|
Trở ngại lớn lao nhất của công việc truy tầm cội
nguồn một dân tộc, đặc biệt ở Đông Nam Á, thông thường nằm ngay
ở những tiền đề hết sức to lớn do các học giả Âu Mỹ đề ra. Đặc
trưng nhất: những lối phân chia các nhóm ngôn ngữ, Hán-Tạng,
Tạng-Miến, Môn-Khmer, Nam-Á, Nam-Đảo, v.v.; và thói quen đặt giả
thuyết di-dân theo kiểu cổ sử Trung Á hoặc Âu Châu cho rằng mỗi
dân tộc thường thuần chủng, xuất phát từ một địa điểm. Cả hai
điểm đặc trưng này thường đan xen chặt chẽ, dính liền với nhau.
Tất cả những thứ lấn cấn của tiền đề đều có thể
qui về sự khác biệt giữa văn minh và lối suy nghĩ, làm việc của
Tây phương và Đông phương. Nói một cách đơn giản, Tây phương
tiến mạnh về khoa học và kỹ thuật, tạm cho là trước Đông phương
theo tiêu chuẩn của họ. Đến lúc họ đem áp dụng các phương pháp
khoa học (Tây phương) vào những vấn đề nhân-văn hay lịch sử Đông
phương - nhất là ở giai đoạn ban đầu - họ không thể nào hiểu
rành rọt mọi vấn đề như người Đông phương. Trong khi đó, người
Đông phương, theo nhu cầu sinh tồn, phải gấp rút học hỏi khoa
học và phương pháp khoa học theo kiểu Tây phương. Trong tiến
trình đó, họ lại đánh mất, hoặc không còn thì giờ để thu thập,
một số hiểu biết hay kiến thức về văn hoá hay lịch sử của chính
xã hội của họ. Hoặc những người theo Tây học lại không thuộc
tầng lớp ê-lít được huấn luyện đầy đủ về văn hoá cổ truyền. Họ
dễ mang khuynh hướng đem những phương pháp, kể luôn những thứ
tiền đề, họ vừa học hỏi được, vào áp dụng cho những vấn đề lịch
sử hay văn hoá cổ truyền của đất nước họ. Trong khi văn hoá cổ
truyền vẫn thường được bao phủ bởi những cảm xúc chủ quan có sẵn
từ xưa. Nôm na hơn, lịch sử các nước Đông Á kể cả Trung Hoa,
luôn có những vấn đề cổ sử hãy còn bất định hay chưa được sáng
tỏ, hoặc đã được 'hiệu đính' thay đổi theo tính (hay nhu cầu) tự
hào dân tộc. Đến khi các học giả Âu Mỹ nghiên cứu đến những vấn
đề đó, họ có thể hoặc 'hiệu đính' những vấn đề đó theo khả năng
từng người, hoặc chỉ đơn thuần khoác lên chúng một lớp vỏ bên
ngoài rất ấn tượng mang đầy tính khoa học. Một thứ bình mới cho
rượu cũ. Hãy còn lòng vòng chưa đến đích của sự thật. Tức vẫn
còn thứ rượu cũ. Những lý thuyết của người Âu Mỹ thông thường dễ
được hoan nghênh, bởi nó ít khi đi ngược lại những gì đã có sẵn,
mà lại còn đánh bóng cho sáng sủa hơn lên. Thêm vào đó, và sau
thế chiến thứ hai, những học giả Á Châu từng được huấn luyện tại
các đại học phương Tây, vẫn có thói quen kính nể những bậc tôn
sư, nên vô hình chung họ ưa dựa theo những 'khám phá' của các
giáo sư Âu Mỹ, ít khi để ý những điểm lổng chổng ẩn hiện thường
xuyên trong các lí thuyết đó. Trải qua chừng hai ba thế hệ thầy
trò, những lý thuyết về cổ sử, hay ngay cả các hiểu biết về ngôn
ngữ Đông phương, của các học giả Tây phương dễ dàng trở thành
những thứ tiền đề hay định đề bất biến cho những công cuộc
nghiên cứu về sau. Một điểm quan trọng khác: Bởi khoa học nói
chung, và khoa cổ sử nhân văn nói riêng, chỉ được người Á Châu
biết đến, học hỏi và xử dụng trên dưới 100 năm, nên các học giả
địa phương hãy còn thói quen dựa vào các khám phá từ phía Âu Mỹ.
Trong khi đó con số các 'nhân tài' bên trời Tây, chuyên ngành về
cổ sử từng nước ở Á Châu lại một con số đếm được trên đầu ngón
tay, và không phải công trình của học giả nào cũng có giá trị
cao. Từ đó ta có thể thấy khá rõ, một công trình nổi bật, bất
chấp gần với sự thật hay không, thường đòi hỏi ít lắm vài chục
năm mới có vị khác đưa ra dữ kiện hay lí luận mới phản bác lại
công trình hoặc những lí thuyết cũ trước đó. Như vậy rất nhiều
công trình nghiên cứu từ trước đến nay, có thể chỉ loay hoay
chung quanh một số các tiền đề khá cũ, thiếu thốn kiểm chứng, và
mức độ chính xác, mà sử sách vẫn thường xuyên xử dụng không hề
hay biết.
Nổi bật nhất trong tất cả các tiền đề do người
phương Tây dựng nên cho sử học Đông phương chính là tính cách
'nhị nguyên' của mọi vấn đề. Chính nguyên lý Nhị Nguyên đã đưa
đức Phật Gautama đến ý niệm giải thoát khổ đau cuộc đời qua 'Bất
Nhị', không & sắc - sắc & không, và từ 'Bất Nhị' nhiều người
thường lầm Nhị Nguyên là một triết lý hoàn toàn Ấn Độ. Thật ra
Nhị Nguyên là một đặc tính cốt lõi của văn minh Tây phương, phản
ánh qua tính siêu việt của khoa học và kỹ thuật phương Tây.
Trong các vấn đề dân tộc học, khảo cổ học, hay truy tầm cổ sử,
các học giả Âu Mỹ luôn luôn trầm mình vào vùng biển rộng của thế
giới Nhị Nguyên. Ở thế giới Nhị Nguyên, bắt buộc họ phải phân
biệt, trước hết và luôn luôn: Họ & Ta, Đối & Đãi, Đi & Về, Ranh
Giới & Lãnh Thổ, Bắt Đầu & Kết Thúc, Bạn & Thù, Bà Con & Người
Lạ, Dân đen & Vua Chúa, Trước & Sau, Nguồn Gốc & Hậu Duệ, Phát
Minh & Tiêu Dùng, Văn Minh & Lạc Hậu, Ngựa & Voi, Xâm lăng & Bị
trị, v.v. kéo dài và trải rộng trên mọi khía cạnh của vấn đề.
Sâu đậm nhất và thường được giới cầm quyền khơi động, xưa cũng
như nay, chính là: Họ & Ta. Một trong những điểm đặc trưng nhất
của Nhị Nguyên trong khoa nhân văn Á Đông có lẽ nằm ở chỗ Nhị
Nguyên mang khuynh hướng bắt người nghiên cứu ở mọi chặng đường,
phải lựa chọn Một trong Hai hình thái tương phản nhau của Nhị
Nguyên. Thêm vào đó, học giả Âu Mỹ và đám sinh viên / đệ tử của
họ đã bất chấp và không để ý đến cái tinh thần của tác giả các
thư tịch cổ Đông Phương,,hay ngay cả truyền thuyết ngắn gọn như
Âu-Cơ và Lạc Long Quân , khi họ viết nên những bộ sách, hoặc ghi
chép lại các truyền thuyết đó. Tinh thần này rất có khả năng,
theo thiển ý, không hoàn toàn Nhị Nguyên, mà phần lớn nào đó,
mang tính Đa Nguyên hay Bất Nhị, hoặc thuyết Trung Dung của Nho
giáo.
