|
Nước
Trung Hoa vào cuối thế kỷ 19 là một nước rất yếu ớt, bạc nhược
'hết xí quách', bởi triều đình nhà (Mãn) Thanh đang lâm vào cảnh
thoái hoá suy tàn, nhất là sau cuộc chiến tranh Nha Phiến xảy ra
vào hai thập niên 1840's và 1850's. Thêm vào đó Thanh triều đã
phải chia cắt đất ở vùng biển Đông, nhượng lại cho rất nhiều
cường quốc như: Vương quốc Anh, Pháp, Nga Sô, Nhật, và Hoa Kỳ.
Ước muốn độc lập, giành lại chủ quyền đất nước đã dẫn đến cuộc
cách mạng Tân Hợi, 10 tháng 10 năm 1911, chấm dứt chế độ phong
kiến nhà Thanh trên toàn lãnh thổ nước Tàu. Bác Sĩ Tôn Dật Tiên,
tức nhà cách mạng Tôn Trung Sơn, tạm ngưng cuộc sống lưu vong
bên Nhật trở về nước và đảm nhận chức vụ Đại Tổng Thống lâm thời
của Cộng Hoà Trung Quốc vào ngày 1 tháng Giêng năm 1912. Ngoài
việc đề xuất chủ nghĩa Tam Dân, dựa trên ý tưởng của Alexander
Hamilton và Abraham Lincoln [1], Tôn Dật Tiên còn rất nổi tiếng
khi chủ xướng rằng dân Trung Hoa hiện đại bao gồm 5 tộc người
chính: Hán, Mông, Mãn, Tạng, và Hồi. Hoàn toàn sát nhập Việt tộc
(tộc riêng của Tôn Văn) vào chung với Hán tộc thành một mối.
Tiếp theo Tôn Dật Tiên là công trình nghiên cứu của học giả Laa
Hương Lâm (Luo Xiang Lin), đặc biệt về người Khách Gia (Hakka)
[2] tức người Hẹ. Học giả họ Laa đại khái cũng đồng ý với Tôn
tiên sinh, cho rằng Việt (Yue) không khác gì Hán qua mấy ngàn
năm lịch sử với nhau. Bởi cả hai vị, Tôn và La, đều là những
người miền Hoa Nam, nhưng lại cổ vũ chuyện Hán-Việt đề huề, nên
từ dạo đó (đầu thế kỷ 20), trên toàn cõi nước Tàu, người Hoa
thường chỉ phân biệt chủng tộc theo 5 phân loại chính như
trên. Như đã âm-vọng qua ngòi bút của Kim Dung – sinh trưởng tại
Chiết Giang, địa bàn của Việt Vương Câu Tiễn năm xưa - trong
'Lộc Đỉnh Ký' và 'Thiên Long Bát Bộ'. Cái gốc Yue-tộc của những
người thuộc khối Bách Việt ở thời xa xưa hoàn toàn được xoá bỏ
và sát nhập thẳng vào Hán tộc. Hoặc ngược lại, Hán tộc của
những vị thánh hiền năm xưa, đã được ‘bổ xung’ vào khối Việt tộc
thuở cổ thời ở Hoa Nam.
Từ đó đưa đến những thứ lí thuyết và tiền đề xây dựng chung
quanh chuyện Hán-Yue đề huề như một tộc người duy nhất, có một
thứ ngôn ngữ chung, xưa cùng một gốc theo phân loại: nhóm ngữ
Hán-Tạng. Dù rằng bất cứ người Hoa nào cũng đều biết rõ cách đây
hai ngàn năm, họ là tập hợp của hằng ngàn bộ tộc khác nhau, mà
tiếng nói và nhân dạng vẫn còn hiện rất rõ nét cho đến ngày nay.
Có lẽ cũng do ở công đề xuất việc nhất thống hai tộc Hán và Yue,
Tôn tiên sinh luôn luôn được sùng bái như một quốc tổ hiện đại ở
cả hai nơi: Trung Hoa lục địa và Đài-Loan (Taiwan).
Thật ra, dưới góc nhìn tổng quan, vấn đề phân biệt hai tộc
Hán-Yue, nhất là sau thời Chu Nguyên Chương đánh đuổi được quân
Nguyên, thiết lập nhà Ming, từ lâu đã trở nên hết sức phức tạp
và khó khăn. Khó khăn và lộn xộn cũng từng thể hiện ngay từ cái
thời Nghiêu Thuấn và Đông Châu Liệt Quốc, đối với những đám man
zi ở miền Hoa Bắc. Đáng kể nhất là nhóm Lạc bộ Trãi mà chúng tôi
đã minh giải rất nhiều lần chính là tiền thân nhóm người Khách
Gia (Hakka), tiếng Việt gọi là Hẹ. Bởi địa bàn sinh sống giữa
các bộ tộc thường đan xen và lẫn lộn với nhau. Thí dụ tại nước
Sở, với vua mang họ Hùng, hầu hết thư tịch cổ người Hoa đều ghi
đó một nước chứa rất nhiều 'rợ'. Triều đình nước Sở cũng có rất
nhiều vị, kể cả các Sở Vương, mang hai giòng máu Hoa và Việt.
Vua Thuấn cũng có nhiều giả thiết [4] cho mang dòng máu Việt.
