|
Nếu có một điểm đặc-trưng nào, hết sức đặc-trưng nhưng cũng rất
phổ-quát, dùng để miêu-tả nguyên lý 'nhị nguyên' áp dụng cho
xã-hội loài người, cũng như tất cả mọi sinh vật trên quả địa
cầu, đó phải là phân-biệt 'Họ và Ta'.
'Họ và Ta' có vẻ như một nền tảng vững chắc nhất cho tiến bộ cá
nhân, xã hội, nhưng cũng đồng thời là nguyên do cơ-bản cho sự
hủy-diệt, cho chiến-tranh, đàn-áp và khủng-bố. Có thể nói,
nhị-nguyên 'Họ và Ta' sinh ra muôn vạn thứ nhị-nguyên khác,
diễn-biến không ngừng, cùng với một thứ nhị-nguyên cơ-bản
bất-biến khác là sự sống và sự chết.
Thật ra nguyên lý nhị-nguyên 'họ và ta' mang cường-độ phân-biệt
luôn thay-đổi, theo từng thời-đại, cá tính chủng-tộc, từng
quốc-gia, từng cộng đồng trong một quốc-gia, và dính liền với
những 'đại-lượng' văn-minh văn-hoá khác, như tôn-giáo, thể-chế
chính-trị, truyền thống văn hoá và lịch sử, tình hình kinh-tế
của từng cộng-đồng hay quốc-gia. Thí dụ: tình-trạng 'họ và ta'
giữa Anh-quốc và Tân-Tây-Lan, Mỹ với Nhật, Hoa-Kỳ với Trung-Hoa,
v.v. luôn thay đổi chỉ trong vòng phần nửa sau của thế kỷ 20.
Do-Thái và khối Á-rập, tuy mang cùng gốc chủng-tộc (Semitic),
nhất là vào thời Abraham, nhưng phân biệt 'họ và ta' từ những
thập-niên cuối thế-kỷ 20 trở lại đây, càng ngày càng trở nên gay
gắt khốc-liệt. Các quốc-gia có tiếng mẹ đẻ là Anh-ngữ (như
Hoa-Kỳ, Úc, Tân Tây Lan) đối với Anh-quốc, cũng có tương-quan
'Họ và Ta' thay đổi, đi đôi với quyền-lợi kinh-tế, chỉ nội trong
cuối thế kỷ 20, sang qua thế kỷ 21.
Nhị-nguyên 'Họ và Ta' thông thường dính liền với vấn-đề căn-cước
lý-lịch [1]. Nhưng, thật ra, cường độ mâu-thuẫn 'Họ & Ta' không
nhất thiết là một hàm-số của sự thông suốt về căn-cước lý-lịch.
Hoặc hiểu-biết rành rọt về căn-cước không nhất thiết sẽ đưa đến
kết-quả tốt đẹp hơn trong tranh-chấp 'Họ & Ta'. Ngược lại, có
thể để ý, trong khi 'Họ & Ta' là một nhu cầu không thể thiếu của
sinh hoạt con người và quốc gia, thiếu thốn hiểu biết về
căn-cước lí-lịch có thể dẫn đến vận-hành thiếu tính nhất-quán,
thiếu bài bản của nguyên-lý 'Họ & Ta', hao-hụt tài-nguyên và
tiềm-năng, cũng như kềm hãm sức tiến của dân-tộc. Ở khía cạnh
này, chúng ta có thể viện-dẫn chuyện canh tân quốc-gia của Nhật
và Thái-Lan vào thế kỷ 19-20, so với nhiều quốc-gia khác ở Á
Châu, kể cả Trung-Quốc, dựa trên sự hiểu biết căn-cước lý-lịch,
cũng như mâu thuẫn nhị nguyên 'Họ và Ta'. Trong chuyện này, có
thể để ý đến một quan điểm thường thấy, quy vào tinh-thần
thủ-cựu của triều-đình nhà Nguyễn, vào đầu thế kỷ 19, trong việc
chờ đợi xem triều-đình nhà Thanh ở phía Bắc có chiêu nào mới
trong việc đối phó với sức tiến của Tây Phương hay không.
Quan-điểm này hoàn-toàn lướt qua xem xét cá-tính và sự thấu-đáo
về căn cước của người Việt Nam, cũng như đã vướng phải những
hiểu biết về 'Họ và Ta' khá lộn xộn, hay ít nhất thiếu chính
xác, được hun đúc qua nhiều thế-kỷ trước.
