỉnh Tak ở
tây bắc Thái Lan. Những kết quả hữu hiệu từ bao năm ở đây bây giờ mới được thế
giới chú ý đến và chính thức áp dụng mặc dầu sự kiện này được biết trong giới y
khoa bệnh truyền nhiễm.
Tháng 5 2004, tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỷ Thế giới chống
bệnh AIDS, lao phổi và sốt rét đã chính thức chấp thuận artemisinin là thuốc
chống sốt rét hữu hiệu, đồng ý mua và phân phối 1 triệu liều artemisinin cũng
như huỷ bỏ đơn đặt mua những thuốc chống sốt rét không còn hiệu nghiệm. Tuy
nhiên mới đây vào cuối năm 2005, WHO cũng kêu gọi các công ty thuốc ngưng tiếp
thị và bán thuốc chỉ một loại trong lúc trị sốt rét. Và dùng artemisinin cùng
với thuốc chống sốt rét khác như mefloquine, chloroquinine cùng một lúc để phòng
hờ sự xuất hiện sau này của ký sinh trùng sốt rét nhờn thuốc artemisinin.
Artemisin hiệu nghiệm chống ký sinh trùng sốt rét như sau: khi ký
sinh trùng sốt rét xâm nhập tế bào máu hồng huyết cầu và tiêu thụ 25% chất
hemoglobin trong hồng huyết cầu, tuy vậy chúng không phân hóa phân tử heme (chứa
sắt) mà chứa phân tử sắt ở môt dạng polymer gọi là hemozoin. Khi artemisinin
phản ứng với sắt ở hemozoin, chất sắt biến artemisinin thành một đốc tố, thả ra
các chất hóa học gốc (radical) tự do phản ứng nhanh chóng giết chết ký sinh
trùng. Mặc dầu artemisinin đã được dùng khá lâu ở Trung quốc và Đông Nam Á nhưng
vẫn chưa thấy sự xuất hiện của ký sinh trùng nhờn thuốc artemisinin. Lý do có
thể là sự phá huỷ rất nhanh chóng và triệt để ký sinh trùng sốt rét của
artemisinin khi tiếp xúc với phân tử sắt (Fe) trong ký sinh trùng đã không cho
nhiều cơ hội đột biến của ký sinh trùng.
Hiện nay so với chloroquine hay meflaquine thì thuốc artemisinin
hơi đắc tiền (2.5US một liều artemisinin so với 0.1US của các thuốc trên). Lấy
artemisinin từ cây thanh thảo rất tốn kém và mất nhiều thời gian. Các nhà sản
xuất đã không đáp ứng được nhu cầu rất cao của artemisinin cần để trị sốt rét
với khoảng 300-500 triệu bệnh nhân mỗi năm. Nổ lực tìm những phương pháp chế tạo
thuốc artemisinin rẽ tới tay bệnh nhân đang được các nhà nghiên cứu, các công ty
thuốc thực hiện. Mới đây trong một nghiên cứu của nhóm ở đại học California,
Berkeley (2)(3) được công bố trong tạp chí khoa học Nature tháng 4 2006, cho
thấy họ đã đưa vào thành công 2 gien của cây thanh thảo vào bộ gien của men rượu
(saccharomyces cerevisiae) để sản xuất artemisinic acid. Artemisinic acid là
chất dùng để sản xuất artemisinin qua một vài phản ứng của quá trình hóa học.
Phương pháp này đang được thử nghiệm sản xuất trong kỷ nghệ công ty thuốc không
vụ lợi Institute for OneWorld Health (Viện sức khoẻ cho một thế giới) hợp tác
với công ty Amyris Biotechnologies với sự trợ giúp 42.6 triệu US của tổ chức
Bill and Melinda Gates Foundation. Hy vọng với sự sản xuất kỷ nghệ quy mô này,
giá thành thuốc artemisinin chỉ còn 10% giá hiện nay và nhiều bệnh nhân ở các
nước nghèo có thể có cơ hội được chữa trị dễ dàng. Ông Jay Keasling và đồng
nghiệp của nhóm nghiên cứu này (2) dùng 3 giai đoạn để tạo men (yeast) mới sản
xuất artemisinic acid như sau: giai đoạn đầu là thay đổi một số gien của men
bằng đột biến để gia tăng sản xuất farnesyl pyrophosphate (FPP), giai đoạn hai
là mang gien amorphadiene synthase (ADS) của cây thanh thảo vào men để tổng hợp
FPP thành amorphadiene, và giai đoạn cuối là mang gien cytochrome P450 của cây
thanh thảo vào men để oxid hóa qua 3 bậc chuyển amorphadiene thành artemisinic
acid.
Phương pháp sản xuất artemisinin dùng men trong kỷ nghệ rất bảo
đảm, rẽ và tiện lợi không tuỳ thuộc vào sản lượng thu hoạch cây thanh thảo hay
thời tiết. Sự thành công sản xuất số lượng lớn thuốc chống sốt rét artemisinin
cho thấy sự tiến bộ của khoa sinh học phân tử và di truyền áp dụng trong y học.
Tuy nhiên sự tiến bộ này đã dựa vào thực vật có sẵn trong thiên nhiên. Điều này
cho thấy sự cần thiết và vai trò quan trọng của sự đa dạng sinh học trong đời
sống con người. bao nhiêu căn bệnh hiểm nghèo như ung thư có thể được chữa trị
bằng những hợp chất hữu cơ có trong một loài thực vật hay động vật nào đó trong
thiên nhiên. Con người vì thế cần phải tích cực bảo vệ sự đa dạng sinh học trong
môi trường sống của mình, vì đây là tài nguyên vô giá trong sự sống tương lai.
Tham khảo
(1)
Lee, M. R., Plants against malaria part 2:
Artemisia Annua (Quinghaosu or the sweet wormwood), J R Coll Physicians
Edingburg 2002, 32:300-3005
(2)
Dae-Kyun Ro, et al., Production of the antimalarial
drug precursor artemisinic acid in engineered yeast, Nature, Vol. 440, 13 April
2006, 940-943
(3)
Towie, Narelle, Malaria breakthrough raises spectre
of drug resistance, Nature, Vol 440, 13 April 2006, 852-853.
(4)
Nguyen DS, Dao BH, Nguyen PD, Nguyen VH, Le NB, Mai
VS, Meshnick SR, 1993. Treatment of malaria in Vietnam with oral artemisinin. Am
J Trop Med Hyg 48: 398–402.
(5)
Peter J. de Vries, Nguyen Ngoc Bich, Huynh Van
Thien, Le Ngoc Hung, Trinh Kim Anh, Piet A. Kager, and Siem H. Heisterkamp,
Combinations of artemisinin and quinine for uncomplicated Falciparum Malaria:
Efficacy and Pharmacodynamics, Antimicrobial Agents and Chemotherapy, May 2000,
p. 1302-1308, Vol. 44, No. 5.
Trở về Trang Chính |