|
Một trong những hình-dung-từ được giới khoa-học, nhất là
toán-học, ưa dùng nhất, đối với một nguyên-lý hay định-luật mới,
chính là 'robust', mang nghĩa nôm-na: chắc nịch, cứng cáp, vững
chải. Trên phương-diện một lý-thuyết, như lý-thuyết về nguồn-gốc
dân-tộc Việt-Nam ở đây, lý-thuyết đó chỉ được xem là khá
'robust' (chứ không phải 'robot') khi nó được đem ra lý giải
càng nhiều sự-kiện hay hiện-tượng lịch-sử, văn-hoá, càng tốt.
Dưới một góc độ khách-quan, hay tương-đối hoặc 'cố-gắng'
khách-quan.
Thông thường, một lý thuyết được dàn-dựng và hiện-thức dựa trên
quan-sát một số những sự-kiện chung quanh một đề tài chính. Xong
rồi, phân-tích và tổng-hợp. Dùng những phương-pháp lý-luận càng
khách-quan càng tốt. Dọc đường, nếu bắt gặp thêm một sự-kiện nào
khác, lại phải lôi khía cạnh nào đó của lí-thuyết để thử lí-giải
sự-kiện đó. Khó khăn nhất có lẽ ở chỗ gần như bất kỳ hiện-tượng
nào cũng đều có lí-giải sẵn rồi. Nhưng cũng rất may, đa số những
lí-giải có sẵn, bây giờ - trong thời đại internet - nếu nhìn lại
rất dễ nhận ra những điểm lổng chổng trong đó.
Thí dụ: Ngày trước, các học giả Tây phương ưa đưa ra lí-do 'một
xã-hội nông-nghiệp' để giải thích hiện tượng một số xã hội ưa
dùng nhiều từ khác nhau để gọi, Cô-Chú-Bác, như: Bác, Chú, Thím,
Cô, Dì, Cậu, Mợ, v.v. - trong khi một số xã hội, đã
'công-nghiệp-hoá' nhất là xã hội Tây Phương, thường thường lại
chỉ phân biệt: Uncle (Chú / Bác) và Aunt (Cô) mà thôi. Một khi
đã nhận-thức rằng một trong những lý-do đưa đến xáo-động
lịch-sử ở Đông Nam Á, kể cả Trung Hoa, chính là sự điều-chỉnh từ
mẫu-hệ sang phụ-hệ của nhiều cộng đồng khác nhau, ta hãy thử
kiểm-chứng một thứ lý-giải mới về: 'bà con Cô Bác' dựa trên Mẫu
hệ và Phụ hệ. Đặc biệt để ý, trong xã hội theo Mẫu-hệ, vai trò
người Cậu (anh hay em của Mẹ) rất quan trọng. Nhất là trong vấn
đề thừa kế [1]. Tức những thứ từ như Chú / Bác không quan trọng
bằng Cậu. Và ngược lại, trong xã hội Phụ-hệ, 'Cha - Chú' thường
được dùng hơn 'Cậu'. Tra cứu các từ Nôm gốc Hoa Nam, nơi chúng
tôi cho rằng phần lớn chỉ dần dần chuyển sang Phụ-hệ sau khi nhà
Hán nhất-thống sơn-hà, chúng ta có thể thấy đầy đủ các từ mang
phát âm giống hệt tiếng Việt, như: Cậu [舅 ], Mợ [妭 / 嚊 / 妺 / 母
] [2], Dì [姨 ], Dượng [姻 / 丈], Cô [姑 ], Thím [嬸 ], Chú [叔], Bác
[伯].
Kiểm chứng với một tự-điển tiếng Chăm [3], nơi còn giữ Mẫu hệ
cho đến khi giải-thể, ta thấy các từ vựng có vẻ nhấn mạnh, hay
phân biệt, hơn về vai vế người Cậu: Cậu = [wa], Cậu (anh Mẹ)=
[wa likey], Cậu (em Mẹ)= [cêy] {mang âm rất giống 'cậu'}, Dì
(chị Mẹ)= [wa kamêy] (dùng chung 'wa' như 'cậu'}, Cô / Dì= [mi?]
hoặc [nay], Chú (em Cha)= [mi? cêy], Bác= [wa], hay rõ hơn: [wa
po]. Xin để ý hai điểm: (i) Chữ chính dùng chỉ 'cậu' là: [wa]
(anh) và [cêy] (em). Biến thêm, và dựa vào hai từ gốc [wa] và
[cêy], sinh ra: [wa likey] => anh mẹ (Cậu), [wa Po] => anh Cha
(Bác), và [mi? cêy] {miq cêy} => em cha (Chú). (ii) Bởi vai-vế
'cậu' (trong mẫu hệ) rất 'bảnh', nên tiếng Việt dùng luôn để
xưng hô 'người em' hay 'bạn trẻ' được 'quý trọng', bằng => cậu
(em), hay 'cậu công tử'. Hoàn toàn có tương đương trong tiếng
Chăm: patra-patri => cô cậu. Tiếng [nay] mang nghĩa 'Cô' cũng
được dùng như 'cô' trong xưng hô: Mademoiselle hay Miss [4].
Vấn-đề mẫu-hệ còn được phản ánh trong văn-hoá hay văn-minh Đông
phương, qua hình ảnh Phật Bà Quan Thế Âm. Có nhiều giả thuyết về
gốc gác của Phật Bà Quan Âm (Kwan Yin) [5]. Đại khái: (i) Một số
giả thuyết cho rằng người Hoa Nam biến một Ông Phật từ bi là
Avalokitesvara sang phái nữ thành Phật bà Quan Shi Yin (Quan Thế
Âm). (ii) Giả thuyết khác cho rằng Phật Bà chính là hình ảnh của
một công chúa nước (Ngô) Việt của Câu Tiễn (về sau) ở vùng Chiết
Giang vào khoảng năm 700 TCN, mang tên Miao Shan. Chính công
chúa Miao Shan đã chuyên cứu vớt, giúp-đỡ thủy thủ có tàu bè bị
đắm ngoài khơi quần đảo Chusan gần khu Chiết Giang ngày nay.
