|
Mô hình được dùng để giải mã truyền thuyết Hùng Vương [2] đã dựa
vào một quan sát rất thông thường và thực tiễn: “Hai cây đứng
cạnh bên nhau trong một khu vườn có thể do những chất bổ dưỡng
giống nhau, nhưng phân lượng tức số phần trăm của từng chất một
do rễ cây thu hút từ lòng đất hoàn toàn và luôn luôn khác nhau”.
Giống như tiếng nói của hai hoặc nhiều dân tộc láng giềng, theo
sắp xếp địa lý, có một số từ vựng và cấu trúc giống nhau, và một
phần lớn hơn lại khác nhau. Nhưng rất có thể không có vấn đề vay
mượn, nhất là trong một quá khứ xa xưa. Chỉ có đóng góp khác
nhau của mỗi thành phần sắc tộc đóng góp, tại mỗi quốc gia láng
giềng với nhau. Mô hình này được gọi mô hình theo kiểu
‘Cây-và-Đất’, để phân biệt với thứ mô-hình tạm gọi ‘Cây-và-Cành’
thường xuyên được xử dụng từ trước đến nay, nhất là trong nghiên
cứu ngữ học.
Hệ luận
chính của lý thuyết dựa trên mô hình ‘Cây-và-Đất’ cho rằng tiếng
Việt là một hỗn hợp lâu dài của các thứ tiếng thuộc nhiều tộc
người khác nhau, với hạ tầng cơ bản là Môn-Khmer phối hợp với
Thái-cổ (thành phần chủ lực của tiếng Mường) cộng với khối
Đa-Đảo. Chồng chất và đan xen với lớp hạ tầng cơ bản đó là các
thứ tiếng xuất phát từ khối Bách Việt xưa ở miền Hoa Nam, từ Vân
Nam (Điền Việt) trải qua Quảng Tây, Quảng Đông (Tây và Đông
Việt) cho đến tận Chiết Giang (Ngô-Việt), Phúc Kiến - Triều Châu
(Mân Việt), và Hải Nam, v.v. Và hỗ trợ bằng hai nhóm từ miền cực
Bắc nước Tàu, thời Xuân Thu thường gọi khối Đông Di tập trung ở
khu vực tỉnh Sơn Đông ngày nay. Đó là hai nhóm khi xưa ưa sống
gần gũi nhau: Hẹ (Hakka, tức Hạc Việt) và Miêu-Dao (Miao-Yao hay
Hmong-Mien).
Hệ luận
quan trọng khác chính là thứ tiếng mà người Việt thường gọi
‘tiếng Hán Việt’, không phải do tiền nhân vay mượn từ những quan
quân đô hộ, mà do chính những người Việt cổ thuộc khối Bách Việt
xa xưa (kể luôn cả Hạc Việt và những nhóm tương cận), đem sang
xứ An-Nam hoà trộn với các thứ tiếng Việt bản địa. Gần như tất
cả những âm Hán Việt quen thuộc, kể cả vô số các âm ‘thuần Nôm’,
như ‘chúng ta’, ‘tớ’ {xem [4]}, đều có thể truy về các âm thuộc
khối Bách Việt xa xưa, mà hậu duệ của họ hãy còn xử dụng ở bên
Tàu cho đến ngày nay.
Bài
viết này, do đó, sẽ dùng một số từ được xem đặc thù Quảng Trị,
gần đây xuất hiện trong một bài báo của Trần Hữu Thuần [18],
theo thông tin từ những email của Trần Vĩnh Tường và Nguyễn Quốc
Lập, đăng trên báo mạng Talawas, để tiếp tục đưa ra các dẫn
chứng hỗ trợ cho lí thuyết về nguồn gốc tiếng Việt ở trên.
Xin
được trình bày ‘tầm nguyên’ của từng từ một theo thứ tự bài viết
của Trần Hữu Thuần [18].
•
Áo lá: ‘áo’ là
một từ mang gốc Mon-Khmer [?aav], trong đó [?] {hay [’]} thường
gọi ‘tắc âm màng họng’, phát lên giữa [uh] và [oh] khi đọc nhanh
[uh-oh]. Tiếng Đa Đảo ở Tahiti gọi ‘áo’ là [?ahu’o’omo] và
Samoa: [?ofutino], mang âm đầu rất giống ‘áo’. ‘Lá’ là một từ
mang gốc Thái [laa] mang nghĩa ‘nhỏ’. Ngày trước, thứ áo lót
‘mai-dô’ cũng được gọi nôm na: ‘áo thun lá’.
•
Bạo: ‘Bão’ biến
chuyển qua lại với ‘Bạo’, cho thấy sự ma-xát giữa các phần-ngữ
khác nhau trên vùng đất Việt. Tiếng Việt ở hạ tầng cơ bản, theo
lý thuyết ‘Cây-và-Đất’ [1] [2], chính là tiếng Môn-Khmer pha lẫn
với tiếng Thái-cổ và Đa Đảo. Một số
các ngôn-ngữ liên-quan đến tiếng Môn, như tiếng Chàm ‘chính
thức’, tiếng Myanmar, mang 4 thanh điệu (thinh). Tiếng Mon-Khmer
cũng như Munda, đặc biệt nhất là Khmer, không có thinh (nhưng có
nhấn mạnh như tiếng Anh), hiện còn phản ánh qua tiếng Hải Nam,
tiếng Mã Lai, các tiếng Đa Đảo, v.v. Trong khi các thứ tiếng
Thái, Tày-Nùng, Mường, Nam bộ, chỉ mang 5 thinh. Biến chuyển qua
lại giữa thinh-ngã (Bão) và thinh-nặng
(Bạo), cả hai đều thuộc thinh-trầm, cũng là tiêu biểu của tiếng
Mường, bởi tiếng Mường (Hoà Bình) không có thinh-dấu-nặng: mũ
khà => mụ già (V). ngẽn ngùi => nghẹn ngùi
(ngào) (V). pũi => bụi (V).
•
B’lăng = cùng
gốc với tiếng Mã Lai (phần đóng góp: hệ Môn-Khmer): ‘Bulan’.
Tiếng Giarai: ‘Blăng’. Tiếng Mường ngày nay: ‘Tlăng’. Từ điển
Alexandre de Rhodes [3] ghi hai âm ‘Trăng’ và ‘Trời’, tuần tự,
là [Blăng] và [Blời], trong khi ‘Tròn’ (round) lại giống Mường:
[Tlòn]. Khác với các lý giải có sẵn từ
trước đến nay, chúng tôi không cho rằng tiếng Việt biến chuyển
từ ‘Blăng’ qua ‘Tlăng’ rồi đến ‘Trăng’, mà thật ra đó là ba kiểu
phát âm có sẵn thuộc ít nhất ba phương ngữ khác nhau trong lòng
tiếng Việt cổ. Phát triển quốc-ngữ chính là tác động thống nhất
chọn lọc ra ‘Trăng’, khởi sự khoảng đầu thế kỷ 19.
•
B’lời = Cũng
như ‘Blăng’, ký âm theo Nôm của chữ
‘Trời’ thường bao gồm âm [B] qua chữ ‘Ba’
巴,
cho thấy âm ‘nôm-na’ của người khu vực Kẻ Chợ (Kinh) [5] dành
cho chữ ‘Trời’ chính là [Blời]. Một trong những lối viết ‘ráp
vần’ Nôm của ‘Trời’ là chồng chữ巴
‘Ba’ trên chữ利
‘Lợi’ [6] => Blợi => Blời.
•
Bọ = Cha, hay
Tía, đều có những từ phát âm tương tự trong các phương ngữ tiếng
Hoa, hoặc tiếng Thái: [Po], [Cha] và [Tía]. [Bọ] cũng liên hệ
đến [Bố] và [Bu]. Riêng [Bu] cũng chuyển qua lại để chỉ người
‘Mẹ’, hoặc người Vợ. Đặc biệt âm [P] (trong [Po] hay ‘Bọ’) trong
nhiều thứ tiếng ở Hoa Nam và Đông Nam Á, thật ra là một thứ âm
nằm giữa âm [P] và [B] theo mẫu tự La-tinh. Ký âm quốc-ngữ đã
chọn ‘B’ cho một số từ, thí dụ: Po (M) => Bọ (V); Pà đỡ té (M)
=> Bà đỡ đẻ (V), Pẻnh mỳ (M) => Bánh mì (V). Và âm ‘P’ không
được theo sau ngay một nguyên âm (‘pên Tàu’ => ‘pên’ Tàu
=> bên Tàu), mà phải kèm theo âm hơi thở ‘h’: Phấy (M) => Phẩy
(dấu [,]); Phế thái => phế thải (V). Tức các tôn sư quốc ngữ đã
đặt ra quy lệ, không dùng âm ‘P’ với một nguyên âm theo sau:
Pung => Pung => Bụng.
