|
Từ sau khi độc lập
thoát khỏi sự cai quản của Trung Hoa vào thế kỷ thứ 10. Nghệ thuật đồ gốm
Việt Nam bắt đầu phát triển và có những sắc thái riêng biệt mặc dầu ảnh hưởng
của loại gốm thời Đường và Tống sau này vẫn thể hiện ít nhiều trên các loại gốm
sản xuất ở đồng bằng Bắc bộ. Đồ gốm Việt Nam bắt đầu đi vào thương mại quốc tế
vào khoảng cuối thế kỷ 13 hoặc đầu thế kỷ 14 (1). Lý do chính yếu là các vua đầu
nhà Minh ngăn cấm thương mại đến các cảng phía Nam với các nước vùng Trung Đông
và Đông Nam Á. Để thỏa mãn nhu cầu thị trường, kỷ nghệ đồ gốm ở các vương
quốc như Ayuthaya (Thái Lan), Pegu (Miến Điện) và Việt Nam phát triển mạnh và
thay thế nguồn đồ gốm từ Trung Hoa. Chính trong khoãng thời gian này cho đến
giữa thế kỷ thứ 17, một loạt đủ các loại đồ gốm và men được sản xuất ở Việt Nam
mang một ít sắc thái đồ gốm Trung Hoa cuối thời Nguyên và Minh.
Kỷ nghệ đồ gốm Đông Nam
Á tàn dần vào đầu thế kỷ 17 dưới sự bành trướng và cạnh tranh của các nước
thương mại Âu châu ở thị trườg Đông Nam Á. Sự bành trướng này, tiêu biểu là sự
thành lập công ty Đông Ấn Hòa Lan (Dutch East-India Company, V.O.C) vào năm
1602, đánh dấu một trang mới của nền thương mại hàng hải vùng Đông Nam Á.
Trong bài này, các loại
và sắc thái của đồ gốm Việt Nam xuất khẩu trong giai đoạn nói trên sẽ được tóm
tắt, cũng như các di tích khai quật hoặc hiện có ở các nước chung quanh.
(a)
Thương mại vùng Đông Nam
Á và các nơi sản xuất đồ gốm
Đông Nam Á là nơi
chuyển tiếp quan trọng trong nền thương mại hàng hải giữa Trung Hoa và vùng
Trung Đông. Người Trung Hoa ưa chuộng những vật lạ và hiếm như ngọc, ngà voi,
sừng tê giác, gia vị. sản xuất ở các vùng Trung đông, Ấn Độ và các nước ở phia
Nam Trung Hoa. Ngược lại Trung Đông và Ấn độ là thị trường tiêu thụ những sản
phẩm của nền văn minh Trung Hoa như tơ, lụa, đồ mỹ nghệ, vàng.. Từ thế kỷ thứ 3
và 4, con đường thương mại hàng hải quốc tế nối liền Trung Hoa và thế giới Ấn
độ, Trung Đông chạy từ các hải cảng ở vịnh Ba Tư và Hồng Hải đến bờ biển Ấn Độ,
tới Tich Lan (Sri Lanka), vịnh Bengal và bán đảo Mã Lai. Hàng hóa sau đó được
trao đổi ở một số địa điểm dọc theo eo đất Kra và chuyên chở qua bờ biển phía
đông của bán đảo Mã Lai. Hàng hóa Trung Đông từ đó tiếp tục cuộc hành trình đến
Trung Hoa qua vịnh Thái Lan và bờ biển Phù Nam trên những thuyền Mã Lai. Phù Nam
là một trạm nghĩ quan trọng trên đường đến Nam Trung Hoa và là một nơi buôn bán
sầm uất phát đạt, qui tụ nhiều thương gia quốc tế (3). Di tích các thành phố Phù
Nam dọc bờ biển Nam Việt Nam đã được tìm thấy ở gò Óc Eo gần Rạch Giá, và trong
năm 1982 ở các địa điểm trong tỉnh Kiên Giang do viện Bảo Tàng Thành Phố Hồ Chí
Minh khám phá.
