Âm Nhạc Cổ Truyền Việt Nam

(phần 2)


GS Nguyễn Kỳ Hưng

Đại học kỹ thuật Curtin, Tây Úc

05 tháng 04 năm 2007

 

3.7. Âm nhạc đám tang

Âm nhạc đám tang mà chúng ta thường nghe, hoặc biết đến tại nước ta là loại âm nhạc dành cho dân gian. Đám tang các vua triều Nguyễn thì lại không sử dụng âm nhạc. Thay vào đó, quan quân bắn 9 phát súng thần công khi đưa quan tài vua ra khỏi hoàng thành, và tương tự như vậy sau khi hạ huyệt (Đỗ Bằng Đoàn & Đỗ Trọng Huề 1967). Trái lại, đám tang dân gian thường thuê các phường nhạc chơi trong suốt thời gian tang lễ. Tuy có sự ảnh hưởng ít nhiều từ âm nhạc Trung Hoa, thể loại âm nhạc này có tính đặc thù của âm nhạc dân gian Việt, qua âm điệu vô cùng áo não.

 

Theo Nhất Thanh (1970), mỗi khi nhà nào có người mới chết, gia chủ thường thuê một phường nhạc với hai mục đích: thứ nhất, để loan báo cho mọi người xa gần biết sự qua đời của người thân mình và thứ nhì, để thổi kèn, nổi trống để đáp lễ mỗi khi có khách đến viếng bái. Việc làm này còn tạo ra một ích lợi khác nữa như báo cho chủ nhà biết khách đến viếng, để kịp thời ra tiếp và lễ tạ lại. Chính vì vậy mà phường nhạc đám ma thường ngồi cạnh quan tài để dễ thấy những ai đến viếng. Một số bài thường được chơi trong các đám tang có thể kể đến như 'Lâm khốc', 'Nam thương' và 'Nam ai'. Thêm vào đó, phường kèn còn có những bài riêng để chơi thay lời cho các người thân trong gia đình với người quá cố như con cái đối với cha mẹ, anh chị em đối với nhau, cháu với ông bà và còn nhiều nữa (tr.413-414).

 

Về nguồn gốc của âm nhạc đám tang tại nước ta, Phạm Đình Hổ (1998) cho biết từ sau thời nhà Trần, phường chèo bội thường được gọi đến hát vãn trong ngày rằm tháng bảy để giúp lễ tế yên vị cho các gia đình có người thất lộc. Điệu hát vãn nghe rất cảm động, bi ai. Còn hình thức âm nhạc đám tang đang lưu hành ngày nay tại nước ta xuất hiện ít nhất từ thời Hậu Lê. Học giả Phạm Đình Hổ cho thấy rõ điều này, qua việc bày tỏ niềm ngao ngán lối chơi phóng túng của các phường nhạc đám ma vào thời của ông:

Nói tóm lại, phàm tấu nhạc ở tôn miếu, thanh âm phải cho trang nhã; những lúc đưa đón dẫn rượu, lên xuống chúc hỗ, phải tùy lễ mà đàn hát cho hay. Còn như tế đám ma phải cho thê thảm. Âm nhạc phải tùy mỗi lúc một khác. Bây giờ, những người tập nghề thổi kèn hay làm những trò quỷ quái để cho thế tục khen, như lúc đám ma thổi kèn thờ, bắt chước giọng đàn bà con trẻ khóc lóc kể lể, người nghe lấy làm thích, lại thưởng cho. Ôi! Âm nhạc chủ hòa, cốt phải hợp lễ, thế nào trang nghiêm, lúc nào thê thảm, lúc nào được nhập điệu là hay. Còn như tiếng rên rĩ, giọng ngêu ngao, khác nào tiếng khóc tiếng mếu, sao không để người khóc cho nghe, lại phải thổi kèn bắt chước làm gì? (Phạm Đình Hổ 1998, tr.64)

 

Một phường nhạc đám ma vào thời thuộc Pháp (ảnh liệu: Grosier 1972, tr.74)

 

Có lẽ không có mấy ai thích âm nhạc đám tang vì tính thê lương của nó. Tuy vậy, hầu hết người nước ta vẫn phải sử dụng thể loại này, vì theo quan niệm của xã hội Việt Nam thời trước đây, một đám ma 'không kèn không trống' thể hiện một gia cảnh hèn kém của gia đình có người thất lộc. Tại miền Bắc, chính sách tiết giảm trong việc ma chay vào thời chiến tranh Việt Nam đã làm suy yếu ảnh hưởng của thể loại âm nhạc đám tang rất nhiều. Thậm chí các tổ hợp tống táng còn sử dụng máy cassette để mở chơi các bài nhạc đám tang nữa.

