|
Những
vị từng say mê Tam Quốc Diễn Nghĩa hoặc Đông Chu Liệt Quốc, hay
truyện Tàu xưa nói chung, ngày nay khi đọc lại có thể bắt đầu để
ý dấu vết của người Việt cổ (tức Bách Việt) - vẫn thường tản mác
đó đây trong các bộ truyện đó. Chìa khoá chính là địa bàn xuất
xứ của các nhân vật anh hùng hào kiệt. Đáng để ý nhất: các nước
như Sở, Trịnh, Vệ, Ngô, Việt, Thục, cộng với đám du mục Bách
Bộc; cũng như các tỉnh lớn ngày nay như: Sơn Đông, Tứ Xuyên,
Giang Tô, Chiết Giang, An Huy, và đặc biệt xứ Vân Nam của Đoàn
Nam Đế, Đoàn Dự theo truyện chưởng của Kim Dung.
Xin đưa ra một thí dụ. Ở đoạn đầu của bộ Tam Quốc Diễn Nghĩa,
người ta có thể để ý đến đám giặc Hoàng Cân (Huang Jin 黄巾 ), gọi
nôm na: loạn Khăn Vàng. Tức nhóm người, đầu bịt khăn màu vàng
dấy quân nổi lên chống lại triều đình nhà Đông Hán vào những năm
184-204, dẫn đến suy xụp toàn diện của nhà Hán vào năm 220. Tiếp
đó, nước Tàu lâm vào thế phân tranh tam quốc, rồi nhị quốc
(Tấn), thập lục quốc, v.v., hoàn toàn không có chính quyền thống
nhất trung ương kéo dài trên 300 năm.
Thế tại sao giặc 'Khăn Vàng' ở cuối đời Hán, có khả năng
là một đám Việt tộc? Trước hết, đầu họ quấn khăn. Người Hoa thời
xưa ưa phân biệt họ với các đám rợ bằng nhiều hình thái (sẽ chi
tiết phía dưới), và trong đó họ để ý Hoa tộc thích đội nón (mũ),
trong khi nhiều đám rợ lại ưa quấn khăn. Dù rằng nhiều hoa văn
trên trống đồng Đông Sơn cho thấy người Việt cổ cũng có thứ mũ
làm bằng lông chim dài. Để ý người Thái, người Khmer và người
Việt ngày nay vẫn còn thích chít khăn trên đầu. Đặc biệt thứ
'khăn rằn' người nông dân Khmer và Nam bộ vẫn thường thắt trên
đầu. Những vị thích võ Thái, tức Thai kick-boxing, cũng có thể
để ý các võ sĩ Thai lúc nào cũng ưa quấn cái khăn trên đầu khi
lâm trận đấu Muay Thai.
Muay Thai= Võ Thái? Xin phép mở dấu ngoặc, dùng Muay Thai, để
nhắc lại phát hiện của lý thuyết ở đây về biến chuyển âm-đầu rất
quan trọng trong Việt ngữ, xuất xứ từ các phương ngữ Hoa Nam. Đó
là biến chuyển âm [W] ròng quan thoại, (thường thường) thành [V]
tiếng Hẹ, cũng thường chuyển sang âm [B] Phúc-Kiến, và đặc biệt
biến chuyển ra âm [M] rất thông thường trong tiếng Quảng Đông.
Thí dụ:
- Vấn (hỏi)=> quanthoại [Wen]=> pk [meng] => Hẹ [mun] => Ngô
[vâng] => QĐ [man]
* Tóm tắt: Vấn <=> Wen <=> Man
- Vọng (mong) => qt [wang] => pk [bong] {để ý nam-bộ: [byọng]}
=> qđ/hẹ [mong]
* Tóm tắt: Vọng = Mong <=> Wang <=> Bong <=> Mong
- Vô (không có) => qt [wu] => pk [bo] {nam-bộ: byô} => hẹ [vu /
wu] => qđ [mậu]
* Vô <=> Wu / Vu <=> Bo <=> Mou
- Vũ (khiêu vũ / múa)=> qt [wu] => pk [bu] => hẹ [vu / wu]=> qđ
[mou] => việt [múa]
* Vũ = Múa <=> Wu / Vu <=> Bu <=> Mou
- Võ (vũ / kung-fu)=> qt [wu]=> pk [bu] => hẹ [vu / wu] => qđ
[mou]=> [muay] Thái.
* Võ (Vũ) <=> Wu / Vu <=> Bu <=> Mou => Muay (Thái) =>
Muu (Hàn) [1]
Đặc biệt để ý, tiếng Quảng Đông có khuynh hướng biến âm [W]
quanthoại ra âm [M]. Từ đó [Wu] (tức 'Võ' nghệ) dễ chuyển thành
[Mou] tiếng Quảng Đông (tộc Thái-cổ). Vào thế kỷ 13, người Thái
ở khu Nam Chiếu (Vân Nam) chịu không nổi đàn áp của quân Nguyên
(Mông Cổ) nên tràn sang vùng đất Lào và Thái Lan ngày nay, rồi
thiết lập nên các quốc gia này. Họ mang theo biến chuyển âm [W]
quanthoại (tức [V] Hẹ & quốc-ngữ) ra [M] rồi biến [WU shu] (Võ
thuật - kick-boxing) thành ra [MUAY] tương đương âm Việt là
'múa' (tức 'vũ')=> Muay Thai = Võ Thái. Các từ tương đương Wu=
vũ= võ= bu (pk)= mou (quảng đông)= múa= muay (Thái), một lần nữa
cho thấy gốc gác Hoa Nam của Việt ngữ và Thái ngữ. Xin đóng dấu
ngoặc.
Trở lại câu chuyện
giặc Huỳnh Cân trong Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung. Lý
do thứ nhất gợi nên mối nghi ngờ đám 'Khăn vàng' này mang chủng
Việt, chính là cái khăn chít trên đầu họ. Lý do thứ hai: giặc
'Khăn Vàng' (tra internet: Yellow Turban) xuất xứ từ miệt 'Sơn
Đông' địa bàn cố hữu của đám rợ Đông Di tức Bách Bộc hay Lạc bộ
Trãi. Lý do thứ 3: trước khi tan hàng đám Hoàng Cân này chạy
sang khu Thiểm Tây và phối hợp với đám rợ Khương Nhung (tức tiền
thân của các nhóm Môn-Khmer) ở Tứ Xuyên.
Cũng nên để ý mức độ
chính xác (hoặc sai trật) những văn kiện lịch sử của người Hoa
lẫn giới học giả Tây phương. Ở đây chính là nhóm chi tiết thứ 4
về đám giặc Khăn Vàng. Rất lộn xộn, do ở lối diễn dịch theo trí
hiểu biết của các tác giả đời sau. Đó là tính cách tôn giáo của
giặc Khăn Vàng. Theo từ điển bách khoa Internet 'Wikipedia', và
nhiều tài liệu khác 'cóp' qua lại với nhau, đám Khăn Vàng thuộc
đạo Lão (Taoist). Từ điển Britannica cũng vậy, nhưng có ghi thêm
lãnh tụ Trương Giác có tài chữa bệnh ôn dịch bằng 'nước phép'.