Xin phép đơn cử một thí dụ sau.
Trong vấn đề cổ sử Việt lẫn Hoa, tiền đề lấn cấn
nhưng ít người để ý nhất, là thứ tiền đề khẳng định sự vắng bóng
của tộc Yue (Việt), đặc biệt ở miền Hoa Bắc, trong tiến trình
tạo nên Hoa tộc ngày nay. Tiền đề này là một sơ sót, có thể vô
tình (bởi đời sau thiếu thốn hiểu biết) hoặc cố ý do ở nhu cầu
một tộc người thuần chủng nhất thống và 'làm xếp' một lục địa to
lớn và đông dân nhất thế giới. Thật ra lại bắt nguồn từ những
tiền đề sai trật về người Đông Di, tức đám Lạc bộ Trãi
貉,
bao gồm hỗn hợp các tộc chủ lực Việt, Miêu, Khương và Thái, sinh
sống rất đông ở địa bàn tỉnh Sơn Đông ngày nay và những vùng lân
cận, thuộc lưu vực sông Hoàng Hà. Đông nhất có lẽ là hai đám
Bộc-Việt và Miêu-Dao sống gần gũi và đan xen với nhau.
Điểm chính giữa của tiền đề, theo thiển ý thiếu
chính xác đó, chính là: đám Lạc bộ Trãi hoặc đã di tản tất cả
sang bán đảo Triều Tiên, thường gọi đám rợ Tam Hàn, hoặc đã
tuyệt tích giang hồ vào lúc Tần Thủy Hoàng nhất thống nước Tàu,
hay Lưu Bang chính thức thiết lập nhà Hán trên toàn cõi Trung
Hoa. Nói một cách khác, theo tiền đề mang nhiều nghi vấn này
(của riêng lý thuyết ở đây), Việt tộc chỉ có thể có mặt vào thời
cổ đại ở phía Nam sông Dương Tử mà thôi. Phía Bắc Dương Tử giang
chỉ toàn người Hoa-Hạ. Tiền đề này là một trong những tiền đề
rất quan trọng, rặt tính Nhị Nguyên, đã khiến cho việc viết sử -
Hoa lẫn Việt - luôn đi về một hướng khác. Một đường hướng phiêu
lưu vô bờ bến, kéo dài hằng trăm năm qua. Đưa ra rất nhiều hệ
luận, trong mọi ngành nghề. Đặc biệt ngôn ngữ học, và bang giao
quốc tế.
Nếu chịu khó nhìn lại và tạm chấp nhận thứ tiền
đề khác biệt của chúng tôi, cho rằng ở phía Bắc sông Dương Tử,
từ ngày xưa cho đến khoảng thế kỷ thứ 10, và mãi về sau này,
luôn luôn có sự hiện diện của một số đông mang gốc thuộc chủng
Việt, dù ở thời xa xưa, chúng ta có thể thấy nhiều hệ luận bắt
buộc phải thay đổi, như sau.
1)
Đóng góp của tộc Việt trong tiến
trình tạo tác nên Hoa chủng: Từ xưa đến giờ, bởi theo tiền đề
sẵn có ta thấy Hoa chủng có thể đồng hoá Việt chủng ở Hoa Nam
khá dễ. Bởi nếu họ chiếm toàn thể miền Hoa Bắc thì họ rất đông,
bằng hoặc hơn Hoa Nam, cộng với ưu thế văn minh sẵn có, phát
triển mãnh liệt ở thời Đông Châu liệt quốc. Quan sát và nhận
định đã được trình bày suốt loạt bài này cho thấy, tiền đề này
chứa khá nhiều lấn cấn. Đám Lạc bộ Trãi
貉
không hề biến mất như người ta thường rêu rao, mà đã thay hình
đổi dạng trở thành người 'khách gia'
客家
tức người Hẹ (Hakka), ngày trước vẫn được miêu tả bằng người
[He] viết y hệt
貉
như họ Lạc của Lạc Long Quân hay Lạc bộ Trãi, xưa
sinh sống bằng 'nghề' du mục ở địa bàn Sơn Đông. Thêm vào đó,
theo sát cổ sử của Trung Hoa, chúng ta được biết đa số dân chúng
sinh sống tại nhiều nước ở phía Bắc sông Dương Tử, như các nước
Ngô, Việt, Sở, Tấn, Trần, Thái, Tần, v.v. cũng không phải thuộc
chủng Hoa mà lại được xếp vào các đám rợ khác nhau. Cộng với một
khối lớn Việt tộc ở miền Hoa Nam, chúng ta thấy khá rõ, cái
khối người thuở ban đầu không thuộc chủng Hoa Hạ, là một khối đa
số, bởi bao gồm toàn thể Hoa Nam, và phần đáng kể của Hoa
Bắc. Do đó, ảnh hưởng Việt tộc trong việc tiến tạo Hoa chủng
(ngày nay) chắc chắn không phải nhỏ như thường nghĩ.
2)
Cũng do ở tiền đề (lấn cấn) về Hoa
chủng 'thuần túy' ở Hoa Bắc kể trên, người Hoa không hề ngờ,
hoặc đã tiện nghi theo một thỏa thuận nào đó, rằng người Khách
Gia (Hẹ) của họ với nhiều lãnh tụ sáng giá ở thế kỷ 20 như Lý
Quang Diệu, Đặng Tiểu Bình, Tôn Trung Sơn, v.v. lại là những
người có thể có tổ tiên là người... Việt. Cũng y như trong quá
khứ, họ có vẻ không rõ được, hoặc không xác định được, chủng tộc
gốc của những nhân vật, huyền thoại hoặc lịch sử, đã góp phần
tạo dựng nước Tàu như: Đế Thuấn, Thần Nông, Đại Vũ, Đế Cốc, cho
đến Hán Cao Tổ Lưu Bang [1], v.v. Rất có khả năng, thuộc Việt
(hay Khương) tộc.
3)
Tiền đề phía Bắc không còn Việt hay
Miêu tộc đã gây vô số khó khăn cho việc truy tầm nguồn gốc của
người Khách Gia tức người Hẹ [5], từ khoảng thế kỷ thứ 10 mang
khuynh hướng định cư tại Hoa Nam, chung quanh khu Quảng Đông,
phía Đông cũng như Tây. Người Việt lại hoàn toàn không ngờ một
thành phần nòng cốt tộc người Việt Nam lại xuất phát từ miền Hoa
Bắc. Đặc điểm nổi bật nhất của người Hẹ và người Hmong-Mien (tức
Miêu-Yao) chính là chỉ có hai đám Hẹ và Miêu mới có phát âm chữ
[V] (thay cho quanthoại [W]), như [wang] => Hẹ [vong] (vọng /
mong), và âm chữ [Z] thường thay cho [Y] quan-thoại => [Yiang]
(Dương) => Hẹ: [Ziang]. Trên khắp nước Tàu ngày nay chỉ có khu
vực Sơn Đông, và các cộng đồng Hẹ / Hmong, còn giữ âm chữ [V] và
[Z]. Bình Nguyên Lộc [2] có vẻ gần đến đích nhất trong việc khám
phá ra Lạc bộ Trãi từ những thư tịch cổ của Tàu. Nhưng ông lại
bị ám ảnh bởi tiền đề mới mẻ Mã Lai vào thời đầu thế kỷ 20, cũng
như tiền đề xưa: Lạc bộ Trãi đã biệt tích giang hồ, nên cuối
cùng phải đưa thuyết của ông chạy lạc xuống tận Mã Lai, không
ngờ đám Lạc bộ Trãi chính là tiền thân của người Khách Gia (tức
Hẹ) ngày nay.