•
Ca = Gà, một
thứ từ có nhiều phát âm rất giống với từ tương đương ở các
phương ngữ Hoa Nam, nhất là Hakka và Hải Nam [Gai]. Thái cũng
phát âm tương tự: [Gai] hay [Gaa]. Quảng Đông phát âm như [Cáy],
rất giống tiếng Mường: [Ca].
•
Cẳng = Chân.
Thêm một từ nữa: ‘Giò’. ‘Chân’ mang cùng gốc với [jəəng]
hay [dzâng], [ajưng] hoặc [chơn] của các phương ngữ thuộc
Mon-Khmer, Munda [8] hay Mường. [Cẳng] bà con với [Ka] tiếng
Hakka (Hẹ), [Ka-tui] Phúc Kiến, [taKay] tiếng Chăm, hoặc [Kaki]
tiếng Mã Lay, và giống nhất với [Kahng] tiếng Tây Tạng. Trong
khi ‘Giò’ có thể cùng gốc gác với [zeoi] tiếng Quảng Đông,
[giok] Hẹ (Hakka), hay [chiok] Phúc Kiến (Minnan) [9].
•
Cấu = Gạo:
Gần như tất cả các từ liên hệ đến ‘lúa gạo’ đều mang gốc chủng
Việt (chi Thái tức Âu), nếu viết tiếng Tàu, viết theo bộ Mễ (xem
[2]). ‘Cấu’ (cũng có thể: ‘Cẩu’) có bà con gần với [Cảo] tiếng
Mường, [Khẩu] tiếng Tày-Nùng, và [Khao] hay [Gaow] tiếng Thái.
Để ý biến chuyển ‘song hành’ giữa tiếng Thái và Việt: ‘Cơm’
[Gaow] mang một lượt hai nghĩa: Cơm (gạo) {cảo chăm: gạo tẻ},
và Bữa ăn {Anh ăn cơm chưa?}.
•
Cẩy = Vợ. Chữ
‘Vợ’ có thể mang hai gốc khác nhau tùy theo địa phương. Phát âm
theo phía Nam [Byợ] rất gần với các âm bắt đầu bằng [B] như [Bu]
hay [Bọ]. Phát âm theo kiểu ‘V’ của Hakka thì gần sát với [vo]
tiếng Hakka mang nghĩa ‘người hầu thiếp’, hay [vuk] (cũng
Hakka), tương đương với [wu] quan-thoại mang nghĩa ‘nhà’ (ốc)
hay ‘thất’ {thành gia thất, chánh thất (vợ cả)}. ‘Cẩy’
[11] trong khi đó có âm tương ứng trong tiếng Mường là [Cải] hay
[Cảy], mang nghĩa ‘Mẹ’ hay ‘Vợ’: Cải con= vợ con, cảy quả= mẹ
goá, cảy té= mẹ đẻ.
•
Cẩy = Cái //
con Gái. Âm cuối [y] trong [Cẩy] mang ảnh hưởng khối
Mon-Khmer. Tiếng Việt trong trường hợp này đã chọn [i], thành ra
[Cái]. Trong tiếng Mường, [Cẩy] {cải / cảy} có thể mang nghĩa
‘cái / con’ (cải pẻnh, cái đốc => cái bánh, cái đò; cảy cả =>
con cá; cảy ca => con gà), và cũng đồng thời có thể dùng để chỉ:
mẹ, vợ, con gái, chị, người đàn bà. Thí dụ: cảy ho = mẹ tôi; con
cải = con gái; cải cá = chị cả; cái khà = gái già; cải khon =
gái tân; cải roch = chị ruột).
•
Chạc giợ = dây chỉ / dây nhợ.
Âm đầu [Ch] tiếng Mường thường khi tương đương với âm [gi] hay
[d] {[y]} phát âm theo phía Bắc hay Hakka là {[dz]}. Thí dụ:
chiểng (M) => giếng (V); chiềng (M) => giường (V). Trong khi đó,
âm [y] của chủng Thái-cổ hay đa số các phương ngữ tiếng Tàu kể
cả Quan-thoại, rất thường tương đương với âm Việt [Nh]. Thí dụ:
[ya] => ‘Nha’ (răng –> nha sĩ) [10]. Ở thế kỷ 17, những khu vực
Alexandre de Rhodes đi qua và tiếp cận trước khi soạn quyển từ
điển tiếng An-nam đầu tiên [3] là những vùng không mang ảnh
hưởng Hakka, tức dùng âm [D] như [Y] kiểu Nam bộ, qua dấu ấn [d]
=> [nh] {xem [3]}: dè dẹ=> nhè nhẹ, dán => nhắn, dả ra => nhả
ra; dắc cha mẹ => nhắc cha mẹ; dịn => nhịn (dung thứ [3]). Khi
quốc ngữ được xử dụng mãnh liệt vào giữa thế kỷ 19 ở Nam bộ, âm
[D] đứng ra thay thế cho cả hai thứ [Y] quan-thoại và [Z] Hakka.
Từ đó âm [Nh] xuất thân từ [D] trở lại biến chuyển với [Z] tức
[Dz] hay [Gi]. Từ điển Mường [7] có ghi: Chac nhỡ =>dây
chỉ {chạc nhợ}=>giây nhợ=> chạc giợ. Để ý, trong tiếng
Mường (Hoà Bình), không có dấu nặng [7]: Chac => chạc (V).
•
Chắc = nhau.
Không chắc chắn như vậy. Bởi ‘chắc’ là một từ mang gốc Mon-Khmer
và Mường mang nghĩa: thân mình, con người, thân thể, v.v. Trong
lối dùng ‘đập chắc’, ta có thể thay thế nó bằng ‘đánh nhau’,
nhưng [chắc] chắc không nhất thiết mang nghĩa gốc là ‘nhau’.
‘Đập chắc’ là một lối nói của một số phương ngữ Trung bộ, tương
đương với ‘đánh nhau’ phía Bắc, hoặc ‘quýnh lộn’ phía Nam [12].
Tiếng Mường: chắc = người (V), chắc cá = người lớn, chắc khà =
người già. Tiếng Mon-Khmer: [tsa?ak] hay [sa?ak] = thân mình.
•
Chi = gì / sao.
Rất phổ quát tại nhiều nơi. Tiếng Mường: cải chi =>
cái gì.
•
Chiếng = giếng.
Âm [ch] tiếng Mường, nhiều khi tương đương với [g] tiếng Việt.
Khảng Chiêng => tháng Giêng. Chiềng bễnh => giường bệnh. Chiểng
= giếng. Chú ý: hai âm bổng [ẻ] (dấu hỏi) và [é] (dấu sắc), ưa
biến chuyển qua lại trong tiếng Mường, một thứ tiếng không có kí
âm theo a-b-c cho mãi đến sau này.
•
Choọc = Thọc.
Tiếng Việt trước khi quốc ngữ ra đời đại khái có những ‘pha ngữ’
lộn xộn như kiểu ‘Choọc <=> Thọc’. ‘Choọc’ là âm đứng giữa
‘chọc’ và ‘chọt’, tức nhấn mạnh việc không phân biệt âm cuối [c]
hay [t], như kiểu Nam bộ. ‘Thọc’ và ‘chọc’ lúc đầu có thể chia
sẻ một số ý nghĩa chung, nhưng dần dà tách ra hai cách dùng khác
nhau. Điển hình: chọc = tease (trêu chọc / chọc ghẹo); thọc =
poke (thọc gậy). Tiếng Mường cũng có ‘chọc’, nhưng không có dấu
nặng: [choc]. Việc nhầm lẫn ‘chọc’ với ‘thọc’ có lẽ bắt nguồn từ
hai cách phát âm khác nhau của cùng 1 từ Bách Việt:
戳
[tsok] (~ choc) theo kiểu Hẹ / Quảng Đông, và [tshokk] (~ thoc)
theo Ngô Việt (Chiết Giang) [9].
•
Chộ = thấy. Rất
có khả năng mang cùng gốc với các từ Thái: [chohm], [jaawng].
Hay [sioki] tiếng Tonga, hoặc [ýô?k] tiếng Chăm. Đặc biệt ‘Chộ’
mang phát âm rất gần với Hạc Việt (tức Hẹ hay Hakka) [chuk] hay
[chon], Mân Việt (Phúc Kiến) [chhu], Ngô Việt [tshO], và Hán-Hàn
[chok] - viết theo Hán tự:
矚
và穿.
•
Chồông = chồng
(chất). Cũng có bà con với tiếng Tàu. Hakka đọc [zong] viết khác
với quanthoại [chong]-2. Việc thiếu phân biệt âm cuối [an] và
[ang] cũng được phản ánh qua khá nhiều phương ngữ Trung Hoa. Thí
dụ: Lý An (đạo diễn) => Ang Lee. Lý QuanG Diệu => Lee Kwan Yew.