Tức Phật Bà 'xuất-hiện' trước tiên tại miền Hoa-Nam, một cứ-địa,
hay hậu-tuyến, lớn cuối cùng của chế-độ mẫu-hệ.
Nhìn vào văn-minh Tây Phương, chúng ta sẽ khó tránh khỏi để ý
đến sự trùng hợp giữa những xã hội Âu Châu sinh sau đẻ muộn [6],
sau thời mẫu-hệ chuyển sang phụ-hệ rất lâu, với phong trào gầy
dựng nên đạo Ki-Tô Tin Lành sau thế kỷ 15 ở Âu Châu. Đặc biệt ở
chỗ, vai trò Đức Mẹ Đồng Trinh Maria, theo tinh-thần của
thần-học, ở đạo Tin-Lành, không quan-trọng như trong khối
Công-Giáo hay Chính-Thống. Cũng bởi đa số xã-hội hay các quốc
gia Âu Châu chỉ được thành lập sau Giáng Sinh, tức rất muộn và
nhảy vọt qua khỏi thời mẫu-hệ vào lúc 'dựng nước', nghiên-cứu
của Tây-phương về vấn-đề mẫu-hệ xưa nay vẫn mang tính 'cho có
lệ' và rất 'lơ là'.
Từ những ghi nhận tổng-quan về Mẫu hệ và Phụ hệ kể trên, ta có
thể thấy chuyện 'cơm không lành canh chẳng ngọt' của cặp vợ
chồng Âu-Cơ & Lạc-Long-Quân [7] có lẽ bắt nguồn từ xung đột giữa
Mẫu-hệ và Phụ-hệ. Xung đột giữa hai thứ 'luật-tục' hoặc
'tín-ngưỡng xã hội', khác nhau, ở thời ấy. Không biết bà Âu và
ông Lạc đã làm thủ-tục ly-hôn tại toà-án gia-đình nào, nhưng kết
quả của phán-xét toà-án đó xem ra hết sức tốt, và có vẻ không
thua bất cứ một toà gia-đình nào ở thế-kỷ 21. Phán-xét đó, hay
sự đồng-thuận phân chia tài sản của bà Âu ông Lạc, trước lúc
chia tay, cũng lại rất phù hợp với phong-tục tập-quán của cả hai
bên. Mẫu-hệ có thể xem như tượng trưng của Tình-Thương hay
Tình-Cảm. Phụ-hệ, của Lý-Trí và Thực-Tế. Hai đối cực của một thứ
Nhị-nguyên. Một âm, một dương. Việc dung-hoà hay cân-bằng giữa
hai đối cực của Nhị nguyên này, có lẽ là một điều kiện thiết-yếu
cho hạnh-phúc cuộc đời. Thật ra, lối chia tay của bà Âu ông Lạc
đã vượt ra khỏi cái vòng lẩn quẩn của thứ Nhị-Nguyên khác
(Thắng-Thua), phản ánh qua mô hình đối-địch của hệ-thống
kiện-tụng dân-sự ở các quốc-gia kiểu Anh-Mỹ. Tức trong cuộc chia
tay kiểu đó, không có người thắng hoặc người thua. Dưới góc độ
biểu-tượng hai khối người, chia tay đó sẽ không mang tính
vĩnh-viễn, và luôn có cơ hội tái-hợp với nhau.
Xin trở lại với tính 'cứng cáp' của lý-thuyết. Trong suốt 18 bài
qua, chúng ta đã thử dùng lý thuyết để lý-giải cho một số các
sự-kiện hoặc hiện-tượng xưa nay tương đối chưa được hoàn-toàn
sáng tỏ. Chúng ta đã xem qua:
- Gốc gác tháng Giêng => tháng Dần (Dzần) [8]
- Một bộ phận Việt tộc quan-trọng có gốc Hẹ, mang họ Lạc của Lạc
Long Quân;
- Tộc người nhà Lý và chuyến 'lưu-vong' trở về quê cũ của các
tôn thất;
- Trên Bộc trong dâu;
- Người Triều Tiên, người Hẹ (gốc du mục), và món mộc tồn;
- Chữ Việt (xưa)丂 = 'cái rìu', Việt (Mễ)粤 = 'dân trồng lúa',
Việt (Tẩu)越 = 'dân du mục';
- Gốc gác 12 con Giáp - ảnh-hưởng các phương ngữ Bách-Việt;
- Màu trắng chính là màu Trăng, hay màu Gạo (tiếng Thái) [10]
- Quan-sát giao-tác chủng tộc Hoa Việt & Việt Hoa;
- Ảnh hưởng của những tiền-đề xưa cũ;
- Ảnh hưởng chủng Thái cổ;
- Tương quan 'Họ & Ta' đối với phiá Bắc, Nam và Tây;
- Người Việt bản-địa tối cổ: Môn-Khmer;
- Văn hoá Sa Huỳnh: di-sản người Việt bản-địa, tộc Môn-Khmer;
- Văn hoá trống đồng (Đông Sơn): Di-sản người Việt bản-địa tộc
Thái-cổ;
- Văn-hoá Hoà Bình: Di-sản người Việt (Mường) thuộc chủng
Thái-cổ;
- Nguyên lý Heisenberg: Tập-trung chỗ nầy, lu mờ chỗ kia;
- Biên-giới fuzzy & Ý-niệm NƯỚC của các nước ở Đông Nam Á vào
thời cổ đại;
- Nước Sở: cái nôi. Sông Bộc: cái rốn;
- Nhóm ngữ Việt-Mường và hai nhóm di-dân Âu & Lạc;
- Gốc gác chữ Nôm: Hoa-Nam, Thái, Môn-Khmer và Đa-đảo;
- Tiếng Hán-Việt mang xuất-xứ từ những phương-ngữ Bách-Việt;
- Thứ tiếng viết theo a-b-c, được ký-âm cho một và chỉ một
phương-ngữ mà thôi;
- Các thanh-điệu (thinh) trong tiếng Việt. (Về nhạc ru con, xem
Trần Quang Hải [11]).
