Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương (9):

Tiếng Việt và tiếng Hẹ (Hakka)



 

 

Trước khi tiếp tục quan sát và so sánh 2 thứ tiếng Hẹ và Việt, chúng ta thử nhắc lại những điểm chính dùng để minh chứng đẳng thức về chủng Lạc Việt (bộ Trãi):

 

Lạc Việt (Trãi) = Bách Bộc (thuộc Đông Yi) = HẸ (cổ)

 

Những điểm đó gồm có:

 

1.  Người Hẹ xuất xứ từ khu vực sông Hoàng Hà, chung quanh các sông Vị, Bộc và Lạc. Nhóm Lạc bộ Trãi thuộc rợ Đông Yi. Địa bàn chính của đám Đông Yi nằm ở khu vực tỉnh Sơn Đông ngày nay. Rợ Đông Yi được biết một thứ rợ có tục nhuộm răng, xâm mình.

2.  Hẹ tức Hakka là một thứ dân du mục khét tiếng của Trung quốc. Người Bách Bộc (bao gồm Bộc Việt) cũng vậy. Chữ 'Việt'   dùng trong 'Lạc Việt' (Bộ Trãi) được viết như miêu tả một nhóm người du mục sinh sống bằng nghề săn bắn, nay đây mai đó (bài 8).

3.  Bởi là dân du mục sinh sống bằng săn bắn, người Hẹ cổ trong nhóm Đông Yi không ngại ăn thịt Cầy, y hệt như dân Triều Tiên (Hàn) và Việt Nam. Thuở cổ thời, chính đám Lạc bộ Trãi đã cùng với người Hmong di tản sang Triều Tiên, và trở thành một trong ba đám rợ Tam Hàn. Món thịt Cầy mà người Lạc du mục thường dùng bữa cách đây trên dưới 3000 năm, thông thường có lẽ là con chó rừng tức Sói (bài 8).

4.  Tiếng Việt, nhất là những từ gốc Hán, thường có phát âm gần giống với tiếng Hán quan thoại hơn tiếng Quảng Đông. Chúng tôi đưa ra lý giải rằng thứ tiếng Hán dùng ở cổ Việt mang ảnh hưởng nhiều của tiếng người Lạc bộ Trãi. Nhóm người này chính là tộc Yueh sống gần gũi với Hán tộc nhất trong hằng ngàn năm.

5.  Khi Trần Thủ Độ đưa Trần Cảnh lên soán ngôi nhà Lý, một số hoàng thân nhà Lý kéo nhau lên tàu căng buồm chạy về nơi chôn nhau cắt rốn của tổ tiên ở khu vực bán đảo Sơn Đông và Triều Tiên. Trùng hợp với địa bàn xưa của đám Đông Zi, bao gồm nhóm Lạc Việt (cổ).

6.  Một nhóm người dân tộc thuộc chủng Việt cổ tại khu vực Quảng Bình tự gọi 'người Nguồn'. 'Nguồn' theo thiển ý là âm đọc trại từ 'Ngìn' - một từ người Hẹ-cổ còn giữ đến ngày nay, mang nghĩa 'Người' (bài 7).

7.  Chúng ta cũng để ý đến cách dùng 'Trên Bộc dưới dâu' có vẻ phổ biến nhiều tại Việt Nam hơn ở bên Tàu. 'Trên Bộc dưới dâu' là câu nói người Hoa dùng để chế nhạo dân Lạc Việt thuộc nhóm Đông Yi đã khá phóng túng trong việc Sex với nhau, trên bãi sông Bộc và dưới ruộng dâu vào thời Đông Chu Liệt quốc. Dân Lạc Việt lúc đó sinh sống rất nhiều ở nước Trịnh và Vệ, thuộc khu vực Sơn Đông.

8.  Lạc Việt (bộ Trãi) chính là thị tộc Việt Thường lúc đó sống di động tại khu sông Vị, sông Lạc, sông Bộc, và Hoàng Hà. Rất gần với kinh đô Kiểu Kinh nhà Tây Châu. Vào khoảng năm 1100 TCN, thị tộc Việt Thường có cử 'đại sứ' mang một con chim Trĩ rất lớn, họ săn được, đến dâng biếu vua nhà Châu. Có lẽ từ việc này người Hoa mô tả tộc Lạc Việt bằng chữ Lạc viết kèm với bộ Trãi. Trong tiếng Hoa 'Trãi' và 'Trĩ' phát âm [zhi] như nhau. 'Trãi' mang hai nghĩa, hoặc con sâu không chân (sâu có chân, gọi 'Trùng'), hoặc con thú tưởng tượng giống con chồn, có sừng trên đầu.

