Ngày
11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam đã chánh thức trở thành thành
viên thứ 150 của Tổ chức Mậu dịch Thế giới (World Trade
Organization), thường được gọi tắt là WTO. Ðây là thời điểm
sau cùng trong thủ tục của WTO, 30 ngày sau khi Việt Nam
thông báo cho WTO biết (ngày 11 tháng 12 năm 2006) rằng các
văn kiện gia nhập WTO đã được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn
(ngày 28 tháng 11 năm 2006). WTO định nghĩa “mậu dịch” là
việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ, và tin tức giữa cá nhân
hoặc đoàn thể (exchange of goods, services and information
between individuals or groups) (1).
Việc gia nhập WTO của Việt Nam không dễ dàng
và suôn sẻ. WTO phải mất hơn 11 năm để “cứu xét” đơn xin
gia nhập của Việt Nam được nộp ngày 1 tháng 1 năm 1995.
Ðoàn công tác (Working Party), được thành lập vào ngày 31
tháng 1 năm 1995, phải trải qua hai đời chủ tịch (Ðại sứ
Seung Ho của Nam Hàn từ 1998 đến 2004 và Ðại sứ Eirik Glenne
của Na Uy từ 2005 đến 2006) và phải họp tất cả 14 lần để xem
xét đơn xin gia nhập của Việt Nam trong khoảng thời gian từ
tháng 7 năm 1998 cho đến tháng 10 năm 2006 (2). Ngoài 14
phiên họp chánh thức đó, Ðoàn công tác còn “… tham dự
nhiều phiên họp bán chánh thức, xem xét hàng ngàn câu trả
lời, hàng ngàn trang tài liệu và vô số luật lệ Việt Nam.
Thêm vào đó, các thành viên của Ðoàn công tác cũng đã thực
hiện hàng trăm buổi đàm phán song phương với Việt Nam. Kết
quả của tiến trình đó được đúc kết trong các tài liệu vừa
được Ðoàn công tác phê duyệt hôm nay.” (3)
Giống như các thành viên khác, Việt Nam phải
tuân thủ các điều lệ và nguyên tắc chung của WTO, các thỏa
ước song phương và đa phương với các thành viên khác, cũng
như các điều khoản mà Việt Nam đã cam kết. Bài viết nầy
nhằm mục đích tóm lược các điều lệ, nguyên tắc, thỏa ước, và
các điều khoản cam kết đó.
SƠ LƯỢC VỀ WTO
WTO, hậu thân của Thỏa ước chung về Thuế quan
và Mậu dịch (General Agreement on Tariffs and Trade (GATT)),
là một trong những tổ chức quốc tế trẻ trung nhất được thành
lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1995. WTO được điều hành bởi Văn
phòng WTO (Secretariat) do một Tổng giám đốc (Director
General) phụ trách có trụ sở đặt tại Geneva, Thụy Sĩ
(Switzerland). Mục tiêu của WTO là giúp cho mậu dịch luân
lưu được dễ dàng, tự do, công bằng, và có thể đoán trước.
Nhiệm vụ chánh của WTO là điều hành các thỏa ước mậu dịch
(administering WTO trade agreements), tạo diễn đàn thương
thảo mậu dịch (forum for trade negotiations), giải quyết
tranh chấp về mậu dịch (handling trade disputes), theo dõi
chánh sách mậu dịch quốc gia (monitoring national trade
policies), huấn luyện và trợ giúp kỹ thuật cho các nước đang
phát triển (technical assistance and training for developing
countries), và hợp tác với các tổ chức quốc tế khác
(cooperation with other international organizations) (4).
WTO hiện có 151 thành viên.
Muốn gia nhập WTO, một quốc gia cần phải đàm
phán với Ðoàn công tác, được WTO thành lập để cứu xét đơn
xin gia nhập của quốc gia đó, và với các thành viên của
WTO. Bất cứ một thành viên của WTO hay bất cứ một quốc gia
có quan tâm đến tình hình mậu dịch của quốc gia đương đơn
đều có thể tham gia Ðoàn công tác. Quốc gia đương đơn phải
trải qua một tiến trình để các thành viên tìm hiểu
(fact-finding process) về chánh sách mậu dịch (trade policy)
của mình và phải chấp nhận một loạt cam kết (series of
commitments) để điều chỉnh chánh sách mậu dịch cho phù hợp
với các thỏa ước của WTO. Tiến trình nầy có thể rất tốn
kém, phức tạp, và thường mất từ 3 đến 10 năm. Riêng Trung
Hoa phải mất trên 15 năm (1).
ÐIỀU LỆ VÀ NGUYÊN TẮC CHUNG CỦA WTO
Thành viên WTO phải tuân thủ các điều lệ về
mậu dịch của WTO (WTO’s trade rules). Các điều lệ nầy chính
là những thỏa ước đạt được thông qua việc đàm phán giữa các
quốc gia, tổng cộng lên đến 60 văn bản (5). Những thỏa ước
nầy được chia làm sáu phần chính như sau:
1.
Thỏa ước bao quát (umbrella agreement)
Thỏa ước bao quát là Thỏa ước Marrakesh Thành
lập WTO (Marrakesh Agreement Establishing the WTO), được ký
kết tại Marrakesh, Morocco vào ngày 15 tháng 4 năm 1994.
2.
Các nguyên tắc căn bản (basic principles)
a.