- Nguồn-gốc thinh dấu Ngã (~) trong tiếng Việt;
- 18 đời Hùng Vương = 18 đời nhà Hạ = 18 đời Bai-dal ở
Triều-Tiên;
- Mâu-thuẫn giữa Mẫu-hệ và Phụ-hệ bắt đầu bằng cuộc ly-hôn giữa
bà Âu ông Lạc;
- Những biệt-sắc của người Việt cổ: Nhuộm răng, xâm mình, xâm
trán, v.v. ;
- Xem xét và gạt bỏ 'thuyết Hùng Vương là nhà ảo thuật ở Gia
Ninh';
- Danh nhân Trung-Hoa mang dòng máu Việt;
- Loạn-lạc và chạy giặc ở Trung Hoa, qua nhiều thời đại;
- Giặc Hoàng Cân và Hoàng Sào;
- Thần Nông, Xy Vưu và Hiên Viên;
- Quan-sát những định-nghĩa, ý niệm về quốc-gia hay 'Nước';
- v.v.
Sau đây, xin thử xem lại một số điểm lổng chổng khác thuộc nhiều
sự-kiện lịch-sử.
Người Đa-Đảo
Ngộ nhận thường gặp nhất có lẽ là người Đa đảo ngày xưa chỉ có
mặt ở miền Trung nước Việt. Ngộ nhận này thường được hỗ-trợ bởi
một lý thuyết khá fuzzy, khá lùng-tùng-phèo, là người Chăm mang
gốc chủng-tộc Malayo-Polynesian (Mã-Lay Đa-đảo). Thật ra cả
người Đa-đảo và người hắc-nụy Négrito, đã hiện diện khắp miền
gần biển ở Hoa Nam và Đông Nam Á. Thêm một hai thứ phân-loại cần
nhớ: Đa-đảo Polynesians khác với Hắc-đảo Melanesians. Đa-đảo
thường kể đến: Tahiti, Tân Tây Lan (Maori), Fiji, Hawai'i,
Tonga, Samoa, Easter Island, Vanuatu, New Guinea, v.v. Hắc đảo,
gồm cả dân hắc-nụy Negrito, thuộc nhóm da đen tập trung ở đảo
Celebes (Indonesia) và Papua New Guinea, cũng như thổ dân ở Bắc
và Đông Bắc nước Úc. Kéo dài và gối đầu với nhiều quần đảo chứa
dân Đa-đảo, ở phía Nam Thái-bình-Dương. Nhiều dân bản địa ở các
nước Đông Nam Á, kể cả Việt-Nam, mang dấu vết của hai nhóm
Đa-đảo và Hắc-đảo. Đa-đảo có vẻ chiếm đa số đối với Hắc đảo.
|
Việt |
Tiếng Đa Đảo |
Việt |
Tiếng Đa Đảo |
GHI CHÚ |
|
nó / y |
ne, em, ia |
ni, nầy |
eni, lenei |
tiếng Thượng Hải [yi] = nó |
|
tôi |
au (~ [ai]) |
ai? |
?o-ai?, wai |
ai =>ai đó?. [ai] Hakka = tôi |
|
sữa |
susu |
ở đâu? |
?o fea |
[?] tắc-âm thanh-môn (màng họng) |
|
rộng rãi |
raraba |
tại đâu? |
tei hea |
rộng <= [kwong] QĐ / [ruan] QT |
|
của tao |
ta?u |
hoặc (hay) |
po?o |
[huo]-QT
和, [hwa] Hán-Hàn |
|
hôm nay |
he?aho ni |
thung-lũng |
te-le?a |
[?] giữa [uh]&[oh] trong [uh-oh]* |
|
gỗ (cây) |
kau, ?akau |
học |
a?o |
âm [g](gỗ) ~ [k].[gon]He/ [kan]PK |
|
muỗi - mosquito |
namu |
mạnh |
malosi, maita?i |
+ muỗi <= [mu] Khmer, [mok] M-L
+ mạnh => [man]QĐ / [men]Hẹ 暋 |
|
hoà-bình |
hau |
vách |
banis, pa |
byách (Nam) = biak (Hẹ) |
|
hỏi (câu) |
fehu?i |
vế (đùi) |
vae |
bắp vế. [byế]= [bei]QĐ. [dwl] M-K |
|
lời (nói) |
lea |
thêu |
tuitui, thu?i |
[zeoi]QĐ 綴 / [zyut], [tseot]QĐ 絀 |
|
áo |
?aofutino |
thay đổi |
t(h)aui |
?aofu ~ 'âo phục' hay 'y phục' |
|
phòng |
potu |
chó (má) |
kuli, maile |
kuli <=> kuri <= kẩu / Maa (Thái) |
|
trễ, muộn |
taere, tomui |
mưa |
ua-timu |
mưa = vũ = yũ = ôh (ô = dù) => ua |
|
xinh(đẹp) |
sini, msin |
đường xá |
sala |
Chăm: salan, zalan. M-K: dza, ka-la |
|
cười |
kata |
tù trưởng |
turaga |
tù => tộc => [zu] quanthoại
族 |
|
tí (nhỏ) |
iti |
cái ni (nầy) |
ko eni |
tí <= [si] Ngô-Việt
細 |
|
uống |
inu |
cá |
ika |
uống => [iong]Ngô-Việt {dùng} |
|
đúng |
donu, dodonu |
cỏ (grass) |
co |
[kou] Phuckien 苟 |
|
ăn |
?ai, ?amu |
có |
e tiko, ko |
there are: koe <= có (hai người lạ) |
|
tắm |
tă?ele |
cứng |
kaukaua |
[kong] Phúckiến (Mân) 剛 |
|
đậu (xe) |
tau |
người ta |
taNGAta |
[ngin]Hẹ / [ngai]Mường |
|
cua (con) |
kuka |
mặt |
mata |
mắt = cũng là 'mata' |
|
khác(đổi) |
duidui, kehe |
tới (đến) |
tae, taunu? |
[to]Ngô 到 & [ta?]Ngô 達 |
Bảng I. Đối chiếu một số từ cơ bản Việt
và Đa-đảo. Các chữ tắt: QT= quan-thoại, QĐ=Quảng Đông, N=
Ngô-Việt, M-L= Mã-Lai, M-K= Môn-Khmer, [?]=tắc-âm thanh-môn - Âm
sinh giữa [uh] và [oh] khi đọc nhanh [uh-oh].
