Trong
một bài trước, chúng ta đã thử xem lại ảnh hưởng rất quan trọng
của các thứ tiền đề trên mọi nghiên cứu và viết lách về
những vấn đề liên hệ đến cổ sử, văn minh và văn hoá. Đặc biệt để
ý đến lối suy nghĩ của nhiều người Việt, đặc biệt giới ê-lít nói
chung, từ xưa đến nay thường dễ vướng phải sức nặng của hai khối
tiền đề to tát của người Tây Phương và Trung Hoa, và cách thức
làm việc vẫn chưa đạt được mức đòi hỏi thông thường của khoa học
là thỉnh thoảng cần phải đánh giá lại tính xác thực của các thứ
tiền đề đó.
Chỉ ở nhận xét có vẻ
khá thường tình này thôi, chúng ta có thể dựa vào đó để giải
thích được rất nhiều hiện tượng lịch sử nước Nam, và chúng tôi
đã mạo muội thử bắt đầu bằng việc xem lại và giải mã truyền
thuyết Âu-Lạc, từ ngàn xưa vẫn gây nhiều ngộ nhận.
Trong bài này, chúng ta thử xem xét một sự khác biệt lớn giữa tư
dzuy cơ bản của người Hoa và Việt, mà tiền nhân từ xưa vì không
để ý đến tiền đề, và có thể không được trang bị đầy đủ lối suy
nghĩ độc lập, nên đã nhập khẩu mô hình của Hoa tộc, đem gán vào
hoàn cảnh khác biệt của nước Nam. Cũng có khả năng, lối suy nghĩ
thiếu thốn tính cách độc lập đã do chính người Hoa, hoặc người
Ấn, áp đặt hoặc gây ảnh hưởng sâu đậm lên rất nhiều tộc người ở
khu Đông Nam Á, từ Myanmar đến Việt Nam, Mã Lai Á, v.v., qua
hằng ngàn năm đối tác chính trị và chịu ảnh hưởng văn minh với
nhau.
Sự khác biệt lớn đó
nằm chính giữa 'truyền thuyết Âu Lạc giải mã' ở đây. Khác biệt
đó chính là khác biệt về phân biệt giữa Hoa tộc với người
dân tộc ở bên Tàu, với phân biệt giữa người Kinh và các loại
người dân tộc ở Việt Nam, hay ở Myanmar, ở Thái-Lan, v.v. Nói
nôm na theo kiểu toán học, nếu dùng X để chỉ thước đo phân biệt
giữa Hoa chủng và một nhóm người dân tộc nào đó ở bên Tàu, như
người Hmong, người Choang chẳng hạn. Và gọi Y, thước đo khoảng
cách giữa người Kinh và một nhóm người dân tộc nào đó tại Việt
Nam (thí dụ: người Mường, Tày, Bahnar, Mạ, v.v.). Theo lối hoàn
toàn dựa vào mô hình của Trung Hoa, từ xưa đến nay, ta có:
X = Y
Có nghĩa nếu rập
khuôn theo sát mô hình Tàu, khác biệt giữa Hoa chủng và các thứ
người dân tộc bên Tàu, sẽ y như khác biệt giữa người Kinh và các
dân tộc ít người tại Việt Nam.
Nhưng nếu dựa vào
'truyền thuyết giải mã', hoặc xem lại tiền đề, ta sẽ thấy rất
rõ:
X khác Y. Đặc biệt:
X > Y
tức X khác với Y,
rất nhiều, và luôn luôn X lớn hơn Y. Có nghĩa: khác biệt về
giên, hay tộc chủng, giữa Hoa chủng thuần túy tập trung ở vùng
Hoa Bắc với các nhóm dân tộc miệt Hoa Nam, lớn hơn khác
biệt tương tự, giữa người Kinh và Dân tộc ở nước Nam.
Tại sao vậy? Bởi
người dân tộc khắp nơi ở nước Tàu, đặc biệt Hoa Nam, từ ngàn xưa
đã mang giên khác với Hoa chủng. Những người lên núi rừng mà
sống, tạo nên người dân tộc ngày nay, chính là người bản địa Hoa
Nam ngày xưa, luôn từ chối hoà mình hoà hợp với Hoa tộc 'mới' và
cũ, sinh sống ở vùng đồng bằng thành thị. Trong khi tại Việt
Nam, người Kinh có trong người ít nhiều huyết quản và giên của
những nhóm người dân tộc, bởi tuyệt đại đa số người Kinh thuộc
vào ba bốn chủng chính, bao gồm: Âu tức Thái cổ, Lạc tức Việt
cổ, và vài nhóm bản địa như Môn, Khmer, và Thái cổ. Những chủng
này đều là những chi chủng tiền bối, đã truyền 'giên' lại cho
những nhóm người dân tộc. Những nhóm người ban đầu từ chối việc
hoà mình với thế lực phong kiến Bắc phương. Qua tiến trình lịch
sử họ giữ lại lối sống thời bộ tộc xa xưa, để rồi sau hằng trăm
hằng ngàn năm, xã hội và nếp sống của họ trở nên khác biệt với
người Kinh. Đọc lại lịch sử nước Nam trong suốt thời Bắc thuộc,
chúng ta thấy rất nhiều cuộc nổi loạn do người Việt ở vùng rừng
núi khởi xướng, chống với thế lực đô hộ Bắc phương. Quan đô hộ
Bắc phương thường gọi người nổi loạn, người Man, bởi đối với họ
bất kỳ đám rợ nào không phải Hoa chủng, ở miền Hoa Nam và sâu
xuống, nhất là ở miền rừng núi, họ đều gọi Man. Người ở vùng
kinh đô thành thị, dưới quyền cai trị trực tiếp của đám Bắc
phương, do đó dễ có khuynh hướng bắt chước gọi theo các quan
phương Bắc, và gọi Mán.