Thỏa ước GATT, được ký kết năm 1947 và cập
nhật năm 1994, là nguyên tắc căn bản cho việc trao đổi hàng
hóa (goods).
b.
Thỏa ước chung về Trao đổi Dịch vụ (General
Agreement on Trade in Services) (Thỏa ước GATS), được ký kết
năm 1995, là nguyên tắc căn bản cho việc trao đổi dịch vụ
(services). Dịch vụ bao gồm ngân hàng (banking), viễn thông
(telecommunications), du lịch (tourism), dịch vụ chuyên môn
(professionsal services), v.v.
c.
Thỏa ước về Quyền Sở hữu Trí tuệ Liên quan
đến Khía cạnh Mậu dịch (Agreement on Trade-Related Aspects
of Intellectual Property Rights) (TRIPS), được ký kết năm
1994, là nguyên tắc căn bản cho việc trao đổi ý tưởng
(ideas) và tri thức (knowledge). Sở hữu trí tuệ bao gồm bản
quyền và các quyền liên hệ (copyright and related rights),
thương hiệu (trademarks), địa danh (geographical
indications), thiết kế kỹ nghệ (industrial designs), cầu
chứng (patents), thiết kế mạch tổng hợp (layout-designs of
integrated circuits), và bí mật nhà nghề (undisclosed
information and trade secrets).
3.
Các chi tiết (additional details)
Các chi tiết nầy có thể bao gồm các thỏa ước
bổ túc (extra agreements) và phụ bản (annexes) mô tả những
yêu cầu đặc biệt cho từng lãnh vực hoặc vấn đề cá biệt.
Ðối với việc trao đổi hàng hóa (GATT), chi
tiết bao gồm nông nghiệp, quy định y tế cho sản phẩm nông
trại (health regulations for farm products), vải vóc và quần
áo (textiles and clothing), tiêu chuẩn cho sản phẩm (product
standards), thủ tục đầu tư (investment measures), biện pháp
chống phá giá (anti-dumping measures), phương pháp ấn định
thuế quan (customs valuation methods), kiểm tra trước khi
giao hàng (preshipment inspection), điều lệ về nguồn gốc
(rules of origin), giấy phép nhập cảng (import licensing),
trợ giá và các biện pháp chống trợ giá (subsidies and
counter-measures), và bảo vệ (safeguards).
Ðối với việc trao đổi dịch vụ (GATS), chi
tiết bao gồm việc di chuyển của con người (movement of
natural persons), không vận (air transport), dịch vụ tài
chánh (financial services), vận chuyển (shipping), và viễn
thông (telecommunications).
4.
Các cam kết (schedules or lists of
commitments)
Là các danh sách rất dài và chi tiết liệt kê
các hàng hóa và các nhà cung cấp dịch vụ ngoại quốc mà một
quốc gia thành viên WTO cho phép du nhập vào thị trường của
mình. Ðối với hàng hóa (GATT), các cam kết có thể là thuế
suất (tariff) đánh trên hàng hóa hoặc thuế suất hạn ngạch
(tariff quota) cho một số nông sản. Ðối với dịch vụ (GATS),
các cam kết phải nêu rõ các lãnh vực và mức độ mà các nhà
cung cấp dịch vụ ngoại quốc được phép hoạt động và các loại
dịch vụ mà quốc gia đó sẽ không áp dụng nguyên tắc không kỳ
thị “tối huệ quốc” (“most-favoured-nation” principle of
non-discrimination).
5.
Dàn xếp tranh chấp (dispute settlement)
Quốc gia thành viên phải dùng hệ thống đa
phương do WTO ấn định để dàn xếp tranh chấp thay vì có hành
động đơn phương. Việc dàn xếp tranh chấp thuộc thẩm quyền
của Cơ quan Dàn xếp Tranh chấp (Dispute Settlement Body) bao
gồm tất cả thành viên WTO.
6.
Minh bạch (transparency)
Ðiều lệ và chánh sách (regulations and
policies) liên quan đến mậu dịch của quốc gia thành viên
phải minh bạch. WTO bảo đảm sự minh bạch bằng hai cách: (1)
quốc gia thành viên phải thông báo định kỳ (regular
notifications) với WTO và thành viên bạn về các biện pháp,
chánh sách hoặc luật lệ và (2) WTO duyệt xét định kỳ
(regular reviews) chánh sách mậu dịch của các quốc gia thành
viên.
Mặc dù các thỏa ước WTO rất dài và phức tạp,
chúng dựa trên năm nguyên tắc căn bản và đơn giản làm nền
móng cho hệ thống mậu dịch đa phương của WTO. Năm nguyên
tắc nầy được tóm tắt như sau:
1.
Mậu dịch bình đẳng (trade without
discrimination): một quốc gia không nên phân biệt đối xử
giữa các đối tác mậu dịch (trade partners), giữa hàng hóa
nội địa và nhập cảng, giữa nhà cung cấp dịch vụ trong và
ngoài nước, và giữa người bản xứ với người ngoại quốc.
2.
Mậu dịch tự do hơn (freer trade): hạ thấp dần
các hàng rào mậu dịch (trade barriers) thông qua đàm phán để
thúc đẩy mậu dịch.
3.
Sự tin cậy (predictability): các công ty
ngoại quốc, các nhà đầu tư, và các nước khác sẽ tin rằng
hàng rào mậu dịch sẽ không bị nâng cao một cách tùy tiện.
4.