4)
Tiền đề Lạc bộ Trãi tuyệt tích
giang hồ sinh ra 2 hệ luận khá quan trọng về ngôn ngữ học. Hai
hệ luận này liên hệ mật thiết với nhau. Hệ luận thứ nhất: Âm vận
tiếng quan thoại ngày xưa cũng rất giống các thứ phương ngữ Hoa
Nam, như tiếng Quảng Đông, tiếng Hẹ, Phúc Kiến, v.v. trong việc
có đầy đủ các âm cuối như: [nh] => xinh, [m] => làm, [k] => cúc
/ phát. Hay âm đầu như: [ng]=>ngạp (ya = vịt). Ngày nay nhiều
âm cuối quanthoại hoàn toàn bị lột mất chỉ còn giữ [n] và [ng]:
Yue-naN => (Việt-NaM), ju => (cúc), fa => (phát), ya => (ngạp),
xiang => tương. Thứ hai, cũng giống như người Việt và người Hoa,
các nhà ngôn ngữ học Âu Mỹ thường cho rằng tiếng Hán Việt là
tiếng người Việt bắt chước từ người Hán khi người Hán sang đô hộ
nước Nam. Hoặc các thứ tiếng như Phúc Kiến, Thượng Hải, và đặc
biệt nhất: tiếng Hẹ, chính là tiếng Hán ngày xưa, nên họ ra công
dựng lại hay phiên thiết các âm tiếng Tàu thời Xuân Thu Chiến
Quốc và nhất là thời Trung Cổ tức giai đoạn nhà Tùy (581-617)
nhà Đường (618-907), phần lớn dựa vào các âm Hán Việt, Hán Hàn,
và tất cả các phương ngữ Bách Việt xưa, hiện ở Hoa Nam (như Hẹ,
Phúc Kiến, Giang Tô, Quảng Đông, Hải Nam, v.v.). Lý thuyết ở đây
đặc biệt không thể dựa vào hai hệ luận này.
5)
Ở hệ luận 'lột mất các âm cuối',
các học giả sở dĩ đi đến kết luận như vậy bởi họ cho tiếng Tàu ở
Hoa Bắc là 'thủy tổ' tiếng Tàu ở Hoa Nam. Hoặc hai khối Việt và
Hoa-Hạ xưa nay tuy hai mà một. Người ta có thể đặt câu hỏi: Nếu
là thủy tổ chỉ tiếng Hoa, tại sao tất cả các phương ngữ Hoa Nam
(tức địa bàn khối Bách Việt xưa), lại vẫn giữ các âm vận cũ,
trong khi tiếng Hoa ở phía Bắc lại tự mình thay đổi, lột mất
nhiều thứ âm cuối? [3]. Đa số phần nòng cốt những phương ngữ này
hãy còn giữ từ ngàn xưa cho đến ngàn sau [3]. Điểm khó đứng vững
nhất của hệ luận này: Tại sao các phương ngữ 'con cháu' lại
không thay đổi (trong âm cuối) mà ngôn ngữ 'nguyên thủy'
(quanthoại) lại đổi thay. Giống tiếng Nhật: [shusho =>
thủ-tướng, lột mất [ng] ở phía sau - chữ [sho] = tướng {xiang -
qt}. Lấn cấn của hệ luận nằm ở một hiểu biết thường tình: Người
ta chỉ có thể so sánh rằng: Phương ngữ A này bị lột mất âm đầu
hay âm cuối, hoặc âm giữa, so với phương ngữ B, C, D, khi, và
chỉ khi, cả A, B, C, và D, đều là phương ngữ của một khối có
cùng chủng tộc gốc với nhau. Rõ rệt cho đến đời nhà Hán, khối
người Bách Việt ở Hoa Nam mang rất nhiều thứ tiếng nói khác hẳn
với thứ tiếng nói chung quanh lưu vực sông Hoàng Hà. Và phần lớn
phát âm, hoặc ngay cả cách dùng từ [3], của những thứ phương ngữ
mang gốc Bách Việt vẫn còn khác biệt với quan-thoại cho đến ngày
nay. Thử xem một lý do khác: Phía Bắc nước Tàu trong thời gian
cộng lại đến khoảng 1000 năm luôn có sự lan tràn xâm chiếm của
nhiều đám 'rợ' ở phía Bắc, thường gọi Bắc Địch, trong đó nhiều
nhất là đám Hồ, Thác Bạt, Đột Quyết, v.v. Cũng có thể do ảnh
hưởng các tiếng nói những đám Bắc Địch này, tiếng quan-thoại
không mang nhiều âm cuối như phương ngữ Hoa Nam. Nhưng lý do này
vẫn không xác định được thứ tiếng Hoa ở thời nhà Chu hay trước
đó, nhà Thương, nhà Hạ thật sự ra sao. Nó có thật giống các
phương ngữ Bách Việt ở Hoa Nam hay không?
6)
Hệ luận đưa đến việc truy tầm các
âm Hán Trung cổ thường gọi Middle Chinese, điển hình qua công
trình của Bernhard Karlgren, theo thiển ý cũng gặp các khó khăn
tương tự trên căn bản lí thuyết. Thật ra chưa hề có công trình
nghên cứu sáng giá nào về nguồn gốc các thứ tiếng Hán-Việt,
Hán-Hàn. Ngoài một thứ giả định đầy nghi vấn, theo thiển ý chúng
tôi: người Việt phát âm tiếng Hán y như tiếng Hán Việt ngày nay
khi nước Nam nằm dưới sự thống trị của Bắc phương. Cộng với tiền
đề sẵn có: Ký âm vài phương ngữ Hoa Nam bằng Hán tự, rồi từ đó
quên rằng phương ngữ Hoa Nam là những thứ tiếng xưa và nay, khác
với tiếng Tàu gốc. Cả 2 điểm mù mờ này không đủ làm nền tảng để
xử dụng các thứ phương ngữ Hán Việt, Hán Hàn, Hán Nhật, Phúc
Kiến, Ngô Việt, Hồ Nam - Hồ Bắc, Hẹ, v.v. mà truy tầm ra lối
phát âm chữ Tàu ở thời Trung cổ [4].