Các nước Lỗ, Tấn, Trịnh, Vệ, Trâu, v.v. ở miệt Sơn Đông, Hà Bắc,
Sơn Tây, v.v. đều mang tiếng chứa rất nhiều đám rợ Đông Di, bao
gồm phần lớn nhóm Miêu tộc (Hmong-Dao), và nhóm Lạc bộ Trãi, tức
chữ Lạc
貉
viết theo họ của 'thái quốc tổ' LẠC
Long Quân. Câu nói phổ biến 'Trên Bộc, dưới dâu' (Bộc thượng
tang gian) ngày xưa được dùng để châm biếm lối SEX hết sức 'tự
nhiên' của người man-zi nước Trịnh và Vệ bên bờ sông Bộc và
trong ruộng dâu gần đó. Tên sông Bộc, tại thành phố Bộc Dương
(Pu-Yang) ngày nay, đã cho ra 'dân' Bách Bộc hay Bộc Việt, theo
minh giải của loạt bài này, tiền thân của dân Hakka (Hẹ) sau
này. Có lẽ đã có một gián đoạn nào đó trong cổ sử Tàu. Hoặc
người Hoa đã không ghi lại lịch sử liên tục trong thời Tần Thủy
Hoàng kéo đến nhà Hán, nhà Đường, đối với đám Đông Zi xưa ở miệt
Sơn Đông. Hoặc cũng có thể người Hoa cho rằng tất cả đám Đông Di
ở khu vực đó đều đã di tản sang xứ Triều Tiên (bán đảo Cao Ly)
dưới tên 'rợ' Tam Hàn. Cho nên trong ký ức của họ nhiều thế kỷ
về sau, họ thường đinh ninh rằng nhóm Lạc bộ Trãi đã biến đi đâu
mất hết. Từ hiểu biết sai lầm kéo dài nhiều thế kỷ đó, sau thời
Thập triều-Ngũ đại (thế kỷ 10) cho đến lúc quân Mông Cổ chiếm
đóng nước Tàu thiết lập nên nhà Nguyên (1279-1368), người Hoa
thường có quan niệm 'chắc nịch' rằng hễ tộc người nào xuất xứ từ
miền Hoa Bắc, bắt buộc tộc đó phải thuộc thứ tộc Hán thuần túy,
hay ít lắm một bộ tộc riêng rẽ có cùng thứ huyết thống với những
bộ tộc tiền thân của Hán tộc. Theo quan điểm riêng chúng tôi,
được chứng minh dài dài trong loạt bài này, người Hakka (Hẹ),
với nhiều danh nhân thế kỷ 20 như: Đặng Tiểu Bình, Lý Quang
Diệu, Tôn Dật Tiên, Châu Nhuận Phát, v.v., đã rơi vào loại tư
duy này của người Hoa - và trở thành Hoa tộc thuần túy nhất, mặc
dù thật sự họ chính là hậu duệ của đám Bộc Việt lưu lạc sống
cuộc đời du mục ở miền Hoa Bắc ngày xưa [2].
Quan điểm 'chắc nịch' Hoa-Việt đề huề ở miền Hoa Bắc thật ra bắt
nguồn ngay giữa giòng cổ sử Trung Hoa. Một tiền đề rất 'Tàu'
ngay từ thời 'lập quốc': Ở miền Hoa Bắc, ngày xưa thật xưa, chỉ
có Hoa tộc mà thôi, dù định nghĩa Hoa tộc lúc ban đầu vẫn chịu
khó gộp luôn một vài tộc người khác như các tộc người Bắc Địch
thông minh, Khương và Việt. Đặc biệt siêu tộc Khương, với xuất
xứ từ miền Tây nước Tàu, khu vực Tây Tạng. Vấn đề nguồn gốc Hoa
tộc thật ra cũng hết sức rối rấm đối với chính người Hoa do ở
ảnh hưởng chính trị trong suốt những thế kỉ cận đại.
Nói chung có vẻ họ tránh né đề cập đến 2 tộc người chính, trong
số chừng 4 tộc người, là tiền thân của Hoa tộc hiện đại: Người
Hung Nô và người Nguyệt-Chi tức Tocharians hay Turkestans (tức
Thổ tối-cổ) [3]. Đặc biệt thị tộc Nguyệt Chi
月支
[Yue Zhi] là một thứ tộc người Ấn Âu, da trắng mắt xanh [3], có
địa bàn ban đầu là khu vực Cam Túc ở sát phiá Tây của tỉnh Thiểm
Tây, ngày xưa là địa bàn của nhà Tây Châu và nhà Tần. Người Hoa
mặc dù có lẽ vì lý do chính trị, chưa thừa nhận tộc Nguyệt Chi
là 1 tộc thủy tổ, nhưng trong những năm gần đây họ ra công
nghiên cứu rất nhiều về tộc người da trắng này trong lòng Hoa
tộc. Gần như nghiên cứu để sẵn đó, chờ khi có cơ hội thuận tiện,
hoặc tự tin dân tộc hơn, có thể họ sẽ thừa nhận đàng hoàng. Mặt
khác, bởi Hoa chủng cũng mang gốc Hung Nô - Mông Cổ cho nên các
nhà dân tộc học phân loại ra chủng Mông-gô-loiđ dùng để chỉ Hoa
chủng. Cổ sử chính thống cho rằng người Hoa bắt nguồn từ những
bộ tộc dưới sự lãnh đạo của Hiên Viên Hoàng Đế (Xuan Yuan Huang
Di), về sau gọi tộc người Hoa Hạ. Để ý 'Hoàng Đế' mang nghĩa sơ
khởi 'vua cai trị đất màu Vàng', bên sông Hoàng Hà. Đất màu vàng
chính là 'hoàng thổ' tức đất 'loess' do phù sa bồi đắp nhiều
năm, được vận tải bằng gió bão từ hướng Tây. Ở nhiều nơi độ dày
lớp đất vàng, phì nhiêu này có thể lên đến 3 mét tây.
Thư tịch cổ của Tàu có chép vào thuở cổ thời Hoàng Đế sinh tại
Thọ Khâu (phía bắc Sơn Đông ngày nay), và lớn lên ở gò Hiên
Viên, nên mang tên Hiên Viên Hoàng Đế. Cũng có sách chép Hoàng
Đế sinh ở hang Hiên Viên thuộc tỉnh Cam Túc. Cách đây khoảng
4400 năm, tức thế kỷ 24 trước Công Nguyên.