Cạnh tranh lành mạnh (fair competition): ngăn
ngừa các lề lối mậu dịch bất công (unfair practices) như hổ
trợ xuất cảng và bán phá giá.
5.
Nhiều lợi ích hơn cho các quốc gia kém phát
triển (more beneficial for less developed countries): các
quốc gia nầy có nhiều thời giờ để điều chỉnh, điều lệ được
áp dụng uyển chuyển hơn, và có nhiều đặc lợi (privileges)
hơn.
ÐIỀU LỆ VÀ TIÊU CHUẨN RIÊNG ÁP DỤNG CHO VIỆT NAM
Ngoài những điều lệ và nguyên tắc áp dụng
chung cho các thành viên, Việt Nam còn phải cam kết thi hành
các điều khoản được mô tả trong “Quy định cho việc Thu nhận
nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” (Protocol on the
Accession of the Socialist Republic of Vietnam) (Quy định),
được Ðại hội đồng (General Council) WTO chấp thuận vào ngày
7 tháng 11 năm 2006. Theo Quy định nầy, Việt Nam phải thi
hành những cam kết được ghi trong Phụ bản I của Quy định,
liệt kê những nhượng bộ và cam kết về hàng hóa và dịch vụ,
cùng với những điều khoản được ghi ở Ðiều 527 trong Phúc
trình của Ðoàn công tác (6). Ðây là danh sách và thời biểu
chi tiết mà Việt Nam cam kết sẽ thi hành trong việc trao đổi
hàng hóa và dịch vụ và thiết lập các cơ chế và luật lệ mậu
dịch.
Nhượng bộ và Cam kết về Hàng hóa
Những nhượng bộ và cam kết về hàng hóa
(Schedule of Concessions and Committments annexed to the
GATT 1994) được ghi trong hai văn kiện WT/ACC/VNM/48/Add.1
và WT/ACC/VNM/48/Add.1 Part 2. Hai văn kiện nầy, dài tổng
cộng 560 trang, liệt kê thuế suất và hạn ngạch cho từng loại
hàng hóa, giới hạn (ceiling) trong việc hỗ trợ nông nghiệp
(agricultural subsidies), và trong vài trường hợp, thời biểu
áp dụng. Những nhượng bộ và cam kết quan trọng được tóm
lược như sau:
*
Thuế suất đánh trên hầu hết hàng hóa, kể cả
nông sản, sẽ không quá giới hạn 35%. Thuế suất cao hơn 35%
đánh trên một số sản phẩm (thí dụ như rượu, thuốc lá, cà phê
uống liền (instant coffee), xe hơi cũ và mới, phụ tùng xe
hơi, và ngói) sẽ được giãm dần, kể từ nay cho đến 2014.
*
Một số sản phẩm về kỹ thuật thông tin
(information technology) nhập cảng từ các quốc gia thành
viên đã ký kết Thỏa ước Kỹ thuật Thông tin (Information
Technology Agreement) sẽ được miễn thuế. Một số sản phẩm có
hiệu lực ngay lập tức, một số khác sẽ được miễn dần từ nay
cho đến 2010 hoặc 2014.
*
Thuế suất trên một vài sản phẩm (như trứng,
thuốc lá, đường, và muối) sẽ được đánh theo thuế suất hạn
ngạch (thuế suất thấp cho số lượng ít hơn hạn ngạch, thuế
suất cao hơn cho số lượng vượt hạn ngạch). Tuy nhiên, Việt
Nam sẽ nới rộng và bãi bỏ hạn ngạch theo thời biểu được thỏa
thuận.
*
Việt Nam có quyền ấn định thuế quan dựa trên
trọng lượng ($/tấn) thay vì trên giá cả (phần trăm) của hàng
hóa, miễn là thuế suất thực sự không vượt quá giới hạn đã
được thỏa thuận.
*
Việt Nam cam kết không trợ giá cho nông sản
xuất cảng. Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam được
quyền hỗ trợ cho nông dân trong nước nhưng không quá 246
triệu $US cộng với 10% tổng sản lượng nông nghiệp nội địa.
Cũng như các thành viên WTO khác, Việt Nam có quyền hỗ trợ
không hạn chế cho các hoạt động không có ảnh hưởng đến mậu
dịch.
*
Có tất cả 18 loại hàng hóa bị cấm lưu hành ở
Việt Nam được ghi ở Bảng 1, Phụ bản 2 trong Phúc trình của
Ðoàn công tác (6). Trong số nầy có
“Sản phẩm văn hóa phản động và khiêu dâm; sản
phẩm phục vụ mê tín hoặc sản phẩm có hại cho việc phát triển
con người (products of reactionary culture and ponographic
products; products serving superstitious purposes or
products which are harmful to personal development).”
Cam kết về Dịch vụ
Cam kết về dịch vụ (Schedule of Specific
Committments annexed to the GATS) được ghi trong văn kiện
WT/ACC/VNM/48/Add.2. Văn kiện nầy, dài tổng cộng 56 trang,
liệt kê tất cả điều kiện và dịch vụ được mở cho các nhà cung
cấp dịch vụ ngoại quốc, kể cả những giới hạn về quyền sở
hữu. Những cam kết quan trọng được tóm lược như sau:
*
Các nhà cung cấp dịch vụ ngoại quốc được phép
hoạt động trong các lãnh vực kinh doanh (business), bưu
chính và viễn thông (communication), xây cất, phân phối hàng
hóa (distribution), giáo dục, môi trường, tài chánh
(financial), y tế-xã hội, du lịch, giải trí và thể thao, và
vận tải.