9.  Người Hẹ có tóc dợn sóng, sóng mũi giữa đôi mắt cao hơn Hoa-tộc một chút. Người Hoa thuần túy tóc thẳng. Người Hoa Nam (Bách Việt) tóc cũng dợn sóng như người Hẹ.

10.  Theo kết quả đo lượng về chỉ số sọ [10] đăng trong quyển Mã Lai [1], chỉ số sọ người Việt bình quân vào khoảng 82.13, rất gần với chỉ số sọ người Thái (82.25), người Phi-luật Tân, Inđô-nêxia, Mã Lai (tổng trung bình: 82.19). Trong khi chỉ số sọ người Hoa là 78.27. Đặc biệt người Hoa tại tỉnh Sơn Đông - tức hậu duệ đám Lạc bộ Trãi và Đông Zi nói chung - theo đo đạc của Shirokogoroff là 81.70 gần bằng với chỉ số sọ người Việt hơn là Hoa tộc. Chỉ số sọ người Hàn cũng vậy: 82.88. Gần với Việt tộc, qua liên hệ Sơn Đông.

 

Trích dẫn kết quả chỉ số sọ trình bày trong quyển Mã Lai của Bình Nguyên Lộc cũng là  một dịp để nhấn mạnh vài điểm then chốt khác nhau giữa quyển Mã Lai và thuyết về nguồn gốc Âu Lạc giải mã trong suốt loạt bài này. Quan trọng nhất, loạt bài này có lẽ lần đầu tiên đã cố gắng phân biệt từng tộc khác nhau trong khối Bách Việt ở Hoa Nam và Bách Bộc tại Hoa Bắc. Đặc biệt quan tâm đến những tộc đã di tản đến xứ Việt cổ trong khoảng thiên niên kỷ đầu trước Công Nguyên. Quyển Mã Lai, ngược lại, tuy có nhiều đoạn phân biệt các chi chủng khác nhau, nhưng chung chung lại gộp họ lại với nhau thành một chủng Mã Lai. Việc làm này, nhất là qui về MỘT chủng mang tên Mã Lai rất dễ gây hiểu lầm. Mọi người dễ hiểu lầm người Mã Lai ngày nay là thủy tổ của khối Bách Việt. Quyển Mã Lai lại vướng phải một nhầm lẫn về đám người Hẹ. Trong khi tác giả đã cho biết tiếng Hẹ rất giống tiếng Việt, nhưng kết luận lại cho là Hẹ (Hakka) chính là đám di dân từ xứ Ba Thục cũ (Tứ Xuyên) và có bà con rất gần, hay hậu duệ, đám dân quân theo Thục Phán. Quyển Mã Lai, cũng không tránh khỏi thiếu sót thời đó ở chỗ không nhấn mạnh thuyết Mã Lai do những ai đầu tiên đề xướng. Đặc biệt, 'Mã Lai' vẫn không phát hiện Hùng Vương, nếu có, là một quốc tổ mang hai dòng máu. Lại cho rằng Hùng Vương chinh Nam phạt Bắc, có nhiều thuộc địa ở các khu lân cận [3]. Trái lại thuyết giải mã ở đây cho rằng có hai tộc chính tràn vào cổ Việt, trước sau, và cùng một lúc trong vòng 1000 năm trước Công Nguyên: Chủng Âu (Thái cổ) và Lạc (Việt cổ). Tại xứ Việt cổ họ gặp nhiều nhóm thuộc tộc Môn - Khmer, cũng như các nhóm Thái đã đến đó từ trước.

 

Những từ cơ bản của tiếng Việt ngày nay chỉ đầu mình, tứ chi, môi miệng, mắt mũi, bộ phận sinh dục, sex, ... lên đến hơn 60% tổng số từ cơ bản, theo kiểm chứng chúng tôi, cho thấy có gốc gác là tiếng của dân bản địa đến trước: Môn-Khmer [14]. Những từ gọi số đếm, đặc biệt từ 1 đến 10, cũng xuất phát từ tiếng Môn-Khmer. Người Âu và người Lạc từ phương Bắc đến sau, hợp chủng với nhau, tạo nên người Việt và tiếng Việt.