Tinh (sao) => sing (Q. Đ) => chheN (Mân Việt – Phúc Kiến). Thí
dụ thêm về thiếu phân biệt âm cuối [c] và [t] ở tiếng Mường:
Roch (M) => ruột. Wớch (M) => vớt. Có vẻ việc du nhập phân biệt
các âm cuối [t] và [c], [n] và [ng] trong tiếng Việt, khởi xuất
từ phương ngữ Mân Việt của khối người hậu thuẫn, hay thuộc thị
tộc, nhà Trần.
•
Chờng = giường.
‘Chờng’
ó
‘chiềng’. ‘Ờ’ hay ‘Iề’ đều là những kí âm ‘gần đúng’ của quốc
ngữ, đối với hằng trăm phát âm khác nhau tùy từng làng hay mường
bản của thời ‘tiền-quốc-ngữ’. Chiềng bễnh => giường bệnh.
•
Chu = châu.
Đây là một trong những phát hiện đặc biệt của loạt bài Hùng
Vương [2]. Ngày trước chúng ta thường nhầm rằng ‘Chu => Châu’ do
ở việc kị húy Chúa Nguyễn Phúc Chu. Sự thật không phải vậy. Nó
nằm trong định luật về âm tương đương giữa các phương ngữ Bách
Việt (xưa) ở Hoa Nam, [Iu]
ó
[Âu]: ‘Nếu một phương ngữ có phát âm [au] hay [ou] cho một
từ, thế nào cũng có một phương ngữ khác phát âm cho cùng từ đó
theo âm [iu]’. Thí dụ: tài tử Andy Lau (‘Lau’ đọc theo
Hongkong) theo tiếng quan thoại sẽ là Andy Liu {Lau Tak Wa = Liu
De Hua = Lưu Đức Hoa}. Âm [ưu] quốc ngữ chính là một thứ âm ‘du
di’ nằm giữa [au] và [iu] {[Lưu] giữa [Lau] và [Liu]}. Người Hẹ
thiên về [iu]: Đông Châu [dong zhou] họ sẽ đọc như [Dong Chiu].
Lâu ngày sẽ ra khuynh hướng dẹp bớt âm [i] ở giữa, thành ra
[Dong Zhu] => Đông Chu. Muà Thu tiếng Tàu đọc [qiu]. Nhưng Quảng
Đông đọc [tsau]. Hakka sẽ thu gọn [qiu] thành ra [qu] => Thu.
Tuy nhiên hai họ [Zhou] (Châu)
周và
[Zhu] (Chu)
朱
là hai họ hoàn toàn khác nhau trong tiếng Tàu: Chu Nguyên Chương
/ Chu Dung Cơ – mang họ khác với - Châu Ân Lai / Châu Nhuận Phát
/ Châu Chỉ Nhược. Tiếng Việt không phân biệt khác nhau giữa hai
họ, và thường lầm tưởng khác nhau giữa phát âm Bắc và Nam. Người
Rapanui và Maori gọi gió hiu-hiu (breeze) là [hauhau].
‘Hiu-hiu’
ó
‘hauhau’ cho thấy tổ tiên của họ, rất có khả năng, đã từng có
mặt ở Việt Nam và Nam Trung Hoa.
•
Cộ = củ
(khoai). Lại một hoán chuyển giữa các thinh (dấu). Từ điển Mường
[7] ghi: cố = củ: Nhúc ca mà kho pỡi cố cỏng điênh ăn lắm /
Thịt gà mà kho với củ gừng thì ngon lắm. Cổ = cố, cụ: Pà
cổ tôi ta hảo ản môch tlăm thuối / Bà cố tôi gần được một trăm
tuổi rồi.
•
Côi = trên.
Tiếng Mường: cổi = trên. Cổi tlời = trên trời, cõi trời; cổi nủi
= trên núi. Có thể cùng gốc với Phúc Kiến [kaoiN] nghĩa ‘cao /
phía trên’.
•
Cơn = con + cái.
Trước hết, ‘cơn’ => [con] chỉ là một lối kí âm thống nhất của
quốc ngữ: [con]. Nhưng theo định luật thông thường của ‘mạo từ’
[12], ‘con’ thường dính với các từ mang tính ‘động-đậy’: con
sông, con chó, con gà, con gái, con chim, … và ‘cái’ thường đi
với những từ mang tính ‘bất động’: cái bàn, cái ghế, cái hồ, cái
đồn, …. ‘Cái’ cũng thường dùng cho những gì trừu tượng: cái lời
khuyên, cái tinh thần chậm tiến. Thế nhưng, có một số ngoại lệ
có thể giải thích được, một số khác lại không. Thí dụ: mặt trời
thường mang ‘giống bất động’: cái mặt trời hôm nay sao nóng thế,
cái ông trời thật bất công (giống như: cái thằng cha đó dê
thật); nhưng mặt trăng lại dùng với ‘con’ (động đậy): Đầu con
trăng = đầu tháng {xem [14]}; Con trăng nay đã tròn (giống như:
con mẹ đó lém lắm, con {cơn} nước ròng). Mặt trăng mang giống
‘động đậy’ {‘Con’} [14], có thể giải thích bằng: (a) trăng có
dấu chuyển động, khi khuyết khi tròn; (b) trăng liên hệ đến
chuyển động thủy triều lên xuống; (c) có thể những nhà thiên
văn cổ thời đã biết mặt trăng vận chuyển quanh trái đất trong
một tháng. Phân loại ‘cái’ cho ‘trời’ và ‘con’ cho ‘trăng’ hoàn
toàn phù hợp với phân loại của tộc Mon-Khmer, chứ không như kiểu
người dân tộc Anishinaabemowin (da đỏ) ở Canada [15]. Thế tại
sao tiếng Việt lại dùng ‘con dao’ và ‘cái rựa’? Muốn tìm lí giải
hợp lý cho câu hỏi này có lẽ ta phải dựa vào ‘luật trung bình’
của toán học. Theo đó những bộ phận cơ thể có phát ra chất lỏng,
chất khí (hơi thở) {như lỗ mũi} [15] - hay theo bình quân tương
đối có ‘động đậy’ (như bộ phận sinh dục đàn ông) – sẽ mang
giống ‘động đậy’ (tạm gọi: giống ‘chổng’), những bộ phận khác sẽ
theo giống ‘bất động’. Ngoài ra ‘con dao’ phần lớn cấu tạo do
kim loại, lấy từ các quặng mỏ, một thứ ‘đá’ mang cùng giống
‘chổng’ như ‘trăng’ {theo hệ Mon-Khmer} => Con => Con dao. Trái
lại, mặc dù ưa đứng chung với ‘Đực’ {đực rựa – xem [16]}, ‘rựa’
phải dùng ‘mạo từ bất động’ là ‘Cái’, bởi chứa phần lớn là gỗ, ở
cái cán dài, ít ra trong kiểu dáng ban đầu xa xưa. ‘Gỗ’ (giống
như ‘cây’) mang giống ‘cái’, bất động. Giống như ta nói ‘cái
cuốc’ bởi cuốc cũng có cái cán bằng gỗ thật dài. Thật ra điểm
cần nhấn mạnh ở đây không phải ở chuyện ‘cái / con’ nhưng ở chỗ
trong tiếng Mường phân biệt mạo từ ‘cái’ và ‘con’ thường bị nhầm
lẫn (lộn xộn) hơn tiếng Việt rất nhiều. Thí dụ: cảy = cái => cảy
tlời (trời), cảy tlăng (trăng), cảy khảng (tháng), cảy khảng
(trăng), cảy ca (gà),…. Con = con => con
ca (gà), con ngươi (ngươi), con thay (ngón tay), con ma Chỡ (ma
người Kinh), con ta (cây đa),… Theo thiển ý, điểm lộn xộn này
trong tiếng Mường đã cho thấy phân loại giống trong mạo từ ‘con
/ cái’ không xuất phát từ tộc Thái cổ (tộc Âu-Việt ảnh hưởng chủ
lực đến người Mường), mà chính ra khởi nguồn từ tộc Việt-cổ khác
cũng thuộc bản địa: Môn-Khmer. Người
(Kinh) Việt xử dụng ‘cái / con’ nhuần nhuyễn hơn, và theo sát
tộc Việt bản địa: Mon-Khmer.
•
Cụ = Cậu. Tiếng
Mường: Cũ = Cậu. Củ = (con) Gấu. Âm [u]
=> [âu] (V).
