Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương (14):

Hán Việt vào lúc xưa khi bên Tàu



 

 Một trong những điểm thường được nhấn mạnh trong loạt bài này nằm ở chỗ mô hình 'nguồn gốc dân tộc' Việt Nam rất giống với các nước ở miền Đông Nam Á. Trong đó, tộc người ngày nay, nước nào cũng vậy, gồm hợp chủng vài ba tộc người khác nhau ở thời xa xưa, từ chốn khác, cộng với lớp dân bản địa đã có mặt tại đó từ trước. Phân bố thành phần hỗn hợp khác nhau tùy theo từng quốc gia. Có xứ chứa nhiều nhóm dân Môn hoặc Khmer, hoặc cả hai thứ Môn-Khmer, có xứ nhiều tộc Thái cổ. Cũng có nơi gồm cả thành phần các tộc Lạc Việt từ miền biển Đông nước Tàu, như tại Việt Nam. Một điểm đặc trưng khác của mô hình này là những khối dân tộc ít người tại khắp các quốc gia ở Đông Nam Á đều có tình bà con gần xa với khối người Kinh, nhất là ở vào thời xa xưa. Lý do chính họ trở thành người dân tộc là bởi ngay từ đầu họ vẫn có ý thích yêu chuộng tự do, thích duy trì nếp sống cổ truyền của tổ tiên, và rất dị ứng với chế độ phong kiến do người Hoa áp đặt trên lãnh địa của ông cha.

 

Như vậy rất có khả năng, người dân tộc là những người đã kinh qua hơn một lần di tản. Lần thứ nhất, chạy giặc Xuân Thu Chiến Quốc, Hán Sở tranh hùng, loạn Vương Mãng, Tam Quốc, Tàn Đường, thập triều - ngũ đại, v.v. ở bên Tàu. Lần này chia thành nhiều đợt, cách nhau có khi hằng thế kỷ, và theo sát nguyên lý căn bản của di tản: 'Luôn luôn di tản theo hướng mà ông cha ngày trước đã đi qua'. Những lần sau, từ miền kinh chạy tuốt lên miền rừng núi khi những kẻ thù năm xưa lại xuất hiện tại xứ mà ông cha họ đã di tản đến định cư. Theo sát với truyền thuyết Âu Cơ và Lạc Long Quân. Một khi chấp nhận được cơ sở lí luận của mô hình hết sức đơn giản, nhưng không kém phần thực tế này, chúng ta thấy ngay việc truy tầm nguồn gốc dân tộc không mấy khó khăn. Ít ra công việc đó đơn giản hơn rất nhiều những lí thuyết trên trời dưới biển do mấy ông Tây ông Tàu bày ra, trong những thế kỉ qua.

 

Xem kỹ mô hình đơn giản này với những hiểu biết người Việt đã có từ xa xưa, chúng ta sẽ thấy nó đưa ra được nhiều lý giải cho những gút mắt khó khăn từ trước đến nay, trên nhiều bình diện quan trọng của tộc người Việt Nam, xuyên qua các vấn đề văn hoá, nghệ thuật, lịch sử và nhất là vấn đề hóc búa: ngôn ngữ. Xin đơn cử một hai thí dụ.

 

(i)                  Nhiều người Việt đã có dịp chứng kiến 'múa tre' kiểu Phi-líp-Pin. Họ múa rất nhuần nhuyễn, rất đẹp. Theo đó những người múa, thường một cặp nam-nữ, nhảy theo điệu nhạc, bước chân qua lại giữa hai ống tre dài, song song, do hai hoặc bốn người nắm và điều khiển, đập theo nhịp xuống sàn, vài nhịp lại đánh khép vào nhau, và người nhảy sẽ nhảy múa làm sao để chân khỏi bị kẹt giữa hai ống tre. Đối với nhiều người thuộc thế hệ trẻ, khi họ thấy kiểu 'vũ tre' này biểu diễn tại Việt Nam, có thể họ sẽ cho rằng dân mình bắt chước kiểu múa của người Phi. Nhưng theo với cơ sở của 'truyền thuyết giải mã' ở đây, chúng ta bắt buộc trước hết phải rà một lượt qua mạng, với Google chẳng hạn, dùng tiêu đề 'bamboo dance', và sẽ thấy 'múa tre' rất phổ biến tại Phi-líp-pin, Thái Lan và Nam Ấn. Cả 3 nơi nầy khi xưa có sự hiện diện của dân Môn-Khmer. Từ đó, có thể giải thích 'múa tre' nếu có tại Việt Nam là do ở việc góp mặt của tộc người tối cổ Đông Nam Á, Môn-Khmer, vào lòng dân Việt Nam.

