|
Trong các năm gần đây, văn học Việt Nam nhất là văn học thơ, đã có những biến
chuyển đáng kể, về ý tưởng và cấu trúc. Dòng chảy của thơ đã tẻ ra hướng khác và
nhiều hướng nhỏ, tưới lên những mảnh đất mới và từ đó nẩy những mầm mới với một
sự đa dạng và phong phú. Dòng tẻ lớn chính đó là thơ thuộc khynh hướng gọi
chung là ‘Hậu hiện đại’. Trong đó mỗi thi nhân có những phong cách diễn tả ý
niệm thơ riêng biệt rất đặc trưng không những về cấu trúc mà còn về ý niệm, tư
tưởng và từ ngữ trong thơ. Trong những thi sĩ hậu hiện đại có tiếng hiện nay như
Thường Quán, Nguyễn Đăng Thường, Hoàng Xuân Sơn, Huỳnh Mạnh Tiên, Phạm Miên
Tưởng.., ta thấy có sự đa dạng về các đặc tính trên.
Thơ “hậu hiện đại” Việt Nam xuất hiện lúc đầu ở ngoài nước trên các tạp chí như
Hợp Lưu, Việt, sau đó xuất hiện ở Việt Nam trong cuối thập niên 1990 và hiện nay
lan tràn khắp nơi luôn cả trên mạng talawas, damau, tienve. Thật ra rất khó định
nghĩa thơ hậu hiện đại là gì, vì sự đa dạng, tương đối về ý niệm, cảm nhận của
thơ nhưng ít nhất chúng có chung những từ ngôn ngữ trừu tượng gợi nhiều khái
niệm. Một trong những ý niệm trong thơ hậu hiện đại mà nhà thơ Thường Quán mang
vào là thơ không còn phải là biểu hiện ý nghĩa, tình cảm, nhận quan của tác giả
mà chỉ là chất liệu, con thuyền hay chất xúc tác để gợi ra và chuyển tải các ý
nghĩa, tâm tư, tình cảm và tư tưởng của người đọc dưới các góc độ khác nhau. Vì
thế tác giả chỉ là người trung gian để người đọc đi đến sự nhận thức, cảm nhận
đặc thù xuất phát từ tâm tư, kinh nghiệm riêng của chính mổi độc giả. Vai trò
của tác giả là thứ yếu và vai trò của độc giả là chính yếu qua các chủ thể khác
nhau. Đây cũng chính là ngọn nguồn và biểu hiệu của chủ nghĩa tương đối về thẩm
mỹ, thẩm định giá trị trong văn chương.
Trong năm 2005, xuất
hiện ở Saigon, một nhóm nhà thơ nữ thuộc thế hệ 8X trong nhóm Ngựa Trời với tập
thơ Dự báo phi thời tiết (Nxb.Hội Nhà Văn 2005) gây dư luận về một tiếng
nói khác của những nhà thơ Nữ trẻ ở Sàigòn trên bề mặt văn học và cuộc sống hiện
nay.
Một trong năm cây bút
nữ trong nhóm Ngựa Trời (2005) là Nguyệt Phạm mà gần đây tôi có được đọc
các thơ, bài viết của Nguyệt Phạm trên các báo, tạp chí, báo điện tử VnExpress,
Tuổi Trẻ, Phụ Nữ, Quân Đội Nhân Dân, Áo Trắng, Người Hà Nội, Văn Nghệ Trẻ, Da
Màu, Tiền Vệ…và nhiều tuyển tập khác. Nguyệt Phạm cũng nhận được giải thơ Bút
Mới của báo Tuổi Trẻ trong năm 2005. Một số thơ cũng được chuyển ngữ sang
tiếng Anh và tiếng Hàn trong tuyển tập Thi Bình, website
www.damau.org và
www.vietnamkorea.org...
Đầu năm 2008, tôi được
một người bạn từ Việt Nam, gởi tặng tập thơ “Mắt giấy” của Nguyệt Phạm. Đây là
lần đầu tiên sau nhiều năm, tôi đã đọc hết một tập thơ. Nguyệt Phạm, tên thật
Phạm Thị Ngọc Nguyệt. Sinh 30.8. 1982 tại Xuân Lộc Đồng Nai. Tốt nghiệp khoa Ngữ
Văn trường đại học Khoa học Xã hội & Nhân Văn TP.HCM. Nguyệt Phạm tham gia đắc
lực vào các hoạt động văn học do Hội Đồng Anh (British Council) tổ chức thường
kỳ ở Saigon. Tham gia nhiều chương trình Thơ Truyền Hình TP.HCM. Có mặt trong
nhiều Tuyển tập thơ văn trẻ TP.HCM do Hội Nhà Văn TP.HCM tổ chức. Là đại biểu
của Hội thảo Văn Trẻ TP.HCM (10.2007) và Hội nghị Văn học Nghệ Thuật
TP.HCM thời kỳ phát triển và hội nhập do Ủy ban Nhân dân TP.HCM tổ chức
(10.2007) có tham luận in trong kỷ yếu, đề tài “Thể nghiệm thơ Nữ, một góc
nhìn”
Tập thơ mới nhất, Mắt
Giấy - Thơ (NXB Thanh Niên) của Nguyệt Phạm vừa xuất bản đầu năm 2008.