•
Cươi = Sân. Trước hết
‘sân’ là một từ mang gốc Mân Việt (Phúc Kiến): [tsing]. ‘Cươi’
là một thứ từ hiếm có trong những từ điển phương ngữ xa xưa, bởi
thời đó, nhà cửa cố định còn không có (đối với đa số), thì nói
gì đến sân. Chúng ta chỉ có thể tìm ra những từ có phát âm gần
đúng – và loại bớt ảnh hưởng của kí âm quốc ngữ. [Cươi] có thể
mang nghĩa ‘cái nền đất’ => ‘cơ’ (xem từ điển Huình Tịnh Của
[14]). [Cươi] cũng mang âm gần với ‘Cơi’ mang nghĩa ‘đất cao’
[14]. Hoặc khoảng đất gần ‘Cửa’ hàng rào trước ‘nhà’. ‘Cươi’ do
đó có thể mang liên hệ ‘ví phỏng’ với ‘Cửa’ (xem [1] [4]). Gần
âm với [ngoue] tiếng Tonga (Đa đảo) mang nghĩa ‘vườn’, hay
[kelekele] Tonga, và [qele] Fiji, nghĩa ‘đất’, ‘khoảng đất’. Gần
với từ đầu [qab] (đọc [cá]) trong [qab tsib taug] tiếng Hmong
chỉ ‘sân’. Cũng gần với [kArug] tiếng Sora (Munda) chỉ ‘sân
sau’.
•
Du = Dâu (vợ con
trai). Tiếng Mường, Du = Dâu. Du mỏi = dâu mới cưới. Cho thấy
biến chuyển kiểu ‘Chu / Châu’, ‘Tlu / Tlâu (Trâu)’.
•
Dzầu = *[THầu] = dầu
(oil). *[THầu] với [Th] mang âm giống IPA
[ð] cho
mạo từ ‘The’ {[ðə]}
tiếng Anh. Đây có lẽ là vấn đề gút mắt nhất cho âm chữ [D]. Âm
chữ [D] cũng như rất nhiều âm khác, như chữ [V], được quốc ngữ
đưa ra để thay thế một số các âm gần giống thay đổi theo từng
‘phần-ngữ’ đóng góp tạo nên tiếng Việt và cũng để nhất thống
chuyện có nhiều âm vận địa phương khác nhau. Âm quốc ngữ chữ
[D], theo thiển ý đã được đề ra thay thế một loạt các thứ âm sau
đây:
-
Âm [Y] theo
kiểu quan-thoại và rất nhiều phương ngữ Hoa Nam: Yang Gui Fei =>
Dương Quý Phi (phát âm theo kiểu Nam). Trong trường hợp này, khi
chuyển sang kí âm quốc ngữ, [Y] thỉnh thoảng cũng được viết theo
âm [Nh]: [Ya] => Nha (răng). Dức đầu => Nhức đầu. Thời từ điển
Alexandre de Rhodes [3] có vẻ quốc-ngữ chưa phân biệt âm [Y] với
[Nh]: dè dẹ= nhè nhẹ; dịn = nhịn (dung thứ [3]); yà = nhà; dả
ra= nhả ra; dắc cha mẹ= nhắc cha mẹ; dán= nhắn, dúc= túc, ...
-
Âm [Z] của một số ‘chi-phương-ngữ’ tiếng Hẹ
(Hakka, xin tạm gọi nhóm Hạc Việt): Zang Kwui Fi => Dzương Quí
Phi (rất giống phát âm Hạc Việt). Trong trường hợp này, [D] cũng
đôi khi biến chuyển qua lại với [Gi]: dòng sông => giòng sông.
Tiếng Mường: dói => giỏi. Cô dảo => cô
giáo.
-
Âm [Đ] như
còn dấu vết trong các thứ tiếng Mường, Tày Nùng, và thường hoán
chuyển qua lại với [D]: Đĩa = dĩa (V). Đây = dây (M), giây. Dặng
= đứng (T-N). Đảng mõl = dáng người (M). Đãy páo = dạy bảo (M).
Từ điển Alexandre de Rhodes cũng cho thấy dấu vết trong tiếng
Việt: kín dáo = kín đáo; dắp = đắp (chăn); dạp = đạp (voi đạp);
voi đú = voi dữ - tức [Đ
ó
D].
-
Âm [T] như
trong tiếng Mường: Ta non = da non (M). Con Tê = con dê (M). Tĩa
= dĩa = đĩa (M). Tiếng Tày-Nùng: tạy = dạy (học). Rất thường,
[T] biến chuyển qua lại với [Đ], bởi cả hai đều thuộc loại ‘tắc
âm nứu’ theo kiểu: Teng Hsiao Ping => Deng Xiao Ping: Đặng Tiểu
Bình. Mao Tse Tung => Mao Ze Dong: Mao Trạch Đông. Lối dùng [T]
là theo phiên âm Wade-Giles, kiểu [Đ] theo pin-yin. Thí dụ khác:
Hu Jin Tao => Hồ Cẩm Đào (chủ tịch) => {[T] => [Đ]}.
-
Thật ra loại bỏ ảnh hưởng kí âm a-b-c, âm đó nằm
đâu đó ở giữa [T] và [D]-Tây {tức [Đ]}, theo kí âm cho tiếng
Mường: nồi tất = nồi đất; Bừa tẩm bừa tả = vừa đấm vừa đá; tâm
rồ = đâm khùng; tầl = đuổi; tèn tó = đèn đỏ. Âm [T] hay [D]-Tây
cũng có thể kèm theo [j] như tiếng Miến Điện: [Tj] hay [Dj], cả
hai đều có thể tiệm cận với âm quen thuộc [Dz]: con Tjê => con
Dê. Miến Điện: [Tje] = tinh-tú (sao). Mường: [tyểnh ni]= đến
đây. Myanmar: [Tja] => giá (cả) => Dả
(Mường).
-
Một khi chữ
‘D’ được dùng để kí âm bao-thầu cho một loạt các âm liệt kê ở
trên, [D] trong ‘Dầu’ (oil) có thể tiến sát với âm [đhờ] {tức
[ðə]} như trong từ Anh ngữ:
‘the’ hay ‘then’, giống như âm [dh] trong tiếng Myanmar [17]
[22]: [dhadì-nè] = carefully, cẩn thận. Dầu = *[THầu]=
[ðầu].
Bởi âm [Dh] {tức
IPA [ð]} (trong ‘The’) là thứ
‘sát âm răng’ khá gần với ‘tắc âm nướu’, như [Đ] và [T].
-
Ghi chú
thêm: Ngay trong đánh vần chữ Nôm, ta cũng thấy biến chuyển qua
lại giữa các âm [T], [D] và [Đ]. Thí dụ: Da = Bì+Đa (D => Đ);
Dãi = Tâm+Trãi {D => T} (dãi nắng dầm mưa) [21].
•
Đao = dao. Xin
xem ‘Dầu’ phía trên, và để ý âm tiếng Quan Thoại: [dao] (đao),
tương ứng với Hạc Việt (Hẹ / Hakka): [tau], [D] <=> [T].
•
Đàng = đường.
Không hẳn là một thứ âm đặc thù Quảng Trị. Mường gọi [tàng]
(tàng tất = đường đất). ‘Đàng’ hay ‘đường’ có cùng gốc với từ
Quảng Đông [dung]衕,
mang nghĩa ‘ngõ đi’. ‘Đường sá’ đàng hoàng người Hoa gọi ‘đạo’
道,
người Thái và một lô các tiếng gốc Mon-Khmer (kể cả Chăm) và Đa
đảo thường thiên về các âm vị mang âm [sá] (trong ‘đường sá’):
[saawk] (Thái), [zalan], [kh(r)a] (Mon-Khmer) [8] [19], [salan]
(Chăm, Đa đảo) [8] [20]. ‘Đàng’ và ‘đường’ biến chuyển qua lại
với nhau, nằm trong một quy luật giữa các phương ngữ Hoa-Nam:
[a] <=> [eu] hay [ươ] Việt. Thí dụ: [Yang] quanthoại => [Yeung]
QuảngĐông => [Dương] Việt. [Liang] => [leung] => [lượng] /
[lạng].
•
Đặng = được.
Xuất phát từ tiếng Tàu. ‘Đặng’ và ‘được’ là lối đọc tiếng Việt
(Bách Việt) của hai từ Hoa khác nhau:
打
[deng] Quanthoại {đặng}, và
得
[tiet] Hẹ, [dak] QĐ {đạt}, và [tâ?] Ngô-Việt (tức
Chiết-Giang/Thượng Hải).
•
Đụa = đũa. Biến
chuyển dấu ngã sang nặng rất thường xảy ra giữa tiếng Mường và
Việt, một phần tiếng Mường (Hoà Bình) không có dấu nặng. Phần
khác, trước thời quốc-ngữ phát triển, các thinh thường biến
chuyển theo làng xóm, và địa phương. Thí dụ them: Lộ = Lỗ (mũi).
Thường thường, xin nhấn mạnh ‘thường thường’, thinh trầm theo
trầm (ngã ~ biến qua lại với ‘nặng’ hay ‘huyền’), bổng theo
bổng. Từ điển Alexandre de Rhodes như trích dẫn nhiều nơi ở trên
cho thấy biến chuyển có vẻ lộn xộn hơn.
•
Eng = Anh.
Tiếng Mường: Enh = anh. Tiếng Hàn (Korean) tương đương với
‘huynh’ chính là [hyEng], đọc nhanh có thể rất giống [Eng].
