|
Trong
vài năm gần đây đã xuất hiện một diễn tiến khoa học tuy còn
trong giai đoạn thầm lặng, phôi thai, nhưng đang hứa hẹn mang
lại một cuộc cách mạng mới trong sinh học bởi tiềm năng ứng dụng
lớn lao trong xã hội, gồm việc chế tạo dược phẩm, tạo năng
lượng và xử lý môi trường. Ðó là sự ra đời của bộ môn Synthetic
Biology (Sinh học tổng hợp) hay còn gọi là Constructive Biology
(Sinh học kiến tạo), dựa trên kỹ thuật tổng hợp và điều hòa
gene. Trong bài này từ ngữ Synthetic Biology sẽ được viết tắt là
SB.
Ðịnh Hướng và Kỹ Thuật:
SB là
một nhánh mới của sinh học hiện đại và là một ứng dụng cao điểm
của kỹ thuật gene (genetic engineering) đã được triển khai từ
đầu thập niên 1980. Trong kỹ thuật gene cổ điển này, người ta
tách dòng các gene và sau đó chuyển vào các tế bào (E. coli,
nấm men hay tế bào động, thực vật) nhằm mục đích tổng hợp
protein và tìm hiểu bản chất sinh hóa (biochemical properties)
của chúng. Các tính chất chức năng (functional properties) của
gene được nghiên cứu bằng cách chuyển gene vào sinh vật, thường
là chuột, dùng phương pháp gắn gene (knock-in) hay loại trừ gene
(knock-out) để hoạt hóa hay bất hoạt gene. Các phương pháp này
từng là nền tảng của công nghệ sinh học (biotechnology) trong
gần 3 thập niên qua ở nhiều nước trên thế giới.
SB phát
sinh từ ứng dụng các thành quả sinh học hiện đại để tiến lên một
bình diện cao hơn (paradigm shift). SB nhằm tái tạo
(reconstitute) hệ thống gene của chu trình sinh học (biological
pathway) tế bào, hoặc tái tạo bộ gene (genome) của virus, vi
khuẩn, nấm men, và viễn tưởng xa hơn là của tế bào sinh vật bậc
cao như thực vật và động vật. Mục đích tái tạo là làm thay đổi
và hòan chỉnh các gene bằng phương pháp tổng hợp (synthesis) để
tạo những sinh vật mới có đặc tính và khả năng sinh học như mong
muốn. Vì liên hệ đến tòan bộ gene, nên trên lý thuyết, SB bao
gồm các bộ môn sinh học về bộ gene (genomics), bộ protein
(proteonomics), tin sinh học (bioinformatics), sinh học cấu trúc
và điện tóan (structural and computational biology), cơ chế
truyền tin của tế bào (cell signaling). Về kỹ thuật, SB cũng
cần kết hợp nhiều phương pháp gồm genomics (để tổng hợp gene),
proteonomics (để tổng hợp protein), bioinformatics (để kiến trúc
mạng lưới gene), signaling (để họat hóa gene) và những kỹ thuật
thường qui như micro-array, tổng hợp và giải trình tự DNA (DNA
chip synthesis, sequencing), vi sinh vật học (microbiology),
sinh học môi trường (environmental biology), sinh học tiến hóa
(evolution biology).
Ðặc
điểm của phương pháp SB là tạo những bộ phận gene (gene parts)
và ghép lại thành một chu trình tổng hợp sinh học (nhu
biosynthesis pathway) hoặc tạo cả một bộ gene (genome) của tế
bào. Trong công việc này, có hai hệ thống được phỏng theo mô
hình thiên nhiên. Thứ nhất là tạo bộ điều hành (regulatory
parts) và thứ hai là tạo các gene hay bộ gene. Các bộ điều hành
giống như hệ thống điện (electronic circus) có thể bật (open) và
tắt (shut-down), có cơ chế cảm thụ (sensors) và hệ thống điều
hòa hoạt tính của gene như tần số điện cũng được gọi là inverter
và oscillator. Hiện thời bộ điều hành gene có thể đặt làm hoặc
mua ở một số hãng công nghệ sinh học chuyên về SB (Hình 1). Các
bộ điều hành cũng được trao đổi rộng rãi giữa các trung tâm
nghiên cứu và đang được cải tiến thêm mỗi ngày để tạo những hệ
thống SB đa dạng và hữu hiệu hơn. Bộ điều hành của tế bào động
vật bậc cao thì phức tạp hơn; các thành qủa thu được hiện nay từ
E. coli và nấm men. Các phương pháp tổng hợp DNA đang dược cải
tiến rất nhanh để đáp ứng nhu cầu tổng hợp số lượng lớn gene và
bộ điều hành dùng trong nghiên cứu SB (Hình 2).