Thuở cổ thời có 3 bộ lạc thật lớn ở miền Hoa Bắc: Viêm, Hoàng,
và Lê. Viêm tộc còn gọi là Thần Nông Thị, với lãnh tụ Thần Nông,
mà chúng tôi cho rằng thánh tổ của Việt tộc, đặc biệt nhánh Âu
Việt, tức Thái cổ. Hoàng tộc chính là Hoa tộc, dưới sự lãnh đạo
của Hiên Viên. Lê tộc, còn gọi Cửu Lê, tiền thân người
Hmong-Mien (Miêu-Dao), với lãnh tụ Xi Vưu (Chi You), ngày nay
được dân Triều Tiên thờ như một thánh tổ. Cổ sử của Tàu có vẻ
đều nhất trí với nhau rằng: Hiên Viên và bộ tộc ông ta, chỉ
choảng nhau một sống một còn với Xy Vưu và nhóm đệ tử Cửu Lê
(Miêu-Dao) tại trận Trác Lộc ở gần sông Bộc mà thôi. Tại Trác
Lộc Xy Vưu đại bại, bị bắt và chặt đầu. Dân Cửu Lê tản mác khắp
nơi. Một số lớn chạy qua bán đảo Triều Tiên với đám Lạc bộ Trãi,
trở thành một trong 3 đám rợ Tam Hàn.
Liên hệ giữa đám Yuệt-tộc theo Thần Nông, tức thị tộc Viêm, và
chủng Hoa Hạ của Hiên Viên có vẻ phức tạp hơn. Hiên Viên cũng có
choảng với Thần Nông, và khắc phục được thị tộc này. Sau kết
nghĩa 'anh em' với nhau. Thần Nông Thị, tức thị tộc mang tên
hoặc có lãnh tụ tên Thần Nông, theo chính sử Tàu có vẻ thuộc
siêu tộc Khương, hoặc một nhánh Thái cổ, bà con hoặc tiến hoá từ
siêu tộc Khương. Hiên Viên Hoàng Đế được người Hoa nhớ đến như
thánh tổ của tộc người Trung Hoa cũng nhờ ở việc chính Hiên Viên
là người đầu tiên đề xướng hôn nhân dị chủng với nhau. Đề huề
giữa hai tộc Hoa và Việt có lẽ bắt đầu từ lúc đó, ở thời tiền
sử. Giữa Hoàng tộc (Hoa Hạ) và Viêm tộc (Khương / Thái / Việt).
Để ý trong trí nhớ người Hoa, tộc người Việt Nam vẫn dính liền
với Thần Nông của chủng Thái-cổ [7]. Cao Xuân Dục [8] đã ghi lại
phán quyết Thanh Triều dùng hai từ 'Viêm Giao' [9], để chỉ tộc
người nước Việt khi họ từ chối quốc hiệu Nam Việt do triều
Nguyễn cầu xin (năm 1802), và thay vào đó bằng: 'Việt Nam'.
Chúng ta có thể để ý, toàn thể thị tộc Thần Nông (Shen Nong) đều
viết tên theo như cú pháp văn phạm của tộc Âu Việt và Lạc Việt:
'Thần' đi trước 'Nông', y hệt như: 'người đẹp' chứ không 'mỹ
nhân' ('nhân' sau 'mỹ') theo kiểu chữ Hán. Những vị 'vua' theo
dòng Yuệt-tộc cũng viết y hệt như vậy. Đó là những vị như Đế
Nghi, Đế Minh, v.v. Trong phiên âm (pinyin) quanthoại tìm thấy
trên internet người ta vẫn thường viết Di (Đế) trước tên riêng
của những vị vua thuộc Việt tộc. Thí dụ: Di-Ku theo pinyin
(phiên âm) dùng để chỉ Đế Cốc (vua Cốc), [Di] viết trước [Ku].
So sánh với Hoa tộc, vua đất màu vàng họ gọi Hoàng Đế, chứ không
'Đế Hoàng'. Trong khi bất kì vị vua nào của Việt tộc, họ gọi
đúng cách, đặt 'Đế' trước tên riêng. 'Minh Đế' viết thành 'Đế
Minh'. Theo đúng văn phạm tiếng Việt, tiếng Thái.
Siêu tộc Khương cũng đóng góp trực tiếp vào Hoa tộc ngay từ lúc
ban đầu. Qua vị vua đầu đời nhà Hạ tên 'Đại Vũ' [Da Yu]. Theo
[5], vua Vũ vốn người Tây Di, xuất thân từ một địa điểm thuộc
tỉnh Tứ Xuyên ngày nay. Tây Di là một tên khác dùng để chỉ siêu
tộc Khương, một tộc người thường được cho thủy tổ của rất nhiều
tộc khác, trong đó có người Di, Thái cổ, và cũng có đề nghị: cả
khối Bách Việt. Dân Tây Tạng nhiều khi cũng được xem như một hậu
duệ của siêu tộc Khương [10]. Tuy vậy để cho nghe hợp tai, sử
Tàu viết cha của Vũ là Cổn đã tậu nhà mới dọn về cư ngụ tại khu
vực Hoa tộc (tỉnh Hà Nam), khi thành thủ lĩnh của bộ lạc mang họ
Sùng (họ hàng với thái quốc tổ Sùng Lãm tức Lạc Long Quân hay
chăng?). Ông Vũ có lẽ là vị kỹ sư công chánh đầu tiên của Hoa
tộc. Ông ta phát minh ra những biện pháp thủy lợi rất hay (bằng
cách chia nhánh hạ lưu sông Hoàng (Hà)) để chế ngự nạn lũ lụt do
Hoàng Hà gây nên.