Đọc lại Tam Quốc Diễn Nghĩa, ta sẽ thấy chi tiết về đạo Lão
Trang chỉ thoang thoáng ở chỗ Trương Giác, trước khi dấy quân
khởi nghĩa, có cơ duyên gặp một cụ già xưng là Nam Hoa lão tiên,
truyền lại cho y quyển sách 'Thái bình yêu thuật'. Hai sự kiện
khá tương phản - 'lão tiên' v. 'yêu thuật' - sẽ dễ gây nên khó
khăn để có thể kết luận ba anh em họ Trương của đám Hoàng Cân
theo đạo Lão Trang. Thật ra cho dù Trương Giác thuộc phái Lão
Trang, người tò mò nhưng khắt khe một chút cũng không thể lập
tức sắp xếp đám Khăn Vàng vào khối Hán tộc. Bởi việc xác định
tôn giáo đám nổi loạn này, dù rằng hoàn toàn xác định, chỉ mới
giúp được phần nào cho việc định đoạt thứ chủng tộc của họ. Cái
khối vài trăm ngàn người theo 3 anh em nhà họ Trương (Trương
Giác, Trương Bảo và Trương Lương), đều chít khăn vàng, rất có
khả năng lại thuộc giới nông dân biết rất ít chữ nghĩa. Thêm vào
đó, cũng không thấy sử sách xác định được những người theo đạo
Lão vào cổ thời có phải chỉ toàn Hoa tộc mà thôi, hay bao gồm
luôn cả những người không thuộc tộc Hoa Hạ.
Điểm thứ 5 hỗ trợ
cho giả thiết giặc Huỳnh Cân có thể thuộc đám Việt tộc du mục,
chính là cả nơi xuất xứ (Sơn Đông) và những con đường bôn đào
khi họ đại bại, cùng với những địa điểm cuối (Thiểm Tây / Cam
Túc / Tứ Xuyên), rất phù hợp với các nơi chốn di dịch của các
nhóm người: Bách Bộc, Miêu tộc và người Hakka (xem chi tiết phía
sau).
Trước khi kiểm điểm
lại những tiêu chí người Hoa thường dùng để nhận diện các đám
'rợ' không thuộc tộc Hoa Hạ, xin phép nhấn mạnh một vài điểm
sau.
Trước hết xin khảo
sát 'RỢ'. Tiếng Anh: barbarian. Xuất phát từ tiếng Hy Lạp:
'barbaros' mang nghĩa 'xa lạ', 'dốt nát'. Tiếng Latinh:
'barbaria' => 'nước ngoài'. Cũng có thể mang gốc tiếng Á-Rập:
'barbar', nghĩa: 'cư dân ở Bắc Phi Châu', tức 'dân bên ngoài',
hoặc động từ 'barbara' với nghĩa 'nói năng lộn xộn, khó hiểu'
[2]. 'Barbara' rất có thể cùng gốc với động từ tiếng 'Tây'
'bavarder', tức nói ba-hoa, bép xép.
Người Hoa kiểu cách
hơn, như đã đề cập nhiều lần, họ phân biệt 'rợ' theo phương
hướng: Tây Nhung, Đông Di, Bắc Địch và Nam Man. Mỗi từ họ mô tả
bằng cách viết chữ tượng hình khác nhau. Đại khái:
- Man (Nam): [Man]
蛮
viết theo lối xưa
蠻
mang nghĩa 'sự hỗn loạn' trên vùng đất đầy côn trùng và rắn rít.
Thông thường dùng để chỉ dân Bách Việt ở Giang Nam, tức phiá Nam
Trường Giang hay sông Dương Tử.
- Địch (Bắc): [Di]
狄
tượng hình 'con Chó với lông màu đỏ'. Phát âm tiếng Quanthoại
cũng có thể y như [He]-2 (thinh số 2: thượng-thinh), ám chỉ đám
Bắc Địch có thể bao gồm cả người Hẹ (thường xếp trong nhóm Đông
Zi), và người Hẹ có gốc phía cực Bắc sông Hoàng Hà. Âm [He]-2
(tức [Hẹ] hay [Hạc] [14]) cũng chính là âm phát cho chữ
貉,
tiếng Việt thường đọc 'Lạc' như họ của Lạc Long Quân.
- Nhung (Tây): [Rong]
戎
với cách viết 'dáo mác dựa trên (áo) giáp'. Dùng để chỉ thành
phần nòng cốt: các nhóm Để / Khương. Còn gọi Khuyển Nhung hay
Khuyển Tuất.
- Di (Đông): [Yi]
夷
tượng hình người cầm cung tên săn thú, chỉ người zu-mục. Đông Di
có địa bàn nguyên thủy ở khu Sơn Đông, bao gồm phần chính: các
nhóm Bách Bộc, Miêu tộc (Hmong) và ...Hẹ (Việt).
Nói chung hễ một dân
tộc nào đã tiến lên đến lối sống 'văn minh' thành thị, họ thường
dùng những từ về sau mang nghĩa 'Rợ' để chỉ người 'nước
ngoài', hoặc khác tộc với họ. Đặc biệt để ý, thông thường họ chả
dám gọi 'người nước ngoài' ở một nước lớn mạnh hơn họ, hoặc trên
'cơ' họ, bằng 'rợ', như đối với những nước khác ngang hàng với
họ, hoặc có nền văn minh gốc khác họ, hay lập quốc sau họ, hay
dưới 'cơ' họ chút ít.
Hiểu như vậy, chúng
ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy nhiều tộc người láng giềng ngày
trước, ngoài người Hoa, vẫn dùng các từ mang nghĩa 'man di' để
gọi người Việt: - Chăm-pa: Yuavana hay Yuan. - Cam-bốt: Yuồn
(cáp-yuồn: khủng bố và giết người Việt). - Thái-Lan: Yuôn. Tất
cả những từ này đều có gốc gác ở tiếng Phạn bên Ấn Độ.
Thế chữ 'Rợ'
quốc-ngữ lấy ở đâu ra? Theo thiển ý, 'rợ' là ký âm quốc-ngữ đặt
ra để phiên-âm từ 'dã'
野 trong 'dã
man', phát âm theo kiểu người Việt cổ gốc Hakka (Hẹ): [Ra] hay
[Za] hoặc [Ya]. Quảng Đông và Quan-thoại đọc như [Ye]. Trong khi
PhúcKiến (Mân) và Ngô dùng âm [Y] như [I] mà quốc-ngữ đã dựa
theo, đọc [yã] như: [Ia].
Điểm thứ hai, chúng
ta cần để ý chính là hiểu biết về tộc Việt cổ của bao nhiêu học
giả Tây phương lẫn Á Đông từ trước đến giờ thường vẫn lộn xộn,
rối nùi với nhau. Với sự khâm phục hãy còn đó, tất cả hiểu biết
trong việc nhận diện người (Lạc) Việt cổ, có vẻ như phiến diện
hoặc chủ quan, theo kiểu các nhân chứng trong phim Rashomon của
Akira Kurosawa, hay 5 người bịt mắt miêu-tả con voi trong Quốc
Văn Giáo Khoa Thư. Nguyên do chính nằm ở chỗ 'tiền đề' về một
khối dân tộc thuần chủng xưa nay vẫn ăn đâu ở đó. Vùng đất đó
ngày xửa ngày xưa trống không, không người ở, cho đến lúc bà Âu
và ông Lạc kéo một trăm người con trai đến đó sinh sống và lập
nên nước Văn Lang (thu hẹp). Tiền đề đó bất chấp mọi đối chiếu
với các sự kiện lịch sử cũng như tảng lờ đi thảm kịch ly thân
giữa bà Âu và ông Lạc bởi hai người thuộc hai chủng tộc khác
nhau. Và cũng không thèm để ý những tộc người nào đã cư ngụ tại
đó trước khi hai nhóm Âu và Lạc di dân đến đó. Tiền đề đó cũng
rất cứng nhắc và ít khi được cập nhật bởi khám phá mới của khoa
học. Thí dụ báo chí gần đây có đăng tải kiểm chứng mt-DNA cho
biết người thổ dân Maori ở Tân Tây Lan có gốc gác ở miền Nam
Trung Hoa [3]. Những người hoàn toàn đứng ngoài, rất có thể sẽ
tự hỏi: 'Nếu Tân Tây Lan xa Hoa Nam đến như vậy mà vẫn có
người Bách Việt di dân đến đó, hoặc từ Tân Tây Lan đi ngược trở
lên Hoa Nam, thì một xứ lân cận với miền Giang Nam như xứ Việt
cổ - không lẽ họ đã không thèm chiếu cố ghé ngang hay sao?'