7)
Đọc kỹ những lí luận chung quanh
các phương pháp học giả Âu Mỹ dùng để truy tầm phát âm tiếng Hoa
thời Trung cổ, ta sẽ thấy cả một cái vòng lẩn quẩn. Đập mạnh
nhất vào mắt có lẽ thứ lý giải khi họ cho người Hẹ là một thứ
người Hoa thuần túy nhất chạy giặc từ những địa điểm ở cực Bắc
nước Tàu. Họ phiên thiết những bài thơ cổ xưa, và thấy âm vận
đọc hay hơn nếu được đọc theo phát âm người Hẹ ngày nay. Lý giải
này sẽ được trôi qua dễ dàng, nếu tiền đề phía Bắc sông Dương Tử
hoàn toàn chỉ có tộc Hoa Hạ, vào thời cổ đại xa xưa, và đám Đông
Di không hề biết viết chữ Tàu, đạt được độ chính xác 100%. Nhưng
thật sự không thể như vậy. Thứ lí giải này và cả nguyên toàn
khối tiền đề hay hệ luận kiểu đó sẽ xụp đổ hay ít lắm cũng chứa
rất nhiều lổng chổng cần xem lại, nếu biết người Hẹ (và Miêu)
xuất xứ từ phương Bắc thuộc thứ chủng Việt, hay ít lắm thuộc thứ
chủng tộc khác với Hoa, và chữ Tàu rất có thể không do người Hoa
'sáng chế', mà có thể lại được 'chôm' từ các tộc người khác theo
như những vụ khai quật gần đây, đặc biệt tại Longshan và Yanghe
thuộc Sơn Đông và các di chỉ ở Chiết Giang, đã cho thấy [6]. Sự
kiện các áng thi văn cũ đọc nghe hay hơn nếu đọc theo tiếng Hẹ,
cũng có thể có nghĩa những áng văn đó do chính người Hẹ sáng tác
xử dụng chữ viết Hán-tự nhưng đọc theo tiếng Hẹ.
8)
Những thứ lấn cấn về tiền đề liên
hệ đến nguồn gốc Hoa tộc luôn luôn mang ảnh hưởng đến mọi công
cuộc nghiên cứu về tộc người Việt Nam. Khuôn khổ bài viết có
giới hạn, và chúng tôi chỉ xin lưu ý đến một giả thuyết khá mới:
Phải chăng có một sự thoả thuận nào đó vào thuở cổ thời, khi đám
Bách Việt (Hoa Nam) cộng với đám Bách Bộc (Hoa Bắc) hãy chưa
biết đến các thứ tên gọi (Bộc, Việt, Lạc, Khương, Để, v.v.) do
chính người Hoa Hạ đặt cho họ. Thoả thuận đó nằm ở chỗ lựa chọn
một tên chung để gọi nhiều tộc người khác nhau đang cư ngụ và
sinh sống trên lục địa Trung Hoa. Tên đó: Hán tộc, hoặc người
Hán hay người Hoa. Thoả thuận này đã dựa vào nguyên tắc
liên-doanh (người có công người có của) để hợp quần thành một
thứ tộc người mang tên chung: Hán tộc hay Hoa tộc, cùng nhau làm
chủ lục địa Trung Hoa. Bởi, rất có khả năng, văn minh Trung Quốc
chính thực bao gồm một phần rất lớn đóng góp của Việt tộc (khối
đa số). Phần cốt lõi đóng góp của tộc Hoa-Hạ có lẽ chỉ xoay
chung quanh: Nho giáo, Lão giáo cộng với triết lý và kỹ thuật về
chiến tranh và chính sự.
Ngoài việc không thể dựa vào những tiền đề quen
thuộc sẵn có, lý thuyết dùng để giải mã truyền thuyết Âu-Cơ và
Lạc Long Quân của chúng tôi, cũng tạm tránh né không xử dụng hai
nguyên lý quen thuộc trong vấn đề ngôn ngữ: (i) Biến âm, và (ii)
Âm hay từ vay mượn. Ngược lại, chúng tôi đã mạo muội đề ra một
nguyên lý về ngôn ngữ liên hệ đến vấn đề hợp chủng. Xin dẫn
chứng bằng các thí dụ như sau.
(a)
Trễ = Muộn = Chậm, v.v. Theo các lý
thuyết cũ: Hoặc biến âm, hoặc tộc này vay mượn tiếng nói người
địa phương. Lý thuyết ở đây: Mỗi thứ từ (thí dụ: trễ), là tiếng
nói tộc người khác nhau. Khi hợp chủng trở thành một thứ tộc
người lớn hơn, những từ này thường được giữ lại ở những khu vực
hay địa phương mà tộc người chủ lực hãy còn dùng thứ tiếng đó.
Luôn luôn có sự cạnh tranh giữa các từ với nhau. Đưa đến một vài
hậu quả tiêu biểu: Hoặc: (i) Một từ sẽ chiếm ưu thế - thường từ
đó thuộc tộc chủ lực cư ngụ tại kinh đô. Hoặc (ii) Các từ thuở
xưa tương đương nghĩa với nhau sẽ dần dà thay đổi ý nghĩa ít
nhiều để cho kho tàng từ vựng phong phú thêm lên. Hoặc (iii) Hai
từ, mỗi từ mang gốc tộc xử dụng khác nhau, hợp lại để cho dạng
đa âm nghe êm tai và dung hoà để tộc nào nghe cũng hiểu ý nghĩa:
tâm-địa, thân thể, thân mình, màu sắc, đường xá, bông hoa, sinh
đẻ, v.v.
Trong tiếng Anh: muộn = late = slow = tardy =
delayed, v.v. Xin để ý đến 'tardy'. Có vẻ cùng gốc với 'tard'
(hay 'en retard') tiếng Pháp, và 'tarde' tiếng Tây-Ban-Nha, tức
mang gốc Âu Châu. Ở tiếng gốc Pháp hay Tây Ban Nha, 'tarde' có
thể mang nghĩa thuần túy 'muộn' như 'late' tiếng Anh. Thế nhưng
trong Anh ngữ, 'tardy' tuy mang nghĩa chính 'muộn' nhưng bao hàm
một ý phụ 'chậm trễ' bởi lý do 'biếng nhác' hay 'sao nhãng' công
chuyện. Trở lại tiếng Việt:
-
[Muộn] mang cùng gốc với [maahn] 亡
Quảng-Đông, sang tiếng Mân & Hải Nam đọc [ban] rất giống 'bận'
tiếng Việt, mà tiếng Tàu ưa viết chung với 'tâm': 忙 và Việt
thường nói 'đừng 'bận tâm''.
-
[Trễ] mang gốc tiếng Đa đảo:
[taere] (Tahiti). Phát âm giọng Bắc lại giống tiếng Quan-thoại &
Hẹ [chi] 遲 và Quảng-Đông [chih]
-
[Chậm] cùng gốc tiếng Thái [Chah]
và Lào [sah]
(b)
Mình = thân thể = chắc. Thí dụ này
xác định thêm một lần nữa, những từ xưa nay thường gọi Nôm cần
được phân loại thành Nôm Hoa Nam hay Bách Việt, Nôm Môn-Khmer,
Nôm Đa đảo, Nôm Thái. Từ đó ta có thể hiểu rõ hơn nguồn gốc tộc
người Việt-Nam. Rất nhiều từ (như: sách, ít, nhiều, đầu, sống,
đẻ, tay, v.v.) từ trước đến giờ thường nhầm thuần Nôm, nhưng
thật ra là những từ thuần Nôm kiểu Bách Việt bên Tàu. Đó là
những từ khác hẳn với từ 'thuần Hán' của dân Bách Việt (cũng một
vấn đề khá nhức đầu) xưa chỉ có tiếng nói. Nhưng khi Trung Hoa
hợp chủng được Bắc Nam, người ta cho vào đó chữ viết, người bên
ngoài rất khó biết chúng đã được Hán-tự hoá.