 

3.4. Sáo diều

Ngoài các thể loại âm nhạc cổ truyền chính kể trên, chúng ta còn có thể kể đến âm nhạc sáo diều. Toan Ánh (1999) cho rằng cánh diều bay lơ lửng trong gió hè là một trong các thành tố căn bản nhất để nhận diện một làng quê. Từ thời xa xưa, dân quê tổng Hà Nam, tỉnh Quảng Ninh, miền Bắc Việt Nam có truyền thống thi thả diều tại chùa vào ngày rằm tháng Tư Âm lịch, ngay khi lễ Phật Đản chấm dứt. Theo sự tin tưởng của mọi người, năm nào mà cuộc thi diều xảy ra tốt đẹp, thì năm ấy, dân trong tổng sẽ được mùa lúa và an cư lạc nghiệp. Sau ngày rằm đó, các con diều dự thi sẽ được tiếp tục thả trong thời hạn cả tháng. Vì vậy, một con diều và ống sáo tốt phải được làm với các vật liệu có sức chịu đựng mưa nắng trong một thời gian dài (tr.199). Trong Connaissance du Việt- Nam, một tác phẩm do Trường Viễn Đông Bác Cổ xuất bản năm 1954, Huard và Durand cho biết dân quê miền Bắc thường gắn một hoặc vài ống sáo trúc vào hai kiểu diều to như diều lá đa và diều cóc, thả lên trời để tạo âm thanh vui nhộn trong những ngày Tết, hoặc lễ hội trong làng.

 

Sáo diều còn được dân quê sử dụng cho một vai trò quan trọng hơn, như giúp họ chặn đứng một bệnh dịch đang hoành hành trong vùng. Các tác giả đưa ra hai giả thuyết cho việc làm này. Thứ nhất, âm thanh của sáo diều có thể làm khuây khỏa các thần gây bệnh dịch. Một khi đầu óc các thần vui vẻ thì biết đâu, lòng từ của họ có dịp phát sinh, nới tay một chút cho dân làng đỡ khổ? Thứ nhì, tiếng sáo diều có thể làm mọi người trong làng quên đi những âu lo gây ra bởi bệnh dịch quái ác. Trong một số trường hợp, dân làng còn dồn chất bột sulphide màu vàng vào bên trong ống sáo, để khi lên cao, sức gió sẽ thổi chất bột này tan biến trong không gian. Sự việc này có mục đích gì thì chưa ai biết được. Tuy vậy, theo kinh nghiệm của dân làng thì nó có thể chặn đứng sự bộc phát của bệnh dịch (tr.239).

 

Diều truyền thống Việt Nam và 2 sáo diều (minh họa của Nguyễn Kỳ Hưng dựa theo ảnh liệu của Huchet năm 1888)

 

Tôi có xem xét các kiểu diều và truyền thống chơi diều của một số quốc gia trong vùng Đông Nam Á, và thấy người Cam Bốt và người Trung Hoa đều tự nhận quốc gia của họ biết làm diều trước tiên. Các quốc gia trong vùng ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa như Triều Tiên và Nhật Bản, không cần thiết phải bàn đến, vì hai nước này du nhập nghệ thuật làm diều từ Trung Hoa vào đời nhà Đường. Theo Sarak (2006), một cổ tích do Học Viện Phật Giáo Cam Bốt xuất bản năm 1972 kể rằng Thmenh Chey, một học giả người Cam Bốt, bị vua Trung Hoa bắt giam vì tội khi quân. Để tự cứu mình, ông lén làm một con diều knorng khổng lồ và một ống sáo diều, thả lên trời vào ban đêm. Âm thanh vi vút phát ra từ một vật có hình dáng như một đại bàng, lượn trong đêm tối làm nhà vua phải thả Thmenh Chey ra, vì sợ con quái điểu trên trời sẽ trả thù cho chủ, ăn thịt các thần dân của ông.

 

Giả thuyết người nước ta du nhập nghệ thuật làm diều và ống sáo diều từ Cam Bốt không đứng vững, vì kiểu diều ‘knorng’ của nước này khác hẳn với kiểu diều 'cóc', 'lá đa', và 'trái xoan' của nước ta. Theo ông Nguyễn Văn Be, một bậc thầy trong nghệ thuật làm diều tại cố đô Huế, thì diều trái xoan là một kiểu diều thuần túy Việt Nam. Kiểu diều này còn được người miền Nam gọi là 'thuyền buồm' vì hình dáng ngoạn mục như các cánh buồm no gió của nó. Cấu trúc diều trái xoan khá đặc biệt khi có tám mảnh hình trái xoan dạng cong, đính vào nhau bằng dây. Vì tám mảnh trái xoan có tác dụng như tám cánh buồm căng gió nên sức nâng của chúng rất cao, đủ mang nổi năm ống sáo dài ngắn khác nhau, kết lại bằng một đoạn tre, đặt phía trên các cánh buồm (trong Ruhe 2003, tr.38). Toan Ánh (1999) cho biết để có tiếng sáo hay, các nghệ nhân phải chọn các đoạn từ thân tre già; miệng ống sáo phải làm từ gỗ mỏ, vì loại gỗ này có thể chịu đựng được mưa nắng trong một thời gian lâu; các ống tre cần phải được gọt mỏng đi, cả trong lẫn ngoài, để cho tiếng vang và thanh. Ngoài ra, miệng sáo phải được vạt với một góc cạnh như thế nào đó, để ống sáo có thể hút gió nhiều, thổi vào trong lòng ống sáo, lớp này đến lớp khác, tạo thành những tiếng ngân dài êm ả. Dựa theo cá tính của âm thanh, chúng ta có thể liệt kê ba loại sáo diều chính tại nước ta. Ba loại này là sáo còi, sáo đẩu, và sáo chiêng. Sáo còi có tiếng kêu the thé và kéo dài; sáo đẩu có tiếng ngân nga, kêu vo vo, trong khi sáo chiêng có tiếng kêu như tiếng chiêng vang rền (tr.201).