 

(ii)                Cách đây trên mười năm, chúng tôi xem được ở đâu đó một màn vũ múa do các thiếu nữ Việt trình diễn. Điểm ngạc nhiên, điệu vũ rất giống kiểu vũ múa Thái Lan, ở chỗ uốn cổ tay trong lúc múa. Lúc đó chúng tôi, với hiểu biết hết sức hạn hẹp, vô tình cho rằng dân Việt, thời mới bây giờ, bắt chước Thái trong điệu vũ nặng nhiều về 'uốn' cổ tay, với bàn tay năm ngón xoè xoè ra. Nhưng gần đây trong lúc viết nên loạt bài này, chúng tôi được dịp xem một 'phim Nam' mang tựa 'Nợ Đời' phỏng tác theo tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh. Trong phim có đoạn dân làng kéo nhau đi xem múa ở đình, và trong màn múa đó, các thiếu nữ làng biểu diễn chính kiểu múa uốn cổ tay của Thái Lan. Hoàn toàn phù hợp với 'giả thuiết' ở đây: tộc Thái-cổ là một trong 3 thứ tộc nòng cốt tạo dựng, tiến hoá nên người Việt Nam.

 

(iii)               Câu chuyện ngôn ngữ có lẽ cũng vậy, 'truyền thuiết giải mã' sẽ cho thấy một chuyện hết sức ngộ nghĩnh, rất kì lạ nhưng không kém lí thú, đã có từ lâu, nhưng tuyệt đối rất ít người để ý đến. Đó là việc tìm kiếm cho được một dân tộc thứ hai nào trên thế giới, mang tiếng thuần chủng, có hơn phân nửa dân số, đặc biệt đếm luôn giới ê-lít, lúc nào cũng có vấn đề 'viết sai chính tả' nhất là phân biệt hai thứ thanh 'hỏi' và 'ngã'. Chúng tôi hi vọng sẻ trỡ lại câu chuyện ngộ ngỉnh này vào một dịp khác.

 

Nói luôn luôn dễ, nhưng làm thường rất khó. Sở dĩ những học giả bản địa của nhiều nước ở Á Châu, kể cả Tàu, dễ bị lạc vào cái vòng lẩn quẩn, vướng vào sức nặng của hai khối tiền đề to lớn Hoa và Tây phương, là do ở chuyện chính họ nếu không là đệ tử, đồ đệ của người Tàu, thì cũng sinh viên học trò người Tây. Tra cứu tất cả sách vở và ngay cả những trang mạng về cổ sử Trung Hoa, chúng ta sẽ thấy một điểm đặc trưng nhất: 'đám nào, chỗ nào cũng có họ, cũng có người Hoa'. Thí dụ cụ thể, khi viết về nước Ư Việt hùng cường của Câu Tiễn, họ nói hồi tiền sử vua nhà Hạ nhà Châu nào đó đã phong đất chỗ đó cho một ông Công ông Hầu nào đó mang máu Hoa tộc. Người Mông Cổ hay Hung Nô họ cũng không tha. Họ cho rằng xưa có một ông Chúa nào đó đem văn minh Hoa Hạ sang xứ Hung Nô rồi truyền lại cho dân bên đó. Rồi Vân Nam (Nam Chiếu / Đại Lý) cũng vậy, họ ưa bàn những di vật khai quật được có chung nền văn minh với kiểu tìm thấy ở Ngưỡng Thiều [1]. Đối với xứ An Nam, họ tìm thấy quyển Đại Việt Sử Lược thất lạc bên Tàu lâu năm, hiệu đính rất kỹ rồi trao trả lại cho nhà nước An Nam. Trong bản sử hiếm có đó [2], ngay ở đoạn đầu tiên, người Hoa đã không quên xí phần nguyên trọn xứ Giao Chỉ. Đại Việt Sử Ký [2] viết, ngay ở trang đầu tiên: 'Xưa Hoàng Đế dựng nên muôn nước, thấy Giao Chỉ xa xôi, ở ngoài cõi Bách Việt, không thể thống thuộc được, bèn phân giới hạn ở góc tây nam, có 15 bộ lạc là: (1) Giao Chỉ, (2) Việt Thường Thị, (3) Vũ Ninh, (4) Quân Ninh, (5) Gia Ninh,...'.  Thật hay, thời Hiên Viên Hoàng Đế, người 'Tàu' đã biết đến toàn cõi Bách Việt, rồi chia đất người khác thành 15 bộ. Sự thật, như nhiều trang mạng có bản đồ đã ghi rõ, cho đến đời nhà Thương, ranh giới Hoa tộc thuần túy chỉ bao gồm chừng 1-2 tỉnh nước Tàu tập trung tại khu vực bên sông Hoàng Hà. Họ không hề biết gì đến dân Bách Việt ở Hoa Nam.