Nhưng lộn xộn có lẽ
thật sự bắt đầu với những cuộc di dân xảy ra vào những thời sau
những đợt di dân ban đầu thời tiền sử. Sau nhiều thế kỷ. Những
đợt di dân thời sau, cũng do ở giặc giã loạn lạc bên Tàu, xảy ra
sau khi nước Nam đã tạo dựng được một xã hội 'nước nhà', khoảng
cuối đời nhà Đường bên Tàu, và chuyển tiếp giữa Tiền Lê qua nhà
Lý tại xứ Việt. Khối người di tản đến sau đó, trừ các thành phần
ê-lít và thương gia, tiêu biểu qua thị tộc nhà Lý và nhà Trần,
đều có khuynh hướng lên thẳng miền rừng núi để định cư. Bởi chỉ
có nơi đó mới còn đất trống, và phù hợp với nếp sống cũ của họ
thời còn ở pên Tàu. Mặc dù huyết tộc của họ rất có khả năng cùng
thứ với nhiều người Kinh. Cộng với biến đổi xã hội và nếp sống,
cũng như khuynh hướng người Nê-gri-tô và người-đa-đảo thích sống
chung với người miền rừng núi hơn vùng Kinh, lâu ngày có sự phân
cực Kinh và Thượng, hoặc Kinh và Mán. Nhưng sự phân cực Kinh -
Dântộc, nếu nhìn kỹ, khác rất nhiều với 'khoảng cách' giữa Hoa
chủng và các cộng đồng dân tộc tại Trung Hoa.
Việc phân biệt khá
tế nhị này thật ra sẽ đưa đến một chiếc chìa khoá giúp mở được
nhiều cánh cửa hết sức gút mắt trong nhiều trang sử sách của
vùng Đông Nam Á. Trong đó có luôn cả vấn đề tiếng Việt, tiếng
Hán, và tiếng Nôm.
Tại Việt Nam, số
người dân tộc chiếm khoảng 13% (mười ba phần trăm) tổng dân số.
Trong khi tại Vân Nam và Myanmar, tỉ số này lên đến 33%, tức
1/3 (một phần ba), và tại Thái Lan, 1/4 (25%). Tại Quí Châu,
khoảng 1/3, đa số: Hmong, Buyi và Dong. Trong khi ở Quảng Tây:
2/5 (40%), đa số người Choang, xưa bà con gần với người Nùng ở
Việt Nam, thuộc chủng Thái-cổ. Theo [2] phân biệt giữa người
Kinh và các dân tộc ít người, sinh sống ở miền rừng núi khác
nhau tùy theo từng quốc gia. Người Trung Quốc gọi họ 'người dân
tộc' và luôn khuyến khích họ gìn giữ tập tục và văn hoá cổ
truyền. Bởi thật ra Hoa chủng thuần túy khác xa với người dân
tộc ở miệt Hoa Nam. Người Thái Lan gọi họ 'những bộ lạc miền đồi
núi' và có chính sách bao hàm lối sống của họ vào lối sống của
người Thái. Chính quyền Myanmar lại khác, họ gọi dân ít người,
'quân phiến loạn', và đối xử với họ y hệt như đối xử với quân
phiến loạn thực thụ. Mô hình dân tộc ít người ở Myanmar và Thái
Lan, thật ra, giống mô hình Việt Nam hơn mô hình Tàu. Tức khi
xưa dân Kinh và Thượng tại các nước này rất có khả năng, có bà
con họ hàng với nhau.
Mô hình người dân
tộc theo luận thuyết ở đây thật ra chỉ phản ánh, một trăm phần
trăm, truyền thuyết Âu Cơ và Lạc Long Quân, theo hai bản
Mường-Việt tổng hợp. Nhóm người dân tộc nguyên thủy ban đầu
chính là đám con đi theo bà Âu Cơ, lên rừng núi sinh sống sau
khi chia tay với cụ Lạc Long Quân. Hoặc nếu theo cổ sử, người
dân tộc ban đầu có một phần là đám dân quân đi theo Thục Phán.