 

Dựa theo yếu tố lịch sử, nghệ thuật làm diều của nước ta có lẽõ đến từ Trung Hoa, vì trong khoảng thời gian người Trung Hoa bắt đầu biết làm diều vào các thế kỷ đầu sau Công Nguyên, thì nước ta vẫn còn là một thuộc địa của nhà Đông Hán. Người Trung Hoa có khá nhiều truyền thuyết về nguồn gốc diều của họ. Vào năm 478 trước CN, triết gia Mặc tử dành ra ba năm làm một con ó bằng gỗ và tre, bay được một hôm thì hỏng (sách Mặc Tử). Cũng cùng thế kỷ, Kungshu P'an, một chuyên gia làm diều, chế ra một con chim bằng gỗ bay liên tục trong ba ngày. Năm 169 trước CN, diều còn được dùng vào các hoạt động quân sự, qua việc đại tướng Han Hsin, thời nhà Hán, sử dụng diều để đo lường khoảng cách giữa đạo quân của ông và thành lũy của đối phương. Từ đó, ông cho đào một đường hầm dưới bức tường thành, để quân lính ông theo đó xông vào bên trong.

 

Mặc dù người nước ta học cách làm diều từ Trung Hoa từ thuở xa xưa, sự việc các kiểu diều mang ống sáo ngày nay của Trung Hoa và của nước ta khác nhau cho thấy tính sáng tạo của tổ tiên chúng ta trong nghệ thuật làm diều, và sáo diều gần hai thiên kỷ qua. Trong quãng thời gian dài đó, cánh diều và âm thanh sáo diều không những đánh dấu cho mùa Hè êm ả với trời trong, gió mát, mà còn là biểu tượng cho một cái gì rất thân thương và gần gũi trong tâm hồn người dân quê Việt Nam mộc mạc.

 

4. Nhạc khí thường dùng trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam

Âm nhạc cổ truyền Việt Nam phát triển từ hệ thống bát âm của Trung Hoa. Bát âm là tám loại âm thanh căn bản phát ra từ tám loại vật liệu khác nhau. Tám loại vật liệu của bát âm gồm có: bào (tiếng kèn từ các ống tre và còi từ các trái bầu), thổ (tiếng nhạc khí làm bằng đất gồm có chậu sành và trống đất), cách (tiếng trống da), mộc (tiếng nhạc khí làm bằng gỗ, gồm có mõ và phách), thạch (tiếng khánh bằng đá), kim (tiếng nhạc khí làm bằng kim loại như chiêng, chuông), ti (tiếng nhạc khí có dây, như đàn đáy, đàn tỳ bà), và trúc (tiếng sáo trúc và tiêu) (Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề 1967, tr.446). Tuy nhiên, việc sắp xếp nhạc khí theo hệ thống bát âm khá phức tạp, chẳng hạn như âm kim có thể bao gồm nhiều loại nhạc khí đa dạng như chuông, chiêng, trống đồng, dương cầm và kèn dăm. Để đơn giản hóa bảng phân loại, tôi sắp xếp các loại nhạc khí của âm nhạc cổ truyền Việt Nam theo ba nhóm chính, dựa theo cách chơi, như sau:

 

1. Nhóm nhạc khí gõ:

·        Chập chõa: còn gọi là não bạt, gồm hai điã bằng đồng như nắp vung. Khi chơi, nhạc công sử dụng hai tay chập hai đĩa vào nhau.

·        Chiêng: còn gọi là đồng la hoặc lệnh, gồm một đĩa bằng đồng có dạng như khuôn đúc bánh. Khi chơi, nhạc công treo chiêng vào khung và dùng dùi đánh vào đĩa (hình 1).

·        Chuông đại hồng: có kích thước to, âm thanh vang vọng, được sử dụng tại các chùa trong sinh hoạt cúng lễ và lắng tâm hằng ngày. Tại nước ta, một số chuông đại hồng có chiều cao vài thước và nặng mấy ngàn kí lô. Thái Văn Kiểm (1960, tr.77) cho biết tháng Tư năm canh dần (1710), chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc một chuông đại hồng có kích thước khá to tại chùa Thiên Mụ, nặng đến 3285 cân ta (khoảng gần 2.052 kg). Để lưu danh hậu thế, chúa đích thân làm một bài văn để nghệ nhân khắc vào chuông.