Mâu thuẫn và thay đổi của hệ nhị nguyên 'Họ và Ta' xưa nay vẫn
thường bắt nguồn ở lý do tôn-giáo hoặc ý-thức-hệ chính trị. Thí
dụ: Vào giữa thế kỷ 20, Pakistan (Hồi quốc) tách ra khỏi Ấn Độ
chỉ vì lý do tôn-giáo. Sau đó Đông Pakistan tách ra khỏi
Pakistan, và trở thành một quốc-gia khác, mang tên Bengladesh,
viện dẫn lý-do khác nhau về truyền- thống văn-hoá và lịch-sử.
Những tiểu quốc nằm trong 'nước' Chăm-pa xưa, thường xung đột
với xứ An-Nam hay Đại Việt ở phía Bắc, và các tiểu quốc thuộc
'khối Chân Lạp' (tức Cam-Bốt ngày nay) ở phía Tây và Nam, mặc dù
có chung một thứ tộc bản địa: Môn-Khmer. Rất có khả năng do ở
việc Chăm mang ảnh hưởng văn hoá và tôn-giáo Ấn-Độ và Hồi-giáo,
trong khi xứ Chân-Lạp chịu ảnh hưởng Ấn-Độ và Phật-giáo, nhiều
hơn Hồi-giáo, cũng như tộc chủ lực Khmer đông hơn khối Môn hay
Thái ở phía Chân-Lạp. Chăm cũng khác với Việt tộc ở phía Bắc từ
khoảng thế kỷ thứ 8 về sau, ở chỗ Việt tộc chịu ảnh hưởng 'Hán
tộc' và đang chớm nở hệ tam giáo đồng-nguyên. Cũng như đang nhận
nhiều di dân thuộc khối Lạc Việt (vùng biển). Trong các nhóm di
dân này, có nhóm người Hẹ cổ (với đại biểu sáng chói là triều
đại nhà Lý) và Mân-Việt, trong vài thế-kỷ đã trở thành nhóm chủ
lực ở phía Bắc. Theo phụ-hệ giống như người Hoa phía Bắc. Trong
khi tộc người Chăm, từ khoảng thế kỷ 8 trở về sau, mặc dù mang
chủng chủ lực bản địa Môn-Khmer giống vùng đất phía Bắc, đã mang
nặng ảnh hưởng văn-hoá Ấn-Độ, và 2 thứ tôn-giáo khác với nước
Nam, là Bà-La-Môn và Hồi giáo. Ngoài ra, Chăm vẫn giữ mẫu hệ.
Nếu đọc kỹ lại Việt sử, nhất là bộ 'Đại Việt Sử Ký Toàn Thư' của
Ngô Sĩ Liên [5], chúng ta sẽ thấy rất rõ đầu dây mối nhợ của bao
nhầm lẫn giới nghiên cứu sử ở Việt Nam từng vướng phải nằm ở chỗ
phân-biệt 'Họ và Ta' đã bị rối nùi hằng trăm, hằng nghìn năm
trước. Chung quy ở chỗ lịch-sử nước Nam đã được viết theo sát
các thư-tịch cổ của Tàu. Tai-hại nhất, phân-biệt 'Họ & Ta' được
viết theo quan-điểm 'Họ và Ta' của các sư-phụ Tàu. Nói nôm-na,
'Họ' theo người Tàu, đôi khi và đúng ra, lại chính là 'Ta', nếu
viết đúng theo quan-điểm khách quan. Nếu có hiệu-đính, các bậc
tiền-bối Việt lại có khuynh-hướng 'hiệu-đính' theo lời dạy của
vua quan nước Nam, hoặc theo trí hiểu biết rất hạn hẹp hay tinh
thần 'quốc-gia' của các tiền-bối đó. Nội ở chỗ chép các thư-tịch
cổ của Tàu, ta cũng có thể thấy rất dễ nhiều điểm sai trật ngay
trên cơ bản. Thí dụ: (a) Xem sơ sơ căn cước lý lịch của các quan
cai trị 'nước' Nam vào thuở ban đầu, như Sĩ Nhiếp (được người
nước Nam tôn vinh là Sĩ Vương), Đái Lương, v.v. Sĩ Nhiếp, tổ
tiên người nước Lỗ (Sơn Đông), (một địa-bàn ban đầu của khối