Sau Hoàng Đế tới Chuyên Húc Cao Dương Thị. Chuyên Húc nhường
ngôi cho Đế Cốc Cao Tân Thị (rất có thể thuộc Việt tộc:
'Đế' đứng trước 'Cốc'). Đế Cốc truyền ngôi cho Nghiêu (Hakka gọi
y hệt: Ngieu). Nghiêu nhường ngôi cho Thuấn. Thuấn truyền lại
cho một người gốc tộc Khương là Vũ, tức Đại Vũ, kỹ sư công chánh
đầu tiên Á Châu. Đại Vũ (Da Yu) bắt đầu triều đại nhà Hạ, truyền
đến 18 đời, thì được thay thế bằng nhà Ân (Thương). Triều đại
nhà Hạ vẫn thuộc huyền sử, bắt đầu từ khoảng năm 2070 đến 1600
TCN, tức cách hiện tại lối 4000 năm.
Theo thiển ý, 'siêu' thị tộc người Tàu thường gọi 'Khương' chính
là tộc các học giả Âu Mỹ thường gọi In-đô-nê-ziên, Malay (Mã
Lai), hay đôi khi Nam-Á (Austro-asians). Cũng chính là siêu tộc
khi định cư ở miền Hoa Nam ở thời xa xưa, chia ra hằng ngàn bộ
lạc khác nhau, được tộc Hoa Hạ ở phía Bắc sông Dương Tử gọi nhóm
'Bai Yue' tức Bách Việt. Tộc Khương thường được xem như tiền
thân của người Tây Tạng ngày nay. Như vậy, người Hoa cũng có lý
lẽ riêng của họ khi họ phân loại nhóm ngôn ngữ của họ là
Hán-Tạng (Sino-Tibetan). Nếu chúng ta tóm tắt những gì viết ở
đây bằng đẳng thức 'Tam Đoạn Luận':
1. Khương = Tạng => Hán-Tạng = Hán Khương
2. Bởi siêu tộc Khương là tiền thân khối Bách Việt: Khương =>
Bách Việt
Khương = Việt. Do đó: Hán-Khương= Hán-Việt. Từ đó:
3. Hán-Tạng = Hán-Khương = Hán-Việt => Hán-Tạng = Hán
Việt
Như vậy nhóm ngôn ngữ Hán-Tạng của Hoa tộc hiện nay, chính thật
có thể mang nghĩa 'Hán-Việt', là một nhìn nhận hợp chủng
Hán-Việt đề huề trên toàn cõi Trung Hoa. Y như khởi xướng của
Tôn Dật Tiên, từ thế kỷ 20 về sau, nước Tàu không còn phân biệt
Hán và Việt nữa. Việt tức Hán, Hán bao gồm cả Việt. Một chân lý
được hầu hết người Tàu ngày nay chấp nhận. Kể cả nhà 'phát minh'
truyện chưởng nổi tiếng Kim Dung, đặc biệt trong các bộ 'Lộc
Đĩnh Ký' và 'Thiên Long Bát Bộ'.
Bí quyết thành công của Hoa tộc và nước Trung Hoa nói chung, đặc
biệt trên vấn đề hợp chủng, như vậy đã dựa trên hai nhận thức có
vẻ rất mâu thuẫn với nhau. Một mặt, ai cũng biết mỗi một phương
ngữ tại Trung Hoa, thông thường tương ứng với một thứ tộc người
khác nhau, ở thời xa xưa. Mặt khác, các tộc Việt-xưa tập trung ở
miền Hoa Nam (phía Nam sông Dương Tử) ngày nay hoàn toàn được
xem như người Hán 100%. Không có phân biệt Việt Hán trên toàn
cõi nước Tàu. Có thể nói Việt đã đồng hoá Hán, hay ngược lại,
Hán đồng hoá Việt. Việc này thật ra không quan trọng bằng: Trên
toàn cõi nước Tàu, tộc người chủ lực chỉ mang một một nhãn hiệu
chung: Hán, hay Hán tộc.
Đến đây, xin phép ghi lại một vài nhận xét sau:
(i) Để ý hai cường quốc lớn ở Á Châu, Nhật và Trung Hoa, đều
biết rất rõ những tộc người nào đã tiến hoá nên dân Nhật và Tàu,
ngày nay. Ở Nhật, có hai tộc chính Jomon và Yayoi, trên bối cảnh
người Ainu. Ở Trung Hoa: Hung Nô, Mãn, Nguyệt Chi, Khương, Bách
Việt, ... Nhưng vấn đề nguồn gốc ‘khởi thủy ban sơ’ của người
Nhật, người Hoa, hãy còn vài điểm khá mù mờ.
(ii) Đối với nhiều quốc gia khác ở Đông Nam Á, các học giả Âu Mỹ
cho rằng tinh thần quốc gia hãy còn khá nóng bỏng, đã vô hình
chung cản lại phần nào bước tiến những nổ lực tìm tòi khoa học,
giống như tình trạng Âu Châu vào thế kỷ 18-19.
Trở lại chuyện Hán Việt đề huề trên toàn nước Tàu. Chúng ta xin
hãy để ý đến một bí quyết thành công khác của họ. Đó là người
Hoa nói chung, đều có những đồng ý đồng thuận với nhau, về những
đóng góp văn hoá hay lịch sử của từng tộc người một, cũng như
công tội của rất nhiều nhân vật lịch sử trong suốt chiều dài
sinh hoạt quốc gia. Thí dụ: Khổng Tử, người Thầy muôn đời, họ
nhìn nhận thuộc tộc Hoa Hạ. 12 con Giáp họ đồng ý với nhau xuất
phát từ tộc Di, hay Thái cổ ở vùng Vân Nam [11]. Những loại tôn
giáo cổ, như đồng bóng, thờ cúng tổ tiên, thờ anh hùng dân tộc
như Quan Công, Nhạc Phi, xuất phát từ các chủng Việt ở miền Hoa
Nam [15]. Nhất trí về anh hùng và nịnh thần, như: Nhạc Phi =>
công thần, Tần Cối => nịnh thần, đáng nguyền rủa.