·        Dàn biên chung: gồm 12 cái bằng đồng, treo thành hai hàng vào một dàn bằng gỗ, gốc tích từ Trung Hoa, sử dụng cho âm nhạc triều đình (điển hình như dàn huyền nhạc). Thông thường, nhạc khí này đòi hỏi phải có hai nhạc công để trình diễn.

·        Đàn Tơ rưng: được làm bằng nhiều ống tre dài, ngắn khác nhau. Những ống tre này được kết lại bằng dây và trải ra như dạng võng. Đàn tơ rưng có năm thang âm. Khi chơi, nhạc công dùng một dùi gỗ gõ lên các ống tre. Trong một số trường hợp, đàn tơ rưng được điều khiển bởi hai nhạc công; một người đánh các nốt trầm bổng trong khi người thứ hai chuyên đánh đệm.

·        Khánh: bằng đá, thường được tạc theo hình con giơi. Dùi đánh thường là thanh sắt tròn. Một trong những nhạc khí căn bản của âm nhạc Phật giáo và Lão giáo thời xưa.

·        Mõ: một nhạc khí chính của âm nhạc Phật giáo, làm bằng gỗ, bên ngoài khắc hình con cá, khoét bọng bên trong để khi gõ tạo ra âm thanh trầm vọng. Mõ loại này được dùng để đệm cho việc tụng kinh trong âm nhạc Phật giáo.

·        Mõ song lan: bằng gỗ, mặt tròn như cái đĩa, có chuôi để cầm, bên hông có khoét một lỗ hổng như cái mõ. Khi chơi, nhạc công sử dụng một dùi có chuôi cầm, đánh vào mặt đĩa gỗ phát ra tiếng kêu như tiếng mõ, dùng trong việc giữ nhịp nhạc. Mõ song lan còn được đặt dưới bàn chân để dậm nhịp.

·        Mõ sừng trâu: làm từ đoạn cong của sừng trâu (dài khoảng 12 phân tây), một nhạc khí thông dụng của các bộ tộc thiểu số vùng Trường Sơn. Khi chơi, nhạc công sử dụng một khúc gỗ cứng để gõ vào đoạn sừng. Mõ sừng trâu được sử dụng cho lối hát tuồng, tế lễ và hòa tấu của triều đình (hình 2).

·        Phách: còn gọi là 'sinh tiền', 'sênh tiền', hoặc 'sinh'. Một nhạc cụ gồm có hai mảnh bằng gỗ. Một mảnh hình chữ nhật dài khoảng một gang tay, có đóng một số đinh, mỗi đinh xâu 5 đồng tiền xưa qua lỗ ở giữa. Khi chơi, nhạc công dùng mảnh gỗ kia gõ vào mảnh gỗ có các đồng tiền, ăn nhịp với khúc nhạc. Phách là nhạc khí mà ả đào thường đánh đệm khi hát.

·        Trống bồng: gồm có một mặt được bịt bằng da trăn hoặc kỳ đà, nối vào một bầu tròn qua trung gian một vật có dạng như miệng kèn, sử dụng trong hát chèo và hát tuồng, lễ hội, và đại nhạc. Khi chơi trống bồng, nhạc công thường kết hợp với múa. Âm thanh trống bồng đục và ít vang (hình 3).

·        Trống bát nhã (bát nhã là từ biến thể từ Phạn ngữ Prãjna): kích thước lớn, âm thanh vang dội, được sử dụng trong việc hòa tấu tại các chùa.

·        Trống bốc (tambourine): sử dụng cho hát ả đào. Gốc từ trống tambora của Ấn Độ.

·        Trống cơm: có tên như vậy vì trước khi chơi, nhạc công dùng cơm nóng nghiền nhuyễn gắn vào mặt trống để tạo âm trầm bổng. Nhạc khí này được sử dụng cho hát chèo và lễ lạc. Trống cơm có thể được du nhập từ Chiêm Thành từ thời nhà Trần (hình 4).

·        Trống trận: thoạt đầu được sử dụng cho chiến trận. Sau được dùng cho hát tuồng, hát bội và võ nhạc Tây Sơn (hình 5).

·        Trống bát câu: dùng cho các loại hát tuồng và hát bội (hình 6)

·        Trống chầu: được dùng trong hát chèo và hát tuồng (hình 7).

·        Trống đồng: một nhạc khí cổ xuất hiện trên một khu vực dài hơn 8 ngàn cây số, trải từ một số đảo ở Nam Dương qua Mã Lai, dọc vùng Trường Sơn và lưu vực sông Mã, Việt Nam và đến tận một số tỉnh miền Nam Trung Hoa như Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Tứ Xuyên và Chiết Giang. Trống đồng có nhiều dạng và kích thước khác nhau. Loại nhiều người biết đến là Đông Sơn, tên của một địa danh ở tỉnh Thanh Hóa nước ta.