•
An = Ăn. Giống
tiếng Thavung thuộc khối Mon-Khmer: [?an]. Tiếng Nam-Mân-Việt
(Minnan – Phúc Kiến) phát âm cho từ ‘dùng’ (ăn) là [Eng].
•
Giôông = chồng.
‘Chồng’ mang phát âm giống tiếng Hạc-Việt [chong] tương đương
với [trượng] trong ‘trượng phu’. Âm [Gi] trong [Giồông] tương
đương ‘qua lại’ với [Ch] là một đặc điểm tiếng Mường {xem
‘Giường / chờng’ phía trên}.
•
Giôông = giông.
Không ngoài việc cho biết lối phát âm phân biệt âm cuối [n] và
[ng] chỉ là đặc điểm một phương ngữ chủ lực vùng kẻ Chợ của
tiếng Việt. Rất có thể mang ảnh hưởng tiếng Mân Việt (nhà Trần).
Tương tự: Hoọc = Học // Khôông = Không.
•
Hè = nhỉ. Không
là một ngoại lệ đặc biệt. Từ đệm cuối câu thường thay đổi giữa
các phương ngữ với nhau. Hè = hỉ = nhé = nhỉ = hả = chớ = chi =
à = v.v. Tiếng Hoa có thể có trên 30 từ đệm khác nhau.
•
Lả = Lửa. Tiếng
Mường (Hoà Bình) cho ‘lửa’ là ‘cúi’. ‘Ví phỏng trường’ [1] của
‘cúi’ (lửa) hoán chuyển sinh ra ‘cúi’ mang nghĩa ‘củi’ (cây dùng
để đốt lửa). Một ‘chi phương ngữ’ Mường khác có thể phát âm
‘lửa’ như ‘lá’ hay ‘lả’, bởi các dấu ấn của âm tương đương [a]
<=> [ưa] như sau: [Khã] (M) => ‘Sữa’ (milk) (V). Tha thỉa (M) =>
Rưa rứa. Rạ = Rựa {xem [18]}. Do đó, âm [A] (M) => [Ưa] (V) ==>
Lả = lửa. {‘Lả’ => Lửa, mang ảnh hưởng tiếng Mường}.
•
Lịp = nón lá.
Có ghi đầy đủ trong tự điển Huình Tịnh Của [14]: nón. Tiếng Hạc
Việt (Hẹ) phát âm y hệt [lip] cho chữ
笠,
tượng hình chữ ‘Trúc / tre’ (chỉ lá tre) viết chồng lên âm
‘lập’. Phát âm theo kiểu Quảng Đông của ‘lịp’ là [lap].
•
Ló = lúa. Tiếng
Mường: Lõ = lúa. Lõ cảo = lúa gạo; lõ đếp = lúa nếp. Giữa Mường
và Kinh, âm dấu sắc ưa biến chuyển qua lại với dấu hỏi. Nhưng
trường hợp này cho thấy phân loại ‘hỏi / ngã’ trong tiếng Việt
có vẻ rất nhân tạo. Thí dụ khác: chũng thôi (M) = chúng tôi; so
với: chủng enh (M) = các anh.
•
Lọi = gãy
(chân). Cũng là kiểu nói nhiều nơi khác. Tiếng Mường: lé= gẫy;
lé chân= gẫy chân. Đây là một thứ âm sinh ra theo kiểu ‘cận vị’
– ‘lẻ (lé)’ và ‘loi’ ưa đứng gần - bởi tiếng Mường cũng như Việt
đều có: lé loi (M) = lẻ loi (đơn chiếc) (V). Như vậy sẽ không có
gì vượt đến ngoại lệ, khi ‘lé loi’ mang nghĩa ‘cô đơn’, ‘đơn
chiếc’, trong tiếng Mường cũng sẽ mang nghĩa ‘gẫy’ (tay / chân)
{lé // lọi}. Bởi tiếng Mường Hoà Bình không có dấu nặng cho nên
tiếng (Kinh) Việt có thể sẽ biến ‘loi’ thành ‘lọi’ để phân biệt
với ‘lẻ loi’, mặc dù cả hai trong tiếng Mường đều là [lé loi].
Âm giống nhất trực tiếp là [Lov] trong tiếng Hmong, với [v] chỉ
thinh vừa vừa rồi cất lên, giống kiểu thinh ‘hỏi’ hay ‘ngã’,
mang nghĩa ‘bẻ / gẫy’. Một từ ‘Nôm’ khác khá gần ‘Lọi’ chính là
‘lìa’ 裂
có phát âm quan-thoại [lie] và Nam Mân-Việt là [liat]. ‘Lìa’ ưa
‘cận vị’ với ‘gãy’: ‘gãy lìa’.
•
Mệ = bà. Ảnh
hưởng ‘Thái-Việt’ (Mường): Mễ = mẹ, bà. Mễ dã= bà nội, mẹ chồng.
Mễ mỗng= mẹ vợ. Mễ khà= mẹ già, u già, bà, cụ.
•
Mẹng = miệng.
Tiếng Mường => ‘Mẽnh’, cho thấy ‘Mẹng / miệng / mẽnh / mồm’ là
những lối phát âm khác nhau theo từng vùng, trước thời quấc-ngữ.
‘Mồm’ => mõm, với Mõm thường dùng cho súc vật: ‘mõm chó’.
•
Mi = mày. Cũng
được dùng tại nhiều nơi ở Việt Nam, và cũng có ghi trong từ điển
xưa [14]. (Xem thêm chi tiết ở [4]).
•
Mo nang = tàu cau.
Có ghi trong từ điển Huình Tịnh Của [14]: Mo = cái cốt tàu cau
// Mo nang= cái bao trắng gói lấy buồng cau, buồng cau nở ra thì
nó phải rụng.
•
Mô = đâu. Cũng
có ghi trong từ điển Paulus Của [14].
•
Mụ = bà. Có ghi
trong từ điển Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 [3]. Tiếng
Chăm: [Mu?] nghĩa ‘bà cụ’; [mu?]-[bôy] = bà mụ.
•
Mui = môi. Hoán
chuyển bình thường giữa âm [u] và [ô], trước và sau thời quốc
ngữ: [tui] = [tôi]; [thúi] = [thối]; [gong] Hoa => [cung] Việt;
[kung fu] => [công phu]; [tùng] = [tòng], v.v.
•
Mụi = mũi. Hoán
chuyển bình thường giữa hai thinh trầm. Thông thường qua lại
giữa Mường và Việt. Thỉ ngiễm (M)=> thí nghiệm (V). Pò mũng
(M)=> bò mộng.
•
Nác = nước.
[Nác] hay [đác] là những phát âm chỉ ‘nước’ rất phổ biến trong
các thứ phương ngữ xưa ở vùng Đông Dương, kể cả tiếng Mường. Từ
điển Alexandre de Rhodes [3] ghi ‘Nác’ = ‘nước’. ‘Nác’ mang cùng
gốc với [Naahm] tiếng Thái-Lào, và cũng rất có thể ‘Nác’ là kết
quả hợp âm: [naahm] T + [dak] M-K. ‘Nác’, ở dạng ‘Đác’ trong các
phương ngữ của Môn-Khmer, cũng có liện hệ ‘ví phỏng’ (xem [1])
với ‘đạc’ mang nghĩa ‘chất lỏng đã đặc lại’ => ‘đặc’ [3].
•
Ngái = xa. Một
từ rất phổ biến khắp Trung-Hoa và các vùng đất Mon-Khmer:
[xngai], [jngai], [yngai], [xă-ngai], v.v. thuộc Mon-Khmer và
Munda. Tiếng Thái là [za] gần với ‘xa’ hơn. Âm [ngái] rất gần
với âm [gai] quanthoại và [kai] tiếng Mân Việt (PK) và Hạc Việt
(Hẹ), 垓,
có mang một nghĩa: ‘Xa’. ‘Ngái’ cũng được ghi trong cả hai quyển
từ điển của Alexandre De Rhodes [3] và Huình Tịnh Của [14].
•
Ni = này // Nớ = Kia.
Các thứ tiếng đệm, thường có âm tương đương trong các phương ngữ
Hoa. Tiếng Mường: ni = nì = nầy. Tiếng Việt: Nớ ~ Nọ.
•
Nôỗng = nương.
Nổng = chỗ đất cao (Từ điển Lê Ngọc Trụ [23]).
•
Nương = vườn quanh nhà.
Theo [23]: nương = ruộng cao ở núi. Dùng sát với ‘ruộng’, hay
thay thế ‘ruộng’: ruộng nương, nương chè, nương dâu. ‘Nôỗng’ và
‘Nương’ rất gần âm với ‘nông’, và ý nghĩa, cách phát âm có thể
hoán chuyển với nhau, trước thời quốc-ngữ. Cũng có khi đi đôi
với ‘náu’ mang nghĩa: nương tựa, nhờ cậy. Trường hợp này,
‘nương’ gần âm tiếng Hạc (Hẹ): [niong] = nương tựa, và ‘náu’ gần
âm tiếng Ngô-Việt: [Nyaz], hay Hạc: [liau].