 

Người Tây Phương cũng phức tạp không kém người Hoa. Một mặt họ nghiên cứu rất kỹ về các tộc người khác nhau ở Đông Nam Á. Có thể nói vào thời đó (thế kỷ 17-20) đội ngũ học giả trí thức của họ về các vấn đề Á Châu cũng đông đảo không kém giáo sư đại học ngày nay chuyên khoa về vấn đề Trung Đông. Nhưng mặt khác, họ vẫn vướng phải một số các tiền đề đã ăn sâu vào cốt lõi văn hoá của họ. Quan trọng hơn hết là ám ảnh về một tộc người thuần chủng, như dân Jo-Thái chẳng hạn, được Moses dẫn đi di tản, tách rẽ biển, chạy trốn nạn khủng bố ở nước Ai Cập. Rất nhiều lí thuyết về nguồn gốc dân tộc tại Á Châu, cho mãi đến ngày nay, vẫn thường dựa vào thứ tiền đề 'thuần chủng' này. Ở một góc độ khác, chính sách thuộc địa của họ có vẻ luôn luôn dựa vào những gì thuận lợi cho họ, giữa hai ý niệm hoặc hiểu biết trái nghịch với nhau: 'Một dân tộc gồm nhiều chủng khác nhau' và 'Một dân tộc thuần chủng'. Tức khi cần chia để trị, họ nói dân bị trị gồm nhiều chủng khác nhau. Khi cần tổ chức hành chánh thành một mối cho gọn, hoặc để tránh dòm ngó của các cường quốc khác, họ lớn tiếng cho biết cái xứ họ đang khai thác thuộc địa bao gồm một chủng tộc duy nhất.

 

Nghiên cứu Tây Phương về những tộc người Á Châu, cho mãi đến ngày nay, lại bị vướng bởi những thứ tiền đề thuận lợi cho người Hoa, do chính người Tàu bày ra. Thí dụ cụ thể nhất là lối khẳng định sau đây rất dễ tìm thấy trong các bài viết của những nhà ngôn ngữ học, nhiều vị rất nổi tiếng, khi viết về các phương ngữ Hoa Nam. Đại khái, mỗi khi muốn nêu lên so sánh khác nhau giữa tiếng quanthoại và các thứ phương ngữ khác ở Hoa Nam, họ viết tiếng Tàu kiểu quanthoại xưa cũng giống như các phương ngữ Hoa Nam, nhưng trong nhiều thế kỉ qua, bị lột mất hầu hết các âm cuối, chỉ còn giữ lại hai âm tận cùng [n] và [ng]. Thí dụ: màu lục, rất nhiều phương ngữ Hoa Nam phát âm có âm [k] ở cuối [luk], nhưng quan thoại không có [k], và phát âm với âm [u] trơn ở cuối: [lu]. Phía 'Nam', hoặc màu xanh 'lam', rất nhiều phương ngữ phát âm như: [Nam] và [laam] hay [lam], nhưng quanthoại chỉ biết có, và chỉ còn giữ âm cuối [n]: [Nan] và [lan]. Ngoài âm [n], còn có âm [ng] vẫn còn giữ nguyên: [shuang] => song (đôi). Những âm cuối như [p] (pháp), [t] (xất / thất), ... hoàn toàn đã bị lột mất trong quanthoại: [fa] {fáp} & [shi] {xất=thất} => thiếu mất âm [t] ở cuối. Lối kết luận như vậy đã dựa vào thứ tiền đề nào, chưa được khắt khe xem lại? Đó là tiền đề cho rằng người Hoa Nam và người Hoa Bắc khi xưa cùng chung một tộc, ngôn ngữ giống nhau. Ngày nay họ hướng dẫn các giới thẩm quyền Tây Phương gọi đó nhóm ngữ Hán-Tạng, tức tiếng Tàu quanthoại và các phương-ngữ Hoa Nam xưa có cùng chung một gốc Hán-Tạng với nhau. Chỉ có phía Bắc, tiếng quanthoại bị lột mất một số nhiều âm cuối do giao tác với 'rợ' Bắc phương. Dụng ý chính của tiền đề 'Hán Tạng' này có lẽ để hoà nhập hai thứ tộc người chính trên Hoa lục, lại làm một. Đó là Hoa tộc và tộc người Bách Việt ở thời xa xưa. Sự thật hai tộc chủng thật lớn này vào thời xưa, rất có khả năng, đã khác nhau rất nhiều, thì không hề có vụ tiếng quanthoại chính của Tàu xưa rất giống các tiếng khối Bách Việt, nhưng ngày nay bị lột mất các âm cuối, chỉ còn chừa lại [n] và [ng]. Thật ra, người Hoa hiện đại rất thích cái tiền đề kiểu này. Gần đây họ còn đi xa thêm bằng cách cho rằng tiếng Việt (Yue), tức tiếng Quảng Đông, hồi xưa có nhiều điểm tương đồng với tiếng Hán cổ [14]. Sau một thời gian dài cho rằng người Hẹ (Hakka) chính là người Hán... thuần túy nhất. Tiền đề Hán-Tạng đó, theo thiển ý, không được chính xác ngay trong cơ bản, và cần được xem lại thật kỹ.