*
Trong một số lãnh vực được thỏa thuận, Việt
Nam có thể giới hạn quyền sở hữu ngoại quốc của các nhà cung
cấp dịch vụ ngoại quốc. Thí dụ, trong một số dịch vụ viễn
thông, sở hữu ngoại quốc bị giới hạn trong khoảng 49 đến
65%.
*
Quyền sở hữu ngoại quốc của hầu hết các dịch
vụ sẽ được điều chỉnh đến mức tối đa (100%) theo thời biểu
được thỏa thuận (thường là vài năm). Ðối với các dịch vụ
khác (thí dụ như kế toán), các nhà cung cấp dịch vụ ngoại
quốc có quyền sở hữu hoàn toàn (100%) ngay lập tức.
*
Có tất cả 5 loại dịch vụ bị cấm hoạt động ở
Việt Nam được ghi ở Bảng 1, Phụ bản 2 trong Phúc trình của
Ðoàn công tác (6). Trong số nầy có
“Kinh doanh nhà chứa, tổ chức mại dâm, buôn
bán phụ nữ và trẻ em (brothel business, organizing
prostitution, trafficking in women and children); tổ chức cờ
bạc dưới mọi hình thức (organized gambling in any form); môi
giới kết hôn với người nước ngoài để trục lợi (marriage
broking involving a foreign element for profit-making
purposes).”
Ðiều 527 trong Phúc trình của Ðoàn công tác
Phúc trình của Ðoàn công tác tức văn kiện
WT/ACC/VNM/48, dài tổng cộng 198 trang (không kể hai phụ bản
vừa nêu), ghi chép tất cả các cam kết về những đổi mới
(reforms) mà phía Việt Nam sẽ duy trì và thực hiện để được
gia nhập WTO. Ðây là những cam kết về chánh sách kinh tế,
thủ tục hành chánh, và khuôn khổ luật pháp được thỏa thuận
thông qua các cuộc đàm phán với Ðoàn công tác hoặc các thành
viên WTO khác. Nguyên văn của Ðiều 527 được lược dịch như
sau:
“Ðoàn công tác ghi nhận và phản ánh trong
Phúc trình những lời giải thích và phát biểu liên quan đến
chế độ mậu dịch quốc tế (foreign trade regime) của Việt
Nam. Ðoàn công tác ghi nhận những cam kết của Việt Nam liên
quan đến một số vấn đề cụ thể (specific matters) được lập
lại trong các điều 31, 78, 79, 95, 103, 117, 119, 134, 135,
139, 146, 147, 155, 158, 162, 174, 177, 184, 198, 199, 206,
208, 209, 215, 216, 218, 227, 238, 244, 250, 253, 255, 260,
269, 281, 286, 288, 303, 315, 316, 328, 332, 339, 355, 366,
403, 465, 471, 479, 480, 483, 484, 485, 488, 489, 491, 494,
496, 498, 499, 502, 503, 506, 507, 508, 517, 518, 519, 523,
và 526 của Phúc trình. Ðoàn công tác ghi nhận rằng các cam
kết nầy đã được ghi trong điều 2 của bản dự thảo Quy định
cho việc Thu nhận Việt Nam vào WTO”
(2).
Những cam kết quan trọng (7) được tóm lược
như sau:
*
Về chánh sách kinh tế: Việt Nam sẽ chuyển đổi
từ nền kinh tế tập trung do nhà nước chi phối (kinh tế xã
hội chủ nghĩa) sang nền kinh tế thị trường tự do (free
market) không có sự can thiệp của nhà nước.
*
Về thủ tục hành chánh: Việt Nam sẽ thiết lập
hoặc cải tổ các cơ cấu và thủ tục hành chánh hiện có cho phù
hợp với điều lệ và nguyên tắc của WTO, đặc biệt là tính minh
bạch. Luật lệ có liên quan đến mậu dịch phải được phổ biến
trên Công Báo hoặc các phương tiện truyền thông.
*
Về luật pháp: Việt Nam phải có đầy đủ luật lệ
và cơ chế tư pháp độc lập để giải quyết tranh chấp mậu dịch
theo đúng quy định của WTO.
*
Về hối đoái: Việt Nam sẽ tuân thủ các điều lệ
của WTO và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund
(IMF)).
*
Về ngân hàng: Ngân hàng có vốn ngoại quốc
100% được phép hoạt động kể từ ngày 1 tháng 4 năm 2007.
*
Ðối với các doanh nghiệp quốc doanh (state
enterprises): hoạt động kinh doanh thương mại (ngoại trừ
việc cung cấp cho chánh phủ) sẽ được tiến hành theo thủ tục
thương mại không có sự can thiệp của chánh phủ. Một số sản
phẩm như thuốc lá, xăng dầu, báo chí (newspaper), tạp chí
(journal), dụng cụ thính thị (audio-visual materials), và
máy bay thuộc quyền kinh doanh của doanh nghiệp quốc doanh.
*
Việc giải tư và cổ phần hóa xí nghiệp quốc
doanh (privatization and equitization of state enterprises):
sẽ được tiến hành minh bạch và phải báo cáo hàng năm cho
WTO.
*
Việc định giá và kiểm soát giá (pricing and
price controls): Việt Nam sẽ tuân thủ các thỏa ước WTO và sẽ
thông báo cho WTO biết các biện pháp để kiểm soát giá cả.