-
[Thân] mang cùng gốc với [shen] 身
quan-thoại. Biến chuyển giữa [sh]-Hoa với [th]-Việt là biến
chuyển thông thường giữa tiếng Tàu với tiếng Việt cổ theo hệ
Môn-Khmer, xuất hiện trong các tiếng Myanmar (Myiến Điện) và
tiếng Chàm (Champa). Cũng mang cùng gốc với tiếng Môn-Khmer:
[itheng], hay đa-đảo: [thino] (Samoa). Phản ánh qua tiếng Chàm:
[thăp].
-
[Thể] xưa nay thường tưởng tiếng
đệm hay láy => thân thể. Nhưng đứng một mình vẫn mang nghĩa
'body'. Mang gốc Nôm Bách Việt: 體 tiếng Quanthoại và Ngô-Việt
đọc [thi] và Mân đọc [the]. Tiếng Việt dành cho người chết: [thi
thể].
-
[Chắc] một thứ từ đặc thù Trung bộ,
mang nghĩa 'thân mình', mang xuất xứ từ tiếng Môn-Khmer: [sa?ak]
hay [ts?ak] hoặc [?ak] và [ng?ak]. Dấu [?] chỉ tắc âm thanh-môn,
một âm nghẹn phát nhanh giữa [uh] và [oh] khi đọc nhanh [uh-oh].
[?ak] sinh ra [ức] và [ng?ak] ra [ngực].
-
[Mình] cho thấy giao tác giữa {mình
= tôi} với {mình = thân mình}. Có thể qui về tiếng Thái. Tiếng
Thái có từ chỉ thân mình bằng [tuai] => [tôi]-Việt. Thái-cổ (tức
Mường) dùng [miềnh] để chỉ [mình] mang nghĩa 'thân mình' và cũng
nghĩa 'tôi'. [Mình] cũng có thể mang gốc tiếng Hán-Bách-Việt
dùng để chỉ 'thân cây' 枚 [mi] theo phát âm tiếng Hẹ, [mei]
quan-thoại, và [mE] Ngô-Việt.
(c)
Hùng trong Hùng Vương. Một số tác
giả Việt (thí dụ: Nguyễn Cung Thông [7]) rất thích dùng phương
thức biến chuyển âm vận, mà chúng tôi tạm tránh né. Theo cách
này, người ta truy ra từ biến thái giữa 2 ngôn ngữ, như [s] hay
[sh] tiếng Hoa sang [th] tiếng Việt cổ (Môn-Khmer) - thí dụ:
sông Salween đổi lại thành sông Thanlwin, âm [S]
<=> [Th], thành biến thái trong cùng tiếng Việt với nhau. Thí
dụ: ca <=> hát, những tác giả này sẽ cho âm [k] (trong 'ca') do
người Việt (thuần chủng) biến từ, hay thành, âm [h] ('hát') ở
một thời đại xa xưa nào đó. Từ đó, họ sẽ nới rộng suy luận sang
những âm của các từ khác tương tự: [Hùng] => [Kun] => [Khun].
Rồi liên kết với một từ Mường [Kun] mang nghĩa vị chúa một bộ
lạc. Nguyên lý về 'đóng góp từ vựng' của chúng tôi lại khác.
Chúng tôi, mạo muội cho rằng 'ca' và 'hát' là hai từ khác nhau,
từ hai thứ tộc khác nhau, nhập khẩu vào tộc ‘Việt-Nam nhất
thống’ trong thời kỳ hợp chủng. Chứng minh: tra cứu bất cứ một
từ điển phương ngữ 'tiếng Hoa' nào ta sẽ thấy:
-
Xướng: tiếng Tàu quen thuộc nhất
của [Ca] là [xướng] 唱 đọc rất gần với tiếng Mân (Phúc Kiến):
[chhiang]. Ta thường có: 'hát xướng', 'xướng ca'.
-
Hát: Do biến đổi kiểu quốc ngữ từ
âm Hán-Bách-Việt của từ 歐 hay 謳 hoặc 誐 : [eu]-Hẹ, hay
[au]-Mân. Hai từ sau, Hẹ hay Quảng Đông còn có thể phát âm [ngo]
hay [ngau] rất dễ sinh ra [ngâm] => ngâm thơ. Thật ra tiếng
Quảng-Đông có từ 吟 phát âm y hệt như [ngâm], và mang nghĩa
‘ngâm thơ’. Tương tự 喊 , nghĩa ‘hét’ có phát âm khá giống ‘hét’
là [hE] trong tiếng Ngô-Việt (Chiết Giang / Giang Tô).
-
Hò: viết như 賦 'hát hò'. Nhưng
'hò' thường biến nghĩa thành 'hò... lơ'. Nghĩa ban đầu: 'ngâm
thơ'. Âm Mân Việt: [hu] rất gần 'hò' tiếng Việt.
-
Ca: 'Hán tự' viết 歌 y như 'Hát'
chứng tỏ hai từ được đặt ra để phiên âm hai âm vận khác nhau của
người Bách Việt ở Hoa Nam. Dù vậy theo nhiều từ điển (thí dụ
[8]) 'ca' mang nghĩa 'bài hát' chứ không phải động từ 'ca hát'.
'Ca' có phát âm Mân & Hải Nam [ko] và phát âm Hán Hàn giống
nhất: [ka].
(d)
Sinh = Đẻ. Sinh bắt nguồn từ âm
quanthoại [sheng] 生 , hoặc Hẹ [sien], dùng như động từ= sinh đẻ,
hay hình dung từ: [sheng ri] = sinh nhật. Tiếng Việt cũng thường
dùng từ 'sống' hay từ kép: 'sinh sống'. 'Sinh' cũng ưa đi với
'hoạt': sinh hoạt, với [hoạt] 活 mang phát âm y hệt [hoat] trong
tiếng Mân (Phúc Kiến). Còn 'đẻ' = sinh, cũng không phải biến âm
từ 'sinh' như các lý giải thường gặp, mà lại là lối nói của
người Hải Nam: [deh] mang nghĩa 'sinh đẻ'. Tiếng Hán có lẽ đã
phiên âm 'đẻ' thành 誕 đọc theo kiểu Hẹ: [dan].
(e)
Ngựa = Ngọ = Mã. Chúng tôi xin đưa
ra lý giải Bách Việt, khác với lý giải Việt/Hán Việt theo
'Thuyết 12 Con Giáp' của Nguyễn Cung Thông [7]. Thuyết chúng tôi
cho rằng hai từ có âm khác nhau mang cùng nghĩa thường xuất phát
từ hai tộc người khác nhau trong khối Bách Việt, hoặc là 2 từ
chỉ hai sự vật hơi khác nhau. Trong quá trình hợp chủng người ta
quên đi gốc gác của từng từ. Chứ không phải do biến âm tại chỗ.
Thuyết 12 Con Giáp [7], cũng như rất nhiều công cuộc nghiên cứu
về tiếng Việt xưa nay, thường cho đó là biến âm tại chỗ của một
khối tộc thuần chủng. Theo thiển ý:
-
Mã: xuất xứ từ tiếng Mông Cổ
[Mohr], viết theo Hán tự 馬 đọc [ma] rất giống tiếng Việt.