·        Trống mảnh một mặt: còn gọi là đan diện cổ, chơi chung với đàn đáy trong lối hát ả đào. Người Chàm cũng có một loại trống tương tự, tên gọi barinung (Addiss 1971, tr.32).

·        Trống tầm bông: còn gọi là phong yêu cổ. Một mặt hơi to, giữa thắt lại. Khi đánh tạo ra hai âm trầm bổng khác nhau. Tiếng kêu nhẹ là 'tầm', nặng là 'bông'. Trống tầm bông có thể có xuất xứ từ Ấn Độ.

·        Trúc sinh: tục gọi đàn khô, hình như cái thùng vuông, trên rộng, dưới thắt lại. Trên mặt thùng có các miếng tre già đóng song song. Lúc chơi, nhạc công dùng hai dùi gõ nhịp trên các thanh tre, tạo ra tiếng kêu lắc cắc dòn dã.

·        Dương cầm: gồm 42 dây bằng đồng, có lối bố trí như đàn tranh, duy mặt đàn thì phẳng. Tuy có cấu trúc của các đàn có dây, dương cầm được xếp vào nhóm nhạc khí gõ vì khi chơi, nhạc công sử dụng hai cái vồ bằng kim loại có tay cầm uyển chuyển, đánh vào các dây bằng đồng. Nhạc khí này đến từ Trung Hoa. Truy cho cùng ra, nó có một liên hệ mật thiết với đàn dulcimer của Iran (hình 8).

 

2.      Nhóm nhạc khí khảy hoặc kéo dây:

·        Đàn bản: còn gọi là đàn nhật, du nhập từ Trung Hoa (hình 9).

·        Đàn bầu: còn gọi là đàn độc huyền. Với âm thanh nhẹ nhàng, đàn bầu thích hợp cho những điệu hát trầm lắng. Thuở ban đầu, đàn bầu được sử dụng cho hát xẩm. Sau đó, nhạc khí này được sử dụng cho các điệu hát chèo, hát xoan, và hát Huế. Người Chàm cũng có đàn một dây, tên gọi radap katch (Addiss 1971, tr.32). So sánh với các nhạc khí một dây của các quốc gia khác trên thế giới, đàn bầu của nước ta có một cấu trúc và âm thanh vô cùng độc đáo (hình 10).

·        Đàn bảy dây: còn gọi là thất huyền cầm, gốc tích không rõ.

·        Đàn chín dây: còn gọi là cửu huyền cầm, gốc tích không rõ.

·        Đàn đáy: còn gọi là đới cầm, gồm có ba dây, đáy vuông, dọc đàn dài, trên dọc gắn 16 phiếm, hộp đàn hình thang cân. Đàn đáy còn được gọi là 'vô đề cầm', vì đáy đàn được khoét một khoảng trống hình chữ nhật để tạo âm thanh đặc biệt. Đàn đáy là nhạc khí chính cho lối hát ả đào. Nhạc sĩ Phạm Duy cho rằng đàn đáy là một nhạc khí thuần túy của Việt Nam. Căn cứ vào các bản khắc gỗ tại đình Hoàng Xá, tỉnh Hà Tây thì chúng ta có thể đoán chừng nhạc khí này xuất hiện vào đời nhà Trần, hoặc sớm hơn (hình 11).

·        Đàn gáo: có tên như vậy vì thùng đàn có dạng hình gáo múc nước. Đàn gồm hai dây kết từ các sợi đuôi ngựa quyện dính với nhựa cây linh sam (fir). Đàn gáo là vĩ cầm của các nước trong vùng Đông Á (hình 12).

·        Đàn nguyệt: còn gọi là đàn kìm, du nhập từ Trung Hoa (hình 13).

·        Đàn nhị: có họ hàng thân thích với đàn gáo. Điểm khác biệt là thùng đàn có dạng hình ống loa. Đàn du nhập từ Trung Hoa, tuy nhiên, nguồn gốc của đàn lại đến từø Mông Cổ từ đời nhà Hán (hình 14).

·        Đàn sến: thùng đàn có 6 góc như vỏ sò, vỏ hến, gồm có 2 dây.

·        Đàn tam: gồm ba dây, gốc từ Trung Hoa (hình 15).

·        Đàn tranh: đàn tranh Việt Nam có nhiều liên hệ mật thiết với đàn ch'in (cổ cầm) của Trung Hoa. Theo Chinese People and Chinese Culture (năm không rõ), đàn ch'in (cổ cầm) năm dây tơ được phát minh bởi Phục Hy (2852 trước Tây lịch). Nguyễn Ánh Linh (2003, tr.7) cho biết số lượng dây của đàn tranh Việt Nam tăng dần theo thời gian: 15 dây vào thời Hậu Lê, 16 dây vào thế kỷ 19, và 25 dây vào thập niên 60 (hình 16).