Tuy vậy, quan trọng hơn hết vẫn là việc rất nhiều học giả đã
không để ý đến việc hợp chủng xảy ra tại Văn Lang, rồi An-Nam,
giữa 3-4 tộc người hơi khác khác với nhau, trong nhiều thế kỷ
trước và sau Công Nguyên. Lý do chính có thể nằm ở chỗ: Người
Tàu hoặc đã biết nhưng không có thì giờ đào sâu vấn đề, hoặc
hoàn toàn không biết hay không để ý, bởi Trung Hoa từ ngàn xưa
vẫn có vấn đề tương tự như vậy nhưng to lớn hơn gấp cả trăm lần.
Xin đơn cử một hai thí dụ về lối nhận diện người Việt cổ theo
kiểu phiến diện.
Thứ nhất, hình như
bất cứ người Việt nào cũng biết người Việt cổ có tục nhuộm răng
xâm mình. Nhưng thường họ lại cho rằng chỉ có người Việt cổ mới
có tục đó. Sự thật, không phải như vậy. Gần như toàn khối Bách
Việt, các dân Nam Á và Nam Đảo đều có tục nhuộm răng và xâm
mình. Nhất là xâm mình, tiếng 'Hán-Hẹ' gọi Văn Thân. Xâm trán
(tức Điêu Đề) cũng vậy. Người Maori ở Tân Tây Lan cũng có xâm
mình, xâm trán (điêu đề), và luôn cả 'xâm' mặt. Mặc dù, sau này
họ thay thế 'xâm' bằng 'sơn' qua loa cho nó tiện và nhanh - nhất
là trong những vụ trình diễn trước quan khách hay ngoại giao
đoàn. Tục ăn trầu (betel) và cau (areca), thêm chút thuốc lá và
vôi, cũng có đầy dẫy khắp miền Đông Nam Á, và trong mấy chục năm
nay, giới y khoa lại liên kết với chứng bệnh ung thư.
Thứ hai, nhiều nhà
nghiên cứu Việt ưa dẫn các công trình của giáo sư Hoa và Âu Mỹ,
liệt kê ra các tiêu chí nhận diện người Việt cổ. Nhưng thường
không ngờ những tiêu chí đó lại hết sức phiến diện. Chỉ miêu tả
được một hay vài bộ lạc trong hằng trăm bộ lạc Âu hay Lạc Việt
khác nhau thuở cổ thời. Hoàn toàn phiến diện và thiếu thốn chính
xác khi áp dụng đến người Việtnam (cổ). Thí dụ, bài tường trình
rất công phu của Jeffrey Barlow [4] đăng tải đầy đủ trên mạng,
đã dẫn những tiêu chí theo Yu Tianjin và cộng sự, dùng nhận diện
người Lạc Việt (cổ), tóm tắt như sau:
1. Cắt tóc ngắn và xâm mình
2. Nhà xây dựng trên
cột hoặc cọc
3. Mặc áo quần váy
cụt và ưa chít khăn trên đầu
4. Ưa dùng các thứ
trai-sò và động vật vừa ở cạn vừa dưới nước, trong thức ăn
5. Nhổ bớt vài cái
răng, thông thường răng hàm trên
6. Đàn ông tham gia
giúp đỡ sản phụ trong lúc sinh, và trông coi ấu nhi sau khi sinh
7. Đúc và xử dụng
trống đồng, như một nhạc cụ, thể hiện quyền uy, dùng trong việc
truyền lệnh và thờ phượng. (Đặc biệt các học giả đều nhìn
nhận khối Lạc Việt ở miền
biển Đông không có
trống đồng. Có lẽ bởi miền Đông có ít mỏ đồng so với miền rừng
núi phía trong và miền tây nam.)
8. Dùng xương chim,
nhất là xương gà trong việc bói toán
9. Thờ chim, các
loại bò sát, động vật vừa ở cạn vừa dưới nước, như vật tổ totem.
Phối hợp với các
tiêu chí văn hoá theo Chen Guojiang và cộng sự, như sau:
1. Tập tục chôn cất
trên sườn núi
2. Xử dụng tàu bè
rất thành thục và chuyên gia về thủy chiến
3. Đồ gốm và sứ
trong trạng thái phôi thai được làm theo dạng cân đối hình học
4. Kỹ thuật thêu dệt
được phát triển cao độ.
Nếu đọc đi đọc lại
những tiêu-chuẩn nhận-diện này một vài lần, ai cũng thấy được
chúng không thể nào được áp dụng bất biến cho mọi cuộc nhận diện
người Âu hay Lạc Việt (cổ). Sơ sơ, chúng ta thấy:
(a) Nội chuyện
vật-tổ tôtem cũng đã nhức đầu: Liệt kê trên khá rộng rãi, bao
gồm gần như đủ thứ: chim chóc, các loại bò sát, động vật 'lưỡng
cư'. Chỉ còn thiếu loài súc vật, như dê, nai, chó, ngựa, mà
thôi. Thế nhưng, nhiều sách vở cho biết có một số bộ tộc người
Di (cũng như người Mông Cổ) thờ con chó như vật tổ [xem bài thứ
15]. Một số bộ tộc người Khương lại dùng con cừu làm totem [5].
Người Lạc Việt ở khu Chiết Giang lại dùng con Heo. Người Choang
(Thái-cổ) ở Quảng Tây, bà con gần với người Tày Nùng, lại ưa thờ
mặt trăng và có bộ lạc thờ con cóc như totem, v.v. Tức nói
chung, chuyện thờ vật tổ totem, thông thường bị giới hạn ngay ở
ranh giới của bộ lạc, hoặc một vài bộ lạc láng giềng mang cùng
một thứ tộc chủng. Mỗi thứ bộ lạc thường chọn một totem riêng.
(b) 'Tập tục chôn
cất trên sườn núi' cũng rất khó được xem là tập tục chôn cất của
tất cả người Âu-Lạc. Thật ra theo vài trang mạng [6] lối chôn
xác người chết trên sườn núi cũng được tìm thấy tại những khu
định cư người 'Hán' và thông thường chỉ lòng vòng ở những đồi
núi bên sông Dương Tử mà thôi. Mặt khác, ở xứ Việt-cổ, những
công cuộc khai quật cho biết có chừng 4 lối mai táng chôn cất
khác nhau (xem: Cung Đình Thanh [7]), như đã trình bày trong bài
thứ 7:
- Chôn kiểu bó gối,
tứ chi co quắp. Mộ bó gối tại Mái Đá Điều, Mái Đá Nước, khu Hoà
Bình (65% dân người Mường) mang niên đại 17 ngàn năm trước Công
Nguyên.
- Mộ vò, tức xương
người chết tìm thấy trong vò (lu) có nấp đậy đàng hoàng. Mộ vò
được tìm thấy ở khu Nghệ Tĩnh, có niên đại cỡ năm 2000 TCN. Ở
Trung quốc, khu vực Ngưỡng Thiều vào khoảng đời Đông Chu
(770-222 TCN).
- Mộ thuyền trong
đất cạn, tức lối chôn cất trên sườn núi: Cái hòm làm từ thân cây
lớn, đục rỗng theo hình chiếc thuyền. Rất ‘phổ biến’ tại phía
Tây nước Sở, khu Tứ Xuyên, tức ‘nước' Thục xưa. Tìm thấy ở Hà
Sơn Bình, vài trăm năm trước Công Nguyên. Theo thiển ý, mộ
thuyền là tập tục mai táng của chủng Thái-cổ. Chủng Thái-cổ di
dân đến xứ Việt-cổ bằng nhiều đợt, và đợt ‘mộ thuyền’ là đợt
thời Xuân Thu Chiến quốc.