*
Cơ chế hoạch định và thi hành chánh sách
(policy-making and enforcing framework): một số cơ cấu hành
chánh và luật pháp đã được thiết lập hoặc củng cố để áp dụng
các điều khoản của WTO, kể cả việc điều tra và duyệt xét
pháp lý (investigation and legal review) trong việc khiếu
nại (complaints).
*
Ðối với quyền mậu dịch (quyền xuất nhập
cảng): một bộ luật mới được soạn thảo để dung hòa sự khác
biệt trong thủ tục đăng ký của doanh gia trong nước và ngoại
quốc. Sau khi đăng ký, doanh nhân hoặc doanh nghiệp ngoại
quốc sẽ được tham gia vào các hoạt động xuất nhập cảng như
là một nhà xuất nhập cảng “chánh thức” (of record), và được
quyền chọn nhà phân phối nội địa (domestic distributors).
*
Về thuế quan nội địa (excise duties): Việt
Nam đồng ý đơn giản hóa thuế biểu trong vòng 3 năm bằng cách
áp dụng thuế suất duy nhất, một cho rượu bia và một cho tất
cả các loại rượu có nồng độ trên 20%.
*
Giới hạn về số lượng (quantitative and other
restrictions): việc áp dụng hạn ngạch, ngăn cấm (bans) và
các giới hạn khác, bao gồm việc nhập cảng thuốc lá, xì gà và
xe cũ, sẽ được tiến hành theo đúng điều lệ của WTO hoặc được
bãi bỏ.
*
Ðiều lệ trong các thỏa ước WTO (WTO
agreements dealing with rules): chẳng hạn như việc ấn định
thuế quan, điều lệ về nguồn gốc, kiểm soát trước khi giao
hàng, chống phá giá, bảo vệ, trợ giá, và thủ tục đầu tư mậu
dịch (trade-related invesment measures) sẽ được Việt Nam áp
dụng ngay lập tức, ngoại trừ một vài điều khoản được tạm
hoãn một thời gian.
*
Các giới hạn xuất cảng: Việt Nam sẽ tiếp tục
kiểm soát việc xuất cảng một số sản phẩm như gạo cùng một số
đồ gỗ và khoáng sản, nhưng sẽ không đi ngược lại các thỏa
ước WTO.
*
Tiêu chuẩn (standards): Việt Nam sẽ tuân thủ
các Thỏa ước về Hàng rào Kỹ thuật trong Mậu dịch (Technical
Barriers to Trade (TBT)) và Biện pháp Vệ sinh và Vệ sinh
Thực vật (Sanitary and Phytosanitary Measures (SPS)) ngay
lập tức.
*
Việc mua sắm của chánh phủ (government
procurement): Việt Nam sẽ cứu xét việc ký kết Thỏa ước về
việc Mua sắm của Chánh phủ (Government Procurement
Agreement) sau khi gia nhập WTO.
*
Sở hữu trí tuệ: Việt Nam sẽ tuân thủ Thỏa ước
TRIPS ngay lập tức.
ÐIỀU LỆ VÀ CAM KẾT ÐÃ THỰC HIỆN
Không phải đợi đến khi được gia nhập WTO Việt
Nam mới bắt đầu thực hiện các điều lệ, nguyên tắc, và cam
kết được thỏa thuận. Ngược lại, Việt Nam đã phải thực hiện
một số điều lệ và nguyên tắc căn bản của WTO cùng các yêu
cầu của một số thành viên để được thu nhận vào tổ chức quốc
tế nầy. Ðại sứ Glenne, trong buổi họp sau cùng của Ðoàn
công tác vào ngày 26 tháng 10 năm 2006, đã ca ngợi thành quả
mà Việt Nam đã đạt được: “Việc gia nhập WTO là một tiến
trình mất nhiều thời giờ và công sức và đòi hỏi nhiều quyết
định về chánh sách rất khó khăn. Chánh phủ Việt Nam rất
đáng được khâm phục trong việc đáp ứng các yêu cầu của thành
viên một cách xây dựng và nhanh chóng cũng như trong việc
thiết lập và thi hành luật lệ phù hợp với WTO.” Còn đại
diện của Liên hiệp Âu Châu (EU) thì cho rằng: “Ðó [việc
thực hiện các điều lệ và nguyên tắc WTO trước khi được thu
nhận] là một con đường đúng đắn bởi vì nó đã thay đổi nền
kinh tế và hệ thống mậu dịch của Việt Nam” (8). Những
điều lệ và cam kết quan trọng mà Việt Nam đã thực hiện trước
khi gia nhập WTO được tóm lược dưới đây.
Cam kết thực hiện kinh tế thị trường
Theo “Tờ trình về kết quả đàm phán gia nhập
Tổ chức Thương mại thế giới và phê chuẩn Nghị định thư gia
nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới” của
Thủ tướng Chánh phủ gởi Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam ngày 15 tháng 11 năm 2006, Việt Nam dường như
không muốn thay đổi nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa; nhưng vì muốn được thu nhận, Việt Nam đã
“chánh thức cam kết sẽ tuân thủ về cơ bản toàn bộ
các hiệp định của WTO ngay từ thời điểm gia nhập” trong
phiên họp tháng 12 năm 2004 của Ðoàn công tác. “Thời
gian đầu, đàm phán tiến triển rất khó khăn vì mức độ “mở”
của nền kinh tế còn thấp, bảo hộ còn cao, cơ chế quản lý còn
chịu nhiều ảnh hưởng của thời bao cấp, phức tạp, cồng kềnh,
nhiều chỗ không tương thích với chuẩn mực của WTO... Ðàm
phán chỉ thực sự được đẩy mạnh trong 3 năm cuối, khi ta đã
có sự chuyển biến mạnh về nhận thức của xã hội đối với hội
nhập kinh tế quốc tế căn cứ trên các thành tựu phát triển
kinh tế-xã hội, khi đội ngũ đàm phán dần được kiện toàn,
năng lực xây dựng pháp luật được nâng cao” (9).