Vào khoảng thế kỷ thứ 15, một sự đổi biến quan trọng là sự chuyển hàng qua bán
đảo Mã Lai lần lần được bãi bỏ, thay vào đó là con đường qua eo biển Malacca tới
biển Java rồi thẳng lên Trung Quốc. Chặng nghỉ cho các thuyền buôn là vùng Đông
Nam đảo Sumatra và từ đó phát triển ra đế quốc Srivijaya hung mạnh (3) phát đạt
nhờ sự buôn bán với Trung Hoa đời Đường. Đến đầu thế kỷ 11, Srivijaya yếu dần vì
sự cạnh tranh của các vương quốc mới ở đất liền như Angkor và Pagan, hai nền văn
minh rực rỡ trong giai đoạn này.
Quyền lực của Srivijaya
ở Sumatra chuyển qua vương quốc hùng hậu Majapahit ở Java. Buôn bán trong giai
đoạn này đạt đến điểm cao dưới triều.Tống ở Trung Hoa. Với nền kinh tế dựa rất
nhiều vào thương mại ở biển Nam, triều đình nhà Tống khuyến khích và tích cực
tham gia vào sự buôn bán rất có 1ợi này. Cũng trong giai đoạn này đồ gốm Trung
Hoa bắt đầu là một món hàng xuất khẩu quan trọng để thay thế sự thâm hụt mất mát
nặng nề tiền vàng và tiền đồng ra khỏi nước qua sự buôn bán với Trung Đông và
biển Nam. Việt Nam lúc bấy giờ sau khi độc lập và dưới triều Lý bắt đầu tự phát
triển nhưng vẫn còn cô lập và chưa bước vào quỷ đạo thương mại hàng hải trong
vùng. Hàng gốm Trung Hoa, đặc biệt là hàng gốm xanh cây (greenwares), bắt đầu
xuất hiện rất nhiều ở các nướe chung quanh biển Nam. Thuyền buôn Trung Hoa đi
khắp vùng từ bờ biển vương quốc Chămpa, vịnh Thái Lan, đảo Sumatra, Java tới Ấn
Độ Dương.
Từ cuối thế kỷ
13, dưới triều Nguyên Mông Cổ con đường buôn bán hàng hải giữa Trung Hoa và biển
Nam được chia ra làm hai đường, đường Đông và đường Tây. Hai con đường này được
miêu tả trong quyển Nam Hải Chí viết vào năm 1304. Con đường hàng hải phía Tây
ở biển Nam vẫn giữ liên 1ạc thương mại truyền thống với Ấn Độ, Trung Đông từ
biển nam Trung Hoa qua eo biển Malacca hoặc eo bien Sunda tới Sri Lanka, Ấn độ
và Trung Đông. Con đường hàng hải mới mở ở phía Đông chạy từ biển nam Trung Hoa
tới Phi Luật Tân, bờ biển phía bắc đảo
Borneo, đảo Sulawesi, quần đảo Molucca, đến tận đảo Timor và phía Tây của đảo
Java. Sự thiết lập con đường này mở ra một thị trường mới và lớn cho hàng hóa và
đồ gốm Trung Hoa. Kỷ nghệ đồ qốm Trung Hoa trong giai đoạn này phát triển mạnh
và đi vào sản xuất khối lượng để thỏa mãn đòi hỏi của thị trường Đông Nam Á.
Sự phục hồi của triều
đại bản sứ ở Trung Quốc dưới sự thành lập triều Minh chứng kiến một sự thay đổi
lớn lao và quan trọng trong lịch sử buôn bán đồ gốm ở Đông Nam Á. Sự buôn bán tư
nhân giữa người Hoa và người ngoại quốc bị đình chỉ và ngăn cấm. Người Hoa không
được phép tham gia vào thương mại quốc tế. Sắc lệnh năm 1371 ngăn cấm người Hoa
ra khỏi hải phận Trung Hoa và hàng hóa ngoại quốc bị cấm dùng trong nước. Luồn
sóng chống thương mại chưa từng thấy này ở triều đình có một ảnh hưởng trì trệ
nặng nề vào nền thương mại quốc tế.