Tập thơ được tài trợ bởi quỹ Anh Thơ do nhà thơ Phan Thị Vàng Anh giới thiệu.
Theo tác giả thì “Làm tập thơ đầu tay để giới thiệu dung mạo mình sau một hành
trình thơ hơn 4 năm. Tách khỏi nhóm Ngựa Trời mà dư luận vẫn cho rằng một
“tập hợp chung chưa đủ sức là một tác giả hay tạo một phong cách riêng”. Đó là
sự giằng xé, cô đơn của người phụ nữ trước một nhịp sống nổi loạn thẳng căng đầy
thách thức mỗi lúc một cao trào của nhịp sống đô thị hiện đại. Làm sao giữ được
chính mình trước “Mắt Giấy” là đặc trưng của phong cách đó. Những cái nhìn vô
cảm, “nhìn nhau như nhìn tờ giấy” hay đời sống có những ngày “buồn như giấy
loại” (loại ở đây là loại bỏ, như tờ giấy đã viết đầy hai mặt, tẩy xóa nhăng
nhít bây giờ không còn dùng được vào việc gì)”.
Trên tinh thần tương
đối về cảm nhận và nhận thức mà dòng thơ mới hiện nay biểu hiện, tôi có những
suy nghĩ của riêng cá thể “cái tôi” về tập thơ này của Nguyệt Pham qua các bài
thơ mà tôi cho là tiêu biểu trong “Mắt Giấy”.
Tập thơ gồm 4 phần. Có
thể nói bốn phần gồm Quán Lạ (1), Chân Dung (2), Chờ Con (3) và Phức Cảm Que
Que (4) là bốn nhịp, bốn phân đoạn diễn ra trong hành trình thơ của tác giả
thời gian gần đây.
Bài thơ tiêu biểu của
phần 1 (Quán Lạ) cũng là bài mà tập thơ mang tựa đề
Mắt
giấy
Nhiều khi anh nhìn em bằng đôi mắt giấy
Trống rỗng vô hồn
Nhiều khi anh viết gì trên giấy
Trống rỗng vô hồn
Nhiều ngày em qua phố
Ai
nhìn em
Ai
nhìn nhau bằng những đôi mắt giấy
Nung
thanh sắt đỏ sau gáy
Dán
cuộc đời thiển cận
Nhiều khi em đọc được điều gì đó
Xuyên qua giấy
Nhìn
khi em chẳng thấy được điều gì
Trên
giấy
Mắt
giấy, mắt giấy đang nhìn ai trên những cao ốc đô thị
“Các
bạn gái chú ý!
Hãy
sử dụng Whisper!
Whisper có cánh vào những ngày cuối tháng!
Hai
lớp siêu thấm!
An
toàn.”
À
há!
Chiều nay em vào shop thời trang
Tìm
mua những chiếc xì giấy
Cho
chuyến du lịch sớm mai
Tạm bỏ
những ngày buồn như giấy loại
Đối với tôi, thì người phụ
nữ trong thơ thật là cô đơn, không nối cuộc sống tâm hồn của mình được với xã
hội chung quanh, ngay cả với người thân cận nhất. Không lạc lối và bơ vơ như
tình cảnh và tâm trạng của Kafka trong thế giới với vận hành vô cảm và đè nén
nhưng cũng là một nhân thể bị bỏ rơi.
Trong phần 2, sự bơ vơ và
tha hóa của tác giả lại tăng lên cao độ qua chân dung chính mình như trong các
bài "Bất lực", "Chân dung", "Là Thế”.
Bất lực
Những
bức bách bắt đầu trong tôi
Nhấn
chìm niềm tin trong sợ hãi
Chỉ dám
băng qua mình bằng tuyên ngôn
thở
than
và bất
động
Rơi vào
khoảng rỗng
Tự dối
lừa mình
Mất cảm
xúc
Tự
trách
Dừng
lại ở những hố xâu trách móc
Tôi
đang chết.
Ý thức
rõ ràng nhưng chẳng làm gì
Cát lở
dưới chân
Từng
hạt một lấp đầy cơ thể
Giữ
chặt chân tay
Suy
nghĩ bất động
Tự vùi
mình vào khoảng tối
Trừ đôi
mắt biết rằng đang nhìn
Đang sợ
hãi
Không
thấy gì
Bất lực
toàn phần.
Hay trong bài “Là Thế“, một hố
sâu chia cách với thế giới chung quanh, không thể đối thoại được.
Là thế
Tôi ra
phố
Biết
viết gì cho mùa xuân!
Tôi ra
phố
Biết
nói gì với tình yêu!
Tôi ra
phố
Biết
hát gì với tình nhân!
Mùa
xanh biếc những dòng thư chờ đợi
Hơi thở
cồn cào
Gấp gáp
những dòng xe
Che
vầng sáng tìm về bóng tối
Chẳng
biết nói gì...
Chẳng
biết nghĩ gì..