Việc chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế Việt Nam
được ghi nhận ở Ðiều 7 trong Phúc trình của Ðoàn công tác:
“Các thành viên ghi nhận những đổi mới tích cực đã được
thực hiện và khuyến khích Việt Nam tiếp tục thực hiện các
chánh sách nhắm đến kinh tế thị trường, tự do hóa, và minh
bạch hóa mậu dịch... Một vài thành viên nghĩ rằng Việt Nam
cần phải điều chỉnh (adjustments) nhiều hơn nữa chế độ mậu
dịch và pháp luật để đáp ứng yêu cầu của WTO...” (2).
Thiết lập hệ thống luật pháp về mậu dịch phù
hợp với WTO
Sau khi cứu xét đơn xin gia nhập, Ðoàn công
tác đã yêu cầu phía Việt Nam soạn thảo một Chương trình xây
dựng pháp luật để thiết lập một hệ thống luật pháp về mậu
dịch phù hợp với điều lệ và nguyên tắc của WTO. Chương
trình nầy được thi hành từ năm 2000, và cho đến tháng 7 năm
2006, “... 25 trong số 26 văn bản cam kết trong Chương
trình đã được ban hành, chỉ còn Bộ luật Thi hành án dự kiến
sẽ được Quốc hội thông qua tại kỳ họp cuối năm 2006”
(9). Ngoài 26 bộ luật được ghi trong Chương trình, Việt Nam
đã ban hành rất nhiều quy định, nghị định, quyết định có
tánh cách pháp lý sau ngày nộp đơn xin gia nhập WTO. Theo
Phụ bản 1 trong Phúc trình của Ðoàn công tác, có đến 162
trong 184 văn kiện pháp lý mà phía Việt Nam nộp cho WTO được
ban hành sau ngày 1 tháng 1 năm 1995.
Thiết lập cơ chế minh bạch hóa mậu dịch
Khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết sẽ tuân
thủ toàn bộ các quy định về minh bạch hóa của WTO bao gồm
việc công bố dự thảo luật liên quan đến mậu dịch để lấy ý
kiến của dân và đăng tải các văn bản pháp luật được ban hành
trên các tạp chí hoặc trang điện tử trên internet.
Ðể bảo đảm cho những cam kết đó, WTO yêu cầu
và Việt Nam đã ấn định điều lệ và thủ tục về việc ban hành
và góp ý kiến các văn bản pháp luật về mậu dịch qua Luật về
việc Ban hành Văn bản Luật pháp được Quốc hội phê chuẩn ngày
12 tháng 11 năm 1996 và tu chỉnh ngày 16 tháng 12 năm 2002
và qua Nghị định số 161/2005/ND-CP của Thủ tướng ký ngày 27
tháng 12 năm 2005. Theo đạo luật nầy, các dự thảo luật phải
được phổ biến đến các cá nhân hoặc tổ chức có thể bị ảnh
hưởng hoặc đăng tải trên báo chí để thu thập ý kiến của
dân. Tất cả văn bản pháp luật phải được đăng tải trên Công
Báo và chỉ có hiệu lực 15 ngày sau khi được đăng hoặc một
ngày trễ hơn đã được ấn định. Việc ấn hành tờ Công Báo của
nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được quy định trong
Nghị định số 104/2004/ND-CP của Thủ tướng ký ngày 23 tháng 3
năm 2004 và Hướng dẫn Thực hiện số 04/2005/TT-VPCP của Văn
phòng Thủ tướng ký ngày 21 tháng 3 năm 2005.
Việt Nam đã cung cấp cho WTO danh sách các
website (Bảng 23 trong Phúc trình của Ðoàn công tác) có đăng
tải luật lệ và quy định liên quan đến mậu dịch như sau:
1.
Văn phòng Quốc hội (www.na.gov.vn)
2.
Văn phòng Chánh phủ (www.chinhphu.vn)
3.
Bộ Kế hoạch và Ðầu tư (www.mpi.gov.vn)
4.
Bộ Tài chánh (www.mof.gov.vn)
5.
Bộ Thương mại (www.mot.gov.vn)
6.
Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn)
7.
Bộ Bưu chính và Viễn thong (www.mpt.gov.vn)
8.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (www.sbv.gov.vn)
9.
Bộ Khoa học và Công nghệ (www.most.gov.vn)
10.