Hiện vẫn có nhiều lý thuyết khác nhau về nguồn-gốc của dân
Đa-đảo [13]. Có thuyết cho rằng nguồn-gốc đặt tại Taiwan. Thuyết
trái ngược, lại cho Taiwan là điểm cuối của những đợt di dân,
chứ không phải khởi điểm. Cũng có thuyết cho gốc-gác nằm ở phía
Đông nước Indonesia. Chung quanh khu đảo chứa 'di-sản' đồ gốm
Lapita. Và cũng có thuyết cho rằng bờ biển phía Tây của Nam Mỹ
mới là điểm gốc. Thuyết Nam Mỹ hiện nay là thuyết yếu nhất. Nhận
diện người Đa-đảo trong lòng tộc người Việt cổ ở đây tập trung ở
hai điểm: (a) Thói tục kị húy; và (b) Giống nhau về một số từ
vựng và văn phạm giữa tiếng Việt và các thứ tiếng Đa đảo.
Kị húy trong tiếng Tahiti rất giống kị húy tiếng Việt: Tránh
dùng hay kêu tên nhà lãnh đạo, và thay thế bằng một từ khác mang
âm gần giống. Thí dụ, [Tu] tại nhiều quần đảo mang nghĩa 'Đứng'
(to stand), nhưng trong tiếng Tahiti phải nói [Ti?a] hay [Tiqa]
tránh tên 'vua' Tū-nui-’ē’a-i-te-atua. Giống như ở xứ Đại Việt,
người ta nói 'lợi' thay vì 'lị', cố tránh tên vua Lê Lị tức Lê
Thái Tổ [14]. Dần dà về sau, [lị] biến mất và được thay thế
thường trực bởi [lợi]. Hay như 'Huỳnh' dùng thay cho họ 'Hoàng'
kị tên chúa Nguyễn (Hoàng), đặc biệt ở Đàng Trong.
Bảng I (theo [16]) cho thấy rất nhiều từ Đa-Đảo mang cùng gốc
với tiếng Việt. Nhiều từ mang âm giống khá kì lạ. Như: tới
(đến), con cua, đậu (xe), ăn, uống, tí (nhỏ), (của) tao, gỗ
(cây), sữa, cá, cỏ (grass), có (there is, il y a), vế (bắp vế),
xinh (đẹp), v.v.
Về văn phạm cú pháp, các tiếng Đa-đảo có những tương đồng như
sau với tiếng Việt:
§
Hai thứ nhóm chữ phân biệt 'đại danh từ
ngôi 1 - số nhiều': 'Chúng Ta' (bao gồm) và 'Chúng Tôi' (phân
cách) y như tiếng Việt và các phương ngữ phía Bắc Trung Hoa. Đặc
biệt các thứ từ Đa-đảo chỉ 'Chúng Tôi' (không kể đến 'người
nghe') thường mang âm [tau] giống như 'tao' tiếng Việt => tụi
tao, chúng tao, ... Các từ chỉ 'chúng ta' (bao gồm mọi người)
thường dùng âm [ma] có vẻ liên hệ gần xa với tiếng Việt 'mình':
tụi mình, chúng mình, ...
§
Không phân biệt số ít - số nhiều cho
danh từ: Một bạn gái / Nhiều bạn trai.
§
Các 'Thì' của động từ mang sắc thái y
hệt Việt ngữ. Thí dụ, trong tiếng Samoa: - đã đi= na alu, - vừa
đi= ua alu, - đang đi= e alu, - sẽ đi= ole a alu. Đặc biệt nhiều
thứ tiếng có động từ có âm giống [Có] tiếng Việt và cách dùng
cũng y như 'there is / there are' hay 'il y a' tiếng Tây: Có=
Koe (Tonga), E Tiko (Fiji). Có một cái bị mà thôi= Koe kato pe
ia 'e taha (Tonga). Có một chiếc xe hơi (ô-tô)= E tiko e dua na
motoka (Fiji).
§
Thể mệnh lệnh cũng khá giống tiếng
Việt: Đặt những 'lệnh từ' như 'hãy', 'đừng', 'xin' trước
động-từ. Phân biệt luôn 'mệnh lệnh' hoặc 'đề nghị nhẹ nhàng'.