·        Đàn tỳ bà: một nhạc khí Trung Hoa, nhưng lại có xuất xứ từ các bộ tộc ở vùng cực Tây của nước này từ đời nhà Hán. Loại đàn mà Thúy Kiều sử dụng trong tác phẩm 'Đoạn Trường Tân Thanh' của thi hào Nguyễn Du. Đàn tỳ bà thường được phối hợp với đàn tranh, đàn nhị, đàn nguyệt và đàn tam, thành 'ngũ tuyệt' trong nhạc hòa tấu (hình 17).

3.       Nhóm nhạc khí thổi hơi:

·        Kèn dăm (suona hoặc sona): đến từ Trung Hoa nhưng lại có nguồn gốc từ Iran. Nhạc khí này có âm thanh rền rĩ. Nhạc khí này được sử dụng cho dàn nhạc đại hòa tấu của triều đình, lễ hội và đám tang (hình 18).

·        Khèn (mouth organ):nhạc khí của các dân tộc thiểu số sống dọc theo dãy Trường Sơn. Khèn gồm có nhiều ống tre dài ngắn đủ cỡ, nối chung với nhau bởi một bầu rỗng có miệng để nhạc công thổi. Qua các hình nhạc công thổi khèn khắc trên mặt trống Ngọc Lũ, chúng ta có thể biết lịch sử của nhạc khí này gắn liền với lịch sử của trống đồng (hình 19).

·        Ống sáo quản: làm bằng ống trúc, có tám lỗ (hình 20).

·        Ống địch: làm bằng ống trúc, có bẩy lỗ.

·        Ống tiêu: làm bằng ống trúc, có sáu lỗ, thổi dọc theo chiều ống.

·        Ống sáo diều:  một loại còi làm bằng ống trúc, gắn vào các diều to như diều trái xoan, diều lá đa và diều cóc, thả lên vào những ngày Tết và lễ hội trong làng.

 

Các nhạc cụ phổ biến trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam - Các hình 2, 3, 11 và 19 do Nguyễn Kỳ Hưng minh họa. Các hình còn lại được in nơi các trang 259, 260 & 261 trong Huard & Durand (1954).

  

5. Kết luận

Âm nhạc cổ truyền Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể từ khi lập quốc đến nay. Nhiều thể loại âm nhạc cổ truyền của ta thực ra có nguồn gốc từ các quốc gia lân cận như Trung Hoa và Chiêm Thành. Thậm chí còn đến từ Ấn Độ, qua công cuộc truyền bá Phật giáo bắt đầu từ thời Bắc thuộc lần thứ nhất. Âm nhạc Việt còn góp nhặt tinh hoa từ các nền âm nhạc của các bộ tộc thiểu số sống dọc theo dãy Trường Sơn. Nền âm nhạc cổ truyền của nước ta có khuynh hướng đón nhận tinh hoa các nền âm nhạc khác, trong chiều hướng chọn lọc, bồi bổ và đồng hóa cho thích hợp nhu cầu tâm linh không những cho con người, mà còn làm khuây khỏa các đấng thần linh. Mỗi khi có dịp xem lại những bước phát triển của âm nhạc Việt, bất kỳ ở thể loại nào, thời nào, ai cũng có thể thấy được khát vọng của người xưa trong nỗ lực đi tìm những gì rất Việt Nam cho âm nhạc cổ truyền của nước ta. Từ lối  hát tuồng với sân khấu trên cạn biến thành múa rối với sân khấu trên nước vào đời nhà Lý; từ việc sử dụng trống Đông Sơn cho dàn nhạc đại hòa tấu của triều đình nhà Lê, người xưa đã có những sáng tạo cần thiết để đồng hóa những gì vay mượn của người trở thành của riêng của mình. Tương tự như vậy, âm nhạc Phật giáo Việt Nam tuy đến từ Ấn Độ và Trung Hoa, nhưng lại có sự cải tiến cho thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam. Vũ điệu 'Lục cúng' do các tu sĩ Ấn Độ truyền dạy từ thuở xa xưa, nhưng với sự hoàn chỉnh của Đào Duy Từ, vũ điệu này được sử dụng vào các dịp khánh tiết, và hiện là một biểu tượng đầy tự hào của âm nhạc triều đình Huế. Vào cuối thế kỷ 18, võ nhạc Tây Sơn hình thành bên cạnh sự lớn mạnh của quân đội Tây Sơn, cho thấy khả năng sáng tạo nghệ thuật cao độ của âm nhạc Việt. Mặc dù du nhập từ Trung Hoa gần hai thiên kỷ, âm nhạc sáo diều của nước ta lại có các đặc tính riêng, cả về mặt kỹ thuật và nghệ thuật. Điều này cho thấy tổ tiên chúng ta có nhiều nỗ lực và sáng kiến trong việc phục vụ con người và trong một số trường hợp, cho cả thần thánh nữa.