Bộ Kỹ nghệ (www.moi.gov.vn)
11.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (www.mard.gov.vn)
Thiết lập tiêu chuẩn quốc gia (national
standards)
Ðể bảo đảm cho việc tuân thủ Thỏa ước TBT,
vào tháng 6 năm 2006, Việt Nam đã ban hành Luật về Tiêu
chuẩn và Quy định Kỹ thuật bao gồm tất cả các tiêu chuẩn ghi
trong các văn bản pháp luật hiện hành như Quy định về Ðo
lường, Phẩm chất Thực phẩm, Vệ sinh và An toàn Thực phẩm,
Bảo vệ Thực vật, Thú y, và Bảo vệ Giới Tiêu thụ. Việt Nam
cũng thực thi nhiều chương trình để dung hòa (harmonize)
tiêu chuẩn quốc gia với tiêu chuẩn quốc tế. Tính đến cuối
năm 2004, Việt Nam có trên 5.800 tiêu chuẩn, khoảng 1.450
tiêu chuẩn dịch thẳng và khoảng 4.350 nháy theo tiêu chuẩn
quốc tế hoặc của các quốc gia trong vùng. Ngoại trừ 231
tiêu chuẩn bắt buộc, việc áp dụng tiêu chuẩn có tính cách tự
nguyện (voluntary). Các tiêu chuẩn bắt buộc và những quy
định kỹ thuật được áp dụng tại Việt Nam có thể đặt mua ở
Trung tâm Thông tin Tiêu chuẩn Ðo lường Chất lượng trực
thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Ðo lường Chất lượng (STAMEQ) (www.tcvninfo.gov.vn).
KHÓ KHĂN VÀ THÁCH THỨC TRONG TƯƠNG LAI
Những thành quả mà Việt Nam đã đạt được, kể
từ khi nộp đơn xin gia nhập WTO cho đến nay, dường như chỉ
giới hạn trong các lãnh vực chánh sách, thủ tục hành chánh,
pháp luật, và quản trị kinh doanh. Còn những cam kết kỹ
thuật đòi hỏi trình độ chuyên môn và kinh nghiệm cao, thì
vẫn còn là những khó khăn mà Việt Nam phải đối phó trong
thời gian sắp tới.
Cam kết quan trọng và khó thực hiện nhất là
việc tuân thủ ngay lập tức các Thỏa ước TBT và SPS. Ðây là
hai thỏa ước quan trọng nhất của WTO nhằm các mục tiêu tối
hậu (legitimate objectives) như bảo vệ sức khỏe và an toàn
của con người, bảo vệ đời sống hoặc sức khỏe của thực động
vật, bảo vệ môi trường, an ninh quốc gia, và ngăn ngừa thủ
đoạn gian manh.
Thỏa ước TBT cho phép một quốc gia được can
thiệp vào (obstruct) mậu dịch nếu có lý do tối hậu, chẳng
hạn như sức khỏe, nhưng thủ tục áp dụng không được hạn chế
(restrict) mậu dịch một cách không cần thiết. Các quốc gia
thành viên được khuyến khích sử dụng tiêu chuẩn y tế quốc tế
của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization (WHO)),
nhưng cũng có quyền sử dụng tiêu chuẩn y tế quốc gia, với
điều kiện là phải biện minh được cho quyết định của mình nếu
các thành viên khác yêu cầu. Các tiêu chuẩn quốc gia nầy,
ngoài việc bảo vệ sức khỏe con người, còn có thể nhắm các
mục đích khác như an ninh quốc gia, ngăn ngừa thủ đoạn gian
manh, an toàn, và bảo vệ môi trường. Sau khi gia nhập, việc
thi hành Thỏa ước TBT sẽ được WTO duyệt xét 3 năm một lần.
Thỏa ước SPS bao gồm các quy định cụ thể
trong việc hạn chế mậu dịch nhằm mục đích bảo đảm an toàn
thực phẩm hoặc ngăn ngừa bệnh truyền nhiễm qua động thực
vật. Các quốc gia thành viên được khuyến khích sử dụng tiêu
chuẩn, hướng dẩn, và đề nghị quốc tế (international
standards, guidelines and recommendations) để tuân thủ Thỏa
ước SPS. Các quốc gia thành viên có thể áp dụng các biện
pháp y tế chưa có trong tiêu chuẩn quốc tế hoặc khắt khe hơn
các tiêu chuẩn quốc tế, với điều kiện chúng phải được biện
minh một cách khoa học.
Có lẽ vì nhận thức được những khó khăn đó,
trong tiến trình đàm phán, Việt Nam đã yêu cầu một thời gian
chuyển tiếp từ 3 đến 5 năm để thực hiện nhưng không được các
thành viên chấp thuận (9). Tuy nhiên, yêu cầu trợ giúp kỹ
thuật của Việt Nam được WTO ghi nhận ở điều 327 trong Phúc
trình của Ðoàn công tác: “Mặc dù
lúc ban đầu đại diện Việt Nam cho biết là Chánh phủ của Ông
thiếu nhân lực, phương tiện, và cơ sở để thực hiện trọn vẹn
các cam kết trong Thỏa ước SPS và cần một thời gian chuyển
tiếp, nhưng sau đó đại diện Việt Nam đã xác nhận rằng Việt
Nam sẽ tuân thủ các yêu cầu của Thỏa ước SPS ngay sau khi
được gia nhập mà không cần qua giai đoạn chuyển tiếp. Tuy
nhiên, Ông lưu ý rằng Việt Nam cần được trợ giúp kỹ thuật
trong lãnh vực SPS, như được ghi trong Ðiều 9 của Thỏa ước
SPS. Ông hy vọng sẽ nhận được sự trợ giúp trong việc huấn
luyện nhân viên; thiết lập thủ tục thông báo (notification);
thực hiện tạp chí SPS; cung cấp dụng cụ kỹ thuật và khả năng
chuyên môn (đặc biệt trong việc phân tích nguy cơ gây bệnh,
đánh giá, giám sát, kiểm soát, và thủ tục chuẩn nhận) để xây
dựng các phòng thí nghiệm Việt Nam, các hệ thống thông tin
và các biện pháp kiểm soát.”