Thí dụ tiếng Tahiti: Eiaha e parahi= Đừng có ngồi (mệnh lệnh) //
Eiaha parahi= Xin chớ ngồi (ghế còn ướt). Tiếng Samoa, dùng
[se'i] trong cách nói nhẹ: Ta đi hỉ? => Se'i Ta alu.
§
Hình dung từ thường theo sau danh từ
như trong tiếng Việt: người đẹp. Samoa: le tamaloa malosi =
người đàn ông mạnh; le fafine umi= người đàn bà cao. Trong tiếng
Fiji: na sala balavu= con đường xa / đường xá xa xôi. Để ý: [na]
là mạo từ, con / cái. [sala] cho ra âm tiếng Việt [xá] => đường
xá. 'Xá' trong 'đường xá' cũng giống tiếng Chăm: [salan] hay
[zalan] hoặc Môn-Khmer: [dza].
Từ nhận xét tổng-quát về các thứ tiếng Đa-đảo như trên, chúng ta
có thể đúc-kết một lý-giải quan-trọng theo dạng câu hỏi với
'nhiều lựa chọn giải-đáp' như sau:
Người đa-đảo mang gốc-gác tự nơi nào? Đáp:
A.
Tộc người đa-đảo Polynesian là một thứ tộc Việt bản-địa
lâu đời, tức một tộc có sẵn trong lòng tộc người Việt Nam,
xuất-xứ từ những hải đảo Thái Bình Dương; HOẶC:
B.
Người đa-đảo chính là người Việt cổ, mang danh 'thuyền-nhân đầu
tiên' di tản bằng tàu bè chạy giặc từ miền duyên hải, ra sinh
sống ở những hải đảo xa xôi, với mục đích chính: duy-trì và
bảo-vệ tập-tục và lối sống cổ truyền của tổ-tiên [20]; HOẶC:
C.
Cả hai câu giải đáp A và B, ở trên.
Xin phép ghi nhận: Nghiên cứu tiếng Việt (hay ngay cả tiếng Hoa)
từ xưa đến giờ luôn luôn bỏ sót ảnh-hưởng của các tộc người
Đa-đảo. Theo sát khuynh-hướng của các sử-gia hay nhà ngôn-ngữ
Trung Hoa. Hoặc chờ đợi các khám-phá của người Âu-Mỹ. Ở góc cạnh
này, và từ nhận xét về đối chiếu các tiếng Đa-đảo với tiếng Việt
như trên, chúng ta có thể đánh một dấu hỏi về cách phân xếp các
nhóm ngôn-ngữ như Nam-Á hay Nam-Đảo, của các học-giả Tây-phương.
Họ Lê hay họ Ly?
Từ lúc bắt đầu viết loạt bài Hùng Vương này, chúng tôi vẫn mang
một thắc mắc khá lẩm cẩm: Phải chăng họ Lê, trong một số
phương-ngữ, có thể được phát âm như Ly? Và một số nhân vật đáng
lẽ mang họ Lê lại được người sau viết nhầm ra thành họ Lý, bởi
chỉ cần thay đổi thanh-điệu (thinh) chữ 'Ly' [17] - thêm dấu sắc
kiểu quốc-ngữ - 'Ly' sẽ biến ra 'Lý'. Thí dụ: Lý Phật Tử, theo
sách Tàu dẫn trong [18], mang tộc [Lái], tức [Hlai] theo cách
phát âm của họ. Tộc [HLai] chính là tộc Lê (quan-thoại: [Li]),
một trong hai tộc người bản-địa chính tại Hải-Nam. (Tộc kia:
Miêu tộc). Phải chăng họ Lý của Lý Phật Tử, thật ra chính là Lê,
đọc theo một phương ngữ nào đó, thành ra ‘Ly’ rồi sang ‘Lý’?
Theo thiển ý, nếu hiểu rõ được biến-chuyển giữa [Lê] và [Ly]
chúng ta có thể tháo ra thêm được một điểm gút mắt khá lớn trong
câu chuyện truy tầm cổ sử Việt Nam.
Trước hết xin để ý:
-
Họ 'Ly' là một họ rất phổ thông trong
cộng đồng người Dao (thuộc nhóm Miêu-Dao tức Hmong-Mien) {xem
[15]};
-
Nhóm Miêu-Dao, xưa nay vẫn được xem
thuộc khối Cửu Lê, phát âm theo quan-thoại chính là [Jiu Li]
{tức Lê <=> Li};
-
Âm [ê] trong tiếng Việt phiên thiết từ
tiếng 'Tàu' có thể cho ra dạng âm [i] => Tác-giả bộ 'Thủy Kinh
Chú' được phiên thiết [21] như 'Lệ Đạo Nguyên'. Gần đây bản dịch
mới 'Thủy Kinh Chú' [22] viết lại thành 'Lịch Đạo Nguyên': [Lệ]
<=> [Lịch].
-
Chữ 'Lệ' 麗
(dạng
đơn giản:
丽)
trong 'mỹ lệ', 'tráng lệ',... mang nghĩa 'đẹp', cũng thường được
'phiên thiết' sang quốc-ngữ là 'Ly'. Phát âm [le] cho từ
丽
này chính là âm của khối Mân Việt (Phúc Kiến). Hakka, quan-thoại
và Ngô đọc theo [li], trong khi Quảng-Đông đọc [lai] hay [lei],
gần với [lê] như Mân Việt.