Nhưng, 'Ngọ' trong năm Ngọ, lại liên hệ đến 'Ngựa', có một gốc
khác: [ghora] thuộc tiếng Ấn & Bangladesh. Sang đến khu vực Bách
Việt:
-
Ngọ => Ngựa: rất có khả năng là thứ
phát âm Nôm (Hoa Nam) dùng thẳng từ 猊 phát âm kiểu Hẹ [ngi]
hoặc Quảng-Đông [ngai] mang nghĩa 'con ngựa rừng'. Hoặc là âm
Nôm của từ
驁
phát âm kiểu Hẹ [ngau] và Quảng Đông [ngou] mang
nghĩa con ngựa chứng, chưa được thuần thục. Tiếng Việt ngày nay
hãy còn phảng phất âm hưởng 'con ngựa chứng' [ngou] qua lối nói:
'thằng này ngầu quá'.
(f)
Năm Thân = năm con Khỉ => Thân <=>
Khỉ.
-
Thân: theo nguyên lý biến âm giữa
tiếng Hán và Việt cổ (Môn-Khmer), tiêu biểu qua rất nhiều từ
Việt gốc Hoa Nam (thường gọi: Hán Việt), và từ điển tiếng Chàm
[9]. Âm [Th]-Việt (hay Chàm) có thể tương ứng với [Sh] hay [X]
bên 'Hoa'. Ngay như trong tiếng Miến Điện (Mynmar) cũng còn dấu
biến âm từ Salween (do người Anh phiên âm) trở lại ra
Thanlwin. [Thân] do đó viết
申
và đọc
[shen] theo quanthoại. Những từ điển Hoa thông thường không bao
giờ có chuyện viết nên: '[shen] = khỉ' hết. Và thật ra [Thân]
xuất phát từ
猻
phát âm như [sun] tiếng Hẹ, hay [syun] Quảng Đông, mang nghĩa:
con Khỉ.
-
Khỉ: tiếng Hán ròng có lẽ là 猴
[Hầu], đọc y như vậy trong tiếng Quảng Đông [hau]. Tiếng 'Khỉ'
cũng lại xuất phát từ âm Quảng Đông của
蠼
[kheoi], mang âm gần nhất với [khỉ]
nhưng mang nghĩa nguyên thủy 'khỉ cái'.
(g)
Năm Tuất = năm con Chó. Từ nôm
'chó' đã được trình bày nhiều lần trong các bài trước. Tiếng
Thái: [maa] đã sinh ra [má] => chó má. Tiếng Hoa thường dùng:
Khuyển 犬 có lối đọc y hệ [kien] trong tiếng Hẹ, và [khian]
trong tiếng Mân {để ý âm Hoa Nam rất giống kiểu Nam bộ hay Mường
(wiết => huyết): lột mất âm [uy] => [kh(u}iển]. Từ khác là [cẩu]
hay [kỉu] 狗 rất giống kiểu Hẹ [kieu] và Mân / Quảngđông: [kau]
hay [gau]. Tiếng đa đảo là [kuli]. Nhưng [Tuất] lại xuất xứ từ
một tiếng khác: 嗾 đọc kiểu Hẹ: [tsuk], Quảng Đông [zuk]. Ban
đầu mang nghĩa tiếng gọi cho con chó đến: [tsút - tsút]. Phát âm
Hải Nam cho năm Tuất
戌
chính là
[tuat].
(h)
năm Mùi = năm con Dê. Xin để ý định
lý biến âm giữa các phương ngữ Hoa Nam: Một số các
âm [W] quan thoại (thí dụ: wan = vạn) có khuynh hướng biến ra:
* âm [M] trong tiếng Quảng Đông: [wan] => [maan]
(muôn = 10000)
* âm [V] trong tiếng Hẹ: [wan] => [van] => (vạn)
* âm [B] tiếng Mân: [wan] => [ban] hay [man] =>
[byạn] kiểu Nambộ & Mường
Áp dụng định lý này, ta thấy [Mùi] xuất xứ từ
biến âm [Mei]-quảng-đông, của [wei] quan-thoại, tức [vi]-Hẹ, hay
[vị]-quốc ngữ => mùi vị. Và: [bi]-Mân, tức [byi] Nambộ và Mường.
Ta thấy ngay: [byi] là một âm gần gũi với [yi] tiến đến [dê] rất
dễ. Tiếng quan-thoại cho Cừu/Dê là [yang], phát âm theo Ngô Việt
là [Iyaz], rất gần [bê] hay [byê] tiếng Mường. [Mùi] lại có thể
mang cùng gốc với [mamaê] tiếng Thái. Âm [Mei] tiếng Quảng-Đông
cho [mùi] cũng là âm cho tiếng kêu của con cừu hay con dê, phiên
âm theo Hán tự bằng
羋.
|
Địa-chi |
Hán tự |
Quan Thoại |
âm BáchViệt mang nghĩa
'con Giáp' |
Chữ Hoa cho âm cột 4 |
tiếng mang âm cột 4-5
và nghĩa cột 7 |
|
|
|
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
|
Tý |
子 |
zi* |
syu / tsy |
鼠 |
Q. Đ/ Ngô |
Chuột |
shu |
tsuôt / chuat |
|
Sửu |
丑 |
chou |
siu / zeu |
犨 / 丑 |
Hẹ |
Trâu (Bò) |
shui-niu |
tlu / klu / salu |
|
Dần |
寅
|
yin |
yau / zan |
貅 / 倀 |
Q. đông |
Cọp |
hu |
khal/khan |
|
Mão |
卯 |
mao |
miau / mau |
貓 / 猫 |
Hẹ / Qđông |
Mèo (thỏ) |
mao |
mèo / thoh
|
|
Thìn |
晨 |
chen |
then |
虯 |
Hẹ |
Rồng |
shen |
ròng |
|
Tỵ |
巳 |
si |
tuo + chi |
蛇 |
Q.thoại |
Rắn |
she |
ran / zan |
|
Ngọ |
午
|
wu |
ngai / ngou |
猊 / 驁 |
Quảng Đông |
Ngựa |
ma |
ngưa |
|
Mùi |
未 |
Wei |
mei
|
羊 / 羋 |
Q. Đông |
Cừu (Dê) |
yang |
dê / tê / bê (byê)
mamaê |
|
Thân |
申
|
shen* |
sun / syun |
猻 |
Hẹ / Q Đông |
Khỉ |
hou/ you |
vok |
|
Dậu |
酉 |
You |
yiu => yau |
雓 |
Q. Đông |
Gà |
ji |
ka |
|
Tuất
|
戌
|
Xu |
tsut / tuat |
嗾 |
Hẹ /Hải-Nam |
Chó |
gou
|
tsó |
|
Hợi |
亥 |
Hai |
hei |
豨 |
Q. đông |
Heo
|
zhu |
kwi / kul/ kun |
Toàn bộ 12 con Giáp với âm chính thức Bách Việt,
được tóm tắt trong bảng trình bày ở trên - với chú thích sau:
1.