 

Một thứ tiền đề khác cũng do người Hoa bày ra, đã khiến mọi công cuộc nghiên cứu về nguồn gốc dân tộc rất nhiều nơi ở Đông Nam Á bị rơi vào cái mê hồn trận của người Tàu. Đó là việc sử sách Tàu không bao giờ đề cập đến mỗi khi có loạn lạc 'ping' lửa pên Tàu, lê dân ở đó có di tản ra ngoài biên giới hay không. Có vẻ như người Hoa luôn tránh đề cập đến vấn đề này. Thêm vào đó vụ phân tán di tản lớn gần nhất từ Trung Hoa xảy ra vào thời nhà Mãn Thanh bên Tàu (1644-1911), đúng vào lúc, các dân tộc của từng quốc gia ở Đông Nam Á đã bắt đầu hình thành. Những người thuộc đợt di tản lớn, cuối cùng này từ Trung Hoa, chỉ còn nước trở thành Hoa Kiều, chứ không góp phần vào việc hình thành tộc người địa phương như thời xa xưa, ở nhiều thế kỷ trước [7]. Và chính cũng ở chỗ khác nhau rõ rệt của các tộc người bản địa với Hoa Kiều, vào thế kỷ 17 trở về sau, cộng với một nguyên lý cơ bản của di tản thường bị bỏ quên [3], đã khiến cho mọi công cuộc nghiên cứu, Đông cũng như Tây, dễ bị lạc hướng, rơi vào một thứ tiền đề lệch lạc ngay từ cơ bản. Đó là, người bản địa là người ở tại chỗ từ ngàn xưa, không có từ đâu đến hết, nhất là dính dáng đến chuyện xưa tích cũ ở bên Tàu. Dân tộc ở khắp các quốc gia miền Đông Nam Á, mỗi một thứ tộc đều thuần chủng. Lớp người di tản chạy giặc Mãn Thanh hoàn toàn là Tàu, không liên hệ huyết thống gì hết với các dân ở Đông Nam Á, dù ở thời xa xưa.

 

Trên cơ sở lí thuyết của loạt bài này, một khi chấp nhận được mô hình 'dân tộc mỗi quốc gia Đông Nam Á là một hợp chủng', khác kiểu với mô hình Trung Hoa, chúng ta sẽ thấy việc truy tầm các thành phần hợp chủng thuở 'ban đầu' trở thành một công tác không mấy khó khăn. Đơn giản nhất: truy cập tổng số từng khối dân tộc ít người hiện có, và để ý đến khoảng thời gian họ đã di tản đến xứ đó. Đặc biệt để ý đến những những loại người dân tộc có số đếm đông đảo nhất.