Những
đứa trẻ hoàn toàn hạnh phúc
Chỉ
biết mở miệng
Nhìn
nhau cười và nhướn mày
Và...
thế thôi!
Nhưng sau khi đã vượt qua
tâm trạng xa lạ với tất cả xã hội chung quanh, người phụ nữ trong Nguyệt Phạm đã
tìm lại mình. Ở phần 3 tập thơ là phần riêng của tác giả sau khi đã trở thành
người mẹ. Thơ ở đây thể hiện rõ nhất về tình cảm của tác giả với con trẻ đầu
tiên trong những khoảnh khắc hạnh phúc giản dị nhất. Tác giả không còn lạc lối
trong xã hội chung quanh nữa. Ở đây không cần phải giải mã, phá cấu trúc luận
(deconstruct) để tìm thông điệp hay tạo thông điệp trong thơ. Trở lại với con
người với nhân bản và niềm vui trong trắng với trẻ thơ.
Bài đầu “Bò cái hồn nhiên”
trong nhịp 4, là một khám phá về cái tôi, một cá thể riêng biệt, tự nhận ra cá
nhân mình trong cái nhìn và tự mãn trong sự khác biệt với những gì biểu hiện
chung quanh. Tuy không phải là típ phản loạn hay phản kháng trong thế giới đồng
nhất chung quanh của các con cừu nhưng lại là một tự hào qua sự hiện diện và thể
hiện tư tưởng của một con bò cái hồn nhiên đi lạc vào gây sự chú ý và phá sự im
lặng, sinh hoạt bình thường cộng đồng.
Bò cái hồn
nhiên
Một đêm
lạ lùng
Thiêu
thân bay loạn xạ trong thành phố
Tấn
công những ngọn đèn đường khiêm tốn
Con bò
cái cất tiếng rống thô thiển từ cõi nào
Tự hào
về cái đầu quá khổ
Tôi .
Sợ hãi ? !
Tiếng
lục lạc đấm bóp giác hơi đáp lời xéo xắt
Loanh
quanh ngã tư
Tôi
lắng nghe sự im lặng trong phòng kín
Chúng
tôi đang tập trung cho một chương trình có kịch bản
Thật
hoàn hảo!
Con bò
cũng hiện diện
Giương
mắt điên tiết góp ý:
Hảy nói
cho mình trong ngày Đức Mẹ khóc
và thất
vọng
Những
con cừu ngây thơ
Hoang
đàng theo đuổi từng dấu chân suy nghĩ
Hiểu rõ
giá trị của im lặng
Con bò
cái hồn nhiên
Kiên
nhẫn gom nhặt những mảnh xơ mít thơm vàng
Rao
giảng vô vọng
Hôm đó
Đức Mẹ vẫn đang khóc
và
Người bị tiếng rống làm phiền...
Tuy vậy thơ, theo tác giả,
không chỉ là nỗi niềm gì quá cao siêu, cao cả mà chính là đời thường với tất cả
mặt tốt, mặt xấu, cái đẹp, cái chưa đẹp của nó…Nghệ thuật thơ chính là phát hiện
và tái hiện những vẻ đẹp còn lẩn khuất trong đời thường. Câu thơ “Em giữ ngày
thường như một bí mật” như một thông điệp, quan điểm thơ của tác giả hướng
về cuộc sống, là đời sống. Mỗi một ngày thường là một bí mật. Vui buồn khổ đau,
hạnh phúc…
Tác giả có ý thức trong
việc sáng tạo, tìm tòi lối viết mới, mang lại những hình ảnh, cảm giác và góc
nhìn mới cho ngưòi đọc. Và trong thực tế, Nguyệt Phạm đã dùng nhiều phưong thức
để đưa những tác phẩm của cô đến đông đảo những ngưòi yêu thơ một cách ấn tưọng
và hiệu quả nhất, cụ thể là trình diễn thơ. Trình diễn thơ là một hình thức
truyền thông điệp thơ đến bạn đọc trực tiếp và nhiều cảm xúc nhất, giúp cho
ngưòi nghệ sĩ có sự tự do trong cách thể hiện. Đây cũng là một hình thức khá mới
mẻ tại Việt Nam. Điển hình là Hội đồng Anh (British Council) là một trong những
tổ chức khích lệ và tạo điều kiện để ngưòi nghệ sĩ đựoc tiếp xúc với độc giả qua
các kỳ Cà phê Văn học Trình diễn Thơ. Trình diễn sẽ giúp những cảm xúc của nhà
thơ, của bài thơ đựoc truyền đến ngưòi nghe và ngưòi xem một cách mạnh mẽ nhất.
Theo tôi thì hành trình tâm linh qua thơ của Nguyệt Phạm là một hành trình tiêu
biểu của tuổi trẻ ngày nay đang trên đường tự khám phá mình là ai trong một xã
hội càng ngày càng đa dạng và có lẽ chính xã hội này đang mất đi định hướng,
không những ở Việt Nam mà ở nhiều nơi trên thế giới hiện tại. Hy vọng rằng đa số
sẽ tìm lại được thiên đường đã mất.
(Sydney
4/4/2008)
Trở về Trang Chính |