 

Có hai trào lưu chính ảnh hưởng nền âm nhạc của nước ta. Trào lưu thứ nhất đến từ các bậc học giả, qua việc nghiên cứu các cung bậc cho thích hợp với các dịp khánh tiết. Trào lưu thứ nhì đến từ các nghệ sĩ dân gian. Tuy không am tường nhiều về âm nhạc học, họ lại là những người đáp ứng các nhu cầu tâm linh thiết thực nhất cho đại đa số dân quê mộc mạc. Trước khi, và sau khi âm nhạc triều đình ra đời, âm nhạc dân gian vẫn có một thế đứng vững vàng trong mọi sinh hoạt văn hóa của dân Việt. Khi ảnh hưởng chính trị của các vua nhà Hậu Lê bắt đầu suy kém, âm nhạc dân gian còn được trình diễn tại chốn triều đình. Nền âm nhạc khiêm tốn này có một sức mạnh bền bỉ, một đức tính nhẫn nại, và tính quảng đại khi đón nhận những gì mới lạ, cải tiến chúng cho thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam.

 

Từ sự am hiểu các thể loại âm nhạc cổ truyền vừa nêu, tôi hy vọng chúng ta sẽ thương yêu hơn những gì ông cha chúng ta đã dày công nghiên cứu, phát triển và truyền bá, tuy phần nhiều thể loại xem chừng khá xa lạ với nhận thức thời nay. Cuối cùng, trong chiều hướng phát huy văn hóa nơi xứ người, thiết tưởng việc am hiểu những nét khái quát về nền âm nhạc cổ truyền đầy sinh động của nước ta là một điều rất cần thiết. Theo tinh thần 'Ôn cố tri tân', sự hiểu biết về âm nhạc cổ truyền của dân tộc và các kinh nghiệm lịch sử có thể giúp chúng ta sáng tạo thêm những thể loại âm nhạc Việt Nam mới, và có thể làm phong phú thêm kho tàng âm nhạc thế giới.

 

6. Tài liệu tham khảo

1.            Addiss, S 1971, 'Music of Cham Peoples', Asian Music, Vol. 2, No. 1, pp. 32-38.

2.        Asian-Indian Calendar 2006, Indian Musical Instruments, www.newyorklife.com/cda/0,3254,11606,00.html

3.             Brodrick, A 1942, Little China: The Annamese Lands, Oxford University Press, London.

4.             Carter, M 1977, Crafts of China, Aldus Books, London.

5.           ChinaCulture.org 2006, Sino-Foreign Cultural Exchanges in Tang Dynasty, retrieved in www.chinaculture.org/gb/en_exchange/2003-09/24/content_29739.htm

6.            Chinese People and Chinese Culture (năm không rõ), Hua Hsin Cultural and Publications Center, Taipei.

7.             Chu Quang Trứ 2001, Mỹ Thuật Lý Trần - Mỹ Thuật Phật Giáo, NXB Mỹ Thuật, Hà Nội.

8.             Conze, E 1959, Buddhism: Its Essence and Development, Harper & Row, New York.

9.           Dư Hồng Phương 1994, Trống Trận Tây Sơn, Đặc San Quang Trung-Tây Sơn Xuân Giáp Tuất. www.home.iprimus.com.au/huynh00/Tay%20son/nhactayson.html

10.           Đào Duy Anh 2000 (1939), Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Hội Nhà Văn, Hà Nội.

11.            Đặng Hoành Loan 2007, Nhã Nhạc Cung Đình Việt Nam, www.vnstyle.vdc.com.vn/vim/vietnamese/thongtin/bai_Nhanhac.htm

12.           Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề 1967, Những Đại Lễ và Vũ Khúc của Vua Chúa Việt Nam, Hoa Lư, Sài Gòn.

13.           Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề 1994 (xuất bản đầu tiên năm 1962 tại Sài Gòn), Việt Nam Ca Trù Biên Khảo, NXB TPHCM.

14.            Foley, K 2001, The Metonymy of Art: Vietnamese Water Puppetry as a Representation of Modern Vietnam, TDP, Vol.45, No.4, pp.129-141.

15.             Grosier, J 1972, The World of Ancient China, Minerva, Genève.

16.            Grousset, R 1971, In the Footsteps of the Buddha, (trans) Mariette Leon 1932, Routledge and Keagan Paul, London.

17.             Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự & Phạm Ngọc Long 1993, Chùa Việt Nam, Khoa Học Xã Hội, Hà Nội.

18.             Huard, P & Durand, M 1954, Connaissance du Việt- Nam, École Française d'Extreme-Orient, Hanoi.

19.              Huchet, (first nam unknown) 1888, Les Cerfs-Volants des Chinois, La Nature, Place unknown.

20.            Kern, H 1963, Saddharma-Pundarika or The Lotus of the True Law, Dover Publications, New York.

21.              Maspero, G 2002 (1928), The Champa Kingdom: The History of an Extinct Vietnamese Culture, White Lotus Press, Bankok.