Trong giai đoạn
từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 16, đồ gốm Việt Nam và Thái Lan xuất hiện nhiều ở thị
trường Đông Nam Á thay thế nguồn đồ gốm Trung Quốc. Từ đời Lê đến Trịnh Nguyễn
phân tranh ở Việt Nam, sự buôn bán trao đổi hàng hóa với các nước ngoài càng
ngày càng được nới rộng và phát đạt. Đặc biệt là Việt Nam trong giai đoạn này
xuất khẩu nhiều đến Trung Đông, Âu Châu qua con đường hàng hải phía Tây và Phi
Luật Tân, Borneo, Sulawesi, Java qua con đường hàng hải phía Đông (các hiện vật
và di tích tìm được
ở
các vùng kể trên sẽ được bàn ở phần sau).
Hàng hóa trao đổi với
nước ngoài đi qua các cửa khẩu ở cả đàng Trong và đàng Ngoài. Các cửa khẩu buôn
bán ở Thanh Hóa, Hội An, Qui Nhơn là những cửa khẩu chính. Hàng gốm xuất khẩu
Việt Nam được chuyên chở qua các kho chính như Ayuthaya. Sự khai quật của các
thuyền xưa đắm gần bờ biển Thái Lan cho thấy các hàng gốm Việt Nam được chuyên
chở rộng rãi trong vùng. Các nơi sản xuất đồ gốm quan trọng ở Việt Nam là Bát
Tràng, Chu Đậu (Hải Dương), Tam Tố (Thanh Hóa), và Gò Sành, Sa Huỳnh, Qui Nhơn
sau này ở đàng Trong. Bát Tràng là nơi sản xuất đồ gốm, gạch ngói, gạch lót từ
nhiều thế kỷ trước. Sự khai quật thực hiện bởi O. Janse từ năm 1934 đến 1939 ở
đồng bằng Bắc bộ cho thấy sự hiện diện của truyền thống đồ gốm địa phương từ
khoảng thế kỷ 1 đến thế kỷ 3 (2). Bát Tràng cũng có được nhắc đến trong ca dao
Việt Nam
...
Khi nào anh lấy được nàng
Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.
(b) Loại và sắc thái đồ gốm Việt Nam
Khi nói đến đồ gốm, ta
chia ra làm hai loại tổng quát:
- Đồ gốm
đất (earthenware, stoneware)
- Đồ gốm men (porcelain, enamel),
Đồ
gốm Việt Nam gồm đủ loại hình thái như các loại đồ gốm Trung Hoa nhưng khác biệt
và dễ dàng nhận diện vì cách cấu tạo và sự trình bày có một phong thái phóng
khoáng và một tinh thần độc lập.
Hình dáng gốm Việt Nam gồm
có dĩa, đĩa, tô, chén, lọ, chai và bình. Ngay cả những kiểu đặc biệt tạo ra bởi
nghệ nhân đời Minh như hũ hình conic và chén có bệ của thời kỳ 1403-1424 cũng có
tương đương trong các loại đồ gốm Việt Nam. Đồ gốm đất Việt Nam được cấu tạo dày
và chắc hơn đồ gốm đất Trung Hoa. Thân hình cấu tạo bên ngoài màu nâu và ít
có bị lẫn chất bụi hoặc sạn. Dưới chân đồ gốm đất hoặc là để nguyên hoặc được
tráng.một lớp trơn không màu hoặc một lớp tráng oxide sắt màu nâu.
Có
đủ loại các 1ớp trán trên đồ gốm Việt Nam. Loại đồ gốm tráng một màu là những
loại thông dụng được xuất khẩu trong thời kỳ đầu. Trắng, xanh cây, đen và nâu là
những loại thông dụng và được biết nhiều. Sự tiến triển của kỷ thuật đồ gốm
trqng giai đoạn đầu là sự trình bày bằng lớp oxide sắt đen và nâu dưới lớp
tráng. Sắc thái trình bày rất thanh thoát và giản dị so với lối trình bày tnên
đồ gốm Trung Hoa.
Sự chuyển tiếp từ
lối trình bày bằng oxide sắt đến cách dùng cobalt xanh trời là một sự cải tiến
quan trọng trong nghệ thuật đồ gốm Việt Nam và chứng kiến một mức độ sản
xuất về xuất khẩu chưa từng có trong lịch sử đồ gốm Việt Nam. Nghệ thuật dùng
Cobalt xanh trời trên đồ gốm đạt đến điểm cao vào giữa thế kỷ thứ 15. Điển hình
là binh gốm tráng men xanh trời và trắng đề năm 1450 ở viện bảo tàng Topkapu
Sarayi, Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ).