Bảng tóm tắt ghi lại những danh nhân xuất thân từ những vùng
thuộc tộc người khác với chủng Hoa Hạ ở thời cách đây trên 2000
năm, trích lược từ [5], cho thấy trong số 100 danh nhân tột
chúng của nước Trung Hoa, do trên 50 học giả gạn lọc và soạn
thảo trong vòng 10 năm ròng, đã có đến khoảng trên 30 vị mang
gốc Hoa Nam, tức thuộc địa bàn các chủng Bách Việt ở thời xa
xưa.
Danh sách này thật ra cũng không được hoàn toàn đầy đủ. Ở chỗ
thiếu thốn những phát minh khoa học mang ảnh hưởng rất sâu đậm
cho nhân loại như 'xe kút kít' (wheelbarrow) dựa trên nguyên
tắc 'đòn bẩy' khoa vật lý của Newton, nhưng ra đời trước Newton
cả ngàn năm, xuất hiện ở Tứ Xuyên (Sichuan) vào thời cổ đại. Tứ
Xuyên thời xưa chính là địa bàn hai nước Ba và Thục, chứa nhiều
tộc Khương và Thái-cổ, cũng như rợ Khuyển Nhung.
|
DANH TÁNH |
NIÊN ĐẠI |
ĐÓNG GÓP |
NƠI SINH |
CHÚ THÍCH |
|
Đại Vũ |
thế-kỷ 21
TCN |
vua 1 nhà Hạ |
Tứ Xuyên |
Khương tộc |
|
Thần Nông |
thế kỷ 3 TCN |
Viêm đế |
Hồ Bắc
|
Thái-cổ /
Việt cổ |
|
Thuấn |
thế kỷ 3 TCN |
1 trong Ngũ
đế |
Hà Nam |
Tộc Ngu |
|
Thái Luân |
? - 107 |
tổ làm Giấy
|
Hồ Nam |
Địa bàn
(xưa) Sở |
|
Mao Trạch
Đông |
1893-1976 |
Chủ Tịch |
Hồ Nam |
Địa bàn
Thái-Miêu |
|
Đặng Tiểu
Bình |
1904-1997 |
Canh tân |
Tứ Xuyên |
Gốc Hakka
(Hẹ) |
|
Lưu Bang
|
256-195 TCN |
Nhà HÁN |
Giang Tô |
Địa bàn Ngô
Việt |
|
Chu Nguyên Chương
|
1328-1398 |
Nhà MINH |
An Huy |
Sở / Việt |
|
Tôn Dật Tiên |
1866-1925 |
Cách mạng |
Quảng Đông |
Địa bàn Yuệt
(Âu) |
|
Tưởng Giới
Thạch |
1887-1975 |
Tổng thống |
Chiết Giang |
Địa bàn Ngô
Việt |
|
Cát Hồng |
284-364 |
Luyện đan
|
Giang Tô |
Ngô Việt
|
|
Thiền Sư Huệ
Năng |
638-713 |
Thiền Tông |
Quảng Đông |
(Âu) Việt |
|
Khang Hữu Vi |
1858-1927 |
Duy tân |
Quảng Đông |
(Âu) Việt |
|
Hồ Thích |
1891-1962 |
Cải lương |
An Huy |
Châu Dương
(Sở) |
|
Khuất Nguyên |
340-280 TCN |
Sở Từ (thơ) |
Hồ Bắc |
Sở
|
|
Tô Đông Pha |
1037-1101 |
Đường thi |
Tứ Xuyên |
Khương /
Thái |
|
Lỗ Tấn |
1881-1936 |
Nhà văn |
Chiết Giang |
Ngô Việt |
|
Lương Khải
Siêu |
1873-1929 |
Tư tưởng |
Quảng Đông |
Duy tân |
|
Hoàng Đạo Bà |
thế kỷ 13
|
Nghề dệt
bông |
Thượng Hải |
Ngô Việt
(xưa) |
|
Trịnh Hoà |
1371-1433 |
Hàng hải |
Vân Nam |
Đạo Hồi.
Điền Việt |
|
Lý Thời Trân |
1518-1593 |
Y Dược sĩ |
Hồ Bắc |
Sở |
|
Quản Trọng |
730-645 TCN |
Kinh tế
|
An Huy |
Sở / Việt |
|
Vương An
Thạch |
1021-1086 |
Chính trị |
Giang Tây |
Thái-cổ +
Miêu |
|
Lý Hồng
Chương |
1823-1901 |
Công nghiệp
|
An Huy |
Dương Châu
|
|
Vương Sung |
27-97 |
Tư tưởng
|
Chiết Giang |
thời Đông
Hán |
|
Chu Hy |
1130-1200 |
Tư tưởng |
Giang Tây |
Lý học khách
quan |
|
Vương Dương
Minh |
1472-1528 |
Duy tâm học |
Chiết Giang |
Vương Thủ
Nhân |
|
Vương Phu
Chi |
1619-1692 |
tổng kết
triết cổ |
Hồ Nam |
Thái + Miêu |
|
Lưu Tri Kỷ |
661-721 |
Sử học |
Giang Tô |
Ngô - Việt |
|
Tào Tháo |
155-220 |
Chính trị |
An Huy |
Ngụy (Tam
quôc) |
|
Tôn Quyền |
182-252 |
Quân sự |
Chiết Giang |
Ngô (tam
quốc) |
|
Bao Công |
999-1062 |
Quan toà |
An Huy |
(Bao Chửng) |
|
Văn Thiên
Tường |
1236-1283 |
Chống Nguyên |
Giang Tây |
Thái - Hẹ -
Miêu |
|
Cố Viêm Vũ |
1613-1682 |
Tư tưởng |
Giang Tô |
Xem Lộc Đỉnh
Ký |
|
Hoàng Tông
Hy |
1610-1695 |
Tư tưởng
|
Chiết Giang |
thời Minh -
Thanh |
Nhìn vào bảng này và đọc qua quyển '100 Danh Nhân có ảnh hưởng
đến Lịch Sử Trung quốc' [5], chúng ta phải nhìn nhận đóng góp về
tư tưởng, trong đó thường có lý thuyết chính trị và quyền bính,
của những vị thuộc tộc người Hoa Hạ, như: Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão
Tử, Trang Tử, Tuân Tử, v.v. thật sự hết sức siêu đẳng. Chúng
tôi đã lưu ý, trong một bài trước, nền văn minh Trung quốc, ngay
từ thời xa xưa, cách đây trên 2500 năm, đã có những cơ viện hết
sức độc đáo. Điển hình những chức vụ như Quân Sư, hoặc những vị
quan có nhiệm vụ can gián nhà vua, v.v. Chức vụ Quân Sư ngày nay
hiện diện tại nhiều nước với tên gọi mới: Cố Vấn An Ninh Quốc
Gia.