- Mộ nằm thẳng,
thường thường nằm ngửa, như hiện nay. Lối mộ này phổ biến nhất
trong tộc Hoa từ ngàn xưa. Tìm thấy tại Việt Nam ở các địa điểm:
Núi Nấp, Quỳnh Chữ, Đông Sơn, vào niên đại khoảng năm 500 TCN,
tức cực điểm thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tàu. Theo thiển ý mộ
táng kiểu này là ở đám Lạc Việt (đặc biệt nhóm Hẹ của khối Đông
Di) từng sống gần gũi chủng Hoa bên sông Hoàng Hà. Họ đã cóp
cách mai táng tộc Hoa và đem sang xứ Việt cổ trên bước đường di
tản chung với các chủng khác, như Thái-cổ.
Ngoài ra, còn có lối
hoả táng rất phổ biến với siêu tộc Để - Khương, vẫn thường sống
gần gũi với các nhóm Thái-cổ hoặc Lạc Việt ở Hoa Nam. Cũng chính
là người Lạc viết theo bộ Khương và Chuy, một trong những nhóm
cư dân tối cổ ở Đông Dương. Theo lối hỏa táng, người chết trở về
với cát bụi, không còn dấu vết.
Vấn đề nhận diện
theo kiểu 'một mặt', tức phiến diện, còn kể đến những tiêu chuẩn
khá quen thuộc như 'cắt tóc ngắn' (tiễn phát) đã từng gây tranh
cãi lôi thôi [8] bởi nhiều hình chạm trên các trống đồng cho
thấy người Việt cổ lại để tóc dài, hay mang tóc búi [12], chứ
không phải tóc ngắn. Bộ Thủy Kinh Chú [9] cũng xác nhận có nhiều
bộ lạc Bách Việt lại thích kiểu tóc dài, chứ không phải tóc
ngắn, hớt 'cua'.
Ngoài 5 biệt sắc khá
phổ biến như: tiễn phát (cắt tóc ngắn), văn thân (xâm mình), tả
nhậm (cài vạt áo bên trái), thuận tay trái, nhuộm răng đen, Bình
Nguyên Lộc [8] đã dẫn tiêu chuẩn 'búi tóc' theo Lê Chí Thiệp,
rồi đặc biệt nhấn mạnh đến biệt sắc 'điêu đề' (tức xâm trán) dựa
trên bài thơ 'Chiêu Hồn' của nhà thơ Tống Ngọc - sau thời Khuất
Nguyên (332-296 TCN) [10]. Tác giả quyển Mã Lai, với sự kính
trọng hãy còn đó, đã cho thấy ông khá lúng túng khi say mê dựa
vào loại tiền đề cố hữu cứng nhắc về 'tộc người thuần chủng'.
Xin thử sơ lược một vài khó khăn quyển Mã Lai đã vướng phải như
sau:
(i) Trước hết, cái
bẫy của thuyết Mã Lai (do các học giả Tây Phương lăng xê khoảng
đầu thế kỷ 20) là dân Đông Nam Á chỉ có một thứ tộc gốc, là tộc
Mã Lai. Chia thành 2 đợt: đợt Proto (I) và đợt Deutero (II). Đợt
I đến Việt cổ cách đây 5000 năm. Đợt II, cách đây 2500 năm, tức
khoảng Xuân Thu chuyển sang Chiến Quốc. (Nhưng đặc biệt, thuyết
Mã Lai tránh đề cập mối dây nguyêndo-hậuquả giữa giặc giã thời
Xuân Thu Chiến Quốc đối với di tản đợt II). Bởi Thái-cổ,
Miêu-tộc, Hẹ, Mân, Ngô, Khương, v.v. cũng đều là Mã Lai, nên rất
khó nói lên đám nào chính là đám gốc người Việt cổ. Còn như, nếu
nói người Việt (Nam) cổ thuộc đợt I hoặc đợt II, thì tên gọi
riêng của họ là gì trước khi họ đến xứ Việt cổ - quyển Mã Lai
hoàn toàn tránh né. Thư tịch cổ của Tàu và Ấn Độ hoàn toàn không
có ghi nhận một đám nào riêng biệt thuộc Mã Lai I hoặc II, mang
đầy đủ cá tính giống người Việt (Nam).
(ii) Thêm vào đó,
trước sau chỉ có 2 đợt di tản, cách nhau 2500 năm. Trong khoảng
2500 năm đó giữa hai đợt, hoàn toàn, theo mấy tác giả Âu Tây, ai
ở đâu ở luôn đó. Không có di tản gì hết. Như vậy khi đợt II ào
ạt đến Việt cổ, ở đó đã có sẵn đợt I, làm thế nào hai đợt, I và
II, có thể cảm thông và chấp nhận nhau, sau 2500 năm bà con họ
hàng xa cách với nhau? Theo toán học, hai đợt di tản này có vẻ
thuộc loại hàm số rời rạc, với một ẩn số chứa một trị số đơn mà
thôi. Hay thuộc vào thứ phương trình bậc nhất aX+b= c, chứa một
ẩn số X, và chỉ một ẩn số X mà thôi. Nguồn gốc một tộc người
thuần chủng lồng trong hai đợt Mã Lai riêng rẽ, sẽ cùng một lúc,
làm đơn giản lý thuyết, nhưng cũng khiến nó hết sức cứng nhắc,
che lấp rất nhiều dữ kiện lịch sử quan trọng, rất khó thích hợp
với lối quan sát của ngành khoa học nhân văn. Thí dụ: Việt cổ
thuộc đợt I hay đợt II? Thật khó. Nếu nói đợt I thì có tóc dài,
có rìu lưỡi liềm, nhưng không có trống đồng. Nói đợt II, có
trống đồng, rìu hình chữ nhật, nhưng lại kẹt với tóc ngắn.
Sau đây chúng tôi
xin cố gắng kiểm điểm qua một số các tiêu chí thường gặp và thêm
vào những 'biệt sắc' tương đối ít khi được miêu tả, người Hoa
vào cổ thời, đã từng xử dụng để nhận diện người Âu hay Lạc Việt.
TÓC NGẮN
Tóc ngắn là một biệt
sắc để nhận diện người Việt cổ [11]. Người Tàu gọi [duan fa] tức
'đoản phát', nhưng thường hơn: [jian fa] tức 'tiễn phát' (cắt
tóc). Nhận xét 'tiễn phát' cũng như một lô các thứ nhận xét khác
có lẽ được 'lăng xê' trong thời Xuân Thu Chiến Quốc, khi người
Tàu bắt đầu 'giao tiếp' với các đám rợ thuộc Yueh tộc. Nó cũng
giống như khi người Tây phương phát hiện dân Á Châu ưa dùng đũa
hay dùng bàn tay để ăn cơm - khi họ đi tìm và khám phá thuộc địa
ở những vùng đất này, vào thế kỷ 16. Người Tàu đầu tiên tiếp cận
với các đám 'rợ' Yueh với tư cách 'kẻ cả' đã văn minh tại các
vùng dọc theo sông Dương Tử từ Tây sang Đông. Từ khu Tứ Xuyên
xuyên qua khu vực Hồ Bắc của nước Sở năm xưa cho đến khu Chiết
Giang của Việt Vương Câu Tiễn. Trước đó khá lâu, họ cũng có gặp
những đám rợ Đông Di có địa bàn từ khu vực sông Lạc đến tỉnh Sơn
Đông, bên và ngay cả phía Bắc sông Hoàng Hà. Những vùng này
thường có nhiều sông và gần biển. Yueh tộc do đó lấy sông biển
làm địa bàn sinh sống và bắt buộc phải thăm viếng tiệm hớt tóc
thường xuyên, để cắt tóc cho ngắn. Điều này có nghĩa những đám
Yueh tộc khác, nhất là dân Âu ở miền rừng núi phía trong hoặc
phía Nam không nhất thiết phải để tóc ngắn.