Tiến Trình và Thành Qủa:
Ý niệm
về SB hình thành từ giai đoạn khởi đầu của công nghệ gene khi
các enzyme giới hạn (restriction enzymes) được Halmilton Smith
khám phá và xử dụng vào năm 1978. Theo đó, chúng ta có thể cắt
và ráp nối các đoạn gene để thay đổi hình thái và chức năng của
chúng. Như đã nêu trên, phương pháp tách dòng cổ điển chỉ áp
dụng được cho từng gene một. Thành qủa giải trình tự bộ gene của
người, và của nhiều sinh vật khác, cũng như hiểu biết về chức
năng và cơ chế điều hòa bộ gene, đã tạo điều kiện để các nhà
nghiên cứu sinh học khai triển bộ môn SB trong khoảng 5 năm vừa
qua. SB đã được thiết lập từ những đại học quốc tế như MIT, Ðại
Học California ở Berkeley (UCB), Oxford với đóng góp của các nhà
nghiên cứu tên tuổị. Craig Venter, người giải mã bộ gene nhân
loại, đã ứng dụng SB để thiết lập tế bào có bô gene nhỏ nhất
(minimum-genome) gồm khoảng trên 200 gene để nghiên cứu về nguồn
gốc sự sống. Về thực dụng, tế bào này cung cấp hệ thống điều hòa
gene và là một môi trường sạch (clean) rất tốt để tổng hợp chế
phẩm dược liệu hay năng lượng với độ tinh khiết cao vì không có
những sản phẩm phụ (by product) như ở E. coli và nấm men. Năm
2001, C. Venture đã thành lập công ty Synthetic Genomics và lên
kế hoạch nghiên cứu SB để sản xuất, với công suất cao các hóa
chất năng lượng (như hydrogen, ethanol) nhằm trong sạch hóa môi
trường, và dự tính tiết kiệm được khoảng 20 tỷ USD hàng năm do
việc thay thế ethanol để giảm thiểu lượng xăng tiêu thụ ở Mỹ.
Triển
vọng dùng phương pháp SB để tổng hợp và sản xuất dược chất trị
liệu được khẳng định từ nghiên cứu tạo Artemisinin thành công
của Jay Keasling ở Ðại Học California, Berkely năm 2003. Sau khi
xác định được 12 gene tham gia trong tiến trình tổng hợp
Artemisinin ở thực vật, Keasling đã tổng hợp được 9 trong số các
gene này, và thiết lập một hệ điều hành SB để sãn xuất
Artemisinin ở E. coli với năng suất gấp 10,000 lần so với hệ
thực vật, và gần đây nhất là ở nấm men với năng suất tăng thêm
10 lần so với chủng E. coli. Thành qủa này đã mang lại cho
Keasling giải thưởng Nhà Khoa Học của Năm 2006 (The Scientist of
the Year 2006) do tập san khoa học Discovery bình chọn.
Keasling
cùng cộng sự thành lập công ty Amyris Biotechnologies
áp dụng SB cho việc tổng hợp
Artemisinin, và đặc biệt là tiền chất (pro-compound) isopronoid
với số lượng lớn để sản xuất (Hình 3). Dự tính có khoảng 50,000
dược liệu họ isopronoid có giá trị trị liệu cao đối với các bệnh
như ung thư, huyết áp, tiểu đường, sốt rét; nhưng isopronoid chỉ
tồn tại ở rất ít thực vật và với nồng độ thấp. Vì giá trị quan
trọng này, hiệp hội Gate Foundation đã tài trợ 43 triệu USD để
triển khai SB trong việc tổng hợp các dược chất trên.
SB cũng
có những thành tựu nhiều hứa hẹn ở dòng E. coli từ các nghiên
cứu của Christopher Voigt ở Ðại Học Y Khoa California, San
Francsico (thường được biết là UCSF). Dùng phương pháp SB, Voigt
đa tổng hợp các cảm thu (sensor)
để tạo một dòng E. coli mới có khả năng tìm kiếm và xâm nhập tế
bào ung thư, sau đó phóng thích ra những hóa chất trị liệu tiêu
hủy tế bào.