 

Nhìn lại đẳng thức tộc người Việt Nam:

Việt-Nam = Thái cổ + Việt cổ // Môn-Khmer + Thái-cổ + Nêgritô + Đa đảo

 

Tóm lược số người dân tộc chia thành từng nhóm, theo thống kê [4]:

(a)    Thái (thường gọi Thái-Kadai), bao gồm: Bố Y, Giáy, Lào, Sán Chay, Lự, Nùng, Tày, Thái. Cờ Lao, La Chí, La Ha, Pu Péo. Tổng cộng: 3,891,560

(b)   Việt-Mường: Chứt, Mường, Thổ, và Kinh (Việt). Tổng cộng (trừ KINH): 1,209,738

(c)    Môn-Khmer: Ba-na, Brâu, Bru VânKiều, Chơ-ro, Co, Cơ-ho, Cơ-tu, Gié Triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ-mú, Mạ, Mảng, Mnông, Ơ-đu, Rơ-măm, Tà-ôi, Xinh-mum, Xơ-đăng, Xtiêng. Tổng cộng: 1,972,480.

(d)   Nam Đảo (Malay-Pôli-nêziên): Chăm, Chu-ru, Ê-đê, Gia-rai, Ra-glai. Tổng-số: 515,130

(e)    Hán-Tạng & Tạng-Miến: Cống, Hà-nhì, La-Hủ, Lô-Lô, Phù-Lá, Si-La, Hoa, Ngái, Sán-Dìu. Tổng cộng: 1,032,727

(f)     Hmong-Mien (tức Miêu-Dao): Dao, Hmong, Pà Thẻn. Tổng cộng: 1,413,711

 

Theo thiển ý:

(i)                  Tộc người Kinh là hỗn hợp qua nhiều thế kỷ của các thành phần dân tộc kể trên, đã ở lại miền đồng bằng, CỘNG với nhiều đợt di tản kéo dài từ thời Xuân Thu Chiến Quốc, cho đến đời nhà Trần, của các nhóm Lạc Việt ở phía bờ biển phía Đông nước Tàu.

(ii)                Tộc Thái-cổ có thể bao gồm phần (a) và (b), tức Thái và Mường, hợp lại với nhau.

(iii)               Tộc người bản địa xưa Môn-Khmer (c) cũng có thể được phối hợp với nhóm Nam Đảo (ở trên. Trong nhóm Nam Đảo (d), đặc biệt để ý đến nhóm Chăm, với thành phần nòng cốt, theo thiển í: Môn-Khmer. Xếp người Chăm vào nhóm Nam Đảo, theo kiểu trên, hoàn toàn dựa vào phân loại ngôn ngữ của người Tây Phương đối với tiếng Chăm.

(iv)              Nhóm Hán-Tạng và Tạng Miến cũng có thể là những đợt di tản từ miền Hoa Nam, sau khi 'đồng bào' ở đó đã tiến hoá thành người Tàu.

(v)                Nhóm Hmong-Mien (tức Miêu-Dao) là một nhóm tiêu biểu cho những người đến định cư tại xứ Việt sau này. Tuy nhiên, cũng có một vài chứng tích cho biết họ cũng đã đến đó vào thời xa xưa. Thứ nhất, họ là một thứ tộc người ưa sống gần người Hakka (Hẹ) ngay từ khi còn ở bên Tàu. Điển hình, người She (dân số khoảng 700000) ngày nay sinh sống tại Chiết Giang / Giang Tây có ngôn ngữ rất giống Hẹ mặc dù họ thuộc tộc Hmong-Mien. Những nơi nào thấy người Hẹ thì thấy người Hmong, như Triều Tiên. Tại Quý Châu, người Hmong có đến khoảng 7 triệu người, ưa sống hoà nhập với tộc Thái. Thứ hai, vua  Lý Anh Tôn cho lập đền thờ Xuy Vưu vào năm 1160. Xuy Vưu là thánh tổ dân Hmong-Mien có hậu duệ chính là dân Triều Tiên. Thứ ba, họ Lý là một trong những họ chính của người Hmong [6].

 

Như vậy phân bố người dân tộc ngày nay, tóm lược sau đây, có thể cho biết đại cương phân bố tộc người vào thời cổ đại:

-         Thái cổ, gồm cả Mường: trên 5 triệu

-         Môn-Khmer (kể luôn Chăm-pa): trên 2 triệu

-         Hmong-Dao: khoảng 1.5 triệu

-         Nam Đảo + Nêgritô: Khoảng 0.5 triệu

 

Rất có thể, một thứ phân bố như vậy đã ở lại miền đồng bằng để rồi hợp chủng với các tộc Lạc Việt - như các nhóm Hẹ-cổ [5], Ngô và Mân - tạo dựng, tiến hoá nên người Việt Nam.