Sự thật, nhiều vụ
tranh cãi lôi thôi ở Sàigòn thời thập niên 60's đã xảy ra bởi
chỗ các vị tiền bối, có lẽ vì lịch sự, ít khi phản bác lại ý
kiến hay kết luận của các học giả Tàu - Tây. Theo đó, nếu đã có
một tiền đề 'người Việt cổ tóc ngắn - người Hoa cổ tóc dài', thì
cứ thế mà đi tàu suốt. Bởi ... người Việt trước sau chỉ là một
tộc thuần chủng, và tất cả đều cắt tóc ngắn. Tranh cãi đó xảy ra
bởi nhiều hoa văn trên trống đồng cho thấy rất nhiều hình người
xoã tóc dài (thí dụ [8] & [12]), hay búi tóc sau gáy, và để tóc
kiểu đuôi gà [12]. Bộ Thủy Kinh Chú [9] cũng cho biết có rất
nhiều bộ lạc từ miền Lĩnh Nam [13] trở xuống, ngày trước người
ta ưa để tóc dài.
Bởi dùng mô hình
riêng rẽ hai đợt Mã Lai như đã đề cập phía trên, Bình Nguyên Lộc
[8] có vẻ khá lúng túng khi cố gắng tháo gỡ vấn đề tóc dài bị
rối nùi từng loọng với nhau. Trước hết ông cho Hùng Vương thuộc
Mã Lai đợt I, đám Lạc bộ Trãi chạy giặc thời Hiên Viên - Xy Vưu.
Đợt I không có trống đồng. Đám này để tóc dài, bởi thư tịch cổ
Trung Hoa không có tả Xy Vưu cắt tóc ngắn. Tạm trôi, nhưng rốt
cuộc cũng bị rối nùi, khi Bình tiên sinh, ở một chương khác, cho
biết chính đợt II đã mang trống đồng đến xứ Việt cổ, dựa trên
một truyện cổ tích Mường có ghi trong quyển sách của Cuisinier
[17]. Đợt II ưa cắt tóc ngắn 'bôm-bê'. Thế nhưng trống đồng của
đợt II lại có hình người Việt cổ xoã tóc dài, hay búi tóc, hoặc
để tóc kiểu đuôi gà [12]. Có lẽ sớm thấy chuyện tóc ngắn - tóc
dài không ổn, tác giả quyển Mã Lai [8] đã ghi một đoạn ngắn (tr.
829) cho rằng thời trang tóc dài - tóc ngắn có thể thay đổi với
thời gian: 'Cả 5 biệt sắc ấy ta đều có, trừ biệt sắc thứ nhứt
(tiễn phát) mà sự thay đổi qua các thời đại khiến nó
không thành biệt sắc vĩnh cửu'.
XÂM TRÁN
Sách vở người Hoa
viết 'xâm trán' theo tiếng Hán là [diao di], tức 'điêu đề'. Bình
Nguyên Lộc [8] đã dựa vào bài 'Chiêu Hồn' của Tống Ngọc, và cho
biết dân Man ở phía Nam nước Sở có tục 'điêu đề'. Thư tịch cổ
Tàu (như Từ Hải, Tư Mã Thiên), có ghi dân Giao Chỉ và binh sĩ
của Đinh Bộ Lĩnh cũng xâm trán như ai. Để ý tiếp, 5 biệt sắc
kia: "tóc ngắn, nhuộm răng, xâm mình, cài áo bên trái, thuận tay
trái", gần như hầu hết các nhóm tộc người trong khối Bách Việt
đều có. Từ đó tác giả quyển Mã Lai bám sát vào 'biệt sắc' điêu
đề, cho đó là biệt sắc quyết định nguồn gốc tộc người Việt
Nam.
Sự thật, các nhà dân
tộc học đã cho biết hầu như bất cứ dân tộc nào trên thế giới, tự
cổ chí kim, đều có cái vụ xâm mình, gồm cả xâm trán. Đáng kể
nhất về xâm trán là: dân da đỏ ở Mỹ Châu, dân Nhật, dân Lapita
thuộc khối Nam đảo ở Thái Bình Dương, dân Maori ở Tân Tây Lan,
dân Hawaii, v.v. Lý do dẫn đến xâm trán thường khác nhau đối với
những tộc người khác nhau. Thường thường theo thói tục bộ tộc.
Cũng có thể dùng để làm dấu nghề nghiệp, hay địa vị (như Tù
trưởng) trong 'xã hội' nhỏ. Thuở cổ thời, tại Hy Lạp và La Mã
người ta ưa xâm trán để làm dấu tù binh và tội phạm. Ở Nhật và
Trung Hoa, thời xưa người ta ưa xâm trán với hoa văn để che lấp
dấu vết của những vụ trừng phạt trước đó. Thời nay, hồi Saddam
Hussein chưa di dân sang Mỹ sinh sống, có tin một vài bác sĩ đã
bị hành quyết bởi không tuân lệnh Saddam đem các lính đào ngũ ra
xâm trán. Hiện ở Mỹ có cái mốt xâm trán để quảng cáo lấy tiền
thù lao, một đợt khoảng $10000.00 [15].
Ngay ở Trung Hoa vào
thời xa xưa, miêu tả về xâm trán dành cho rất nhiều tộc người,
không phải chỉ có dân Âu Lạc hay Giao Chỉ mà thôi. Đặc biệt theo
Thủy Kinh Chú [9] ở miền rừng núi phía nam sông Uất Thủy (thuộc
Quý Châu) có Ly Nhĩ quốc (nước chạm trổ tai) và Điêu đề quốc
(nước xâm trán). (Đọc Thủy Kinh Chú ta không tránh khỏi để ý các
tác giả dùng từ 'quốc', hết sức xả laáng, tả nước này, rồi đặt
tên cho nước kia. Thí dụ: 'Lang Hoang quốc' = nước ở trần ở
truồng. Thường không có trong 'chính sử'. Nhiều khi chỉ một bộ
lạc nhỏ mang cùng một biệt sắc, họ cũng cứ gọi là 'quốc'. Tuy
vậy nước 'Văn Lang' hay 'Xích Quỷ' hoàn toàn vắng bóng trong bộ
Thủy Kinh Chú).
Ở những chương khác,
Thủy Kinh Chú [9] cho biết người Di ở khu Vân Nam cũng có nhiều
nhóm xăm trán. Trang 421 của bản dịch [9]: 'Theo Chu Lễ, ở
phía Nam có tám giống Man, xăm trán, giao ngón chân, có giống
không ăn ngũ cốc.'
Như vậy, cho dù có
thể đồng ý với tác-giả quyển Mã-Lai rằng người Kha (Lá vàng)
mang nhiều biệt sắc, trong đó có 'điêu đề', cho thấy họ là một
nhóm thuộc chủng Việt tối cổ [20], 'điêu-đề' tức xăm trán, cũng
chưa hẳn là một biệt sắc quyết định chung cuộc để nhận diện
người Việt cổ.
NHUỘM RĂNG & XÂM
MÌNH
Nếu phải kể nhầm lẫn
nào to tát nhất trong việc nhận diện người Việt cổ, đó phải là
'Nhuộm răng và Xâm mình'. Bởi cả nhuộm răng lẫn xâm mình - nhất
là xâm mình - đã có mặt tại nhiều nơi trên thế giới từ ngàn xưa.