Đông Di hay Cửu Lê), nhưng di cư về miệt Quảng Tây đến 6 đời,
chắc chắn có mẹ hay bà ngoại, bà cố, thuộc chủng Việt (chi
Thái). Đái Lương là thái-thú đầu tiên do 'chính-quyền' nước Đông
Ngô của Tôn Quyền bổ nhiệm. Kinh đô Đông Ngô nằm ở Kiến Nghiệp
thuộc tỉnh Chiết Giang ngày nay, địa bàn lâu đời của tộc Lạc
Việt từ thời Câu Tiễn. (b) Đại sứ 'nước' Việt-Thường mang con
chim Trĩ trắng dâng cho vua nhà Châu vào khoảng năm 1120. Tư Mã
Thiên trong bộ Sử Ký, theo [6], ra đời khoảng 1000 năm sau, miêu
tả 'nước' Việt-Thường nằm ở phía Nam xứ Phù Nam, tức khu Mã Lai
ngày nay. Có thể vừa đúng vừa sai. Đúng ở chỗ dáng dấp một thứ
người Việt-cổ có thể giống người xứ Java. Nhưng người Việt đời
sau có thể hiểu sai bởi ghi chép đó đã không kể đến các bộ tộc
Việt khác, như nhóm Âu (Thái) và nhóm Lạc (Việt) ở miền biển
Đông. Sai lầm sẽ trở nên to tát, nếu 'Sử Ký' thật sự cho rằng
bộ tộc Việt-Thường nào đó ở khu Mã-Lay / Java, là bộ tộc
nguyên-thủy của dân tộc Việt-Nam. (c) Sử sách Tàu thường thường
rất hay và luôn được giới sử gia Tây phương hâm mộ. Tuy nhiên,
cũng có nhiều điểm hết sức lổng chổng. Trong đó, có nhiều điểm
rất tiếc lại liên hệ đến tộc người Việt Nam. Đặc biệt nhất, họ
dùng xả laáng hai chữ 'Luo Yue' (tức Lạc Việt), đưa ra cạnh
tranh với các thứ Việt khác như: Bách Việt, Bộc Việt, Mân Việt,
U Việt, Âu Việt, v.v. Tuy vậy trong cái hỗn-độn lộn xộn cũng có
gói-ghém những thứ trật tự hết sức tuyệt-chiêu, khác hẳn với
định-luật thứ 2 của khoa Nhiệt-Động-Học, mà chúng tôi đã cố gắng
trình bày trong suốt 18 bài qua. Trước hết để ý, trong các thứ
'Yue' (Việt) ở tại Trung Hoa, như Đông Việt, Mân Việt, Tây Việt,
Ngô Việt, v.v. có lẽ chỉ có hai đám Bộc Việt và Lạc Việt là
không có địa bàn nhất định vào ngày nay. Còn những thứ Việt khác
đều có: Mân Việt => Phúc Kiến, Tây Việt => Quảng Tây, Nam Việt
=> Quảng Đông, v.v. Điểm thứ hai, chính là chữ 'Lạc' trong 'Lạc
Việt'. Khi viết chữ 'Lạc' [Luo], người Hoa lại viết thành 3 thứ
chữ khác nhau. Mỗi một thứ chữ Lạc, lại được dùng để chỉ 1 trong
3 thứ tộc người chủ lực xứ An-Nam xưa. Nếu viết theo quốc-ngữ
chỉ có một: 'Lạc'. Nhưng viết theo Hán tự, 'Lạc', mang tên tộc
người, lại viết thành 3 từ khác nhau. Đó là:
·
Lạc bộ Chuy
雒
dùng để chỉ tộc Môn-Khmer. Dùng ghép trong: Lạc-Hầu, Lạc-Tướng.
·
Lạc bộ Mã
骆
dùng chỉ tộc 'Mân+Ngô' (PhúcKiến, ChiếtGiang,...), và để viết
chữ 'Lạc' trong 'Lạc-Việt'.
·
Lạc bộ Trãi (còn gọi bộ Trĩ)
貉
dùng cho dân Bộc-Việt (tức Hẹ-cổ), và họ Lạc của 'Lạc Long
Quân'. Lạc bộ Trãi, theo thiển ý, được viết ra để miêu tả đám
Việt cổ ở gần lưu vực sông Hoàng Hà, nhất là phía Đông.