Trước hết ta thấy các âm điệu Tí,
Sửu, Dần, Mẹo, ... hoàn toàn mang nghĩa các con thú tương ứng
theo với tiếng các tộc Bách Việt ngày xưa. Cột 1 mang nghĩa cột
7. Theo với minh giải trình bày ở cột 4.
2.
Cột 4 chính là âm nguyên thủy Bách
Việt, đã được 'Hán hoá' bằng Cột 3.
3.
Khi người Hán phía Bắc Hán hoá các
âm gọi 12 con Giáp từ phía Nam, họ thấy các âm này là âm ...
tiếng 'người nước ngoài' xa lạ, nên họ hệ thống hoá thành 12
địa-chi, mang phát âm quan-thoại theo cột 3. Tên họ quen gọi họ
vẫn giữ, đó là cột 8. Thí dụ: con cọp, họ gọi [hu] => hổ. Khỉ,
gọi [hou] => hầu. Rồng: [long] => long.
4.
Truy tầm âm vận Bách Việt chứng
minh quyết liệt tên 12 địa chi - đích thị là tên gọi đúng 12 con
Giáp từ miền Hoa Nam, đặc biệt người Quảng Đông, thuộc chủng
Thái cổ (tức Âu Việt) bà con cật ruột với một phần khá lớn của
người Việt Nam và Thái Lan. Những âm bây giờ phiên âm thành
tiếng Hán, trình bày ở cột 4-5 cho thấy rõ rệt điều đó.
5.
Chuyện con mèo (mao) lên đên phía
Bắc trở thành con Thỏ được hợp thức hoá dễ dàng bởi người Hoa
phía Bắc đã biến tên thú (con Giáp) nguyên thủy thành tên
địa-chi. Giống như kiểu tên 12 người làm ăn chung với nhau dưới
tên một công ty. Từ đó nếu có thay đổi tên người làm ăn, tên
công ty phía trên, số mã cổ đông của người rời, hoặc mới vào
công ty, vẫn có thể được giữ nguyên. Tên địa chi ‘Mão’ vẫn có
thể giữ nguyên, khi thay đổi mèo bằng thỏ.
6.
Phương pháp chúng tôi đặc biệt khác
với phương pháp Nguyễn Cung Thông ở chỗ căn bản lý thuyết ở đây
dựa vào biến âm của các tộc người khác biệt trong nhóm Bách
Việt, trong khi phương pháp của một trong những vị khởi xướng
'phong trào' tìm về nguồn [7] [11] chú tâm đến biến âm trong
tiếng Việt của người Việt (Nam) cổ.
Bây giờ xin trở lại phân tích hai chữ Hùng Vương.
Đặc biệt nhấn mạnh ở chỗ 'biến âm' từ [K] sang [H], do ở vài đề
nghị (thí dụ: Trần Quốc Vượng [11]) cho rằng có thể tiếng Mường
tương đương với 'vua Hùng' là [Po Khun] - trong đó [Khun] mang
nghĩa 'tù trưởng'.
'Vương' 王 khá đơn giản, chỉ là lối phát âm Hẹ
(mang chữ V) [vuong] hay [vong] của quan-thoại [wang] hay
quảng-đông [wong]. Đặc biệt từ điển của Lau Chun-Fat cho biết
tiếng quan-thoại cũng có lối phát âm [yu]-4 cho [wang]. [Yu] sẽ
dễ dàng cho ra âm [byua] theo kiểu Nam bộ, hay [bua] kiểu quốc
ngữ thời Alexandre de Rhodes.
Chữ [kun] tiếng Mường (có thể kèm âm hơi thở, đọc
[khun]) thật ra lại mang nghĩa 'chúa', hay 'thủ lãnh', hoặc tù
trưởng. Tương đương tiếng Hán là 'quân' 君 phát âm y hệt [kun]
trong tiếng Mân. (Quảng đông đọc [gwaan] và Hàn quốc đọc
[kwun]).
Chữ 'Hùng' viết như 雄 mang bộ 'Chuy' giống như
chữ Lạc viết theo bộ Chuy
雒
dùng để chỉ Lạc Hầu - Lạc Tướng [12]. Do đó, có
một dạo tại Việt Nam, nhiều học giả ưa cho rằng Hùng Vương = Lạc
Vương. {Chúng tôi sẽ bàn tiếp về Hùng Vương và Lạc Vương vào
dịp khác}. Hùng 雄 trong 'Hùng Vương' mang nghĩa 'hùng mạnh'
hoặc người Hùng. Quan-thoại đọc [xiong]. Ba âm Bách Việt rất
giống âm Việt [hùng]: Mân [hiong]. Hẹ [hiung] và giống nhất
Quảng Đông (tộc Thái cổ) [hung]. [Hung] QĐ = [Hiung] Hẹ = [Hùng]
Việt cho thấy gốc gác tên gọi [Hùng] nằm trong chủng Thái-cổ,
tộc chủ lực của người Mường (Việt).
Nhưng âm [Kun] trực tiếp cho chữ 雄 (và thay cho
[Hung]) hoàn toàn vắng bóng trên 'diễn đàn' Bách Việt, bởi Hải
Nam và Ngô Việt đọc như [yong] hay [iong]. Âm của chữ 強 mới có
âm [K] ở đầu, đọc theo tiếng Mân: [kiong], Quảng: [keong], và Hẹ
[kiong] mang nghĩa 'hùng mạnh' y như 'Hùng' 雄 phía trên. Một
từ khác cũng mang nghĩa 'hùng mạnh': 鞏 mang phát âm [kiong]
Mân, [giung] Hẹ, và [gung] hay [kung] Quảng Đông. Chúng ta nên
để ý lối viết chữ Hán tròng lên các phương ngữ Hoa Nam là lối
viết có sau - thực tế chỉ phiên âm theo mẹo luật chính tả chữ
Hán. Do đó, ngày xưa, rất có khả năng âm [Hùng] và [Kun] lẫn lộn
với nhau giữa các phương ngữ, và cũng có thể hoán chuyển ý nghĩa
với nhau:
Hùng =
Mạnh => [hung], [kiong], và [kung]
Kun =
Vua = Chúa tể = Quân = Quan (Kun T’lang = Quan Lang) => [kun]
<=> [hung].
[Hùng]
trong tiếng Hoa (hay Hoa Nam) còn mang ý nghĩa: 'Nam giới' hay
'đầy sinh lực'.
Một từ
khác tiếng 'Hán' cũng mang nghĩa 'nam tính' chính là 'Công'
公
đọc theo Quảng Đông hay Hẹ là [gung] rất gần với [kung].
Thế
[Po] trong [Po Khun] ở tiếng Mường ra sao?
Tra
cứu từ điển Mường [13] chúng tôi thấy chỉ có [Pổ] mới điền được
vào chỗ trống cho hợp nghĩa.
'Pổ' mang nghĩa= Ông Cha. Pổ = Bố. => [Pổ Khun]
hay [Pổ Kun] => Người làm Quan - giống như vị Cha già cho cả Bộ
Lạc.
Cũng không tránh được để ý: Pổ Cảy = Bố Cái =
Cha Mẹ => giống như 'Bố Cái Đại Vương' (Phùng Hưng).
Đến đây - chúng ta có thể tạm đi đến một số nhận
xét như sau:
¨
'Hùng Vương' là sản phẩm trí tuệ của người Việt
thuộc các chi chủng di cư từ phương Bắc. (Xin tạm gác lại vấn đề
'Hùng Vương' có thật hay không). Đặc biệt tộc Thái cổ và tộc Lạc
Việt phía Bắc (tức Hẹ) có phát âm gần giống tiếng Việt ngày nay
nhất.