Nhuộm răng đen rất
được phổ-biến ở Nhật cho đến thời Minh Trị Thiên Hoàng mới bớt
dần. Có lúc áp dụng cho cả phái nam lẫn phái nữ. Đến thời Edo
(tức Sứ quân, thế kỷ 17-19), nhuộm răng mới bớt phổ biến phía
nam giới, và trở thành cái mốt làm dấu cho phụ nữ đã có chồng.
Nhuộm răng cũng rất phổ thông ở khắp miền Đông Nam Á, đặc biệt
tại Phi-líp-pin và In-đô-nê-xia. Tại hai xứ này, ở tuổi dậy thì,
người ta còn có tục mài dũa bớt vài chiếc răng cửa. Ở Sumatra tệ
hơn, răng bị dũa mòn kinh khiếp, rất đau [16]. Người Kanay ở
biên giới Lao-Viet và người Bulang ở Vân Nam, cả hai thuộc chủng
Môn-Khmer có luôn các tục của người Việt cổ: nhuộm răng, xâm mặt
và ăn trầu. Nhưng nổi tiếng nhất về món nhuộm răng trong khối
Bách Việt, còn tồn tại đến ngày nay chính là người Thái ở Vân
Nam, thường gọi theo ký âm Âu Mỹ là người Dai. Ở đảo Hải Nam,
cách đây vài chục năm người ta vẫn thấy nhiều người hãy còn
nhuộm răng. Nhưng nhuộm theo kiểu đa sắc technicolor, gồm cả màu
vàng, màu bạc.
Nói chung, nhuộm
răng chỉ là một trong nhiều biệt sắc của toàn khối Bách Việt, từ
thời xa xưa, khác hẳn với chủng Hoa. Người Tàu hoàn toàn không
hâm mộ món nhuộm răng này.
Xâm mình thì sao? Có
lẽ có mặt trên toàn cầu, từ thời xa xưa (cách đây trên 5000 năm)
và hãy còn tồn tại cho đến ngày nay. Các kiểu dáng xâm mình nổi
tiếng trên thế giới ngày nay bao gồm: Dân da đỏ ở Mỹ, Người bản
địa Bắc Mỹ, Da đỏ phía Tây Bắc - Thái Bình Dương, Phi Châu,
Ai-Cập, Mayan (Trung Mỹ), Aztec, Hawaiian, Samoan, Maori (nổi
tiếng với món xăm mặt), Nhật, Hoa, Ấn, Nhóm Đa Đảo, Inuit, vô
thần, Á đông, Thổ dân Úc, Phù phép, Celtic, và theo kiểu 12 con
giáp Tử vi Tây phương.
Từ tiếng Anh chỉ xâm
mình là 'tattoo'. Có tài liệu [16] cho biết tiếng Tahiti 'tatu'
mang nghĩa 'đánh dấu / làm dấu'. Người Đa-đảo dùng động từ
'tatao' chỉ 'khỏ' / hay 'đánh khẻ'. Người Samoa gọi xâm mình
bằng 'tatau'. 'Tattoo' do đó, rất có khả năng do chính thuyền
trưởng Cook cho du nhập vào tiếng Anh từ [tatau] và [tatu], qua
những cuộc du hành của ông đến những vùng hải đảo này.
'Xâm mình' vào cổ
thời có thể được dùng để đánh dấu là thành viên thuộc một cộng
đồng hay tộc người nào đó. Hoặc cho 'thiên hạ' biết niềm tin hay
tín ngưỡng của mình. Một cuộc khai quật ở khu Tân Cương (phía
Tây Trung Hoa) cho thấy vết xâm trên thân xác ướp (nước đá) của
vị tù trưởng có vẻ ghi mỗi một vết xâm mình đã được dùng đánh
dấu một đối thủ đã bị hạ. Riêng ở miền Hoa Nam, hay Lĩnh Nam,
phụ nữ ngày xưa chỉ 'mê' đàn ông xâm mình mà thôi [9].
Ở phía Bắc Trung Hoa
xâm mình đã bị cấm đoán ngay từ thời Tần Thủy Hoàng. Xâm mình
cũng bị cấm đoán trong đạo Giu-đà của người Gio-Thái, và trong
nhiều thế kỷ trước, không được hâm mộ bên phía đạo Ki-Tô. Ngày
trước, xâm mình trong xã hội da trắng thường chỉ giới hạn trong
giới thủy thủ, giới anh chị [17] hoặc chốn kỹ nữ giang hồ. Ngày
nay, có vẻ trở thành cái mốt cho giới trẻ khắp nơi. Tại Mỹ thống
kê [16] cho biết có đến 12 triệu người có ít lắm một nét xâm
mình trên thân người. Tại xứ An Nam xưa theo nhiều tài liệu (thí
dụ [16]), tục xâm mình rất phổ biến khi Hưng Đạo Đại Vương ra
lệnh xâm hai chữ 'Sát Đát' trên tay binh lính, lúc chống quân
Nguyên. Nhưng chính cũng từ đời nhà Trần, tục lệ xâm mình bắt
đầu phai nhạt dần trong chốn dân gian khi vua Trần Anh Tông
(1293-1314), anh của công chúa Huyền Trân, cãi lệnh vua cha từ
chối không chịu xâm mình.
Như vậy, nhìn chung
trái với hiểu biết từ xưa đến nay, nhuộm răng và đặc biệt xâm
mình không phải là biệt sắc đặc thù của người Việt cổ. Tuy thế,
nhuộm răng và xâm mình lại rất hữu hiệu trong việc nhận diện sơ
khởi tộc người nào ngày xưa ở bên Tàu, có thể đã di tản sang, và
cuối cùng định cư ở xứ Việt cổ. Thí dụ: người Hẹ cổ, hay người
Bách Bộc, miêu tả với chữ Hán
貉
=>
'Lạc' viết với bộ
Trãi, thuộc đám Đông Di, theo sách Nhĩ Nhã do môn đệ Khổng Tử
soạn ([8] & [18]), ngày còn ở khu nước Vệ, nước Trịnh - bên sông
Bộc và Hoàng Hà - đã có tục nhuộm răng và xâm mình.
Bài đã dài, xin tạm
dừng. Chúng tôi sẽ viết tiếp về những tiêu chí đặc biệt khác có
thể dùng để nhận diện các nhóm Việt cổ khác nhau, vào thuở cổ
thời, đã xuất phát từ những khu vực khác nhau, khắp nơi ở Trung
Hoa.
GHI CHÚ
[1] (i) Một phim kiếm hiệp Hàn quốc 'dàn cảnh đại quy mô' mang
tên MUSA
武士
với tài tử khách Zhang Zi Yi của Trung Quốc (nổi tiếng với phim
'Ngọa Hổ Tàng Long' và đầu năm 2006: 'Hồi ức một kỹ nữ geisha').
MUSA tương đương tiếng Việt: VÕ SĨ. [MU] chính là [VÕ] tiếng
Việt, mang âm [M] biến chuyển từ [W] tiếng Hán: [WU] => VÕ. [SA]
theo tiếng Hán-Hàn chính là SĨ theo Hán-Việt. Tương tự: geisha=
nghệ sĩ. (Để ý ngày nay Zhang Zi Yi nói tiếng Anh thông thạo, và
đã đổi họ ra phía sau, theo kiểu Mỹ, trong phim 'geisha': Zi Yi
Zhang).
(ii) Âm-đầu [W] tiếng Hán mang ít nhiều khuynh hướng chuyển
sang: (a) [V] theo Hẹ và Sơn Đông; (b) [B] kiểu Phúc Kiến (và
Mường + Nam Bộ); và [c] [M] theo tiếng Quảng Đông (cũng thường
âm [M] tiếng Hán-Hàn => Võ-sĩ = Musa).