Theo thiển ý, từ xưa đến nay rất nhiều người Việt thường lướt
qua điểm căn bản này trong truyền thuyết Âu Cơ, do ở những
nguyên nhân chính như sau:
(i)
Không để ý đến sự
khác nhau trong bản chất của mô hình dân tộc Tàu và Việt;
(ii)
Đối với thế lực đô
hộ của người Hoa, họ chỉ truyền bá có một mô hình, của riêng họ
mà thôi. Người bản địa ưa dễ dãi áp dụng mô hình của quan thầy
Bắc phương;
(iii)
Người Âu Mỹ, qua
giới học giả, thông thường cũng thích chấp nhận mô hình của Tàu
hơn bất cứ mô hình nào khác. Bởi mô hình của Tàu rất giống với
mô hình thực dân Âu Châu, đi chiếm đất khắp nơi trên thế giới
làm thuộc địa, rồi đẩy người dân bản địa lên vùng rừng núi xa
xăm, trở thành dân tộc ít người. Đó là trường hợp các xứ như Tân
Tây Lan, Ca-na-đa, Ô-xtrây-ria (Úc), Hoa Kỳ, v.v. Ở các quốc gia
này, giên người dân tộc hoàn toàn khác với giên thực dân hồi
xưa, và khối dân đa số làm chủ, ngày nay.
Thật ra, theo thiển
ý, rất ít học giả Đông Nam Á để ý đến vấn đề này, bởi tuyệt đại
đa số theo Tây học nên dễ tiêm nhiễm mô hình của Âu Tây. Điểm
chính giữa của mô hình này là người thành thị và người dân tộc
có 'giên' hoàn toàn khác nhau. Rất đúng với Canada, Úc, Tân Tây
Lan, và ngay cả Tàu Hoa Bắc. Nhưng rất khó chính xác đối với đa
số các nước ở Đông Nam Á.
Phân biệt được điểm
hết sức cơ bản này, sẽ giúp ta thấy rõ vấn đề lịch sử, ngôn ngữ,
văn hoá, tập tục, v.v. của rất nhiều dân tộc khắp miền Đông Nam
Á. Trong đó có Việt Nam. Cũng từ phân biệt khá tế nhị này, chúng
ta cũng có thể tìm được câu trả lời thỏa đáng cho nhiều vụ tranh
cãi, từng kéo dài triền miên, lâu lắc. Xin đơn cử một vài thí
dụ.
Trước hết, vấn đề
vật tổ 'totem' của dân Việt Nam. Có người cho rằng đó là con
rồng. Bình Nguyên Lộc [3] dựa theo các truyền thuyết người Mường
(theo thiển ý, gốc 'Âu Việt'), cho rằng 'con nai' mới là totem.
Trần Quốc Vượng (dẫn trong [4]) cho đó là con chim, v.v.. Nhưng
nếu theo mô hình hợp chủng ở đây, sát với truyền thuyết Âu Cơ,
ta sẽ thấy bởi là dân hợp chủng, người Việt cổ, cũng như nhiều
dân tộc khác ở Đông Nam Á, đã không hề nhất thống được thứ nào
là 'totem' chung của dân tộc hết. Bởi thật ra khi dân tộc Việt
Nam được hình thành, vấn đề 'totem' đã quá 'đát', quá ngày 'use
by', và trở nên không cần thiết so với nhiều vấn đề khác cấp
bách hơn.
Thí dụ khác, về 'xuất xứ'. Nhiều dân tộc trên thế giới rất thích
cho rằng dân mình đặc biệt, do Thượng Đế gởi xuống trái đất để
làm rạng danh nhân loại. Từ đó dẫn đến ý niệm thuần chủng, từ
thời tạo dựng quốc gia, hay ngay cả tạo thiên lập địa. Phối hợp
với một tiền đề quan trọng của Tây Phương, tự nhiên dính liền
với 'nguồn gốc' của rất nhiều dân tộc. Đó là tiền đề tất cả loài
người xuất phát từ một chỗ, từ khuôn viên địa đàng của ông Adam
và bà Eve, theo truyền thống Juthái-Kitô. Từ đó, chúng ta thấy
rất nhiều khảo cứu ưa truy về điểm xuất xứ của dân tộc. Ưa xây
dựng lí thuyết trên mô hình liên tục. Liên tục giữa tác giả của
những nền văn minh khai quật được (thí dụ: Ngưỡng Thiều, Lương
Chúc, Long Sơn, v.v.) với khối dân của quốc gia hiện có lãnh thổ
bao gồm các địa điểm di chỉ đó. Từ điểm xuất xứ hoặc di chỉ, học
giả phương Tây thường có khuynh hướng ấn định phương hướng di
chuyển của cả một tộc người, giống như chuyện thánh Moses dẫn
dân Jo-Thái ra khỏi xứ Ai Cập. Từ Tây sang Đông, hay ngược lại.
Bắc xuống Nam, hay Nam lên Bắc. Thí dụ cụ thể nhất là thuyết Mã
Lai. Theo đó chỉ có 2 đợt người di tản cùng một chủng xảy ra,
đợt trước - đợt sau, cách nhau 2500 năm. Họ dừng chỗ này thành
dân tộc này, dừng chỗ kia thành dân tộc kia, rồi sau cùng đóng
lều cắm trại tại hai xứ Inđô-nêxia và Mã Lai, rồi tạo dựng nên
hai nước này. Lý thuyết giải mã ở đây đưa đến một góc nhìn mới.