-
Tương tự họ Lê 黎 đọc như 'Lê' chính là
theo phát âm [Le] của người Việt gốc Mân (Phúc Kiến). Hakka, Ngô
và quan-thoại đọc [Li], trong khi Quảng-Đông cũng như một vài
nhóm Hakka phát âm như [Lai] hay [Lei]. Người 'Lê' (Lê tộc) ở
Hải Nam tự gọi họ là [HLai]. Để ý, phát âm phương-ngữ giống căn
nguyên nhất do ở thứ tộc xử dụng đã sống gần gũi với 'khổ chủ'
nhất. Thí dụ: 'Ngựa' xuất phát từ khu vực Mông Cổ. Người Mông
gọi đó là [Mohr] và người Tàu Hoa Bắc đọc gần giống [Ma] => mã.
Tương tự, người Hakka sống gần Miêu-Dao, hay các tộc thuộc Cửu
Lê, nên họ gọi 'họ Lê' vừa giống thứ Lê 'Miêu-Dao' là [Li] (=>
[Ly]), vừa giống thứ Lê 'Môn-Khmer' là [Lai] y hệt như chính
người [HLai].
-
Tiếng Hán ‘Ly’ hay ‘Lê’ 黎 cũng mang
nghĩa ‘Đen’ (màu đen). Tộc 'ly dân' [li min] chính là tộc da
đen, gần đây có giả thuyết, liên kết tiếng Hán và Manding, cho
rằng một thứ tộc thủy tổ từ Mandé (Phi Châu) của chủng Hoa Hạ
[13];
-
Trái lê (pear) viết theo Hán tự: 梨 ,
lại có phát âm Việt giống Quảng Đông nhất: [lei]. Hakka,
quanthoại và Ngô đọc [li], trong khi Mân đọc trại ra [lai]. Một
trang mạng cho biết họ Lê cũng dính dáng đến nghĩa 'người trồng
cây lê' - nhưng chữ 'lê' lại lẫn lộn với 'ly' và họ Lý [32]. Còn
nhớ ngày trước có tên gọi 'trái xá lỵ' cho quả Nashi Pear theo
tên gọi ngày nay?
-
Họ LÝ 李 của Lý Công Uẩn vẫn nằm trong
cái vòng lộn xộn này. Hakka, quan-thoại, Ngô và Mân đều đọc theo
[li] tuy thanh-điệu (tone) hơi lộn xộn lẫn lộn với phát âm họ Lê
(hay LY - không dấu) trong tiếng Việt. Chỉ có Quảng Đông lại đọc
trệch thành [lei] giống [lê]. Bởi một ông vua nhà Lý có cho lập
đền thờ Xy Vưu (xem [18]) và tôn-thất nhà Lý có vượt biên trở về
cố quận ở khu Sơn-Đông & Cao-Ly (địa bàn xưa của nhóm Cửu Lê,
trong đó chủ lực là Hakka và Miêu-Dao) - nên chúng ta có thể cho
phát âm Hakka là phát âm nguyên thủy của [Lý].
Như vậy có thể kết luận: họ Lê có phát âm nguyên thủy chính là
[Lai] khá gần [Lê] - dành cho thứ Lê tộc gần chủng Môn-Khmer -
phía Hải Nam và Chiêm Thành. Lê cũng có phát âm kiểu Hakka và
Miêu-Dao là [Li] (tức họ Ly, người Dao) - cho một thứ tộc Lê
(Ly) khác thuộc nhóm Cửu Lê, hay Cửu Ly [Jiu Li]. Ngoài ra tộc
Lê thuộc khối Cửu Lê cũng có thể đã được dùng để chỉ chủng
Thái-cổ. Trong trường hợp này có thể phát âm xưa nghiêng về
[Lai] tức gần 'Lê' hơn 'Ly'.
Nói một cách khác: Họ Lê cũng như nhiều họ khác, có thể mang
nhiều gốc khác nhau.
·
Gốc 'Lai' như người bản-địa ở Hải Nam -
thuộc hệ Môn-Khmer: (a) Lý Phật Tử (thật ra, rất có khả năng: Ly
(hay Lai) Phật Tử). (b) Lê Hoàn, tức Lê Đại Hành.
·
Gốc Thái-cổ, rất gần với người Mường:
Bình Định Vương Lê Lợi.
Rất tiếc chúng tôi chưa hề đọc được lý giải của Nhượng Tống,
dịch-giả đầu tiên của bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, cho rằng người
anh hùng đất Lam Sơn mang gốc tộc Mường (xem [21]). Tuy nhiên,
chúng tôi xin mạo muội trình bày những lý do sau, gạn lọc từ bản
dịch mới của bộ sử Ngô Sĩ Liên [18], để chứng minh người anh
hùng đất Lam Sơn, rất có khả năng mang huyết thống chủng
Thái-cổ:
a)
Tổ tiên 3 đời trước đã chọn đất Lam
Sơn, thuộc Thanh Hoá, làm quê hương. Đất Thanh Hoá là nơi tập
trung đông đảo cộng đồng người Mường, ngang ngửa với Hoà-Bình
cho đến giữa thế kỷ 20 (theo [23]).
b)
Sau chừng 3 năm lập nghiệp tổ tiên Lê
Thái Tổ gầy nên 'nghiệp lớn', đời đời làm chức 'Hùng Trưởng' tại
địa phương [18]. 'Hùng Trưởng' chính là một lối gọi theo tiếng
Hán, rất có khả năng tương đương với ... 'Hùng Vương', tức
'chef' một khu vực Mường bản.
c)
Mẹ của Lê Lợi có tên húy là Quách. Ta
có thể đoán thân mẫu vua Lê, có thể mang họ Quách hay có bà con
rất gần mang họ Quách. Theo [23], cả hai họ Lê và Quách đều là
hai họ thuộc giới vọng tộc trong cộng đồng người Mường ở Hoà
Bình & Thanh Hoá.