•
O = cô. Có
trong từ điển của Huình Tịnh Của [14]: Ông chú mụ o = ông chú bà
cô. Ngoài ra ‘O’ => o bế = lấy lòng.
•
O mi; cụ mi; chú mi:
Trong trường hợp này, ‘O’ được dùng như một từ đệm cho ‘đại từ’.
Xem [4], ta thấy ‘O’ có thể dùng như một đại từ, mang nghĩa ‘tôi
/ tớ’ - xuất phát từ phương ngữ Quảng Đông. ‘O mi’ rất có khả
năng dùng ‘o’ chêm vào ‘mi’ để thêm phần thân mật: ‘Mi của O’ -
giống như kiểu ‘chú mầy’, ‘chú mi’.
•
Ót = gáy (sau
cổ). Tiếng Chăm: [takôy] = cổ. Mon-Khmer: [ko] hay [ka] =
cổ. Trong nhóm ngữ Mon-Khmer, cũng có rất nhiều thứ tiếng dùng
từ mang âm và nghĩa lẫn lộn cho: đầu, óc, và cổ. Kata, Sedang:
*[nqo], [ko], [nkoq]; Munda: [oq]; Bahnar, Pacoh: [kơl]; Mường
(Khen): [kel]; Sengoi: [kelkeil]; Stieng: [ngun] [8], mang
nghĩa: đầu, óc, sọ, cổ, và ‘gáy’ (Sengoi) lẫn lộn nhau. Tiếng
Thái cho ‘cổ’ và ‘cổ họng’ là [khaaw], rất gần ‘cổ’. Tiếng Tàu
cho ‘cổ’ hay ‘gáy’ là
項 phát âm
[hong] theo Hạc và Quảng Đông, khá giống ‘họng’ tiếng Việt. Phát
âm Ngô-Việt cho từ này là [hAz] khá gần với ‘ót’. Trong khi phát
âm Hán-Nhật là [kou] => cổ. Tự vị Huình Tịnh Của [14] cũng có
ghi: Ót= phía sau cổ, ở tại chớn tóc. Từ điển Alexandre
de Rhodes [3] lại có ghi: Gấy, sau gấy: Tăóc gấy = Tóc
gáy. Bối tăóc sau gấy => búi tóc (cho gọn) ở sau gáy.
•
Ôông = Ông. Cũng không đặc biệt phương ngữ Quảng Trị. Tiếng
Việt thời quốc ngữ chưa hoàn chỉnh, vẫn có lộn xộn ở âm cuối
[ôn] và [ông]. Thí dụ: ‘tôn giáo’ trước giữa
thế kỷ 20, vẫn còn phát âm tại rất nhiều nơi: ‘tông giáo’ (xin
xem quyển ‘Nho Giáo’ của Trần Trọng Kim – đã dùng ‘tông giáo’ từ
đầu đến cuối). Rất có thể những nhà cải biến quốc ngữ đã đổi
‘tông’ thành ‘tôn’ bởi âm ‘tôn’ gần với ‘tin’ trong ‘tín
ngưỡng’, và ‘cận vị’ với ‘tôn kính’, ‘tôn thờ’ hơn.
•
Phản ngựa = bộ ghế ngựa.
Cũng không phải đặc thù Quảng Trị, và đều có ghi trong từ điển
Huình Tịnh Của [14] và Lê Ngọc Trụ [23]. Thật ra ‘phản’ có thể
là một trong nhiều cách phát âm thời tiền quốc ngữ cho chữ
‘ván’, ‘tấm ván’. Có thể là một âm nằm giữa [pán] và [bán] hay
[byán]. Quốc ngữ đã kí âm lệch sang [V] => ‘ván’, có lẽ để tránh
cảnh đồng âm dị nghĩa với một từ thường dùng hơn: ‘bán’, trong
‘mua bán’. Tiếng Mường: [bản] = [ván]. Cũng giống như ‘Vàm’ (Cỏ
Đông) là kí âm quốc ngữ của [Piam]; (khu) ‘Lâm Viên’
quốc-ngữ-hoá từ ‘Lang Bian’, ‘Vốn’ là kí âm của ‘byốn’ hay ‘Bổn’
/‘Bản’: tư bản. ‘Vỡ’ xuất phát từ ‘bể’.
•
Rạ = rựa. Xin
xem phía trên: Lả = lửa. Âm [a] (M) <=> âm [ưa] (V).
•
Răng = sao. Có
thể bà con với [zam] QĐ, [zen] QT. Không có ghi trong hai từ
điển xưa [3] [14].
•
Roọng = ruộng.
Tiếng Mường: ‘Rõng’, cho thấy ảnh hưởng phát âm Mường trên cách
phát âm [roọng]. Ngoài ra, phát âm [roọng] cho thấy âm vị tại
những vùng quê, và mường bản không nhấn mạnh phân biệt âm cuối
[n] và [ng] do quốc ngữ đề ra.
•
Rớ = lưới. Có
trong từ điển Huình Tịnh Của [14]. ‘Rớ’ mang âm gần với [Rõ] tức
‘rọ’, thường dùng để bắt cọp, bắt thú vật, hơn là ‘lưới’ để lưới
cá, lưới tôm. ‘Rớ’ rất khả năng cùng gốc với
罝
[ze] tiếng Quảng Đông, chỉ cái rọ để bắt các loại thú nhỏ như
thỏ, chồn.
•
Rú = rừng. Rừng
và Rú đều là hai từ mang gốc Quảng Đông, viết khác nhau: Rừng =
[zeon] 獉,
và Rú = [zau]
菆.
•
Rứa = thế. Có
trong tự-vị của Huình Tịnh Của [14]. Có thể mang gốc Quảng Đông:
這
[ze], pha với phát âm Hẹ [za].
•
Su = sâu. Theo
sát biến chuyển [Du] => [Dâu], [Cụ] => [Cậu] ở trên, cũng như
biến chuyển giữa [Chu] và [Châu]. ‘Su’ => ‘Sâu’ tương ứng với
[siu] Quảng Đông => [siau] Hakka,
潚.
•
Tam = em. Theo
sát từ Hakka (nhóm Siyan, Hailu):
栝
[tiam], mang nghĩa ‘người thuộc đàn em’ [29].
•
Tê = kia. Rất
có khả năng cùng gốc với từ Tày-Nùng [tỉ] mang nghĩa ‘đó, kia’.
[Tỉ] Tày-Nùng, là âm tương đương với [bi]-3 quan thoại
彼,
mang cùng nghĩa. Để ý, âm thường gọi ‘Hán-Việt’ [tỷ] (= so
sánh), tiếng Quan-thoại vẫn là [bi]-3, viết
比,
cho thấy biến chuyển từ âm [B] Hoa {bi-3} sang [T] Việt {tỷ}
mang ảnh hưởng tiếng Tày-Nùng [26], có bà con gần là tiếng người
Choang ở Quảng Tây. Từ thường lầm là Nôm khi dùng để chỉ so-sánh
là ‘Bì’ (bì với, phân bì) thật ra chỉ là âm tiếng Hoa比
[Bi]-3, mà người Choang & Tày-Nùng dùng [Tó] cho tương đương.
[Tó] sinh ra âm ‘Hán-Việt’ bắt đầu bằng âm [T]: ‘tỷ’; và nguyên
âm [ó] cho ra chữ ‘Nôm’: ‘So’. Để ý: ‘tê’ Việt tương đương với
‘tỉ’ Tày Nùng. Tiếng Việt lại có hai từ đó cặp bồ với nhau: ‘tỉ
tê’ => kể lể, tâm sự.
•
T’lâu, T’le, T’lời = trâu, tre, trời.
Biến đổi [Tr]-Việt sang [Tl] là biến chuyển sang âm tương đương
ở phần-ngữ Mường trong tiếng Việt cổ nói chung. Mường đọc: Tlu,
Tle, và Tlời. Đặc biệt ký âm theo chữ Nôm cũng dùng âm [l] cho
[r], bởi dựa theo cách viết Hán tự [21] [24]. Tuy nhiên, từ điển
Alexandre de Rhodes [3] cho biết ‘trời’ tiếng Việt thế kỷ 17 đọc
[Blời] chứ không phải [Tlời]. Truy tầm của chúng tôi cho biết âm
quốc-ngữ, trên bước đường nhất thống các âm khác nhau - nhất là
[Bl] và [Tl] – đã dựa vào âm vận mang âm [R] (thành ra [TR]) của
hai nhóm ngôn-ngữ Mon-Khmer & Munda. Từ đó, quốc-ngữ dựa vào vần
[TR] của người Việt bản địa tối cổ (Mon-Khmer và Munda) để viết
thành: Trâu, Tre, và Trời [25]. Âm [TR] rất hữu hiệu trong việc
ký âm luôn cho những từ tiếng ‘Hán’: Trung => [Zhong], Trân =>
[Zhen], Tri => [Zhi], Trú => [Zhu], v.v.