Theo cơ sở lí luận ẩn chứa trong ‘truyền thuyết giải mã’ ở đây,
đa số các dân tộc ở Đông Nam Á đều là kết quả của hợp chủng. Nếu
có một số từ vựng hoặc ngữ pháp, hoặc điểm đặc trưng văn hoá,
giống y hệt nhau giữa dân tộc A và B, ta chỉ nên khảo sát giả
thuyết có vẻ hợp lý nhất là hai dân tộc A và B đều chia sẻ hay
có chung, ở thời xa xưa, một tộc người nào đó, tạm gọi X, như
thành tố của hợp chủng. Thành tố chung cho hai hợp chủng A và B,
tại hai quốc gia khác nhau. Tộc X đã có số từ vựng hoặc
các điểm đặc trưng văn hoá đó. Phản ánh đến ngày nay, qua
hai dân tộc A và B. Thí dụ:
(a)
Dân Mã Lai, người Hakka (Hẹ), và người Việt nói 'chết'
hay 'qua đời' bằng, tuần tự, [mati], [mok] và [mất]. Theo khuynh
hướng của các lí thuyết thông thường, người ta đặt ngay giả
thuyết dân Mã Lai là thủy tổ dân Việt, người Hẹ, hoặc dân Việt
là nguồn gốc dân Mã Lai. Nhưng theo góc nhìn mới kiểu ‘truyền
thuyết giải mã’, ta có thể đặt câu hỏi khác đi: ‘Phải chăng đã
có một tộc người nào đó nằm trong 3 tộc người ngày nay khác
nhau: Hakka, Việt Nam và Mã Lai, hồi thời xa xưa ưa dùng một từ
có âm giống như [mất] để tả ‘sự chết’.
(b)
Cả dân Mã Lai và Việt Nam, đều có ngạn ngữ y như nhau:
'Chuột sa hũ nếp', ngụ ý 'người nghèo sung sướng vì tìm được
tiền bạc của cải dễ dàng'. Theo thuyết xưa, người ta nghĩ đến
hoặc Mã Lai hoặc Viêt Nam, chủng này đã là gốc gác của chủng
kia. Nhưng theo thuyết ở đây, câu hỏi sẽ là ‘Phải chăng có một
tộc nào đó, xưa đã đóng góp, cùng nhiều chủng khác và ảnh hưởng
các văn minh khác, tiến tạo nên hai tộc khác nhau Mã Lai và Việt
Nam. Tộc ‘đóng góp’ này trước đó, đã có thói quen ví người nghèo
tìm gặp của cải, với chuyện 'chuột sa hũ nếp'.
(c)
Tại Việt Nam đôi khi người ta có thói quen gọi ‘Vợ tôi’
(hay ‘Chồng tôi’) bằng ‘Nhà tôi’. Tại xứ In-đô-nê-xia, ‘nhà tôi’
họ gọi: ‘Rumah Saya’. ‘Vợ tôi’ gọi bằng ‘Istri Saya’. Rất nhiều
khi tại Inđônêxia, người ta cũng hay dùng ‘Rumah Saya’ (=nhà
tôi) để chỉ ‘bà boss’ tức ‘Vợ tôi’. Khảo cứu nguồn gốc dân tộc
theo kiểu ở đây sẽ bắt đầu phân tích trên căn bản rằng hai tộc
Inđônêxia và Việtnam, thời xưa có chia sẻ chung một 'thành phần
tộc người' nào đó, mang thói quen xem vợ như ‘bà chủ của tổ ấm
trong nhà’, tức ‘chủ nhà’. Rồi dẫn đến việc dùng 'nhà tôi' hay
'rumah saya', như ở Inđônêxia, để chỉ 'vợ tôi' [5].
(d)
Dân Phi-líp-Pin, dân Thái Lan, Lào, Việt có món hột vịt
lộn. Ngày trước, ít người để ý bởi không có giả thuyết nào nói
dân này là nguồn gốc dân kia. Nhưng với 'truyền thuyết giải mã'
nhấn mạnh ở chuyện hợp chủng, ta có thể đặt ra một giả thuyết:
‘Phải chăng, trong ba bốn dân tộc thích chơi món 'balut' (trứng
vịt lộn) đó, có một thành phần tộc người nào đó đã phát minh ra
cái món này, ở thời xa xưa, trước khi họ di tản đến mấy cái xứ
đó. Thành phần tộc người này đều hiện diện trong lòng dân tộc
các xứ ưa ăn món 'hột vịt lộn' đó.’
(e)
Phân tích về ngôn ngữ cũng có thể dựa vào lý thuyết này,
và tiền đề ẩn tàng chính là: Ngôn ngữ A của dân tộc A ngày nay
là một hỗn hợp của ba bốn thứ tiếng nói của các thị tộc hay chi
tộc người, ngày xưa đã góp phần chủ lực trong việc tiến tạo dân
tộc A ngày nay.
A = X + Y + Z
Thí dụ: A = tiếng Việt ngày nay; X = tiếng Môn-Khmer cổ; Y =
tiếng Thái cổ;
Z = tiếng Lạc Việt cổ, bao gồm tiếng Bộc (Hẹ cổ), tiếng Ngô-Việt
(GiangTô / ChiếtGiang), tiếng Mân Việt (PhúcKiến / TriềuChâu),
v.v.