 

Xin tóm lược lại thành tích các tiền bối của Việt tộc theo từng nhóm một:

 

(i) Môn-Khmer: Hiện diện gần như khắp nơi ở Đông Nam Á, nhất là các dải đất giáp với Ấn Độ Dương kéo đến các quần đảo ở Thái Bình Dương, trong đó có Myanmar, Khmer, Mã Lai, Inđô-nêxia, Phi-líp-Pin, v.v. Siêu tộc thuở ban đầu của họ có lẽ là nhóm Để & Khương (Di Qiang), xuất hiện từ phía Tây nước Tàu, tiền thân của rất nhiều chủng tộc ở khối Bách Việt lẫn Tây Tạng. Rất có khả năng, đám rợ Khuyển Nhung (Quan-rong) từng làm cỏ kinh đô Cảo Kinh (Haojing gần Xian - Tây An) của nhà Tây Châu vào năm 770 TCN thuộc vào tộc này.

 

(ii) Thái-cổ: Địa bàn nguyên thủy, phối hợp với nhóm Khương, nằm ở phía trong lục địa Trung Hoa, tại các vùng như Tứ Xuyên (Thục), Hồ Bắc / Hồ Nam (Sở), xuống Quý Châu (hợp với Hmong-Dao), Vân Nam (Điền), và Lưỡng Quảng (Âu Việt và Nam Việt). Lãnh đạo có chất lượng của khối này vào thời Đông Châu Liệt Quốc chính là nước Sở, cái nôi Việt tộc. Tộc Thái-cổ, theo thiển ý, cũng chính những nhà phát minh các loại trống đồng mà người Mường (VN) và người Choang ở Quảng Tây hãy còn xử dụng đến ngày nay.

 

(iii) Lạc Việt: Gồm ba nhóm chính: Bộc, Ư / Ngô, và Mân- tương ứng với ngày nay, tuần tự, Hẹ/ Sơn Đông, Chiết Giang/ Thượng Hải, và Phúc Kiến/ Triều Châu. Minh chủ sáng giá nhất: Phù Sai và Câu Tiễn của hai nước Ngô và Việt. Nhóm lãnh đạo lưu động do ở thế du mục: nhóm Bách Bộc (tức Hẹ ngày nay), có mặt tại nhiều chiến trường thời Xuân Thu Chiến quốc.

 

(iv) Hmong-Dao, tên khác: nhóm Cửu Lê, có hậu duệ nhìn nhận là dân Triều Tiên. Lãnh tụ nhóm này nổi tiếng nhất chính là Xuy Vưu có thành tích đối đầu trực tiếp với Hiên Viên Hoàng Đế của Hoa tộc. Đây là tộc người nấp kín nhất trong lòng tộc người Việt Nam (sau lưng triều nhà Lý và khối người Hẹ-cổ ở bình nguyên sông Hồng).

 

Như vậy khác với nhiều quốc gia khác ở Đông Nam Á, tộc Việt bao gồm toàn những tộc có đầy đủ kinh nghiệm phân tranh với Hoa tộc. Đặc biệt nhất hiện diện của các nhóm Lạc Việt từ miền biển.

 

Quan sát thật kỹ bằng việc so sánh tiếng Việt và các thứ tiếng Lạc Việt từ miền biển ở các bài trước, chúng ta đã đi đến một vài nhận xét cực kì quan trọng như sau:

 

(i)                  Thứ tiếng thường gọi Hán Việt, thật ra là những phương ngữ của các tộc người Lạc Việt, và ngay cả Âu Việt, từng xử dụng từ thời họ còn ở bên Tàu. Theo thiển ý, chỉ có như vậy ta mới giải thích được hiện tượng tiếng Việt có đến 60% từ 'Hán'-Việt, mà mọi người Việt đều 'xử dụng' rất 'tự nhiên'. Những mô hình tương tự có thể được nghiên cứu cho các trường hợp Nhật và Hàn. Hai xứ này hoặc không bị Tàu đô hộ, hoặc đô hộ trong thời gian ngắn hơn nước Nam, nhưng hiện diện của các từ gốc 'Hán' cũng rất đậm nét.

 

(ii)                Một số lớn từ vựng của tiếng Nôm, xưa nay vẫn tưởng thuần Nôm, thật ra lại là đóng góp của nhiều phương ngữ khác nhau của các tộc người Bách Việt ở thời xa xưa, trên tầng lớp bản địa Mon-Khmer và Thái cổ. Mỗi phương ngữ chứa một số thanh điệu khác nhau. Mỗi phương ngữ lại có rất nhiều tiểu chi. Chỉ riêng tiếng Ngô có đến 94 tiểu chi phương ngữ khác nhau. Đưa đến 3 sự việc chính như sau trong tiếng Việt, lý giải theo 'giả thuiết' ở đây:

 

- Mỗi một sự vật hoặc động tác, trạng thái, thường có những từ dùng khác nhau.