Sự hiểu biết của người
Việt Nam về cách dùng cobalt xanh trời trong nghệ thuật trình bày đồ gốm được
ước đoán vào khoãng đầu thế kỷ 14 dựa trên các hiện vật gốm trắng xanh trời và
trắng, trinh.bày theo kiểu các loại gốm dùng oxid sắt trong thời kỳ
trước. Sự chuyển biến từ những loại đồ gốm tương đối đơn giản đến các loại có
nghệ thuật cao như chiếc bình gốm ở Istanbul dường như nhờ những kinh nghiệm học
hỏi được từ Trung Hoa đã được phát triển từ thế kỷ trước và cách dùng cobalt. Sự
thu thập kỷ thuật dùng cobalt xanh trời có thể xảy ra trong lúc triều Minh tạm
chiếm và đô hộ Việt Nam trong các năm 1407-1427 trước khi Lê Lợi dành lại quyền
tự chủ.
Các kiểu trình bày như
viền hoa, cúc, sen, viền kiểu chữ Hán trên các đồ gốm xanh trời dưới triều
Nguyên và Minh đều có được thể hiện trên các đồ gốm xanh trời Việt Nam ở thế kỷ
15. Sự khác biệt rõ ràng giữa đồ gốm Việt Nam và Trung Hoa được thể hiện trong
lối trình bày phong cảnh và chim nước. Những kiểu trình bày Việt Nam có đặc tính
thanh thoát, sáng tạo độc lập khác hẳn với sự xếp đặt phong cảnh, sinh thú của
lối trình bày Trung Hoa. Chim, cá, ngựa và nai là những sinh thú thường được
trình bày cũng như các con vật huyền thoại như lân và phượng. Rồng tuy vậy lại
rất hiếm trong các lối trình bày. Con cá trong đồ gốm Việt Nam, không
giống cá kiểng đỏ của đồ gốm Trung Hoa, mà là con cá bông của sông ngòi Việt
Nam.
Đến giữa thế kỷ 15, đồ gốm
xanh trời và trắng chiếm vị trí hàng đầu trong những hàng xuất khẩu. Cũng trong
khoãng thời gian nay, một loại đồ gốm mới xuất hiện với cách dùng men trắng, chủ
yếu màu đỏ và xanh trời, và thường phối hợp với lớp trình bày xanh trời ở lớp
dưới. Lớp men trắng này được cấu tạo trên lớp thứ nhất ở một nhiệt độ lò đốt
thấp hơn lớp đầu và có khuynh hướng dễ bị tan hỏng khi bị chôn vùi dưới đất hoặc
lúc tiếp xúc với vài chất hóa học.
(c) Thời gian của đồ gốm
và các di tích
Việc xác định thời gian
sản xuất đồ gốm Việt Nam là một vấn đề khó khăn, ngay cả trong việc xếp thứ tự
thời gian của các loại gốm. Một số ít dữ kiện cho phép chúng ta đoán được
thời gian dưới hình thức so sánh với một mẫu gốm có đề năm hoặc phỏng định dựa
trên những hiện vật khác cùng khám phá được trong một di tích.