Tức chúng ta có thể suy luận về cấu tạo nguyên thủy của ngôn ngữ
qua lí thuyết mới, và ngược lại dùng phân tích đóng góp từ vựng
hay cú pháp, thanh âm của từng nhóm chi tộc, vào ngôn ngữ, để
kiểm chứng lại lí thuyết hợp chủng đó.
Những điểm đặc trưng về văn hoá và từ vựng, cú pháp cũng giống
như chất phẩm màu dùng trong thí nghiệm để theo dõi di động của
một chất lỏng trong cơ thể con người, hoặc thẩm thấu xuống đất
di chuyển đến một nơi khác. Cũng giống như câu chuyện đăng trên
nhiều báo dạo trước kể một kỹ sư Việt đi công tác tại miền quê
đâu đó ở Phi Châu, tự nhiên nghe một thanh niên bản xứ cất giọng
ca 6 câu vọng cổ mùi tận ruột. Hỏi ra, mới biết thanh niên này
có nửa giòng máu Việt. Hay ở vào thế kỉ 21 này, nếu đi ngang một
khu hoàn toàn chỉ có người Mỹ da trắng, tại một thành phố nào đó
ở Hoa Kỳ, ta thấy phảng phất mùi Phở đâu đấy. Nhìn quanh để tìm
điểm xuất xứ mùi Phở, nếu thấy từ nơi xuất phát hương vị phở bò,
có một thanh niên trông như dân Mỹ chuyên nghiệp, nhưng nhân
dạng, nhất là tóc đen, cho thấy anh ta có vẻ Âu lai Á, ta có thể
đoán được rằng hoặc Cha hay Mẹ thanh niên này, là một người Việt
Nam.
Thử quan sát trở lại đẳng thức về hợp tộc của người Việt Nam:
Việt Nam = Âu Việt + Lạc Việt // Môn-Khmer + Đa đảo + Nêgritô
Trong đó, Âu Việt
chính là chủng Thái, thời cổ đại, có địa bàn rất rộng từ Ngũ
Lĩnh xuống tận biên giới Việt Hoa. Phía Tây, từ khu vực Tứ
Xuyên, cho đến đất Đông Việt, tức Giang Tây ngày nay. Tộc Âu
Việt cũng chứa hằng trăm chi tộc lớn nhỏ khác nhau.
Lạc Việt, bao gồm
những thứ Việt xưa sinh sống ở vùng ven biển phía Đông. Từ trên
xuống dưới, gồm có:
-
Nhóm Bách Bộc, hay
Bộc Việt, xưa có địa bàn vùng sông Bộc thuộc tỉnh Hà Nam - Sơn
Đông ngày nay. Sông Bộc chảy qua thành phố Bộc Dương (Puyang),
thủ phủ tỉnh Hà Nam, kinh đô nước Vệ thời Xuân Thu Chiến quốc,
và cái nôi của nền văn minh Hán tộc ngày xưa. Nhóm Bộc Việt này
là một nhóm du mục lâu đời nhất nhì của Trung quốc. Trong 3 bài
liên tiếp chúng tôi đã minh giải hậu duệ của họ chính là người
Hakka, tức Hẹ, ngày nay. Và triều đại nhà Lý ở nước Nam, đã xuất
thân từ nhóm Bách Bộc này. Điểm đặc trưng của nhóm Yue này chính
ở chỗ họ là nhóm Yue sống gần gũi với Hoa tộc nhất, ở miệt Hoa
Bắc, ngay từ thời xa xưa. Họ cũng sống rất gần và mang nhiều ảnh
hưởng qua lại với nhóm Hmong-Mien tức Miêu-Dao, từ xưa đến nay.
Nhóm Hmong-Mien ngày nay tập trung đông nhất (khoảng 8 triệu)
tại tỉnh Quí Châu, gần Hồ Nam. Xưa, Quí Châu chính là xứ Dạ
Lang. Và ở khu vực nội địa, nhóm Hmong-Mien sống gần gũi với
nhiều nhóm người hậu duệ của tộc Thái-cổ.
-
Nhóm Ngô Việt, tập
trung tại hai tỉnh Giang Tô và Chiết Giang ngày nay. Sử cổ nổi
tiếng về Ngô Việt chính là chuyện Việt Vương Câu Tiễn chịu nằm
gai nếm mật suốt 10 năm để đánh bại vua Ngô là Phù Sai. Những
nhân vật sử Việt có gốc gác miền Ngô Việt phải kể đến: Hồ Quý Ly
(nhà Hồ) và Quang Trung Nguyễn Huệ (Tây Sơn). Tuy nhiên, nếu so
sánh với thời nhà Lý, gốc Bộc Việt, và nhà Trần, gốc Mân Việt,
nhà Hồ và Tây Sơn khá ngắn ngủi, và thiết lập mãi về sau. Do đó
ảnh hưởng của phương ngữ Ngô trên tiếng Việt, không lớn lao bằng
ảnh hưởng của hai nhóm kia, Bộc và Mân.
-
Nhóm Mân Việt, từ
tỉnh Phúc Kiến ngày nay. Đối với Hoa kiều ở Đông Nam Á, tộc Mân
ngày nay bao gồm hai chi lớn: Triều Châu và Phúc Kiến. Riêng
tiếng Phúc Kiến, cũng có đến cả chục thứ phương ngữ khác nhau.