22.               Lê Qúy Đôn 1973, Vân Đài Loại Ngữ, Phạm Vũ & Lê Hiền dịch và chú giải, Miền Nam, Sài Gòn.

23.               Lý Tế Xuyên 1974, Việt điện U Linh Tập, Sống Mới, Sài Gòn.

24.              Nguyễn Ánh Linh 2003, 'Đàn Tranh, Đàn Bầu: Di Sản Văn Hóa Việt Nam', trong Di Sản Dân Tộc và Vai Trò của Trí Thức, Đại Hội CGVN / Kỳ 10, Tây Úc.

25.              Nguyễn Bá Lăng 1972, Kiến Trúc Phật Giáo Việt Nam, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn.

26.             Nguyễn Huy Hồng & Trần Trung Chính 1996, Vietnamese Traditional Water Puppetry, The Gioi Publishers, Hanoi.

27.              Nguyễn Huyền Anh 1972, Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, Khai Trí, Sài Gòn.

28.       Nguyễn Văn Chương 2005, Còn Ai Đánh Nhạc Võ Tây Sơn 45 Trống? www.vnnews.net/forums/showthread.php?t=66965

29.              Nhất Thanh 1968, Đất Lề Quê Thói: Phong Tục Việt Nam, Cơ Sở Đường Sáng, Sài Gòn.

30.              Okazaki, J 1977, Pure Land Buddhist Painting, Kodansha, Tokyo.

31.              Phạm Duy 1975, Musics of Vietnam, Dale Whiteside (ed), Southern Illinois University Press, Illinois.

32.              Phạm Đình Hổ 1998, Vũ Trung Tùy Bút, dịch giả: Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Văn Nghệ, TPHCM.

33.              Ruhe, B 2003, An Embassador to the Global Kite World- Meeting Mr Be, Vietnamese Grandmaster, Drachen Foundation Journal.

34.              Sarak, S 2006, History of Khmer Kites, <http://subvision.net/sky/planetkite>/asia/cambodia/khmer-kitebook.htm.

35.              Scott, A 1957, The Classical Theatre of China, George Allen & Unwin, London.

36.              Soothill, W 1994, The Lotus of the Wonderful Law (dịch từ Miao-Fa Lien Hua Ching), Curzon Press, Richmond Surrey.

37.              Tạ Chí Đại Trường 1973, Lịch Sử Nội Chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802, Văn Sử Học, Sài Gòn.

38.              Thái Tẩu 2000, Nhạc Võ Tây Sơn, Đặc San Quang Trung-Tây Sơn Xuân Canh Thìn, www.home.iprimus.com.au/huynh00/Tay%20son/nhactayson.html

39.              Thái Văn Kiểm 1960, Cố Đô Huế: Lịch Sử, Cổ Tích, Thắng Cảnh, Bình Minh, Sài Gòn.

40.              The Sound of Ganges River 2006, History of Buddhist Music, www.fgs.ca/buddhistmusic/history.htm

41.              Thích Nhất Hạnh 1992, Đường Xưa Mây Trắng: Theo Gót Chân Bụt, Lá Bối, San Jose.

42.              Thiền Uyển Tập Anh 1990, Văn Học, Hà Nội.

43.              Toan Ánh 1974, Hội Hè Đình Đám, Sao Mai, Sài Gòn.

44.              Toan Ánh (1999, xuất bản lần đầu năm 1968 tại Sài Gòn), Làng Xóm Việt Nam, NXB TPHCM.

45.              Trần Trọng Kim 1954, Việt Nam Sử Lược, Tân Việt, Sài Gòn.

46.              Trần Trọng Kim 1972, Nho Giáo (Quyển Thượng), Trung Tâm Học Liệu Bộ Giáo Dục, Sài Gòn.

47.              Trần Văn Khê 1962, La Musique Vietnamienne Traditionelle, Paris Presses University, Paris.

48.              Viện Khảo Cổ Học 1987, Trống Đông Sơn, Khoa Học Kỹ Thuật, Hà Nội.

49.              Việt Nam Điêu Khắc Dân Gian 1975, NXB Ngoại Văn, Hà Nội.

50.              Warner, M 1974, The Dragon Empress: Life and Time of Tz'u-hsi 1835-1908 Empress Dowager of China, Cardinal, London.

51.              West, H (ed) 1993, Vietnam, APA Publications, Singapore.

52.              Wriggins, S H 1996, The Silk Road Journey with Xuanzang, Westview Press, Cambridge.

53.              Yamasaki Taiko 1988, Shingon: Japanese Esoteric Buddhism, Shambhala, Boston.

 

Trân trọng biết ơn:

Gs Bửu Khải đã xem lại bản thảo và cho một số ý kiến vô cùng quý giá.


 

Trở về Trang Chính