Một mẫu gốm đánh
dấu quan trọng trong những ngày đầu thương mại đồ gốm Việt Nam là lọ gốm ở viện
bảo tàng Topkapu Sarayi, với lớp tráng xanh trời và trắng, có khắc đề “Thái Hoà
bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút” (năm thứ 8 Thái Hòa, 1450,
làm ở huyện Nam Sách, do nghệ nhân Bùi Thị Hý cẩn bút). Lọ này là điểm chuẩn để
xác định thời gian trong quá trình phát triển của những mẫu gốm
khác dựa vào cách trình
bày và kỷ thuật để xét đoán là trước hay sau lọ gốm năm 1450 này. Một số lọ khác
có khắc năm cũng được nhắc tới gần đây như một lọ dùng trong nghi lễ; cao khoãng
1 mét, đề năm
"Năm
thứ
3 Diên Thánh" (1575) và một lọ với dấu khắc thuộc vào khoãng năm l578-86 xuất
hiện ở phòng đấu giá Christies năm 1979 (1). Nhờ dấu khắc in trên bình gốm ở
Istanbul, năm 1980, ông Makoto Anabuki, sau khi công tác ngoại giao ở Thổ Nhỉ
Kỳ, được bổ nhiệm Bí thư văn hóa Đại sứ quán Nhật, đã viết thư nhờ tỉnh Hải Hưng
cho biết nơi sản xuất lọ gốm trên. Lá thư bị bỏ quên cho đến khi tình cờ các nhà
nghiên cứu nghề dệt chiếu ở Chu Đậu khám phá nhiều hiện vật gốm và dấu vết làm
gốm vào năm 1983. Lá thư này và sự phát hiện trên đã làm các nhà khảo cổ khai
quật tìm được và mới biết là vùng Chu Đậu, huyện Nam Sách xưa kia là vùng sản
xuất gốm lam xanh trời và trắng nổi tiếng, mà năm 1999 đã khám phá rất nhiều gốm
Chu Đậu trên con thuyền chở gốm bị đắm vào thế kỷ 15, được vớt lên ở gần Cù Lao
Chàm, ngoài khơi thành phố cổ thương mại Hội An.

Bình gốm Chu Đậu trong
bố sưu tập ở bảo tàng Topkapu Sarayi, Istanbul

Bình hình chim phượng,
thế kỷ 15-16, Viện bảo tàng Metropolitan Museum of Art, New York
Những mấu chốt quan
trọng khác cũng có thể xác định được thời gian của đồ gốm Việt Nam như chiếc dĩa
gốm Việt Nam trong bộ sưu tập Ardebil Shrine ở Teheran (Ba Tư), bộ sưu tập này
được thiết lập từ năm 1350 đến 1610. Các cuộc khai quật ở Phi Luật Tân của O.
Janse và sau này R. Fox cũng đã tìm thấy đồ gốm Việt Nam cùng với đồ gốm Trung
Hoa xanh trời và trắng ở đầu thế kỷ 16. Các đồ gốm Việt Nam này cũng rất
tương tự một số đồ gốm khám phá được ở Sa Huỳnh (Qui Nhơn). Gốm sản xuất ở Gò
Sành, Sa Huỳnh là gốm thuộc truyền thống Champa, đã sản xuất trước khi vương
quốc Champa mất và tiếp tục sau này cho đến khi biến mất hoàn toàn vào thế kỷ
16.
Rất nhiều di tích đồ
gốm xanh trời và trắng của Việt Nam đã được tìm thấy ở Trowulan, tỉnh Mojokerto,
đông Java (Indonesia). Địa điểm này xưa kia là kinh đô của vương quốc Majapahit,
phát triển từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 16. Những khám phá này không những tìm thấy
được các đồ gốm thông dụng dùng trong sinh hoạt gia đình mà còn có đủ loại những
gạch lót, gạch lát.
Những địa điểm
khác ở Java có di tích đồ gốm Việt Nam là Malang (Đông Java), Cirebon
(Tây
Java), Mt Muria (giữa Java). Các nơi khác như Jambi, Lampung (Nam Sumatra), đảo
Sulawesi. Các viện bảo tàng chứa những hiện vật tìm thấy được ở khắp vùng như
các vùng kể trên là: Viện bảo tàng Pusat ở Jakarta, viện bảo tàng Princesshof ở
Leeuwarden (Hòa Lan), và các viện bảo tàng quốc gia Singapore và Phi Luật Tân.
Viện mỹ thuật South Australia, New South Wales và Victoria (Australia) cũng chứa
nhiều hiện vật gốm Việt Nam. Ngoài ra còn có nhiều bộ sưu tập của tư nhân ở
Australia, Hong Kong (Oriental Ceramics of Hong Kong) và các nơi khác.
Ở đông Java, có đền thờ Hồi Giáo với trang trí bên trong là những gạch lót tường
nhập cảng từ Việt Nam từ bao thế kỷ trước đã làm ngạc nhiên nhiều du khách đến
thăm. Những hũ gốm Việt Nam cũng được vớt lên từ thuyền Koh Khram đắm trong vịnh
Thái Lan, thuyền này là thuyền buôn bán từ cảng Ayuthaya vào đầu thế kỷ 15.