Đất Mân chính là quê hương của triều đại nhà Trần ở nước Nam, có
công lớn trong việc đánh bại quân Nguyên.
Cả hai nhóm Âu và
Lạc hợp chủng với nhau trên nền tảng dân bản địa sẵn có, bao
gồm: Môn-Khmer, tộc Thái cổ có mặt từ ngàn xưa [6], và các giống
Đa đảo da đen (Melanesian) cũng như Nêgritô, thấp người tóc
xoăn, người Tàu thường gọi 'hắc nụy'. Cả hai nhóm Đa đảo và Hắc
nụy cũng có mặt ở bên Tàu vào thời cổ đại.
Trong một bài trước,
chúng ta đã khảo sát khá kỹ về đóng góp của tiếng Hakka (Hẹ)
trong tiếng Việt. Trong bài này, và một bài sau, chúng ta hãy
xem qua góp phần của tiếng Ngô & Việt, người Tàu thường gọi
phương ngữ Wu (吳),
và góp phần của
tiếng Mân Việt tức phương ngữ Min {闽},
hoặc Phúc Kiến-Triều Châu, vào tiếng Việt của người nước Nam.
Trung tâm của phương ngữ Wu (Ngô), hiện nay có lẽ là thành phố
Thượng Hải. Trung tâm tiếng Mân chính là Phúc Châu, tỉnh lỵ của
Phúc Kiến. Cả hai phương ngữ Ngô và Mân, mỗi thứ đều có hằng
chục tiểu chi phương ngữ khác nhau.
Theo kết quả của
ngành khảo cổ, tóm tắt trong [7], dân cư tại xứ Mân ngày trước
không chuyên nghiệp với ngành trồng lúa. Họ sống bằng nghề đánh
cá, bắt tôm. Người họ mắt to, mũi thấp và có tục xâm mình. Mân
Việt có lẽ được Hoa chủng ở Bắc phương biết đến nhiều sau khi
nước Ư Việt, của Câu Tiễn năm xưa, bị nước Sở đánh bại và sát
nhập vào năm 333 TCN. Hoàng thân quốc thích và dân chúng nước
Việt di tản về, và xin nhập cư, tại xứ Mân. Mân Việt sau đó duy
trì địa vị như một vương quốc, cho đến khi bị nhà Tần ra lệnh
hủy bỏ. Sau đó đến khi Hán Sở tranh hùng, lãnh tụ Wuzhu của xứ
Mân gởi quân hỗ trợ cho phe Hán, nên khi Liu Bang bình định được
nước non, ông bèn trả ơn bằng cách cho Mân nâng cấp trở lại như
một tiểu quốc chư hầu Hán triều.
Về sau, khi Wuzhu đã
qua đời, xứ Mân vẫn giữ truyền thống gây hấn quân sự với các
nước láng giềng, đặc biệt xứ Đông Âu (Đông Việt), cho đến khi
triều đình nhà Hán thấy đó là một mối nguy cơ cần phải dẹp sớm,
nên ra lệnh cho Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức đem một đoàn quân
xuống dứt điểm Mân Việt, và Nam Việt, vào năm 111 TCN.
Sau thời đại nhà
Hán, dân di cư rầm rộ từ phía Bắc tràn xuống phía Nam sông Dương
Tử, chia làm hai đợt: Đợt thứ nhất, liền sau khi nhà Hán tan rã.
Khu vực xứ Mân chính là nước Ngô của Tôn Quyền, thời Tam Quốc,
thay thế nhà Đông Hán cai trị Nam Việt (bao gồm xứ Việt cổ), và
đã tách Nam Việt xưa thành hai phần: Quảng Châu (Lưỡng Quảng) và
Giao Châu (Bắc Việt). Đợt thứ hai, khi nhà Đường bước vào giai
đoạn cáo chung. Tiếp đó là thời Ngũ Đại - Thập Quốc vào đầu thế
kỷ thứ 10. Tàu bị loạn lạc tơi bời. Nhất là ở phía Bắc bị đám
Ngũ Hồ xâm lấn. Di dân ào ạt tràn xuống miền Hoa Nam.
Đó là sử phía bên
Tàu. Luôn luôn có thói quen không ghi chép, dân địa phương như
người Mân, có chạy đi ra ngoài hay không, khi xứ sở họ bị nạn
binh lửa, hay tràn ngập những người di cư từ các nơi khác đến.
Cũng không bao giờ ghi chép những vụ di tản trước đó, trước khi
Hoa tộc từ Hoa Bắc tràn xuống chiếm đóng và làm chủ Hoa Nam.
Theo thiển ý: Có, dân chúng miền Hoa Nam chắc chắn đã di tản
trốn khỏi xứ Tàu loạn lạc đó, trước, đang khi, và sau khi Hoa
tộc tiến đánh, chiếm cứ miền Hoa Nam. Và những nơi người Mân
Việt, hay người Ư Việt, đã chạy đến chính là xứ Việt cổ và nhiều
nơi khác khắp miền Đông Nam Á. Bằng đường biển lẫn đường bộ. Lý
do đơn giản: Ngay từ thời xa xưa, trước cả thời Xuân Thu Chiến
Quốc, đã có dấu vết một số bộ tộc thuộc khối Bách Việt sinh sống
ở đó rồi. Nhất là người Bách Việt thuộc tộc Thái cổ và Môn
Khmer.