Thí dụ: động từ 'Dùng' chỉ 'ăn' và 'uống'. Phương ngữ Hakka phát âm 2 cách: [jung] và [yung]. [Jung] giống kiểu Bắc, và [Yung] kiểu Nam hoặc Quảng Đông - Quanthoại. Ngô (Thượng Hải - Chiết Giang) phát âm như [i-ong] sinh ra [uống]. Trong khi Mân (Phúc Kiến - Triều Châu) đọc như [eng], tiến đến [ăn] rất dễ khi phối hợp với một lối phát âm của người bản địa Môn-Khmer: [?an]. Tương tự, 'Gả'-chồng và 'Cưới'-vợ. [Gả] là phát âm 'Nôm' giống tiếng Hẹ của từ Hán Việt [giá] tức [jiá] y hệt phía quanthoại, và [ka] Ngô, [ke] Mân. [Ke] Mân hợp với [kuÊ] Ngô, hay [kui] Mân dễ dàng tiến đến 'Cưới'. [Kuê] Ngô chính là [quy] Hán-Việt: {vu quy} mang nghĩa 'đàn bà lấy chồng'. Tương đương [quy] trong quanthoại là [gui] .

 

- Phát âm dựa trên mẫu âm (nguyên âm) chính của mỗi từ, trong phương ngữ, hay

  ngay cả trong một tiểu chi phương ngữ, cũng có thể khác nhau. Y hệt như trong

  tiếng Việt. Thí dụ: Biến chuyển giữa âm [u] và [ô], như  [tui] & [tôi]: [Chủng] =>

  [giống]  {tộc người}. Giữa các phương ngữ Yueh: [zhung] Hẹ => [tsong] Ngô.

  [Thất] (mất)  => [Thiệt] (thiệt hại). Sang phía phương ngữ Hoa Nam: [Xất]-quảng

  đông => [Xiit]-Hẹ. [Thật] => [thiệt] cũng vậy. Từ phương ngữ Bách Việt: [Chat]-

  Mân, [xat]-quangdong, [shi]-quanthoại => [xi-it]-Hẹ.

  Ngay cả biến thái môi-môi trong tiếng Việt, như: [muộn] => [buồn] => [phiền], cũng

  được thể hiện giữa các phương ngữ Bai-Yue. Các phương ngữ cũng có 3 thứ từ mang

  cùng gốc như vậy nhưng viết Hán tự khác nhau, cùng nghĩa: 'Sad' (buồn):

  [Muộn] <=> [miau-1]-Hẹ, hay [miau-3]-Hẹ, và [mian-2]-quanthoại. [8]

  [Buồn] <=> [bui-1]-Hẹ  & [bei-1]-quanthoại, quảngđông.

  [Phiền] mang Hán tự y hệt như [bei1], tức [buồn], có phát âm gần giống của Ngô

  [pei] và Mân [pi].

 

- Thanh điệu có thể khác nhau giữa hai từ (Việt) mang cùng gốc, như {sài} => {sói},  

  {khoảng} => {quãng}, {đỉnh} => {đĩnh}, {ngõ} => {ngả}, {Giu Đà} => {Jo Thái},

  v.v. giờ đây có thể giải thích bằng việc khác thanh điệu giữa các phương ngữ, cũng

  như khác thanh điệu giữa các tiểu chi trong cùng một phương ngữ. Thí dụ: [sói] có

  tương đương với: [sai-1]-Hẹ + [sai-2]-Hẹ, cũng như [chaai-2]-quảngđông, và [chhai-

  5]-Mân, tương ứng [sài]-hánviệt. Cho thấy, thanhđiệu cho cùng một từ trong các

  phương ngữ Bai-Yue luôn biến chuyển thanhđiệu (dấu) tùy theo tiểu chi phươngngữ.

  [Sài] chuyển sang Nôm có lẽ bị sức ép của các tiếng bản địa như Môn-Khmer và

  Thái, như Kwêi (kúi), chkăe, maa (má), nên chuyển sang dấu sắc, thành [Sói]. 