KẾT LUẬN
Khi gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết tuân
thủ ngay lập tức tất cả các điều lệ và nguyên tắc chung về
mậu dịch của WTO. Các điều lệ và nguyên tắc chung nầy là
kết quả của các cuộc đàm phán giữa các quốc gia thành viên
từ năm 1947 được đúc kết trong 60 văn bản, thường được gọi
là Thỏa ước WTO. Mục đích của các thỏa ước nầy là giúp cho
mậu dịch thế giới được bình đẳng và tự do hơn, tăng cường sự
tin cậy lẫn nhau, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, và ưu
đãi các quốc gia kém phát triển.
Việt Nam cũng cam kết tuân thủ, ngay lập tức
hoặc theo thời biểu được ấn định, các điều khoản riêng được
ghi trong Quy định cho việc Thu nhận nước Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam mà Ðại hội đồng WTO chấp thuận ngày 7
tháng 11 năm 2006. Các điều khoản nầy bao gồm những nhượng
bộ và cam kết về thuế suất và hạn ngạch cho các loại hàng
hóa và hỗ trợ nông nghiệp; các cam kết về dịch vụ bao gồm
điều kiện và giới hạn quyền sở hữu áp dụng cho các nhà cung
cấp dịch vụ ngoại quốc; và các cam kết về chánh sách kinh
tế, thủ tục hành chánh, khuôn khổ luật pháp, và minh bạch
hóa mậu dịch.
Ðể bảo đảm cho việc tuân thủ Thỏa ước WTO,
Việt Nam được yêu cầu và đã thực hiện một số điều khoản
trước khi được thu nhận chánh thức vào ngày 11 tháng 1 năm
2007. Một số thành quả đáng chú ý được WTO ca ngợi gồm có
việc cam kết thực hiện nền kinh tế thị trường tự do và việc
thiết lập hệ thống luật pháp về mậu dịch phù hợp với WTO, cơ
chế minh bạch hóa mậu dịch, và tiêu chuẩn quốc gia.
Các thành quả nầy chỉ giới hạn trong các lãnh
vực chánh sách, thủ tục hành chánh, luật pháp, và quản trị
kinh doanh. Còn những cam kết kỹ thuật đòi hỏi trình độ
chuyên môn và kinh nghiệm cao thì vẫn còn là những khó khăn
mà Việt Nam phải đối phó trong thời gian sắp tới. Cam kết
quan trọng và khó thực hiện nhất là việc tuân thủ ngay lập
tức các Thỏa ước TBT (bảo vệ sức khỏe con người, an ninh
quốc gia, an toàn, bảo vệ môi trường, và ngăn ngừa thủ đoạn
gian manh) và Thỏa ước SPS (bảo đảm an toàn thực phẩm và
ngăn ngừa bệnh truyền nhiễm qua động thực vật). Thật vậy,
từ tháng 4 năm 2007, Nga đã cấm nhập cảng thủy sản Việt Nam
vì vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm. Ðến ngày 25 tháng 6
năm 2007, Ðại sứ Nhật Bản tại Việt Nam đã gởi thơ thông báo
cho Bộ trưởng Bộ Thủy sản Việt Nam rằng nếu việc vi phạm
chất kháng sinh trong thủy sản xuất cảng sang Nhật không
được giải quyết, Nhật Bản sẽ áp dụng biện pháp cấm nhập cảng
(10).
Nhà cầm quyền Việt Nam cũng cho đó là “một
thách thức lớn” và “cần phải có một đội ngũ cán bộ
quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương, cơ sở và một
đội ngũ doanh nhân đủ mạnh. Ðội ngũ những người hoạt động
trên lĩnh vực đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế phải
được tăng cường. Ðây cũng là một thách thức to lớn đối với
ta do phần đông cán bộ của ta còn bị hạn chế về kinh nghiệm
điều hành một nền kinh tế mở, có sự tham gia của yếu tố nước
ngoài. Nếu không có sự chuẩn bị phù hợp, thách thức nầy sẽ
chuyển thành những khó khăn dài hạn rất khó khắc phục.”
(9)
Việt Nam đã yêu cầu WTO trợ giúp trong việc
huấn luyện chuyên viên và hình như đang soạn thảo “… một
chương trình đào tạo quy mô, trong đó huy động cả lực lượng
chuyên gia quốc tế, đặc biệt lực lượng người Việt ở nước
ngoài, đào tạo và tư vấn theo chiều sâu và thực chất sớm
hình thành một đội ngũ chuyên gia đủ trình độ và đủ năng lực
để bảo vệ quyền lợi thích đáng và có thể có của DN [doanh
nghiệp] trong giai đoạn mới hội nhập.” (11)
Việc huấn luyện chuyên viên Việt Nam, qua sự
trợ giúp kỹ thuật của WTO hoặc qua chương trình đào tạo quy
mô với chuyên gia quốc tế, chỉ có hiệu quả một khi các
chuyên viên nầy đã có một trình độ và năng lực tối thiểu.
Hệ thống giáo dục hiện nay ở Việt Nam dường như chưa có đủ
khả năng để đào tạo những chuyên viên đạt được trình độ và
năng lực tối thiểu đó!