Sau đây chúng ta hãy
thử kiểm chứng đóng góp của tiếng Mân và Ngô (bài sau) vào Việt
ngữ qua một số điểm đặc trưng tiêu biểu.
MÂN VIỆT
Trước hết để ý,
tiếng Mân, gọi nôm na vắn tắt là tiếng Phúc Kiến - Triều Châu,
bao gồm rất nhiều phương ngữ khác nhau. Đại khái người ta thường
chia hai khối: Bắc Mân và Nam Mân. Nhưng phức tạp hơn, họ lập ra
5 phân loại: Bắc Mân, Trung Mân, Đông Mân, Xinghua, và Nam Mân
(Min-nan). Trong đó khối lớn nhất là Nam Mân, thường bao gồm thứ
tiếng Phúc Kiến xử dụng ở Taiwan, Hạ Môn (Amoy), Hải Nam, Triều
Châu, và cộng đồng Hoa kiều tại nhiều nơi ở Đông Nam Á. Mỗi một
phân loại của tiếng Mân thường có đến cả chục tiểu chi (phương
ngữ) nữa. Thứ này khác với thứ kia một ít.
Tiếng Mân, có 7
thanh âm khác nhau, so với quan thoại: 4, tiếng Việt: 6, Quảng
Đông: 9, Thái/Mường: 5. Thanh âm, còn gọi: thinh, được thể hiện
qua âm điệu trầm bổng lên xuống khác nhau, tùy theo 'dấu' như
kiểu: không sắc hỏi ngã nặng huyền, của quốc ngữ. Đặc biệt,
tiếng Triều Châu (Tiều), một phân chi của Mân, có đến 8.
Những tử âm đầu quen
thuộc của tiếng Mân, chi Triều Châu, gồm có: B, Bh, C (ts), D,
G, Gh, H, K, L, M, N, NG, P, R, S (tức X - Việt), T, Z (Tch).
Tử âm cuối, cũng
giống nhiều phương ngữ miền Hoa Nam, và khác với quan thoại (chỉ
có N và NG), bao gồm rất nhiều thứ: {p t k m n ng}. Đặc
biệt, rất nhiều phân chi tiếng Mân, có âm cuối [nh] y như tiếng
Việt: nhanh, lạnh, linh tinh, ...
Thí dụ:
* XuaNH (Pk)= Shan
(qt)= Sơn= Núi.
* TsêNH (Pk)= Lu
(qt)= Luk (qđ)= Lục= Xanh (màu Xanh lục, green). 'Xanh' tiếng
Việt (Nôm), như vậy rất có thể, xuất xứ từ tiếng Mân Việt:
Tsênh hay Xênh.
Các âm cuối thông
thường {p t k m n ng} xin tóm tắt như sau:
|
âm cuối |
Việt |
Hẹ |
QuảngĐông |
Quanthoại |
Mân
(PK) |
Ghi Chú |
|
p |
thiếp |
ziap |
tsip |
gie |
chhiap |
qt không p |
|
p |
thập (10) |
zap |
xaap |
Shi |
jap |
p => p |
|
t |
luật |
lut |
leot |
Lu |
lut |
qt không t |
|
t |
vượt |
jet |
yut |
yue |
oat |
t=> t (Mân) |
|
k |
lạc (mất) |
lak |
lok |
Luo |
lak |
lac => lak |
|
k |
ngọc |
ngiuk |
yuk |
Yu |
gek |
k <=> k |
|
k |
túc (chân) |
zuk |
zeok |
Zu |
chiok |
qt không k |
|
k |
mực |
met |
mak |
Mo |
bak |
mực= mặc
|
|
m |
chìm |
chim |
zam (zhầm) |
zhen |
sim |
qt không m |
|
m |
diêm (muối) |
jam |
jim |
yan |
iam |
giam (Tiều) |
|
n |
kiến (gặp) |
kian |
jin |
jian |
hian |
qt có 'n' |
|
ng |
hướng |
hiong |
hoeng |
xiang |
hiong |
qt có 'ng' |
Đặc biệt, tiếng
Triều Châu:
NG => BhuaNG (Biạn
(Nam bộ)= Màn(Qđ)= Wan (Qt)= Vạn (Bắc bộ)= 10000).
Bây giờ xin thử khảo
sát những âm đầu quen thuộc:
* [SH]: Âm [SH] như
trong 'so sánh' cũng không có trong tiếng Mân. Giống như tiếng
Quảng Đông, tiếng Mường, tiếng Thái Lan, Mân chỉ có âm [X], hoặc
gần nhất, âm [TS], như [tsênh]= màu Xanh lục. Âm [SH] nói chung
có vẻ rất 'hiếm' trong các phương ngữ ở Hoa Nam, dưới ảnh hưởng
chủng Thái cổ, chỉ có âm [X]. Du nhập của âm [SH] vào tiếng Việt
do đó, rất có khả năng, qua 'đường dây' nhóm Bách Bộc, hoặc
Hakka (Hẹ), khi xưa sinh sống tại các địa bàn cực Bắc, gần gũi
với Hoa tộc nguyên thủy.