 

Trong bài này, chúng tôi sẽ tiếp tục minh giải đẳng thức 'Hẹ chính là người Lạc Việt cổ (bộ Trãi)' qua việc tiếp tục quan sát và so sánh một số điểm đặc trưng của hai thứ tiếng Hẹ và Việt.

 

Nhắc lại trong hai bài trước chúng ta đã xem qua 'chúng ta & chúng tôi' và cặp từ cùng gốc 'Gà Mái' (Việt) và 'Gai Ma' (Hẹ). 'Chúng ta-chúng tôi' cho thấy người Việt có gốc gác ở miệt cực Bắc của nước Tàu. Y hệt người Hẹ. Bởi chỉ ở khu vực này tiếng quan thoại mới phân biệt ra 'chúng ta' mang ý 'bao gồm' và 'chúng tôi' ngụ ý 'phân cách'. Theo ảnh hưởng của nhóm ngôn ngữ Altai. Ở 'gàmái' và 'gaima' chúng ta thấy một số điểm tương tự bao gồm cú pháp, văn phạm, âm vận, ý nghĩa, và đủ mọi thứ giữa tiếng Hẹ và Việt.

 

Bây giờ xin tiếp tục quan sát:

 

Chết = Mất

 

Một điểm đặc trưng khác đã cho thấy tiếng Hẹ giống y như tiếng Việt, và người Hẹ (Hakka) mang chủng Bách Yueh chứ không phải Hoa tộc. Đó là từ miêu tả sự chết, tiếng Việt còn gọi: 'Mất'.

 

'Chết' trong tiếng Việt, có vẻ chỉ gần gũi với âm của từ chỉ 'Chết' trong tiếng Mân (tức Phúc Kiến). Đó là [Chi]. Thật ra, tiếng Việt có rất nhiều từ để chỉ 'chết': Ra đi, thất lộc, từ trần, đi rồi, tử, xẩy (mạng), thiệt mạng, mất mạng, ngủm, thành người thiên cổ, táng mạng, vong mạng, quá vãng, về bên kia thế giới, trở về với Chúa, về cõi Phật, phiêu diêu nơi miền cực lạc, về chốn vĩnh hằng, hồn lìa khỏi xác, đi đời nhà ma, qua đời, tịch, quá cố, mãn phần, từ bỏ chốn trần tục, tắt thở, trút hơi thở cuối cùng, vĩnh biệt thế gian, tim đã ngừng đập, hẹn em kiếp sau, giã từ dương thế, v.v.

 

Nhưng chính yếu, và thường dùng hằng ngày có hai từ: 'chết' và 'mất'. Mất = Chết.

 

-  Tiếng Miến (Myanmar): chết = [thei-de], có vẻ giống 'thiệt' (mạng), hay 'thất' (lộc). 'Thất lạc' hay 'mất mát' họ gọi [Baud'te] rất gần với 'mất'. Âm [B] (baud'te) rất giống âm [M] (mất) bởi cả hai đều là âm môi-môi, các địa điểm phát âm giống nhau, nhưng một tắc-âm, [b], một tỵ-âm (âm dùng mũi), [m].

-  Tiếng Hải Nam, gọi 'chết' bằng [di] (= si (tử) quan thoại). [Di] có vẻ bà con gần với 'đi' tiếng Việt: 'đi' hay 'đi luôn' = chết, hoặc 'que' (giống như 'qua đời', pass away, trong Việt ngữ). Họ gọi 'đánh mất một vật gì' bằng: 'lak', giống với 'lạc' trong 'thất lạc'.

-  Tiếng Quảng Đông nói 'chết' bằng: [sei] phát âm giống [xẩy], tức 'tử'. Âm rất giống [sei] (tứ) mang nghĩa số 4. Từ đó người Quảng và Hong Kong rất kiêng kị con số 4. 'Mất' (thất lạc) họ gọi [xat]. Để ý, trước khi quốc ngữ thịnh hành, người Việt vẫn phát âm 'thất' bằng [xất] hay [shất] (Xem [2]).

-  Tiếng Khmer của 'Chết' là [slap] và 'mất' (thất lạc, mất mát)= [bat]. Âm [b] là âm tắc (tỏ) của âm mũi  'm'. Cả hai đều là âm môi-môi, có nhiều động tác lưỡi, vòm miệng, môi, rất gần giống nhau.