Đóng góp danh-nhân đủ loại từ những khu vực thuộc địa bàn Bách
Việt xa xưa, lên đến trên 1/3 (một phần ba) của tổng số danh
nhân chọn lọc trên toàn lịch sử nước Tàu, đã đưa đến một lý do
hết sức mạnh mẽ dẫn đến việc sát nhập tộc Hán vào Việt, hay Việt
vào Hán, rồi gọi chung một tên: Hán tộc. Cũng cần để ý một điểm
nhỏ: ‘Hán’ chỉ Hán tộc hoặc nhà Hán của Lưu Bang, bắt nguồn từ
tên con sông Hán, ‘phụ lưu’ sông Dương Tử (Trường Giang) thuộc
địa bàn nước Sở. Bên bờ sông Hán vào thời Xuân Thu Chiến Quốc,
có rất nhiều rợ Việt (Thái + Lạc) sinh sống [6].

Phân tích ý nghĩa 'nhóm ngữ Hán Tạng' đưa đến một nhận xét tương
tự phù hợp với truyền thuyết Âu-Lạc được giải mã trong loạt bài
này. Đó là lối phân loại tiếng Việt ngày nay thuộc nhóm ngữ
'Việt Mường'.
'Mường' là gì? 'Mường' là lối phiên âm quốc ngữ của một từ tiếng
Thái [Mwuang] mang nghĩa: Người, vùng, xóm làng, thị trấn.
Những người dân tộc ở miền đồi núi [12] tại Lào, Myanmar, Thái
Lan, Vân Nam, thường gọi chính người Thái Lan bằng: [Kon Mwang].
Trong đó: [Kon] cũng mang nghĩa 'Người' và [Mwang] mang nghĩa
'Thái'. [Kon] truyền sang tiếng Việt lâu năm biến thái sang hai
nghĩa: [Con] => con (children), [Con] : mạo từ => con người, con
cá. Tức [Mwang] ngay trong cơ bản là một từ tiếng Thái (cổ và
kim) chỉ Người (Thái).
Tại các bộ lạc Mường khác nhau, [Mwang] phát âm thành nhiều âm
vị khác nhau [14]: Mwan (Hoà Bình - Thanh Hoá), Mwon (Phú Thọ),
và Mwai (Cổ Nam).
Đặc biệt [Mwai] bởi mang âm [W] rất dễ tiến thành [NG], giống
như tiếng Tàu [wai] => [ngoại] => [ngoài]. Do đó trong vài bộ
tộc miền Thượng [Mwai] => [Ngai]. {Ngai] chính là ‘Ngài’ mang
nghĩa, và biến thái thành: ‘người’. Theo một thói quen xưa chêm
âm [i] sau phụ âm đầu: [ngiai]. [Ngiai] tiến đến [người] rất dễ.
Giống như [liạng] = [lạng] => [lượng]. [Yang] = [Yiang] =>
[Yeung] => [Dương] (Quý Phi).
Vấn đề {Mường} là một từ tiếng Thái cho thấy {Mường} có thể được
xem đồng nghĩa với tộc ‘chủ lực’ Thái-cổ, tức ÂU, theo lối gọi
người Hoa thời xa xưa.
Còn {Việt} trong lối nói nhóm ngữ ‘Việt Mường’ nghĩa là gì? Đó
chính là lối gọi lộn xộn của tiền nhân, theo thiển ý, dùng để
chỉ các nhóm Lạc Việt từ vùng bờ biển Đông, như Hẹ-cổ (Bộc),
Ngô, và Mân (Phúc Kiến). Thường gọi tắt là LẠC.
Theo đó:
-
Việt = Lạc
-
Mường = Âu.
Dẫn đến:
-
Việt Mường => Âu Lạc
-
Âu Lạc => phối hợp giữa Âu Cơ và Lạc
Long Quân.
Chúng ta một lần nữa lại chứng minh được lý lịch căn cước tộc
người Hoa và Việt, qua phân loại nhóm ngữ của các nhà ngôn ngữ
học.
Trung Hoa: nhóm ngữ Hán Tạng => Hán-Việt
Việt Nam: nhóm ngữ Việt Mường => Âu Lạc
Khá chính xác, nhưng không tuyệt đối chính xác trong trường hợp
Việt Nam. Bởi lý do giản tiện, đã lược bỏ bớt miêu tả đóng góp
bản địa lâu đời nhất: ‘Môn Khmer’. Trước khoảng thập niên 1970,
tiếng Việt (Nam) đã từng được xếp vào nhóm ngữ Môn Khmer. Cũng
khá chính xác đối với gốc gác khởi thủy ban sơ. Điển hình những
từ cơ bản, như mắt mũi mặt và tên gọi các số đếm từ 1 đến 10
hoàn toàn mang hình thái tiếng Môn Khmer.