d)
Khối người (khoảng 100) đi theo Lê Lợi
trong những ngày đầu, xuất thân từ một mường bản, mang tên Mường
Yên, gần núi Chí Linh (Bù Ginh) [25] ở Thanh Hoá.
e)
Bộ sử ký của Ngô Sĩ Liên [23] cho biết
điạ bàn hoạt động du kích của Lê Lợi nằm trong các mường bản
nằm giữa Thanh Hoá và xứ Ai Lao (cùng chủng Thái-cổ). Toàn
những 'đơn-vị hành-chánh' nầy bắt đầu bằng chữ 'Mường': Mường
Yên, Mường Một, Mường Chánh, Mường Thôi, Mường Xỉa, Mường Lễ,
Mường Mộc, v.v.
f)
Trong nhiều giai-đoạn của cuộc chiến 10
năm chống giặc Minh, Lê Lợi thường nhận được giúp đỡ từ phía
Ai-Lao (xưa cũng có tên: Mường Qua [25]).
g)
Bộ tham mưu gần gũi của Lê Lợi, trừ
Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn [24], đa số gồm những người cùng
mang họ Lê. Có thể, hoặc thay đổi (hay được ban) họ Lê cho giống
vua, hoặc chính bà con giòng họ người đất Lam Sơn. Kể sơ sơ: Lê
Vấn, Lê Sát, Lê Văn Xảo, Lê Ngân, Lê Lý, Lê Văn Linh, Lê Quốc
Hưng, Lê Chích, Lê Văn An, Lê Liệt, Lê Miễn, Lê Lễ, Lê Chiến, Lê
Khôi, Lê Đính, Lê Chuyết, Lê Lỗi, Lê Nhữ Lâm, Lê Sao, Lê Kiệm,
Lê Lật, v.v. Theo lý giải kiểu nào, vua ban hay bà con vua, hằng
trăm quần thần cùng mang họ Lê, cho thấy tính cách khá đặc biệt
về Họ ở thời Lê Lợi.
Riêng Lê Lai, trong chức vụ cỡ tham mưu trưởng, trái với hiểu
biết thông thường, và theo [18], bị giết vì tội ngạo mạn, trước
khi quân kháng chiến của Lê Lợi đánh đuổi được giặc Minh. Sử
sách đời sau viết trệch Lê Lai liều mình cứu chúa (giỗ: 21 Lê
Lai 22 Lê Lợi), có lẽ để xoa dịu bất mãn quần chúng đối với tính
'vắt chanh bỏ vỏ - được chim bỏ ná - được thỏ bẻ cung' - của các
vua đầu nhà Lê.
Chúng ta cũng thấy rõ tầm quan trọng của vấn đề 'cội nguồn quyền
lực' qua những sự kiện lịch sử sau:
(i) Sau khi đánh được giặc Minh (1428), Lê Lợi phải chờ đợi vài
năm mới được nhà Minh chính thức tấn phong ngôi vương xứ An
Nam. Vua Lê sai sứ sang Tàu nhiều lần để thuyết phục với vua
Minh con cháu dòng nhà Trần đã tuyệt tự cả rồi. Lần sau cùng
(1431) mang thêm chứng cớ con cháu cuối cùng nhà Trần là Trần
Cảo đã qua đời, mới xong.
(ii) Có lẽ trong những năm chờ đợi phong vương, các cố vấn
chính trị của vua Lê đã có lăng-xê một số tin đồn trong dân-gian
là vua Lê Thái Tổ thuộc dòng dõi của vua Lê Đại Hành tức Lê
Hoàn. Điểm này không thấy nhắc đến trong bộ Sử của Ngô Sĩ Liên
[18], bởi bộ sử này được viết sau khi nhà Lê đã tạo dựng nền
móng chính quyền vững chắc. Không còn cần thiết nữa. Tuy nhiên
những thứ tin-đồn đó vẫn được truyền tụng qua vài quyển sử khác,
thí dụ [19], và rất phổ thông trên những trang mạng lịch-sử
internet ngày nay.
(iii) Khi Nguyễn Phúc Ánh nhất thống được nước Nam vào năm 1802,
ông sai quyền bộ-trưởng quốc-phòng Lê Quang Định sang triều đình
nhà Thanh xin thọ phong chức Vương, với quốc-hiệu Nam-Việt.
Chính phủ ở Bắc Bình từ chối đôi ba lần, và mãi đến năm 1804 mới
chính thức chấp-thuận với quốc-hiệu hơi khác là Việt-Nam [26].
Tiện dịp, cũng xin liệt-kê vội một số lý-do cho biết ông Đinh
Tiên Hoàng có thể mang tộc gốc thuộc chủng Thái cổ, thường gọi
nôm na là Mường:
a)
Vua Đinh Tiên Hoàng là con ông Đinh
Công Trứ, thứ sử Hoan Châu. Hoan Châu là tên xưa của Thanh Hoá,
nơi tập trung nhất nhì của người Mường vào giữa thế-kỷ 20.
b)
Chức vụ (quyền) 'thứ sử' Hoan Châu là
do tường Dương Đình Nghệ phong cho ông Đinh Công Trứ. Họ Dương
杨 [Yang] của Dương Đình Nghệ có xuất xứ từ khu vực Vân Nam
[27], xưa gọi Nam Chiếu, địa bàn ban đầu của dân Thái Lan ngày
nay.
c)
Họ 'Đinh Công' thuộc vào nhóm họ vọng
tộc lãnh đạo trong cộng đồng người Mường ở Thanh Hoá (theo
[23]).
d)
Bộ sử của Ngô Sĩ Liên [18] viết:
'Vua...quét sạch các hùng trưởng, nối lại đại thống của Triệu Vũ
Đế' - đã cho một gạch nối giữa sự nghiệp của Đinh Bộ Lĩnh
với Triệu Quang Phục, đại tướng của vua Lý Nam Đế tức Lý Bôn.