Đặc biệt chữ Lạc 'nguyên-thủy' có vẻ không bao gồm tộc Thái cổ
(Âu). Nhưng ngày nay lại được dùng lẫn lộn chỉ cả 2 đám Âu và
Lạc, trong các sách vở Tây phương lẫn Đông phương. Lý thuyết
chúng tôi bắt đầu bằng cách tỉ mỉ phân biệt và tách rời Âu ra
khỏi Lạc, và tạm cho rằng 'Lạc Việt' chỉ nên dùng riêng cho đám
Lạc ở vùng bờ biển nước Tàu.
Việt (Yue) cũng có 2 cách viết chính khác nhau:
·
Việt bộ Mễ
粤
dùng để chỉ người Việt thuộc chi Âu. Ngày nay là tên tắt của
tỉnh Quảng Đông. Mễ mang nghĩa 'thóc / gạo'. Việt bộ Mễ do đó
chỉ thứ dân Việt chuyên sống bằng nghề trồng lúa. Việt-tộc thuộc
chi Âu này (Việt bộ Mễ) chính là tiền thân chủ lực của dân
Thái-Lan, hiện đứng đầu thế giới về ngành xuất cảng gạo, và cũng
chính là một trong hai ba tộc người chủ-lực bản-địa ở xứ
Việt-cổ.
·
Việt bộ Tẩu
越
dùng để chỉ những nhóm người Việt khác, sống bằng nghề du mục /
săn bắn hay chăn nuôi. Thuở xa xưa, mang hàm ý những đám Việt
không phải chi Âu. Đặc biệt, Hẹ-Miêu, Môn-Khmer, và những nhóm
Việt khác ở vùng bờ biển phía Đông nước Tàu.
Nói nôm na theo kiểu toán-học, phương trình bậc 3, 'Lạc = x' có
tất cả 3 trị số cho x:
x1= Chuy (Môn-Khmer); x2= Mã (Mân+Ngô); x3= Trãi
(Hakka+Hmong){tức Hẹ-Miêu}
x1=
雒.
x2=
骆.
x3=
貉.
Ẩn số 'y' trong 'Việt = y' cũng có 3 trị số:
y1= Mễ (Thái); y2= y3= Tẩu (Hẹ-Miêu) / (Môn-Khmer) {không chuyên
nghề trồng lúa}
y1=
粤.
y2= y3=
越.
[Chữ 'Việt' trong 'Việt Nam' viết theo bộ Tẩu:
越
南].
Để ý một trường hợp đáng ghi nhận ở đây: 'Luo Yue' nếu viết theo
quốc-ngữ (dùng a-b-c) là 'Lạc Việt', tức dựa trên tiếng nói, có
thể bao hàm tất cả các thứ 'Lạc' và 'Việt', trong khi viết theo
Hán Tự, chữ viết theo ý-nghĩa, người ta phải phối hợp 3 chữ Lạc
với 2 chữ Việt mới nói lên gần hết các hỗn-hợp tộc người tiến
tạo nên dân Việt-Nam vào thuở ban đầu.
Ngoài ý niệm 'Họ & Ta' (sẽ bàn thêm phía sau), muốn hiểu rõ vấn
đề cổ sử Việt Nam, ta cần nhắc lại 2 ý niệm quan trọng khác. Đó
là ý niệm về 'nước' (tức quốc-gia) và ý niệm của toán-học cuối
thế kỷ 20 về tập-hợp fuzzy, hay lô-gích fuzzy. Fuzzy mang nghĩa,
đại khái: sởn xơ, mù mờ, mơ hồ, không rõ rệt. Cũng như phương
pháp nội suy, và ngoại suy trong toán-học cơ bản. Xin sơ lược từ
dưới lên trên, như sau.
Phương pháp nội-suy / ngoại-suy thường mang giả định: trị-số
thay đổi theo một đường thẳng. Thí dụ: nếu biết lương hướng của
một nhân viên cấp cao nhất, và của một nhân viên cấp thấp nhất,
của một cơ quan, người ta có thể suy ra gần đúng lương của một
nhân viên ở cấp giữa. Nếu biết mức lợi tức của một kỹ sư
Phi-Líp-Pin, và Thái-Lan, người ta có thể suy ra gần đúng mức
lương của một kỹ sư ở Hàn quốc, nhất là khi được biết 'tổng sản
lượng quốc-gia' của ba nước đó.
'Tập-hợp fuzzy' (Fuzzy set) do Lotfi Zadeh, giáo sư đại học
California - Berkeley phát kiến vào năm 1965. Được người Nhật
hâm mộ, đem về xứ Phù-Tang phát triển khá rầm rộ, từ đó đến nay.