 

Đặc biệt, chỉ có tiếng Hẹ, tiếng Việt và tiếng Mã Lai, nơi này cách chỗ kia chừng 2 ngàn dặm,  có từ diễn tả 'Chết' bằng một âm giống như 'Mất' hay bà con rất gần với 'Mất':

 

Chết = Mất (Việt) => Mok (Hakka) => Mati (Mã Lai).

 

Như vậy tiếng Hẹ, chúng ta đã phát hiện, có một từ rất ăn sâu vào cấu trúc bên  trong, mang âm vận rất giống với một từ tiếng Việt, và cùng gốc với một từ ở  tiếng Mã Lai:

 

 Mất (Việt)  <=> Mok (Hakka)

 

[Mất] có âm cuối: tắc âm nứu [t] và [Mok] cũng kết thúc bằng một tắc âm [k] vòm mềm.

Người Hẹ cũng giống như người Việt gọi ‘Chết’ bằng ‘Mất’, và 'Mất' cũng có nghĩa 'đánh mất', 'mất mát' hay 'thất lạc'. Trong khi ở tiếng Mã Lai 'Mất mát' họ gọi: 'hilang' hoặc 'kalah'. Tiếng Myanmar và Khmer, tuần tự gọi 'mất mát' [baud'te] và [bat]. Âm đầu [b] rất gần với [m] của [mất], và cả hai đều là âm 2-môi, ký âm khác nhau có thể do ở quốc ngữ.

 

[Mok] tiếng Hẹ, có nơi gọi [Mong], viết theo tiếng Hoa: chính là [wang2] quanthoại, hay [vong] theo quốcngữ. Chiết Giang (Ngô-Việt) đọc [vanz] và Phúc Kiến [bong] [4]. [Vong] quốcngữ cũng mang hai nghĩa: Mất và Chết: 'vong quốc' = mất nước, 'vong mạng'= mất mạng= chết [9]. Nhưng âm [wang] hay [vong] lại khác với [Mất] và [Mok].

 

Tóm lại, 'Mất' trong tiếng Việt mang hai nghĩa: 'Chết' và 'đánh mất'.

Trong tiếng Hẹ, từ có giống âm với [mất] là [Mok] cũng hai nghĩa: 'Chết' và 'đánh mất'.

 

[Mất] và [Mok] là một cặp tối đa của hai từ thuộc hai thứ tiếng khác nhau, mang cùng gốc, có cùng một cấu trúc thật sâu. Và chỉ có [Mok] và [mất] mới giống nhau được toàn diện, trong khi đối với các thứ tiếng khác, [Mất] chỉ giống được một mặt mà thôi.

 

Si mê và Xi nê

 

Trong một bài trước về 'Ảnh hưởng chủng Thái' theo với đẳng thức:

 

Việt (Nam) = Âu (Thái-cổ) + Lạc (Việt-cổ) // Môn Khờ-Me + Nêgritô + Đa Đảo

 

tức người Việt Nam là kết quả hợp chủng và tiến hoá từ 2 chủng chính Âu (Thái-cổ) và Lạc (Việt-cổ), trên nền tảng chính Môn-KhờMe, chúng ta đã nhấn mạnh, âm vận của chủng Thái-cổ tiêu biểu ngày nay bằng tiếng Quảng Đông, tiếng Thái Lan, và tiếng Mường, tất cả đều chỉ có âm 'X' (theo quốc tế: [s]) chứ không có âm 'S' (quốc tế: [sh]).

 

Ảnh hưởng tộc Thái-cổ phản ánh qua tiếng Việt tại những khu vực người Việt (Kinh) có khuynh hướng phát âm 'X' [s] và 'S' [sh] hoàn toàn bằng [X] hoặc lẫn lộn qua lại với nhau. Thí dụ: -  'bổ sung' họ phát âm như 'bổ xung'. -  'Sung sướng' thành 'Xung xướng'.     -  'Si mê' họ nói 'Xi mê'. -  'sâu sắc' như 'xâu xắc', v.v.