Ngoài
ra, nhu cầu nghiên cứu SB cũng mang đến sự hình thành một số
trung tâm, hãng công nghệ sinh học chuyên sản xuất gene và các
vật liệu gene (parts) như BioBricks Foundation và Codon Devices.
Dự Phỏng Tương Lai:
Con
đường phát triển SB chỉ mới ở giai đọan khởi đầu; việc chinh
phục các khó khăn và các đề tài nghiên cứu SB trong tương lai sẽ
thật hào hứng. Chỉ trong khoảng thời gian 5 năm ngắn ngủi vừa
qua, SB đang tạo cho các nhà nghiên cứu sinh học một nền tảng kỹ
thuật mới có khả năng thay đổi tế bào trên một bình diện rất
rộng lớn so với các ứng dụng công nghệ gene từ trước tới nay. Từ
khởi thủy, thiên nhiên đã không tạo dựng bộ gen hòan hảo cho con
người cũng như cho mọi sinh vật khác. Có rất nhiều bệnh tật do
sự sai lệch của bộ gene, và có rất nhiều khuyết điểm ở các sinh
vật và cây cỏ vì bộ gene của chúng thiếu hiệu năng trong việc
sản xuất. Kỹ thuật SB nhằm tái lập những bộ gene và làm hòan
chỉnh như ý muốn để bù đắp những khuyết điểm của thiên nhiên.
Những “sinh vật mới” này có khả năng tạo sản phẩm sinh hoc gồm
tế bào, protein, dược chất, hoặc những hóa chất có năng xuất cao
và hiệu ứng chuyên biệt, có công dụng thiết thực cho lãnh vực
trọng yếu của xã hội như y tế, năng lượng và môi trường.
Trên thực tê’, cũng như mọi tiê’n bộ khoa học kha’c, nê’u
SB khẳng định được những gi’a trị nêu trên thì sẽ được sự tham
gia ti’ch cực của cộng đồng khoa học, và đo’ng go’p của nhiều
tầng lơ’p trong xã hội. Cho đến nay, những viễn tượng tô’t đẹp
của SB đang hứa hẹn một cuộc cách mạng mới của ngành tân sinh
học.
Vì hiệu
ứng cao của SB, vấn đề an tòan và an ninh xã hội cần được đặt ra
để ngăn ngừa sự tổng hợp những chủng virus có độc tố và khả năng
gây dịch tễ; hoặc tạo các độc chất đe dọa sự an tòan của môi
trường. Hiện nay tính an tòan của SB chỉ được sự lưu tâm của
giới khoa học, và luật lệ điều hành SB được áp dụng từ luật lệ
hiện dùng chung của kỹ thuật gene.
Ðối với
ngành sinh học Việt Nam, vì tính ứng dụng cao của SB, chúng ta
nên cứu xét các phương thức khả thi để hội nhập vào lãnh vực
khoa học quan trọng nàỵ Các bạn trẻ cũng nên lưu tâm đến SB
trong các chọn lựa tương lai, vì rất nhiều tiềm năng SB chưa
được khai triển và trí tuệ Việt Nam có thể đóng góp vào sự tiến
bộ này để mang lại lợi ích cho việc phát triển khoa học của đất
nước.
Thái-Sơn NDT
Tokyo Jan. 7, 2007
Tiểu
luận này được gợi ý và tham khảo từ:
Baker,
D. et al. Engineering Life: Building a FAB for Biology (2006).
Scientific America, June 2006, 34-41.
Endy,
D. Foundation for Engineering Biology (2005) Nature (2005) 24,
Nov. 449-453
Anderson, J. C., Clarke, E. J., Arkin, A. P., & Voigt, C. A.
(2006)
Environmentally Controlled Invasion of Cancer Cells by
Engineered Bacteria, Journal of Molecular Biology,
355 (4): 619-627.
http://openwetware.org/wiki/Main_Page
http://www.syntheticgenomics.com/pdf/Choetal.pdf
http://www.amyrisbiotech.com/news.html
Hình 1: Một số parts của bộ điều hành dùng trong kỹ thuật
Synthetic Biology.
Các
phần (parts) là DNA khi ghép lại sẽ tạo ra một bộ phận (device),
và những
bộ phận
này sẽ tạo môt hệ thống (system) cần thiết cho chức năng của tế
bào
mới
thành lập.



Trở về Trang Chính
|