* [K]: Âm 'K' là một
thứ tử âm đặc thù của tiếng Mân. Trong quan thoại kí âm pinyin
dùng 'K' như: [keyi] (khả dĩ), [Kaifeng] (Khai phong), [kan]
(khám), [kao] (khảo), [kun] (khốn), v.v. rất thường là một thứ
âm '[K]-hơi-thở'. Giống như [K] trong tiếng Anh: Kennedy,
Kenneth, carry, v.v. lúc phát âm luôn có âm [h] nho nhỏ theo sát
với [K]. Do đó khi chuyển sang tiếng Việt, ta để ý, [K]
quan-thoại, biến thành [Kh] trong tiếng Việt, như trình bày phía
trên. Đặc biệt, âm [K]-trơn, không hơi thở, giống âm tiếng Anh
[k] trong: 'Skill' (kỹ năng), Skewer (cây xiên nướng thịt),
school (trường học), skip (nhảy bỏ),
thường tương đương
với kí âm [J] của quan thoại: [jian] (kiến), [jie] (kiệt), [jin]
(cận), v.v. Sang tiếng Việt, âm [J] đầu từ của quan thoại, đôi
lúc mang khuynh hướng biến thành âm [K] trong tiếng Việt. Tra
cứu tiếng Mân cho thấy biến đổi từ âm [K]-quan-thoại, sang [KH]
tiếng Việt, thường chia sẻ chung với tiếng Mân. Tương tự, âm
[J]-quan-thoại, nếu biến sang [K] tiếng Việt, cũng biến y hệt
qua âm tiếng Mân, tức Phúc Kiến. Tức tiếng Mân và tiếng Việt có
một số 'biến đổi chia sẻ chung với nhau' nếu so sánh với quan
thoại. Tuy vậy, cũng nên ghi nhận ở đây cả hai âm [K] và [KH]
đều hiện diện trong các tiếng Myanmar, Khmer, và Thái-Lan ngày
nay, tức đã có sẵn trong các thứ tiếng bản địa xa xưa: Môn-Khmer
và Thái cổ.
Bảng đối chiếu sau
đây cho thấy âm [K] và [Kh] tiếng Việt và Mân, thường giống
nhau.
|
Việt |
Mân (PK) |
Hẹ |
Quảng Đông |
Quan thoại |
Ngô |
Ghi Chú |
|
khán (xem) |
khan |
kan |
hon |
kan |
khO |
kh:
không hoàn toàn [KH] |
|
khoa (học) |
kho |
ko |
fo |
ke |
kh
U |
kh:
âm K-hơi-thở |
|
kim (vàng) |
kim |
gim |
gam |
jin |
txing |
âm [g] giống
[k] & [c] |
|
khoái (lẹ) |
khoai |
kwai |
faai |
kuai |
khua |
[k]
quanthoại: âm hơi thở |
|
kim
(cận/gần) |
kin |
kiun |
gan/kan |
jin |
txing |
Việt giống
Mân và Q. Đ. |
|
cầu (kiều) |
kiau |
kiau |
kiu |
jiao |
txiO |
Biến thái âm
[âu]<=> [iu] |
|
kẻ (gả) |
ga |
ke |
găa |
jia |
ka |
gả:=Hẹ / QĐ.
Kẻ:= Mân |
|
kinh (đô) |
keng |
gin |
ging |
jing |
txing |
âm cuối
[nh]<=> [ng] / [n] |
|
cố (cựu /
cũ) |
kou |
gu |
gu
|
gu |
ku |
Ngô=Hẹ=Mân=QĐ=QT |
|
số 9 (cửu) |
kau |
giu |
gau |
jiu |
txiw |
biến đổi
[au] <=> [iu] |
|
cậu (uncle) |
kiu |
kau |
kiu |
jiu |
txiw |
so với số 9:
[au] <=> [iu] |
|
khổ (đắng) |
khou |
ku |
fu |
ku |
khu |
khổ qua =
mướp đắng |
|
cương (cứng) |
kiong |
giong |
goeng |
jiang |
jiang |
'giong' đọc
giống 'GHiong' |
|
khẩu (miệng) |
khau |
keu |
hau |
kou |
khaw |
Mân y hệt
Việt |
* [H] là một thứ
âm, cũng rất đặc trưng trong phương ngữ Mân. Để ý, hai chữ
Phúc-Kiến dưới hệ thống kí âm Wade Giles thời tiền chiến được
ghi: Hokkien. Đến thời phiên âm pinyin ra đời, người ta
đổi thành: Fujian, theo sát phát âm quan thoại ở phía
Bắc. Như vậy, mô thức biến chuyển âm xảy ra như sau:
- Âm [K] Phúc Kiến
và Việt ngữ => âm [J] quan thoại, như bàn phía trên. Thông
thường, xin nhấn mạnh âm [J] quanthoại sang tiếng Việt, thành
[Gi]: Jiang => Giang; Shi-jie=> Thế giới; jiao => giao, v.v.
Nhưng khi [J] => [K] phúckiến, cũng => [K] tiếng Vi |