 

Bởi người Việt và tiếng Việt có 2 cội nguồn Âu (Thái)+Lạc (Việt) trên nền tảng Môn-Khmer (cũng không có âm 'SH') cho nên âm 'SH' (thí dụ: sâu sắc) len vào tiếng Việt ngày nay, là do ở một số các tộc Lạc (Việt), đặc biệt Hẹ (Hakka) - ở phía Đông nước Tàu. Để ý người Chiết Giang, Giang Tô (tiếng Ngô-Việt) chỉ có âm gần 'S' thôi chứ không hoàn toàn 'S'. Thí dụ: Tên thành phố Thượng Hải, người Chiết Giang & Giang Tô phát âm 'X'an-hei' trong khi quan thoại: SHanghai.  Sau đây chúng ta sẽ xem tiếng Hẹ ảnh hưởng trên tiếng Việt ở âm 'S' (tức 'SH' quốc tế) ra sao, và trong đó có âm nào gần giống tiếng Việt hay không. Từ đó chúng ta sẽ có thêm một thành tố để qui tiếng Hẹ (Hakka) về phía cùng gốc tiếng của dân Lạc bộ Trãi, một gốc nguồn ngôn ngữ của người Việt Nam. 

 

Bảng ghi chú sau tóm tắt âm 'x' [s] và 's' [sh] trong các phương ngữ bà con với tiếng Việt:

 

Việt

Hẹ

Mân (P. K)

Yue (Q. Đ)

Ngô-Việt*

Quan thoại

Ghi-Chú

thiếu (= ít)

shau hay xau

chio

xiu

xao

shao

/sh/ => /Th/

sĩ  (sĩ phu)

xii hay xu

xu

xi

zi

shi

Mân: âm 'Z'

sinh (sống)

xang

chhenN

xaang

xang

sheng

sh: V & QT

thạch (đá)

shak hay xak

chieh

sek / daam

za

shi

daam => đá

xuyên(sông)

chon / tson

chhoan

xyun

ts'uan

chuan

x: Q. Đ.

xấu (sửu)

chiu / tsiu

chhiu

tsau

ts'aw

chou

x (V)= s (H)

xuân (mùa)

chun / tsun

chhun

tcheon

ts'eng

chun

X <= ch

xưởng (cơ)

chong

chhiang

tchong

ts'ang

chang

X => ch

số (con số)

xu / xii

xiau

xou // xok

xu

shu

sh: Q.T.

sắc (màu)

xet / xek

xek

xik

xak

she // xe

sh: Q.T.

song (đôi)

xung / xong

xiang

xoeng

xang

shuang

sh => QT

xã (hội)

xa / sha

xia

xe

zoe

she

sh: Hẹ & QT

xà (rắn)

sha

choa

xe

zoe

she

sh: Hẹ & QT

* Ngô Việt là phương ngữ Chiết Giang-Giang Tô-Thượng Hải nói chung. Địa bàn của nước Việt của Câu Tiễn- Tây Thi và Ngô của Phù Sai - Hạp Lư.

* Mân: phương ngữ của dân Mân Việt tức Phúc Kiến (P.K.), Triều Châu.

* Yue, tức Việt (chủng Âu) gồm hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây.

** Dấu  / có nghĩa: 'hay là'

 

Bảng đối chiếu âm 'X' và 'S' ở trên có thể đưa đến những nhận xét sau:

(a)  Như trong loạt bài 'Từ chữ Nôm đến quốc ngữ', chúng ta thấy phân biệt âm 'X' và 'S' trong tiếng Việt có vẻ bất chợt, chứ chung chung, không theo sát với biến chuyển giữa 'X' và 'S' (tức [SH] theo ký âm quốc tế), giữa các phương ngữ Trung Hoa, nhất là quan thoại.

(b)  Phân biệt 'X' và 'S' trong tiếng Việt, có lẽ do các tôn sư quốc ngữ đặt ra để giải toả bớt cảnh đồng âm dị nghĩa trong tiếng Việt. Thí dụ: 'xướng ca' phân biệt với: 'sung sướng'. 'Xá' (tha tội, qt: [she]) phân biệt 'sá gì', 'sá chi',.... Điển hình, từ 'Hán quốc ngữ' 'sửu' mang nghĩa 'xấu', nhưng thật ra 'sửu' chỉ hợp với âm gần giống [chou] của quan thoại mà thôi. Đối với các phương ngữ khác, 'sửu' phát âm gần 'xửu' hơn.

(c)  Đặc biệt trong số các tộc Yueh (Việt), chỉ có tiếng Hẹ chứa âm [sh], góp phần vào hình thành tiếng Việt (Nôm), mang âm [sh] như 'sâu sắc'. Quảng Đông tuyệt nhiên không có âm [sh] bởi họ có gốc Yueh chi Âu, tức Thái-cổ. Tiếng Thái Lan và Mường cũng không có âm [sh] và chỉ có [x] mà thôi.