  [Đỉnh], thường lộn xộn 'hỏi'? và 'ngả'~ trong tiếng Việt, cũng lộn xộn hai ba thanh

  trong tiếng Tàu. [Đỉnh] mang nghĩa 'cao cấp nhất' hay 'cái đỉnh 3 chân' (thường để

  phô trương uy quyền), viết tiếng quanthoại thành [ding-3], Hẹ [din-1] và [den-3],

  quảngđông [ding-2], Ngô [ting-5], Mân [teng-2]. Trong khi [Đỉnh] mang nghĩa 'đỉnh

  núi' phát âm theo quanthoại bằng [dian-1], Hẹ [dien-1], quảngđông [din-1], và Mân

  [tian-1], tất cả có vẻ cùng thinh số 1, tức thinh 'bằng'. Do đó 'đỉnh núi' trong các

  phương ngữ phía Hoa, thông thường mang thanh điệu khác với 'chiếc đỉnh'.

 

Một trong những lí do chính gây ra lộn xộn trong các thinh và ngay cả cách đánh vần, phát âm, trong tiếng Việt, do đó bắt nguồn từ chỗ tiếng Việt là một tổng hợp của các thứ tiếng Việt nguyên thủy bản địa, với các thứ tiếng Việt, như các phương ngữ Âu Việt (Thái) và Lạc Việt (Việt cổ), nhập khẩu từ bên Tàu. Đối với tất cả các phương ngữ này, tổng cộng có thể lên đến vài trăm, tiêu biểu cho hằng trăm bộ lạc khác nhau ở thời xa xưa, mỗi một sự vật, trạng thái, hay động tác đều có thể dùng nhiều từ khác nhau tùy theo từng phương ngữ hoặc tiểu chi phương ngữ. Ngay cả đối với những từ có chung một lối viết Hán tự, tức một kiểu từ duy nhất, cách phát âm có thể khác nhau, tùy theo từng tiểu chi phương ngữ.

 

Chúng ta cũng để ý trong tiến trình quy định các thinh (thanh điệu) của những từ, đặc biệt các từ Hán Việt, các vị học giả tiền bối ở đầu thế kỷ 20 (xem [9]) trong những hoàn cảnh thiếu thốn phương tiện (dùng internet hết sức đơn sơ thời đó, vận hành bằng xe xích-lô đạp), với lòng kính phục hãy còn đó,  đã quy hoạch dấu hỏi ngã, sắc huyền trên tiếng Hán Việt bằng

HánViệt

Nôm

Hakka

Q. Đông

Q.Thoại

Ngô

Mân

Ghi Chú

áp (lực)

ép / áp

ap

at

ya

a?

ah

Hẹ

bấc

bắc

bet/ biet

bak / baak

bei

po?

pak

bằng-hữu

bạn

beng

bang

peng

ban

pang

Ngô (*g)

bích

vách

biak

bik

bi

pI?

piah

cấp

cấp

kip

kap

ji

tshI?

kip

cố / cựu

cũ / xưa

gu

gu / gwu

gu

ku

kou

SinoKorean: ko

kiều

cầu

kiau

kiu

jiao

tshio

kiau

Mân/ QĐ

chi

cành(cây)

zhi /gi

kei

zhi

tsie

ki

Hẹ. Jap: 'ki'

dược

thuốc

jok /yok

yeuk

yao

ia?

ioh

dung

chứa

jung/yung

yung

rong

iong

iong

Hẹ /QĐ

điếm

quán

diam

dim

dian

tI

tiam

Hẹ /QĐ

én

chim én

jen/yen

yin

yan

I5

iN

Hẹ / Mân

ghi nhớ

gi

gei

ji

tshi

ki

Hẹ/ Mân

kế

(mẹ) ghẻ

gi / kie

gai

ji

tshi

ke

Mân / Hẹ *

giáo

dạy

gau

gaau

jiao

tshio

kah

QT

hạt

hột, hạt

het/ fut

hat

he

hơ?/ha?

hek

hi

hy (vọng)

hi

hei

xi

tshi

hi

Hẹ / Mân

ngậm(im)

ngậmmiệng

gim / im

kam/ gam

jin

-----

-----

= im / câm

gai/ ke

gai

ji

tshI

ke

Mân / Hẹ

khán

khám / xem

kon/kan

hon

kan

khƠ

khan

Mân

lang

lang sói

long

long

lang

loz

long

Q.Thoại

mục

mắt

muk

muk

mu

mO?

bak

để ý: m = b

mộng

mộng

mung

mung

meng

mong

bang

m > b (Mân)

nghiêu

vua Nghiêu

ngieu