¨
Tộc Thái cổ, còn gọi Âu Việt, chính là tộc chủ
lực của người Mường, thời xưa nổi tiếng theo mẫu hệ, giống như
tộc Việt cổ: Môn Khmer, với đại biểu là người Chàm (Chăm) - xưa
nay thường bị gọi thuộc chủng hỗn hợp Mã Lay - Đa đảo.
¨
Tộc Lạc Việt phía Bắc có thành phần chủ lực là
tiền thân người Hẹ ngày nay. Người Hoa ngày xưa ưa gộp họ với
các tộc khác, nhất là đám Tam Miêu (tức Hmong-Mien hay
Miêu-Dao), ở khu bán đảo Sơn Đông, thành một khối, gọi Đông Di.
Bởi nhóm Đông Di thường xuyên giao tác với người Hoa từ thời
Đông Châu liệt quốc cho mãi về sau, nên có thể họ theo phụ hệ
khá sớm.
¨
Việc hợp chủng Âu - Lạc, một bên theo mẫu hệ, một
bên theo phụ hệ, luôn được phản ánh khá đầy đủ trong truyền
thuyết 'cẩm nang' của dân tộc Việt Nam: truyền thuyết Âu-Cơ /
Lạc Long Quân và Hùng Vương.
¨
Phiên thiết hai chữ 'Hùng Vương' qua các tiếng
Việt ở Hoa Nam (kể cả tiếng Mường) ở trên cho thấy tác giả
truyền thuyết đã nhấn mạnh: Chế độ Hùng Vương, nếu có, là một
chế độ theo phụ hệ. Tuy nhiên chúng tôi xin phép dành phần luận
bàn về thời điểm các tác giả truyền thuyết đã ghi chép hay dùng
các 'phần từ' với hàm ý 'nam tính' trong chữ Hùng của quốc tổ
Hùng Vương. Nhất là điểm mâu thuẫn khi thấy ông Phùng Hưng được
danh xưng Bố Cái Đại Vương vào thế kỷ thứ 8, trong khi Hùng
Vương, nếu có, đã có trước Bố Cái Đại Vương ít lắm cũng 1000
năm, lại chỉ mang tước hiệu Bố Quan (Pổ Kun) nhấn mạnh về phía
người Cha của phụ hệ.
Trong một bài tới, chúng tôi sẽ khai triển lý
thuyết trình bày phía trên về hướng Bắc, nhưng áp dụng cho hướng
Nam, để nhận diện tộc người Việt đã làm chủ dải đất hình chữ S
sớm sủa nhất. Từ đó chúng ta sẽ có dịp xem và nhìn lại vấn đề
Nam tiến ở một góc nhìn hoàn toàn mới mẻ, cho thấy đó chỉ là một
người em trong bộ tộc trở về quản lý giang sơn gấm vóc của tổ
tiên người Việt thuở ban đầu.
CẢM TẠ: Chúng tôi xin chân thành cám ơn anh
Nguyễn Cung Thông (Melbourne) đã gợi và góp ý rất nhiều về đề
tài chuyên khoa: 12 Con Giáp.
NN
Tháng 5 - 2006
GHI CHÚ
[1] Chúng tôi xin mạo muội đưa ra thêm 2 giả
thuyết, dành cho những vị thích nghiên cứu cổ sử Hoa và Việt:
(i) Tần Thủy Hoàng có huyết thống không thuộc tộc Hoa-Hạ. Có thể
một thứ tộc Bắc Địch hay Nhục Chi (Turkestan). Ông đã thẳng tay
ra lệnh đốt sách chôn học trò - thuộc Nho giáo - bởi Nho giáo là
một sản phẩm thuần túy Hoa-tộc, của những vị thánh hiền tộc Hoa
ở vùng bán đảo phía Đông. (ii) Hán Cao Tổ Lưu Bang, xuất thân ở
xứ Giang Tô (Ngô-Việt), lại lấy tên sông Hán Thủy ở nước Sở, nơi
có nhiều cộng đồng Việt tộc (gốc Thái hay Âu) sinh sống, làm tên
nước Trung Hoa đầu tiên nhất thống Hoa-Nam và Hoa-Bắc, có vẻ
cũng một người mang huyết thống... tộc Việt. Lý do: Người Hoa từ
Nam chí Bắc (bao gồm phần lớn tộc...Việt, tức Bách Việt) luôn
luôn thích tự gọi họ người Hán, tiếng của họ tiếng Hán. Họ thích
gọi họ người Hán và không hề thích gọi họ người Tần. Trong khi
người Anh-Pháp-Mỹ đều gọi họ người Chinese hay Chinois, tức
người Tần. Bởi China bắt nguồn từ Ch'in, tức... Tần. Phải chăng
bởi Lưu Bang có huyết thống Việt tộc trong người nên đám Bách
Việt trên toàn cõi Trung Hoa đã để cho ông yên, hợp tác và tiện
nghi hãnh diện với triều đại nhà Hán? {Một thứ tên khác người
Hoa, nhất là Hoa kiều ở bên ngoài Trung Hoa, thích gọi là Thoòng
Yàhn, tức Đường nhân, hay người Đường. Thời nhà Đường (618-907)
là thời đại huy hoàng nhất nhì văn minh Trung Hoa). Thêm một
điểm đáng để ý: Người sáng lập nên nhà Đường mang họ Lý (Lý Thế
Dân) có gốc ở khu bán đảo Đông Bắc nước Tàu (Sơn Tây / Sơn
Đông), nơi ngày xưa tập trung đám rợ Đông Di.
[2] Bình Nguyên Lộc (1971) Nguồn gốc Mã Lai của
dân tộc Việt Nam. Nxb Xuân Thu (tái bản tại Hoa Kỳ).
[3] Thí dụ: 'Anh/Chị/Mày' quanthoại và quảngđông
gọi [ni]
你[
nhưng Ngô-Việt (Thượng Hải - Chiết Giang - Giang Tô) gọi [nong]
侬
viết khác, đọc khác. Tiếng Việt có thể biến [nong] thành [nó] và
dời sang ngôi thứ 3. Cũng giống như [ai] tiếng Hẹ có nghĩa 'tôi'
dời sang ngôi thứ 3 (ai đó?) và lẫn lộn với ngôi thứ 1 {ai biết
đâu = tôi đâu biết}. Thí dụ khác: 'Nó / cô ấy' quanthoại đọc
[ta]
他,
nhưng quảngđông đọc [kei] 其 giống tiếng Thái.
[4] Thí dụ: âm quanthoại [jiu] mang 2 thứ từ
chính: 九 (chín) và 久 (cựu, cố cựu). Truy tầm phát âm trung-cổ
dựa vào âm Phúc Kiến: [kao] hay [kiu]. Tiếng Việt quốc ngữ
[cửu], theo thiển ý là âm giữa [kiu] và [kao], đọc [kiu] hay
[kao] cũng được. Các họcgiả nếu dựa vào quốcngữ hay tiếng Phúc
kiến cho rằng âm Hán trung-cổ là [kơw] có thể sẽ bị ... hố. Bởi
theo lý thuyết chúng tôi, c |