(d)  Tiếng Mân (Phúc Kiến) có âm gần gũi [sh] và xa [x] hơn, là [ch] hay [chh] (phiên âm quốc tế /tsh/).

(e)  Tiếng Ngô-Việt (Thượng Hải) chỉ có âm [ts] hay [x] chứ không có âm hoàn toàn [sh].

(f)  Âm 'X' tiếng Việt không nhất thiết biến chuyển thẳng từ âm 'X' của quan thoại hay của Hẹ. Ngược lại, âm 'SH' của quan thoại hay của Hẹ không nhất thiết biến thành âm 'SH' (tức 'S') của tiếng Việt. Thí dụ: Xã hội <= she hui (qt), sha hoi (Hẹ). Xà (rắn) <= she (qt), sha (Hẹ). Thí dụ khác: Sĩ (V) <= SHi (QT) & Xii (Hẹ).

(g) Đặc biệt, từ chỉ 'sông' tiếng Hẹ phát âm như [tson] rất gần với [sông] Việt, và mang cùng gốc với [sungai] tiếng Mã Lai. Một lần nữa [sh] tiếng Việt tương ứng [x] Hẹ và Mã Lai. Quan thoại đọc 'Chuan' nhưng các tôn sư quốc ngữ ký âm là 'Xuyên'. Một chuyện rất ngộ nghĩnh: 'Sông' là một từ Nôm kiểu Hẹ và Mã Lai. Tiếng Hán bắt chước gọi 'chuan' . Các tôn sư quốc ngữ ký âm trở ra thành 'xuyên', và người Việt xưa nay lầm tưởng đó là một từ thuần Hán, và gọi đó từ Hán-Việt của 'sông'. Thật ra 'xuyên' là một phiên âm chạy một cái vòng lớn của 'sông'. Y hệt như 'tửu' cho 'tjiu' hay 'jiu' hay 'rượu' ('jựợu'). 'Jau' hay 'jiu' hoặc 'yiu' cho 'giàu' và 'nhiêu'. 'Sửu', dùng /s/ thay cho /x/, đáng lẽ viết 'xửu' hay 'xẩu', tức 'xấu' (như âm [tsau] quảng đông) - chứ thật ra 'sửu' không phải là từ Hán Việt của 'xấu'. 'Xấu' tự nó là một từ gốc 'Hán', có lẽ Hán Hoa Nam, tức Bách Việt, chứ không phải thuần Nôm. Y hệt với [mất] xuất xứ từ [mok] của Hakka, như bàn phía trên.

(h)  Đặc biệt nhất, so sánh với toàn thể các phương ngữ, tiếng Hẹ mang âm gần giống tiếng Việt nhất trong bảng đối chiếu ở trên: sĩ= xii; sinh= sanh= xang; thạch= shak; xuyên= sông= tson; xuân= tsun; xưởng (hãng)= chong; số= xu; sắc= xek; xấu (sửu)= tsiu//chiu; song= xong; xã= xa; xà= sha. Tổng cộng 12 từ trong số 13 từ. Từ còn lại ('thiếu') có thể nằm luôn vào danh sách đó nếu nhớ lại luật biến chuyển âm vận giữa âm 'au' và 'iu' giữa các phương ngữ tiếng Hoa. Đó là 'thiếu' => 'thau' => shau. Y hệt như: Andy Lau => Liu De Hua (Lau => Liu (Lưu), Liu Đức Hoa); cầu => kiều; Nam Chiếu => Nan-Zhao, như đã trình bày trong bài 3 của loạt bài 'Từ chữ Nôm đến quốc ngữ'.

(i)   So sánh 13 từ này giữa tiếng Việt và Hẹ, và tạm vay mượn ý niệm 'cặp tối thiểu của 1 sinh ngữ' (như: pear (lê) & bear (con gấu), shop (tiệm) & chop (chặt)), chúng tôi mạo muội xếp chúng vào 13 'cặp tối đa giữa 2 ngôn ngữ' Việt và Hẹ. 'Cặp tối đa', như: tson (Hẹ) & sông (Việt), xà (Việt) & Sha (Hẹ), v.v. chính là những cặp từ lấy từ hai thứ tiếng khác nhau, giống nhau tối đa, chỉ trừ chừng một âm, và mang cùng một nghĩa y hệt nhau. Khác biệt chút ít đó có lẽ do ở quá trình hằng ngàn năm cọ xát với các ngôn ngữ chung quanh, tại hai môi trường khác biệt, ở pên Tàu và bên Việt Nam, cũng như do ở sự biến đổi âm vận do ở ký âm dùng a-b-c khi tạo dựng chữ quốc ngữ.