Đến đây chúng tôi xin phép minh định một vấn đề hết sức quan
trọng, rất dễ nhầm lẫn nếu truy cứu qua internet hay sách vở có
sẵn từ xưa đến nay. Đó là chỉ một sự kiện, nhưng có hai quan
niệm trái ngược nhau, giữa Hoa và Việt. Ở bên Tàu, khi họ nói
[Luo Yue / Lạc Việt], họ thường liên kết với chủng Thái-cổ.
Nhưng tại Việt Nam, khi dùng đến 'Lạc Việt', chúng ta thường
mường tượng một chủng duy nhất tiền thân dân Việt Nam ngày nay,
nhưng lại hậu duệ chung của dân Lạc. Nói cách khác, người Tàu
khi nghĩ đến 'Viêm tộc' của xứ 'Đồng Cổ' [16] [18], họ nghĩ đó
là hậu duệ tộc Thái-cổ (Âu), chủ nhân của những chiếc trống
đồng. (‘Đồng Cổ’ [16] [18] mang nghĩa ‘trống đồng’ và có lẽ một
tên gọi thật xưa cho vùng đất người Thái cổ sinh sống từ khu
Lưỡng Quảng / Vân Nam đến Hoà Bình, bình nguyên sông Hồng
[21]). Người Việt thông thường trong tiềm thức không phân biệt
giữa Âu và Lạc, nhưng cũng có khuynh hướng dùng Lạc chỉ phần
người Yue (Việt) từ biển Đông, và gồm luôn tộc Âu ở bên trong
lục địa Trung Hoa.
Phân biệt Âu Lạc xem ra có vẻ tầm thường nhưng dễ đánh lạc hướng
chuyện truy tầm nguồn gốc tộc người Việt Nam. Điển hình, trên
hầu hết những bài khảo cứu của các học giả Âu-Mỹ về Yue tộc, về
các phương ngữ gốc Việt, ở bên Tàu, họ luôn có khuynh hướng
không phân biệt ra Yue tộc, tức Lạc Việt ở vùng biển Đông, một
nhánh khác với chủng Thái-Kadai từ Giang Tây tiến về hướng Tây
nước Tàu. Thí dụ: Khi nghiên cứu về tiếng Ngô (Chiết Giang -
Thượng Hải), tiếng Hẹ, tiếng Mân (Phúc Kiến), tiền đề họ dựa vào
là những phương ngữ đó thuộc, hay xuất phát từ, tiếng Thái-cổ,
hoặc chỉ là các nhánh tiếng Thai-Kadai. Đối với họ, hoàn toàn
không có các tộc Lạc Việt từ vùng biển Đông. Theo thiển ý, đó là
một nhầm lẫn, dựa trên tiền đề của người Hoa.
Tẩu hỏa nhập ma về cổ sử có lẽ nước nào cũng có. Người Tàu có lẽ
nhầm lẫn Lạc Việt với Âu Việt, từ bộ Hoài Nam Tử của Liu An. Liu
An chính là cháu của Hán Cao Tổ Liu Bang, được phong vương (Hoài
Nam Vương) ở vùng đất gần sông Hoài, phía gần Thượng Hải, rất xa
mặt trận kháng chiến du kích [17] chống quân nhà Tần của người
Tây Âu. Cả thời gian lẫn không gian. Liu An đã nhầm lẫn dùng từ
'Lạc Việt' để chỉ dân Tây Âu. Từ đó các bộ sử Việt có khuynh
hướng chép y như vậy. Dẫn đến hậu quả: quên mất đám con đi theo
bà Âu Cơ. Rồi lẫn lộn giữa Âu với Lạc.
Nhầm lẫn Âu với Lạc còn được thể hiện qua bộ 'thư tịch' cổ: Thủy
Kinh Chú [18], trong đó có chú thích miêu tả về tộc Lạc Việt,
được trích từ bộ 'Từ Hải':
'Lạc Việt: một nhánh của người Việt cổ, là một bộ phận miền tây
của Bách Việt, dân tộc cổ, thời Tần, Hán về trước đã phân bố
rộng rãi ở phía nam vùng trung, hạ du sông Trường Giang, gồm
nhiều bộ lạc, cho nên gọi là Bách Việt. Họ làm nghề đánh cá, săn
bắn, làm ruộng, đã biết luyện kim loại, nổi tiếng về nghề đi
sông, biển. Họ có tục cạo đầu, xăm mình. Thời Tần, Hán, chủ yếu
phân bố ở 2 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây Trung Quốc và vùng Bắc Bộ
nước Việt Nam ngày nay. Có quan hệ nguồn gốc mật thiết với các
dân tộc như Choang, Thái, Lê... (theo Từ Hải)'.
Miêu tả về tộc Lạc Việt như vậy, theo thiển ý, không được chính
xác. Bởi hai lẽ. Thứ nhất, không để ý đến các nhóm Lạc Việt ở
vùng biển Đông, từ trên xuống dưới, như: Bộc, Ngô, và Mân. Thứ
hai, không phù hợp với hai tự dạng chữ Việt [Yue] khác nhau:
粵
Yue 'Âu' [Ou] và
越
Yue 'Lạc' [Luo]. Yue chỉ chủng Âu ngày nay vẫn còn dùng để chỉ
dân Yue ở hai tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông. Yue dùng cho 'Âu'
粵
ngày nay cũng là tên gọi tắt của Quảng
Đông. Yue 'Lạc'
越
hiện được dùng cho nước 'Việt Nam':
越
南.