* Biến chuyển giữa [M] và [B] đã đưa đến phân biệt giữa hai từ
'mua' và 'bán' trong tiếng Việt. Tất cả phương ngữ tiếng Hoa kể
cả nhóm Hmong đều xử dụng cùng một âm vị cho 'mua' và 'bán'.
Nhưng chỉ đổi thinh (tức dấu tiếng Việt). MUA= mãi => Quanthoại
[măi] = hakka [mai]-1= Miêu [mua]-g. BÁN= mại => Quanthoại [mài]
= hakka [mai]-3= Miêu [mua]-s. Trong khi Phúckiến, dùng âm đầu
'B' cho cả 'mua' và 'bán': MUA= [be]-2. BÁN= [be]-7. Quốc-ngữ đã
xử dụng âm [B] Phúc-kiến cho 'BÁN' và 'M' của các phương ngữ kia
cho 'MUA'. Một đổi mới của quốc-ngữ rất hay và hữu hiệu, để lại
một chút dấu vết lịch sử cho MUA & BÁN.
* Chúng tôi cũng tìm thấy biến chuyển giữa 'M' và 'B' trong bộ
Thủy Kinh Chú [9]. Trong đó có ghi 'Man-Cốc' quốc-đô xứ Tiêm-La,
tức Xiêm La hay Thái Lan ngày nay. 'Man-cốc' cho thấy biến âm từ
'B' sang 'M': 'Man-cốc' <=> Băng-cốc => Bangkok. Biến chuyển
[V]-Hẹ => [M]-Quảng cũng có thể tìm thấy trong quyển tiểu thuyết
'Mẹ ghẻ con ghẻ' của Hồ Biểu Chánh, trong đó thay vì xử dụng
liên từ 'với lại' {Hôm gwa, wa không đến nhà em là tại wa bị
bận, 'với lại' wa mắc đi gánh nước} - Hồ Biểu Chánh đã dùng 'mới
lại' thay vì 'với lại', theo kiểu Thái-cổ và tiếng Quảng Đông.
[V] mang khuynh hướng biến chuyển sang [M] trong tiếng Quảng
Đông - ngoài biến chuyển với [B] theo kiểu PhúcKiến (+ Mường,
Nam bộ). 'Với lại' có thể cùng gốc với: 'vả lại'.
[2] http://www.etymonline.com
[3]
http://www.time.com/time/magazine/1998/int/980907/south_pacific.history_i9a.html
- Kiểm chứng vội của chúng tôi cho thấy người Maori đặc biệt giữ
âm đầu [NG] của các Người Bách Việt ở Hoa Nam như Quảng Đông,
Hakka, Việt. Họ cũng có âm [W] của Quanthoại và Quảng Đông. Thí
dụ: Ngahau = vui chơi. Ngaronga = vắng mặt. Kawanga= cống hiến,
trịnh trọng. Rawaka= nhiều, đầy đủ. Waka= tàu bè. Đặc biệt: {Con
chó} họ gọi [kuri] rất giống tiếng Hẹ ở Indônêxia: [Kuli] trong
đó có âm [ku] chính là biến âm của [Cẩu] - từ 'Hán-Việt' mang
nghĩa 'con chó'.
[4] Jeffrey Barlow (2005) The Zhuang: A Longitudinal Study of
Their History and Their Culture.
http://mcel.pacificu.edu/as/resources/zhuang/contents.html
[5] Chiêm Toàn Hữu - Lý Tinh Ích (hiệu đính) (2004) Văn hoá Nam
Chiếu Đại Lý. Bản dịch: Nguyễn Thị Thanh Huệ, Nguyễn Mai Lan,
Nguyễn Hương Giang, Phan Minh Thanh. Nxb Văn Hoá Thông Tin.
[6] Cliff burial:
http://www.travelchinaguide.com/picture/yangtze/wanxian/0018441.htm
&
http://www.chinadaily.com.cn/english/doc/2004-02/14/content_306114.htm
[7] Cung Đình Thanh
(2003) Tìm về nguồn gốc văn minh Việt Nam dưới ánh sáng mới của
khoa học. Nhà xuất bản Tư Tưởng. Sydney - Australia
[8] Bình Nguyên Lộc (1971) Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt
Nam. Nxb Xuân Thu (tái bản tại Hoa Kỳ).
[9] Lịch Đạo Nguyên chú, Dương Thủ Kính, Hùng Hội Trinh sớ, Đoàn
Hy Trọng điểm hiệu, Trần Kiều Dịch phúc hiệu (1999) Nguyễn Bá
Mão dịch (2005). Thủy Kinh Chú Sớ. Nxb Thuận Hoá. Bộ 'THỦY KINH
CHÚ' do các học giả người Hoa soạn từ thời Tam Quốc (220-265),
chuyên về miêu tả sông ngòi, núi non khắp nước Tàu, kéo đến xứ
Lâm Ấp ở trung-bộ nước Việt Nam ngày nay, kèm với các điển tích
lịch sử xa xưa.
[10] Khuất Nguyên (Qu Yuan) là một nhà thơ yêu nước lớn của
Trung Hoa. Làm quan nước Sở, can ngăn vua Sở đừng lọt vào âm mưu
của vua quan nước Tần, mà hãy liên minh với nước Tề ở phía Đông.
Vua không nghe theo ông, ông bị giáng chức và tống đi lưu đày về
miền Lĩnh Nam. Về sau, trên đường lưu vong, ông nghe tin vua Sở
bị sát hại, đâm tuyệt vọng ôm đá nhảy xuống sông Mịch La tự
trầm. Đó là ngày Đoan Ngọ mồng 5 tháng 5 - một ngày hết sức nóng
ở Trung Hoa. Có thuyết cho Khuất Nguyên mang dòng máu Việt (Âu
hoặc Khương) xuất từ khu vực Tứ Xuyên (tức nước Thục xưa). Ông
rất nổi tiếng với áng thơ như Ly Tao, Cửu Ca, v.v. thuộc thể thơ
Sở Từ. Tống Ngọc (Song Yu), khoảng 290-223 TCN, cũng là một nhà
thơ trong cùng trường phái Sở Từ với Khuất Nguyên, nhưng thuộc
đời sau. Có giả thuyết cho Tống Ngọc là cháu Khuất Nguyên. Nhiều
học giả hiện vẫn tranh cãi về tác giả bài 'Chiêu Hồn' (Zhao Hun)
- giữa Khuất Nguyên và Tống Ngọc.
[11] Xin nhắc lại: 'Lạc Việt' là một từ dễ bị nhầm lẫn nhất. Tại
Trung Hoa, các học giả thường dùng 'Lạc Việt' để chỉ người Việt
cổ thuộc chủng Thái. Lạc Việt có địa bàn trên toàn thể miền Hoa
Nam, tức phía Nam sông Dương Tử. Có lẽ trừ hai ngoại lệ lớn là
người Hẹ & người Hmong-Dao, tức Miêu tộc. Ngày nay họ vẫn dùng
'Lạc Việt' để chỉ gốc gác các khối dân tộc ít người, ở Hoa Nam.