 

Tóm tắt, tiếng Việt mang thêm âm chữ 'S' (tức [SH] quốc tế) do ở hiện diện của người Hakka (Hẹ) tại xứ Việt cổ, có lẽ cùng lúc với chủng Thái-cổ. Tiếng Hẹ trước đó mang ảnh hưởng âm [sh] từ phát âm 'quan thoại' của tộc Hoa sống gần gũi tại lưu vực sông Hoàng Hà. Đóng góp [SH] vào tiếng Việt là đóng góp bổ xung cho âm [X] độc nhất của tộc Thái-cổ. Ngoài đóng góp âm, chúng ta thấy tiếng Hẹ có nhiều từ dễ dàng tạo nên những 'cặp tối đa'  với những từ tương ứng trong tiếng Việt.  

 

Tường và Vách

 

'Tường' và 'vách', một lần nữa, sẽ cho thấy lối kí âm đánh một vòng tròn lớn của thứ tiếng các bậc tiền bối thường gọi: tiếng 'Hán-Việt' [5]. Chung qui cũng do ở thiếu thốn phương tiện kiểm chứng với các phương ngữ tiếng Hán, đặc biệt tiếng Hẹ.

 

Tiếng Hán Việt của 'Vách' là 'Bích', và chúng ta sẽ thấy y như 'nhiêu= giàu', 'tửu= rượu', 'xửu= xấu', 'bích' thật ra chính là lối phát âm gần đúng của 'biách' tức 'vách'. Chứ không phải Hán Việt gì hết.

 

Tiếng Tàu thường có 2 từ khác nhau để chỉ WALL tiếng Anh: qiang (tường), và bi (bích). Thông thường họ gọi chung 2 từ với nhau: 'qiang bi' => tường bích.

 

Người Hải Nam phát âm: 'xio' cho 'qiang' và 'biá' cho 'bi'. Thượng Hải: 'Chiang bei'.

 

Gạt 'tường' sang một bên, chúng ta nhớ người Nam Bộ phát âm 'Vách' như [Byách].

 

Thế ở thời Nôm na, người Việt phát âm 'Vách' ra sao? Từ điển chữ Nôm của Vũ Văn Kính ghi có 3 lối phát âm tùy theo cách viết:

 

- Cách 1: Vay mượn 'Bích', tức [Bi] của Tàu:

- Cách 2: Biến đổi chút ít bằng cách kẹp chữ 'Thổ' ([tu] ) đằng trước 'bích': 土壁  tạo

                thành một từ 'thuần Nôm', gợi lên ý làm bằng đất: nhà tranh vách (byák) đất.

- Cách 3: Giống cách 2, nhưng viết 'Bích' trước rồi kẹp với chữ 'Phí' ([fei] = lệ phí, phí

                tổn), 壁費 có vẻ mang hàm ý cái thứ vách tường thật kiên cố, rất tốn kém.

 

Cả ba cách đánh vần chữ Nôm đều xử dụng âm đầu [B] của âm 'Bích' ([Bí] hay [Bik] tiếng Hán). Như vậy, ở thời chữ Nôm chưa có quốc ngữ, người nước Nam phát âm 'Vách' dựa trên âm 'B': 'Byách'. Y như kiểu người Nam bộ và người Mường [6].

 

Thế tiếng Hẹ của 'Vách' là gì? Họ phát âm  [Byak] (xem: [7] & [8]). Giống kiểu Nam bộ, chứ không giống âm chữ 'V' của quốc ngữ.

 

Tức một số điểm khá ngộ nghĩnh đã được phát hiện:

-  'Vách' xưa nay tưởng thuần Nôm, thật ra là một từ mang gốc chủng Yueh từ hồi còn ở pên Tàu, được các tôn sư quốc ngữ biến thể từ âm nguyên thủy: [biák].