Triệu Quang Phục thu nhận 'cội nguồn quyền lực' từ Lý Bôn (hay
Lý Bí). Lý Bôn và anh là Lý Thiên Bảo, trong suốt sự nghiệp
chinh chiến giành độc lập đều có hậu thuẫn là khối người Lão
(tức Mường gần phía Ai Lao). Cũng như cứ địa ẩn náu của vua là
động Khuất Lão thuộc khu vực người Mường ở Phú Thọ.
e)
Theo [18]: 'Vua còn nhỏ bồ côi cha;
mẹ là họ Đàm cùng với gia thuộc vào ở động bên cạnh đều thờ Sơn
thần'. Sơn thần, rất có khả năng, chính là Sơn Tinh. Theo
[23] người Mường chỉ thờ có Sơn Tinh, trong khi, chúng ta có thể
thấy, người Kinh thường giữ thế 'trung lập' giữa Sơn Tinh và
Thủy Tinh.
f)
Trong suốt thời nhà Đinh, không có cuộc
nổi loạn nào do người Man (Mường) gây ra.
Nguồn gốc tên gọi 'Người Tàu' và 'nước
Tàu'
Xin thử chọn một trong nhiều giải-đáp sau cho câu hỏi kiểu:
'Từ ngàn xưa cho đến thế kỷ 19, người Việt thường dùng thứ tên
gọi nào để gọi 'người Tàu' hay người Hoa, ở phía Bắc?'
- ĐÁP:
A. Người Hán
B. Người Hoa
C. Người Đường
D. Hoa kiều
E. Người Ngô
Có thể nói đa số chúng ta (kể cả người viết) đều chọn sai câu
giải đáp. Điều này cho biết:
(i) Dân Việt rất bận rộn trong vòng vài trăm năm qua;
(ii) Kiến-thức thông-thường của người Việt về ngôn-ngữ, lịch-sử,
và xã-hội, của chính dân-tộc Việt-Nam từ khoảng đầu thế-kỷ 20
đến nay, có vẻ mất một khoen nối liên-tục khá quan-trọng [28];
(iii) Biến chuyển xã-hội từ lúc giao-tác với người Tây-phương
quá sức to-tát. To-tát đến nỗi cái mớ kiến-thức hoặc chất xám,
cần thiết cho giới sĩ-phu hay ê-lít để họ có thể ghi lại truyền
cho đời sau, luôn đòi hỏi những công-trình liên-tục dài hơn một
đời người.
(iv) Vân vân, và vân vân.
Câu giải-đáp đúng nhất cho câu hỏi trên chính là (E): Người Ngô,
nước Ngô và giặc Ngô. Dẫn chứng: (a) Lời kêu gọi toàn dân toàn
quân đứng lên đánh đuổi giặc Minh có tên 'Bình NGÔ Đại Cáo', do
Ức-Trai tiên-sinh Nguyễn Trãi viết. (b) Những quyển sách như Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên [18], hay Sử Ký Đại Nam
Việt xuất bản vào đầu thế kỷ hai mươi [19] vẫn thường dùng 'nước
Ngô', hay 'giặc Ngô' để chỉ nước Tàu hay Trung Hoa. Bộ 'Sử Trung
Quốc' của Nguyễn Hiến Lê [29] cũng như quyển 'Mã Lai' của Bình
Nguyên Lộc [21], đều có ghi người Việt xưa thường dùng 'nước
Ngô' để chỉ nước Tàu. Và tên gọi 'nước Tàu' chính thức đi vào
sách vở, có lẽ từ dạo 'Việt Nam Sử Lược' của Trần Trọng Kim
[30]. Chữ 'Tàu' thật ra chỉ từ từ thay thế chữ 'Ngô' vào đầu thế
kỷ 20. Thay thế bằng cách bỏ bớt đi 'Ô' trong 'Tàu Ô', hay 'giặc
Tàu Ô'. Chữ 'Ô' trong 'Tàu Ô' ngày trước thường cho mang nghĩa
'màu Đen' [34].
Thế nào là 'Tàu Ô'? Theo luận-chứng ngôn-ngữ của chúng tôi dùng
để hỗ trợ lí-thuyết ở đây, [Ô] dùng trong [Tàu Ô] không phải [ô]
màu đen, như 'chim quạ ô' mà lại là một lối phát âm của chữ ...
Ngô {吳
}. Tàu Ô => giặc Tàu nước Ngô. Nước Ngô chính là nước Đông Ngô
của Tôn Quyền (孙
权
) trong thế chân vạc Tam Quốc, tranh giành Trung nguyên với Tây
Thục (Lưu Bị) và Bắc Ngụy (Tào Tháo). Đông Ngô xưa nằm ở mạn các
tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, An-Huy, Chiết-Giang, v.v. tức phía
bờ biển Đông, địa bàn của các chủng Lạc-Việt. Ở thời Câu Tiễn
(Phạm Lãi - Tây Thi), vùng Chiết Giang đã mang tên nước Việt
(viết như
越
y hệt chữ Việt của 'Việt Nam'). Đất này còn gọi 'Ngô Việt' hay
'U Việt' [31] {[U] hay [Ô] là phát-âm biến đổi của [Ngô]}, để
xác nhận sự xáp nhập nước Ngô (Giang Tô) của Phù Sai vào nước
Việt, khi Lạc Câu Tiễn (Câu Tiễn mang họ Lạc viết theo bộ Chuy:
Luo Gou Jian (
雒
|