Bất cứ người nào có tổ tiên xưa thuộc chủng Việt hay Lạc hiện
sống ở vùng 'Kinh' nói tiếng Hoa, đều được xem Hán tộc thuần
túy. Họ đã quên đi hai từ xưa dùng để chỉ chủng Thái cổ: Thái
(phát âm [Dai] hoặc [Cai] hay [Nong] quanthoại, [Tày] / [Nùng]
quốcngữ, v.v.), và [Ou] tức 'Âu' của xứ Tây Âu, bao gồm phần lớn
Quảng Tây ngày nay. Jeffrey Barlow [4] tuy không phân biệt rõ
giữa Ou (Âu) và Luo (Lạc), nhưng ông đã phân biệt rất chính xác
đám Việt ở phía Bắc và miền bờ biển, với đám Việt ở phía Nam và
miền trong. Chúng tôi, lần đầu tiên đã thử phân biệt Âu và Lạc
và thấy rõ sự phân biệt này đã giúp ích rất nhiều trong tìm hiểu
gốc gác tộc người Việt Nam. Do đó chúng tôi xin đề nghị dùng
'Việt-cổ' thay cho 'Lạc Việt', xưa nay thường dùng để chỉ người
Việt khi còn ở bên Tàu. Ngoài ra, loạt bài này đã xác định được
người Hẹ chính là người Lạc Việt tối cổ ở miền cực Bắc nước Tàu.
Chữ 'Hẹ', mang nghĩa tên một bộ tộc du mục thuở cổ thời ở vùng
sông Hoàng Hà, viết theo tiếng Hán
貉
còn được đọc như [Luo] tức 'Lạc' trong họ Lac của Lạc Long Quân.
[12] Phạm Minh Huyền - Nguyễn Văn Huyên - Trịnh Sinh (1987)
Trống Đông Sơn. Nxb Khoa Học Xã Hội.
[13] Lĩnh Nam còn gọi Lĩnh ngoại, chỉ phía nam rặng Ngũ Lĩnh.
Đại khái vùng Hoa Nam hay Giang Nam, phía nam sông Dương Tử
(Trường Giang).
[14] 'Hẹ' = 'Hạc' cho thấy một thí dụ tiêu biểu về lối phiên
thiết để tạo nên âm quốc ngữ cho từ gốc 'Hán'. Tình trạng này
thường xảy ra vào những thập niên 40-60 tại Việt Nam. Do ở việc
chữ quốc ngữ các tôn sư để lại luôn luôn thiếu thốn một số từ ít
dùng, cả Nôm lẫn Hán. Lúc đó phiên âm chính thức cho tiếng Tàu -
gồm tất cả phương ngữ kể cả giọng Bắc Kinh - hãy còn thiếu thốn
hoặc chưa có. Nhất là vấn đề thinh, tức thanh điệu định đoạt dấu
(sắc hỏi ngã, v.v.). Thêm vào đó trong mỗi phương ngữ, mỗi một
từ lại có thể mang nhiều thinh khác nhau tùy theo địa phương, và
tùy theo từng bộ lạc gốc ở thời xa xưa. Các tiền bối đã, một
phần áp dụng - một phần tạo dựng, các quy luật về phiên thiết để
tạo nên vần quốc ngữ cho các từ ít dùng. Hoàn toàn không có đảm
bảo các từ 'tân tạo' đó đã được phát âm y như vậy hay không, vào
những thế kỷ trước, tại xứ An Nam. Thí dụ: Nôm = Nam, có thể đổi
thành Nồm (gió Nồm). 'Tả Nhậm' (vạt áo ở bên trái) - 'Nhậm' theo
tự điển Đào Duy Anh lại viết thành 'Nhẫm'. Sông Hồng ngày xưa
gọi Nhị Hà, xuất xứ từ biển hồ Nhĩ Hải (Er Hai) ở Vân Nam. Thành
ra Nhị Hà vẫn có thể mang phát âm khác: Nhĩ Hà. Một tác giả của
Thủy Kinh Chú có tên 'Lịch Đạo Nguyên', Bình Nguyên Lộc phiên
thiết thành 'Lệ Đạo Nguyên'. Họ Lê viết như
黎
theo tiếng Hán chính là [Li] của khối Cửu Lê (Jiu Li - Cửu Ly),
còn gọi rợ Đông Di, bao gồm Miêu tộc (Hmong) và những nhóm Lê
khác, ngày nay đang có khuynh hướng phiên thiết trở thành [Ly].
Trở lại chuyện phiên thiết [Luo] hay [He] thành [Hạc]. Chữ [Hạc]
quốc-ngữ có lẽ đã gợi ý cho một học giả Việt lập nên giả thuyết
totem dân Việt Nam là 'con chim Hạc'
鶴.
Chúng tôi, với nhiều kính phục, thấy rất khó đồng ý với quan
điểm này dù rằng có nhiều hoa văn trống đồng mang hình nhiều con
chim. Nhưng cũng thường kèm theo những con thú khác như: trâu,
bò, hươu, v.v. Và cũng có con cóc. Lý do: (i) Có thể đặt nghi
vấn về độ chính xác của phiên thiết
貉
[Hẹ] thành [Hạc]. Người xưa có thật phát âm [Hạc] hay không khi
họ muốn nói đến từ
貉.
(ii) Chữ [Hạc] chỉ con chim tương ứng với từ khác:
鶴
với thành phần cấu trúc không liên hệ đến từ
貉
kia. (iii) Các học giả người Hoa ưa mò totem từ chính lối viết
chữ tiếng Hán, chứ không phải theo âm gần giống. Thí dụ: Nếu họ
xem vua Đại Vũ (Da Yu
大
禹)
đầu đời Hạ như một nhóm tộc người, họ đặt giả thuyết totem nhóm
đó là con sâu Vũ, dựa trên lối tượng hình hay ý nghĩa của chữ
viết. Thành ra nếu dùng từ [Lạc] hay [Hẹ]
貉,
để truy ra totem, totem đó theo ý nghĩa của từ chính là 'con
chó mõm nhọn' chứ không phải chim Hạc. Và: (iv) Ở miền Giang
Nam, thường mỗi một bộ tộc có một totem khác nhau, dù họ có thể
cùng một tộc gốc. Do đó nếu các tộc Việt-cổ có totem, họ phải có
khá nhiều totem khác nhau. Không thể nào chỉ có mỗi một
totem.
[15]
http://www.japantimes.co.jp/cgi-bin/getarticle.pl5?fb20050717dr.htm
-
http://www.crystalinks.com/tattoo.htm -
http://news.com.com/2061-10786_3-5770822.html
[16] http://www.thingsasian.com/goto_article/article.897.html -
http://www.tattoojohnny.com/modern-tribal-tattoo-designs.asp -
http://www.tattooheaven.com/CentAsia.html -
http://www.powerpassion.nl/tattoo-and-body-piercing/tatinfo.html
-
http://www.quangduc.com/xuan/32namty.html
[17] Jeanne Cuisinier (1946) Les Mường, Géographie et Sociologie
humaine. Institut d'Ethnologie.
[18] Lê Quý Đôn (1726-1784) Vân Đài Loại Ngữ (1773). Tạ Quang
Phát dịch. Nxb Văn Hoá Thông Tin (1995). Trọn bộ 3 tập. Trong
Vân Đài Loại Ngữ, Lê Quý Đôn so sánh cau Việt và cau Quảng Đông,
cho biết thứ nào chát hơn hoặc ngon hơn.
[19] 'Xâm mình' trong giới anh chị, thường phải kể đến nhóm
Yakuza ở Nhật.
[20] Kiểm chứng riêng của chúng tôi dựa trên các dữ kiện ở quyển
Mã Lai [8], cho biết người Kha (Lá Vàng) mang đủ thứ biệt sắc
người Việt cổ. Có thể ban đầu từ khối Đông Di, di tản sang miệt
xứ Ba - Thục ở vùng Tứ Xuyên, rồi đổ xuống khu vực Vân Nam -
Quảng Tây. Chính món canh chua (Việt) và Tom-Yum (Thái) có thể
xuất xứ từ món canh chua và cay của dân Việt cổ xưa ở Tứ Xuyên -
vùng đất đỏ.
Print this site

Trở về Trang Chính |