-  'Bích' xưa nay tưởng từ Hán Việt, lại chính là lối phát âm Nôm-Hẹ và Nôm-na nguyên thủy ở thời chưa có quốc ngữ. 'Bí'   có lẽ là một từ chủng Hoa đã vay mượn từ chủng Yueh. Vay từ  [Biak] hay [Bjách] mà các tôn sư quốc ngữ viết lại thành: 'Vách'.

 

Tiếng Hẹ lại chia xẻ cùng với tiếng Việt thêm một cặp tối đa nữa, 'vách & biak', ăn thật sâu vào cấu trúc ngôn ngữ thời xa xưa.

 

Cặp tối đa

 

'Cặp tối đa giữa hai ngôn ngữ' là một ý niệm ngoại suy từ 'cặp tối thiểu của một ngôn ngữ' tạm đề ra để minh giải sự giống nhau như hai giọt nước của một số từ tiếng Hẹ và tiếng Việt. Đặc biệt có nhiều cặp tối đa có cấu trúc ăn thật sâu vào văn hoá của người Hẹ và người Việt như đã trình bày phía trên.

 

Tóm tắt, chúng ta thấy 2 điểm tương phản nhưng lại đồng thuận với giả thuyết ở đây:

 

-  Người Hẹ và tiếng Hẹ có những đặc tính cho biết họ từng sống gần gũi với người Hán tộc, xuất xứ từ miền cực Bắc nước Tàu, nhưng:

-  Người Hẹ và tiếng Hẹ lại có những đặc tính khác cho thấy họ không thuộc Hoa tộc mà lại có bà con rất gần với nhóm Bai Yueh (Bách Việt) ở Hoa Nam xưa, và nhất là với tộc Việt của người Việt Nam.

 

Sau đây chúng ta sẽ sưu tầm thêm những cặp tối đa tiêu biểu giữa tiếng Hẹ và Việt. 

 

Tiếng Việt

Tiếng Hẹ

Ngôn ngữ khác #

GHI CHÚ

bò (ngưu)

ngiu

ngâu (QĐ)

mưa ngâu (Ngưu lang Chức nữ). *

dạ 

za  // ya **

shi

Dạ = vâng. Hẹ có âm [z]

dùng (use)

zung // yung **

yong

Hẹ có âm [z] => [Dz] phát âm Bắc

chiếm

chim

zhan

xâm chiếm

muỗi (con)

mun

wenzi (QT), Muh (Kh), nyaMuk (Mã Lai)

Muỗi (V) gần Hẹ, Khmer, Mã Lai hơn quan thoại.

hưu (nghỉ)

hiu // hieu

hiu (Pk) jau (Qđ) xiu (Qt) 

[hưu] gần Hẹ nhất

gả

ga

jia

dựng vợ gả chồng. Hẹ y hệt Việt

gắp

gap

gap (QĐ)

gắp = dùng đũa gắp đồ ăn. Gần Hẹ.

hả

ha

hor  (QĐ)

what? = hả. Anh đó hả?

kết (thúc)

ged // ked

jie shu

Việt= Hẹ. [g]= [k] // [d]= [t] tắc âm

kiều (cầu)

kiao

qiao

Hẹ có âm [K]. Quan thoại không có.

nghiêm (túc)

ngiam

yian

để ý Hẹ có âm đầu /ng/ và cuối /m/

phổi

fui

fei

Hẹ phát âm [pui]= [fui] cho 'phổi'

phạm (tội)

fam

fan zui

để ý tiếng Hẹ có phụ âm cuối 'm'

quạ (chim quạ)

vu-a

wu ya

[vu-a]=> quạ. Hẹ có âm [V] thay [W]

giếng

jiang

zing (Qđ) jing

Việt = Hẹ > Qđ & Qt

ngông (ngu)

ngong / ngo

ngong / ngoh (QĐ)

Thái cũng giống: [ngo]. Hẹ có [NG]

hùng (dũng)

hiung

iong (Pk) xiong

Hẹ[H] như Việt, tương ứng [X] QT

lạnh

lang

leng

âm [L] Hẹ, không phân biệt âm [N]

Nam (south)

Lam

Nan

Hẹ có âm cuối /M/. QT không có

mong (hy vọng)

mong

xi wang

wang => vọng

buá (phủ)

bu

fu

(hammer). Búa (V) = Bu (H) > QT

gặp (kiến)

kian

hian (Pk) jian

[k] V = [k] Hẹ, âm không hơi thở

sát (giết)

xad