•
Thoọc = thọc.
‘Thọc’ đôi khi cũng tương đương với ‘Thọt’ (mặc dù ‘thọt’ ưa
dùng với nghĩa khác: ‘thọt chân’), cho thấy thời chưa có quốc
ngữ, phân biệt âm cuối [T] và [C] không được nhấn mạnh, tại phần
lớn nước Việt.
•
Trẽn = thẹn.
Tiếng Mường: thẽn => thẹn. Theo sát biến chuyển tương đương
kiểu: ‘ngẽn ngùi’ (M) => nghẹn ngùi. ‘Trẽn’ cũng có ghi trong tự
vị của Lê Ngọc Trụ [23], mang nghĩa ‘ngượng ngịu’, và thường
đứng chung với ‘trơ’: ‘trơ trẽn’.
•
Trốc = đầu.
‘Trốc’ là một từ chia sẻ gốc với các thứ tiếng Thái [glao] và
Mường [Tlốc]. ‘Nhâc tlốc’ = nhức đầu. ‘Tlốc củi’ = đầu con cúi =
thủ lợn. ‘Tau tlốc’ = đau đầu. Tiếng Huế phát âm như ‘Trốt’, với
âm cuối là [t], thay vì [c]. ‘Trốc’ có vẻ liên hệ ‘ví phỏng’ [1]
với ‘trọc’ trong ‘đầu trọc’ mang nghĩa ‘đầu cạo hết tóc’, hay
‘không còn tóc’.
•
Trốc cúi = đầu gối.
‘Gối’ (chân) tiếng Mường gọi: ‘cổl lãi’. Trước khi có kí âm theo
a-b-c của quốc ngữ, âm [cổl] có thể phát âm gần giống với [gối],
và [gối] có thể dễ tiến đến [cúi], bởi cả hai âm đầu [c] và [g]
đều thuộc loại tắc âm vòm mềm. Trong khi đó, ‘Đầu’ = ‘Trốc’. Do
đó, ‘Trốc cúi’ => đầu gối.
•
Trớng = trứng.
Tiếng Mường: ‘Tlởng’ = trứng. Hakka: [lon], [zen], [zan]. Quảng
Đông: [leon], [jyun].
•
Trự = đồng tiền.
Từ tiếng Hoa mang nghĩa ‘đồng tiền’ rất giống ‘Trự’ phát âm theo
kiểu Quảng Đông: [zyu]
铸.
Theo tự vị của Huình Tịnh Của [14]: Trự= đồng tiền. ‘Không có
một trự’ (trong túi) = nghèo lắm, túng lắm.
•
Hung = rất. Lối
dùng ‘hung’ cho phó từ ‘rất’ thật ra mang xuất xứ từ bên Tàu, và
được xử dụng tại nhiều nơi ở Việt Nam. Chữ [hung]
凶ngoài
nghĩa ‘dữ tợn’, ‘xấu’ còn mang nghĩa ‘rất’, ‘cực kì’ [9]. Phát
âm Hạc Việt (Hẹ) và Quảng Đông y hệt: [hung]. Thí dụ tiếng Việt:
‘Hôm nay, anh có rảnh hung không?’.
Qua
những lí giải tầm nguyên cho những từ Quảng Trị ở trên, chúng ta
có thể thấy:
(i)
Giống như
phân tích về đại từ trong tiếng Việt (tôi, ta, mày, chú, bác,
chúng tôi, các anh, v.v.) [4], không có một từ nào ở trên hoàn
toàn thuần Việt, tức độc nhất chỉ có tiếng Việt mới có. Hầu hết
đều có những từ mang âm tương tự thuộc các phương ngữ khác hoặc
ngôn ngữ láng giềng.
(ii)
Ảnh hưởng âm
vận và từ vựng của tiếng Mường trên ‘tiếng Quảng Trị’ rất mạnh.
Cho thấy đó là ảnh hưởng xuất phát từ vùng biên giới Lào-Việt,
bởi người Lào cũng thường được sắp xếp có chủng chủ lực thuộc
Thái-cổ. Trong khi đó, dải đất chạy dài từ nam Thanh Hoá, xuống
khu vực Quảng Bình - Quảng Trị, từ lâu đã được xem như bản địa
xưa của khối Mon-Khmer [27].
(iii)
Đặc điểm nổi
bật nhất giữa tiếng ‘Việt’ của người Mường, người Tày-Nùng, và
các ‘phương ngữ’, đối với tiếng Việt ‘chuẩn’ ở khu vực ‘Kẻ Chợ’
(Kinh) là khác nhau giữa các thinh (dấu). Trong đó thường xuyên
nhất thinh sắc miền Kinh ưa chuyển sang thinh hỏi miền ngoài.
Khá phù hợp với nhận xét riêng của một thân hữu [28].
(iv)
Rất nhiều
từ, tác giả Trần Hữu Thuần cho là đặc thù Quảng Trị, thật ra
cũng là thứ từ được xử dụng thường xuyên ở những vùng khác tại
Việt Nam. Bằng chứng là một số lớn những từ này thường có ghi
đầy đủ trong các tự điển xưa, như của Alexandre de Rhodes hay
Huình Tịnh Của. Cũng giống như một số từ tìm thấy trong một số
các tự điển về phương ngữ xuất bản gần đây tại Việt Nam – như bộ
tự điển ngót 1000 trang về tiếng Huế của Bs Bùi Minh Đức.
(v)
Một vài thí
dụ ‘sơ sơ’ ở phía trên cho thấy, tiếng Hán Việt trong cách phát
âm của chúng cũng là một thứ tổng hợp các phương ngữ Việt cổ.
Xin phép viện dẫn một vài suy luận dùng để hỗ trợ cho kết luận
này:
-
Tiếng
Hán-Việt chiếm đến khoảng 60% số từ vựng tiếng Việt, và bất cứ
người Việt nào cũng đều xử dụng chúng hết sức nhuần nhuyễn.
Những từ điển Mường hay Tày-Nùng cũng tràn đầy một số lớn những
từ tương đương với loại từ thường gọi Hán-Việt. Thí dụ: Wa (M)=>
Va (T-N)=> Hoa (V).
-
Nếu muốn cả
một dân tộc ‘vay mượn’ mớ từ Hán-Việt đó, bắt buộc trong ngót
thiên niên kỷ đầu tiên sau Công Nguyên, xứ An-Nam phải có đầy đủ
phương tiện truyền thông, nếu không có internet thì phải có
cell-phone, hay Tivi. Hoặc ít lắm phải có nhật báo, hay máy
truyền thanh, hay những lớp học bình dân 24/24 dạy tiếng Hán chữ
Nho, khắp mọi xóm làng.
-
Đi ngược lại
thời gian, chúng ta thấy phân biệt những thứ từ gọi
Hán-Việt với từ thuần Nôm hoàn toàn vắng bóng trong những công
trình viết bằng chữ quốc-ngữ đầu tiên, như từ điển Alexandre de
Rhodes, những bài viết hoặc sách báo của Trương Vĩnh Ký, Huình
Tịnh Của, Taberd, Philiphê Bỉnh, Ben-tô Thiện, v.v. Nói một cách
khác, những tác giả quấc-ngữ đầu tiên chắc hẳn phải biết độc giả
không có phân biệt thứ nào là tiếng Hán Việt và thứ nào là
nôm-na ‘lô-can’. Sự phân biệt đó đối với đại đa số quần chúng,
dễ rơi vào một cái hố mâu thuẫn. Đó là, một mặt chúng ta thường
cho rằng tiếng Hán Việt nói ra nghe uyên bác hơn, và là chữ
nghĩa của chốn khoa bảng, quan trường, nhưng một mặt khác chúng
ta lại cho rằng nó đến thẳng với những người ít học, đúng hơn
không biết chữ, sau nhiều thế kỷ chung sống với những người có
tiếng Hán là tiếng mẹ đẻ. Hai chuyện đó rất khó đi đôi với nhau.
-
Những
học-giả đã ‘lăng-xê’ phân biệt giữa Hán-Việt và Nôm trong lòng
từ-vựng tiếng Việt, có vẻ thiếu thốn một vài thứ kiểm chứng khoa
học. Quan trọng nhất là một thứ định lý khá bất biến như sau:
“Khi A vay mượn B một món gì, thì A rất khó xử dụng món đó thông
thạo như B”. Ở trên, chúng ta thấy khi người Việt-Mường không
phải là tác giả của lối gọi ‘Con / Cái’, họ sẽ xử dụng nó không
có được bài bản, và thuần nhất, như người Việt (Kinh), và sẽ khá
lộn xộn. Nhưng người Kinh lại xử dụng nó rất thành thạo, bởi họ
thừa kế được di-sản của người Việt-Mon-Khmer. Tương tự, bởi
tiếng Hán-Việt chính là thứ tiếng (tổng hợp) của người Việt di
dân, họ đem toàn bộ, nhất là biến ý, và nhiều nghĩa của từng từ.