Ayathuya lúc đó là một thành phố thịnh vượng và là trung tâm thương mại ở Đông
Nam Á. Cuối thập niên 1980, một số ngư dân ở Long Hải và Vũng Tàu đã tìm ra các
tàu đắm gần Hòn Bà chứa nhiều gốm Việt Nam và Trung quốc có niên đại thế kỷ 19.
Một số đã được bán trên thị trường buôn bán đồ cổ ở Thành phố Hồ Chí Minh trước
khi được quản lý số gốm tìm được và năm 1993 chính phủ Việt Nam đã vớt lên số
còn lại. Ở bờ biển Kiên Giang, những ngư dân dánh cá tìm được một tàu đắm có
chứa nhiều gốm Thái Sawankhalok nhưng vì không hiểu giá trị của gốm nên phải đến
năm 1993 mới được trục vớt lên. Năm 2002, ngoài khơi Bình Thuận đã vớt lên rất
nhiều gốm trên một thuyền Trung quốc chở gốm men xanh lam và trắng từ Dương Châu
cho công ty Đông Ấn Hòa Lan (VOC) bị đắm năm 1608. Điều này cho thấy rất nhiều
tàu thương mại hàng hải đồ gốm đi dọc theo bờ biển Việt Nam.
Sự phát triển của
nền thương mại đồ gốm Việt Nam từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 17 (cuối đời Trần đến
Trịnh Nguyễn phân tranh) được thuận lợi khi triều Minh ở Trung Hoa quyết định,
ngăn cấm thương mại với các nước khác và đóng cửa cảng vào đầu thế kỷ 15. Đến
thế kỷ 16 và 17, thương mại với các nước khác đi đến chổ cực thịnh ở cả đàng
Trong lẫn đàng Ngoài. Các cửa khẩu ở đàng Trong
như Hội An, Đà Nẵng, Qui
Nhơn là nơi qui tụ của nhiều thương gia xuất nhập khẩu đủ mọi quốc tịch kể cả
Nhật, Thái Lan (Siam), Bồ Đào Nha. Cũng trong thời gian này, quân đội của chúa
Trịnh và
chúa Nguyễn học hỏi và nhập khẩu kỷ thuật quân sự của Tây phương qua người Bồ
Đào Nha và Hòa Lan. Hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là đồ gốm và gia vị được
chuyên chở đi khắp vùng.
Đến cuối thế kỷ
17, cả đàng Trong lẫn đàng Ngoài lần lần đóng cửa cảng vì sợ ảnh hưởng của ngoại
quốc vào xã hội ta về văn hóa, tôn giáo và trật tự xã hội (giới Công, Thương lần
lần có địa vị vì làm được của cải và giàu cho đất nước). Sự phản ứng của đầu óc
bảo thủ, cộng với sự cạnh tranh khi Trung Hoa mở cửa lại và sự xuất hiện của
công ty Đông Ấn Hòa Lan đi tìm thuộc địa chứa gia vị và thị trường mới làm nền
thương mại của Việt Nam với thế giới bên ngoài sụp đổ. Kỷ nghệ đồ gốm Việt Nam ở
Bát Tràng, Chu Đậu, Thanh Hóa, Gò Sành, Sa Huỳnh, Qui Nhơn tan dần và biến mất.
Kinh nghiệm lịch sử ở nhiều nuớc như Trung Hoa, Nhật và mới đây ở các nước trong
khu vực Đông Nam Á cho thấy rằng, sự thịnh vượng của một quốc gia chủ yếu là do
sự giao lưu, trao đổi, buôn bán và hợp tác với các nước
bên
ngoài.
Nguyễn Đức Hiệp
Tài liệu tham khảo:
(1) Guy, J., Oriental
trade ceramics in South East Asia 10th to 16th Century. (selected from
Australian collections), National Gallery of Victoria, 1980.
(2) Janse, O.R, An
archaeological expedition to Indo-China and the Philippines. Harvard Journal of
Asiatic Studies, Vol. VI (1941), pp. 247-267
(3) Coedes, G., The
indianized States of Southeast Asia, East-West Center Press, 1968
Trở về Trang Chính |