Theo thiển ý, người Hoa nhầm lẫn hai thứ ‘Việt’ với nhau do ở
chuyện nước Việt của Câu Tiễn bị giải thể khá sớm (năm 333 TCN),
tên Việt từ đó ít được dùng cho dân Việt ở biển Đông. Trong khi
‘Yue’ (Việt) ở khu Quảng Đông có ‘nhãn hiệu’ trademark ‘cầu
chứng tại toà’ bằng vương quốc Nam Việt {Nan Yue] của Triệu Đà,
gây nên dấu ấn rất đậm nét, kéo dài đến hằng ngàn năm sau.
Phát hiện về phân biệt Âu - Lạc ở trên cho thấy nếu có dịp đọc
kỹ các thư tịch cổ của Tàu, dù trong những bản dịch, và sau khi
đối chiếu với kiểm chứng khách quan, chắc chắn chúng ta sẽ tìm
thấy rất nhiều điểm lấn cấn mà hầu hết các tiền bối, kể cả các
học giả phương Tây, bởi quá tôn trọng những gì người Tàu viết và
có lẽ thiếu thốn trang bị những dụng cụ khoa học, đã thường
xuyên vô tình lướt qua.
Để kết thúc bài này, xin xem lại hai phát hiện quan trọng:
(a) Một phần lớn tiếng Nôm có xuất xứ từ các phương ngữ của khối
Bách Việt xa xưa; và
(b) Tiếng Hán-Việt có những lối phát âm giống y như phát âm
phương ngữ bên Tàu ngày nay, đặc biệt tiếng Hẹ, Quảng Đông, Phúc
Kiến, và Chiết Giang. Nói cách khác, những từ của tiếng Hán-Việt
có lối đọc phát xuất từ các phương ngữ Hoa Nam.
Chúng ta hãy xem qua một vài từ cơ bản, có vẻ thuần Nôm để minh
giải một lần nữa, cho thật 'chắc ăn':
1. Tiếng Nôm: Nôm chính là một biến thái của 'Nam'. Tiếng Nôm là
tiếng của người nước Nam. Kiểm chứng các phát âm Hoa Nam, ta
thấy: Hẹ: [Lam] hay [Nam]. Quảng: [laam] hay [nam]. Mân: [lam].
Đặc biệt, Ngô: [Nơô] hay [Nơôm]. [Nôm] là một lối phát âm của
[Nam] xuất xứ từ phương ngữ [Ngô] thuộc Chiết Giang - Thượng Hải
- Giang Tô ngày nay. [Quảng Nam] có nhiều người phát âm rất đúng
với giọng xưa, mang ảnh hưởng Ngô Việt: [Quảng Nôm]. Gió Nồm
chính là Gió Nam. ‘Nồm’ mang dấu (thanh điệu) huyền {`} cũng
giống như người ta thường gọi [Hải Nam] bằng [Hải Nàm].
2. Trâu = Sửu. [Trâu] đọc theo giọng Bắc chính là [zou]
quan-thoại, hay [zeu] tức [sửu] theo phát âm Hakka. Quảng Đông
phát âm [jau] rất giống [trâu] theo phát âm Bắc. Sở dĩ các tôn
sư quốcngữ đưa ra ký âm [TR] cho [trâu] là để phối hợp với một
âm gần giống tiếng Môn-Khmer được người Chăm dùng: [trây], cũng
mang nghĩa 'trâu' như [kabau]. Để ý, tiếng Hán Việt của 'xấu'
(có âm rất gần với 'trâu') chính là [sửu], mang lối viết y hệt
như [sửu] của địa chi số 2 thuộc 12 con Giáp. [Zou] (tchâu) hoặc
[Chou]
丑
tiếng Hán có chừng 10 thứ chữ viết khác nhau. Các nghĩa thông
thường: tên một Họ, nước Trâu của Mạnh Tử, huyện Trâu nước Lỗ -
nơi sinh Khổng Tử, tham khảo ý kiến, địa chi số 2 của 12 con
Giáp, xấu xí, ... Trong tiếng Hán Việt, lại có âm giống tiếng
địa phương [trêy] nên dần dà [tchâu] mang nghĩa con Trâu. Điểm
quan trọng: [Zeu] tức [Sửu] chính là lối phát âm tiếng Hẹ của
'Trâu'. Trong bài trước, chúng tôi có ghi lại người Tàu xưa cũng
dùng chữ [Zou] (tức Trâu) để chỉ tháng Giêng. Tức tháng Giêng là
tháng Sửu. Tháng Giêng cũng là tháng Dần, và người Hẹ phát âm
'Dần' y hệt như [JIN]. [Jin] rất dễ biến thái ra [Giêng] với trợ
giúp của quốc-ngữ. Thế nhưng tại sao có sự lộn xộn giữa tháng
Sửu [Zeu] và tháng Dần [Jin] - cả hai cùng chỉ tháng 1 (Giêng)
theo lịch ngày nay? Sự thật Tàu cũng như Tây, có quá trình đổi
lịch đổi tháng lung tung. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, miền Hoa Bắc
có nước Tống theo lịch của nhà Thương (chấm dứt khoảng năm 1020
TCN) [20], trong đó họ dùng tháng 12 bây giờ là tháng Giêng.
Tháng 12 tương ứng với tháng Sửu. Do đó tháng Giêng theo lịch
nhà Thương chính là tháng Sửu. Trong khi đó nhà Châu dùng tháng
Tý, tức tháng 11 bây giờ, như tháng Giêng. Từ đó chúng ta đã đưa
ra giải thích tháng 11 còn gọi tháng Một, tức tháng Tý, tháng
bắt đầu của chu kỳ 12 tháng. Trong khi đó, nước Tấn, ở vùng Sơn
Tây bây giờ lại có tập tục theo lịch nhà Hạ, dùng tháng Giêng
bây g |