Thí dụ: ‘hung’ mang nghĩa: hung dữ, hung ác, hung thần, hung tin
(tin không lành), và ‘rất’ hay ‘cực kì’ ở tiếng “Tàu” (?).
Chuyển sang tiếng Việt, [hung] đem sang toàn bộ ý nghĩa và cách
dùng. Nhưng bởi ‘hung’ mang nghĩa ‘rất’ / ‘cực kì’ ưa dùng trong
câu nói toàn từ “Nôm” (?) hay ít đi kèm với từ Việt-di-dân, nên
xưa nay, ta ưa nhầm ‘hung’ trong nghĩa ‘rất’ là một từ Nôm.
Chúng ta cũng lầm tưởng, như vậy, ‘rất’ mới là thuần Nôm. Thật
ra, ‘rất’ cũng không phải Nôm! ‘Rất’ là âm quốc ngữ của [zat]
郅
phát âm theo Quảng Đông [9], mang nghĩa ‘very’, ‘extremely’, tức
‘rất’ là Nôm theo kiểu ‘Đông Việt’. Thí dụ khác về việc ‘phản
ánh’ toàn bộ, trong chuyện ‘phần-ngữ’: Từ ‘xài’ là một từ cùng
gốc với từ Thái [chai], mang hai nghĩa y như tiếng Việt, ‘xài
tiền’ (spend money), và ‘xử dụng món đồ’ (use) / ‘Anh có xài
điện thoại di động hiệu Nokia bao giờ chưa?’. Nếu đó là vay
mượn, rất khó xác định ai vay ai cho mượn, và khi vay thường
thường người ta chỉ vay một phần nào của cách dùng mà thôi, chứ
ít khi vay hết toàn bộ, và lại xử dụng nhuần nhuyễn như vậy. Thí
dụ: Karaoke = Kara (trống) + oke (dàn nhạc); Karate = Kara
(trống / không) + Te (tay). Trên thế giới ngày nay ưa vay luôn
hai thứ từ này từ tiếng Nhật. Nhưng không tiếng nước nào, như
tiếng Việt chẳng hạn, lại vay luôn chữ ‘kara’ để hàm ý ‘Không’.
-
Sai lầm
trong việc nhận diện các từ Hán-Việt và Nôm cũng bắt nguồn từ
kiểu học-thuật ngày trước, rất ít khi kiểm chứng với một ngôn
ngữ nào khác với tiếng Tàu xử dụng ở Bắc Kinh. Cũng rất hiếm khi
đối chiếu với các phương ngữ của Bách Việt xa xưa. Phần lớn là
do ở thiếu thốn phương tiện. Thí dụ, tra từ thường lầm tưởng
‘Nôm’ là ‘Đúng’ ở bất cứ quyển từ điển tiếng Hoa nào ta sẽ thấy
ít nhất 3 từ Hán quen thuộc là [dui]
對
(đối), [zheng]
正
(chính), và [zhen]
真
(chân). Chúng ta sẽ không ngờ 2 chuyện: (a) ‘Đối’ chính là phát
âm Quảng Đông [deoi], ‘chính’ giống như Hakka [zhin], và
Mân-Việt [cheng] (chánh), còn ‘chân’ y hệt quan-thoại [zhen]. Và
(b) ‘Đúng’ cũng không phải là một từ Việt ‘thuần Nôm’, mà lại là
một phát âm y hệt [dung] của Hạc Việt và Đông Việt, cho động từ
[dung] 董
tiếng Tàu (?) mang nghĩa ‘sửa cho đúng’.
Sydney,
ngày 4 tháng Bảy 2007
NN
GHI CHÚ
[1]
V.U. Nguyen (2007) Loan Words and Metaphorical Field. (submitted
for publication).
[2]
Nguyen Nguyen (2007) Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương. [In
search of the origin of the Vietnamese]. (in publication).
[3]
Alexandre de Rhodes (1651) Dictionarium Annamiticum – Lusitanum
– Latinum. Translated by: Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang
Chính. Pub. By Vien Khoa Hoc Xa Hoi – HCM 1991.
[4]
V.U. Nguyen (2007) Vietnamese Personal Pronouns. (submitted for
publication).
[5] Từ
điển tiếng Mường (Hoà Bình) [7] cho biết người Mường gọi người
Kinh là người ‘Chợ’ (Kẻ Chợ = Thăng Long): (a) Măng khể rằng
nả cỏ vỡ Chỡ = Nghe kể rằng nó có vợ người Kinh. (b) Dich tha
thiểng Chỡ = Dịch ra tiếng Việt.
[6] Hội
Bảo Tồn Di Sản Nôm (2002) http://nomfoundation.org/
[7]
Nguyễn Văn Khang (editor), Bùi Chỉ, Hoàng Văn Hành (2002) Từ
Điển Mường-Việt {Mường-Vietnamese Dictionary}. Published by Văn
Hoá Dân Tộc – Hà Nội.
[8] L.
V. Hayes (2001) Austric Glossary -
http://home.att.net/~lvhayes/Langling/Glossary/Glospag1/glosf019.htm
[9]
Chinese Character Dictionary - CCDICT v5.1.1 Chineselanguage.org
(1995-2006): http://www.chineselanguage.org/cgi-bin/dict.php
[10]
Vấn đề các âm chữ cái quốc-ngữ là một chuyện hết sức phức tạp
hóc buá. Ngay ở âm [y] cũng vậy. Đa số các âm [y] bên Tàu và
Mon-Khmer đều giống kiểu tiếng Anh: Yul Brynner, Yell, v.v.
Nhưng một hai nhóm Hakka lại thích kiểu [Z] hơn: Zang Kui Fi
(Yang Gui Fei) => Dương (Dzương) Quý Phi. Phúc Kiến lại lột [yờ]
biến thành [I] => tiếng Việt [y]: yêu => [iêu]; âu yếm => [âu
iếm].
[11] Để
ý sự phân biệt dấu hỏi và sắc (đôi khi ngã)
rất lộn xộn khi so sánh tiếng Việt miền Kinh (Kẻ Chợ) với tiếng
Việt tại các mường bản hay khu vực thôn quê. Thí dụ: ỏng
(M) => uống (V); dan tổi (M) => gian dối; dam
cẩm (M) => giam cầm; dáng đãy (M) => giảng dạy
(V).
[12]
Lối nói khác nhau tùy theo phương ngữ. Thí dụ, từ kép tiếng Việt
‘nở phồng’ – tương ứng tiếng Thái [noh] và [pheerng] {Phúc kiến:
[pheng]}. Nhưng ‘Hoa đào nở’ tiếng Việt, lại tương đương với:
‘Va (hay [byooc]) tào phồng’ {Hoa đào phồng} trong tiếng
Tày-Nùng. Để ý: Va (T-N) => Wa (Mường) => Hoa. Byooc => Pông
(M) => Bông (V), trong đó [By] chính là âm ‘V’ phát âm kiểu Nam
bộ. Thí dụ khác: Trong tiếng Việt ‘kể’ và ‘nói’ có cách dùng
khác nhau. Nhưng trong tiếng Mường, ‘kể’ được dùng như ‘nói’:
khể lải = nói lái; khể bẫy = nói bậy; khể nhó = nói nhỏ. ‘Nỏi’
tiếng Mường cũng mang nghĩa như ‘nói’ (Việt) nhưng ưa thiên về
... ‘kể’: nỏi đẳng = nói tích. Nỏi lãi = nói lại. Và ‘kể’ Việt,
Mường phát âm là ‘kế’: kế cuông = kể chuyện.
[13]
Nguyễn Phục Hưng (2007) Trao đổi tư liệu trên Forum M-C.
[14]
Huình Tịnh Paulus Của (1895) Đại Nam Quấc Âm Tự Vị. Imprimerie
Rey, Curiol & Cie. Re-published by Nhà Xuất Bản Trẻ, 1998.
[15]
Trang mạng về tiếng Anishinaabemowin:
http://imp.lss.wisc.edu/~jrvalent/ais301/Grammar/InflMorphology/nouns001.htm
[16]
Truyện cổ tích về ‘đực rựa’:
http://www.quangduc.com/TruyenNgan/020thamthitham.html
[17]
Charles Hamblin (1988) Languages of Asia & the Pacific. Angus &
Robertson.
[18]
Trần Hữu Thuần (2007) Tiếng Quảng Trị. Xem talawas.org ngày
13/6/07:
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10168&rb=06
[19]
Tiếng Mường mang âm tương đương [kh] đối với Việt [s]: khong =>
sông (Mekong => sông Mẹ, sông lớn), khư nữ = sư nữ, khổng lãi =
sống lại.
|