Lô-gích fuzzy hiện nay trở thành một trong vài đường hướng chính
được áp-dụng trong khoa 'Thông-minh nhân tạo'. Đại khái 'tập hợp
fuzzy' đặt ra để khai triển tiếp ý-niệm của một 'tập-hợp'
cổ-điển. Thí dụ về tập hợp cổ điển: 'tập hợp các xe gắn máy mang
hiệu Honda', 'tập hợp những đàn ông con trai trong lứa tuổi
18-35'. Đặc tính chính yếu của 'tập hợp cổ điển' là một sự vật
chỉ có hai trị-số 1 hay 0, tùy theo sự vật đó có nằm trong tập
hợp nào đó hay không [14]. Tức cũng một dạng của 'Nhị Nguyên',
theo kiểu Cartesian. (Cartesian dualism, dùng để vinh danh nhà
toán-học và triết gia Pháp René Descartes). Trong khi tập hợp
fuzzy là một thứ tập hợp theo kiểu: 'tập hợp các bộ suit hàng
ngoại đắt tiền', hoặc 'tập hợp những sinh viên to con
ở Harvard', hay 'tập hợp những người Mỹ thầm lặng',
hoặc 'tập hợp các ca sĩ nổi tiếng'. Ta thấy ngay, tập hợp
fuzzy kéo theo một số tiêu chuẩn chọn lựa cho vào tập hợp, thông
thường mang tính chủ quan. Chứ không đơn thuần giữa hai trị số 0
và 1, như trong tập hợp cổ điển [14]. Bởi việc muốn sắp xếp một
sự vật vào trong tập hợp fuzzy, luôn luôn vướng phải chuyện tìm
trả lời thích đáng cho câu hỏi theo kiểu: 'giá bộ suit cao đến
bao nhiêu thì gọi đắt tiền?', 'to con' cỡ nào mới được gọi 'to
con'?', ''thầm lặng' ra sao mới được cho vào tập hợp người Mỹ
thầm lặng?', v.v. Điểm quan trọng cần để ý là trong khi tập
hợp cổ điển có lằn ranh giới phân chia rõ ràng (trong và ngoài
tập hợp), tập hợp fuzzy không có lằn mức phân chia rõ rệt, và
giống như một áng mây mờ. Nhắc đến ý-niệm tập-hợp fuzzy, chúng
ta thấy ngay, và chỉ cần nhớ, khi căn-cước thành-viên của một
tập-hợp hãy còn mang tính mơ-hồ, bất định kiểu fuzzy (có trị số
nằm giữa hai số 0 và 1), biên giới của tập hợp đó chắc chắn cũng
fuzzy, cũng mơ-hồ, chứ không rõ nét như thứ tập-hợp
cứng-dòn.
Quan niệm về 'nước', về 'quốc-gia' vào thế kỷ 20-21 thật ra cũng
hoàn toàn khác hẳn với quan-niệm 'nước', như nước Văn Lang, nước
Hồ Tôn, Phù Nam, v.v., ở thời cổ đại tại miền Hoa Nam và hầu như
khắp mọi khu vực miền Đông Nam Á.
'Nước' ngày nay, có thể mang rất nhiều định nghĩa khác nhau,
nhưng tựu trung nhấn mạnh đến 4 thành tố: (i) lãnh thổ, (ii) dân
tộc, (iii) chính quyền, và (iv) những người cầm quyền thuộc và
xuất thân từ khối dân tộc đó. Thành-tố (iv) sau cùng, đặc-biệt
nhấn-mạnh tinh-thần độc-lập tự-chủ của quốc-gia. Mới được
hiện-thức trong vòng thế-kỷ 20.
Đối với người Hoa ngày xưa, nhất là trước thời Đông Chu (trước
năm 770 TCN), quan niệm 'nước' tập trung ở thành tố thứ 2 (dân
tộc), còn thành tố thứ 1, thứ 3 và nhất là thứ 4, hoàn toàn
không quan trọng. Tại rất nhiều nước chư hầu, giới cầm quyền
thuở ban đầu là giới quan lớn có nhiều công trạng hoặc hoàng
thân quốc thích của triều đình nhà Châu, do chính các vua nhà
Châu bổ nhiệm [6]. Trong khi lê dân thường lại thuộc những chủng
tộc khác. Đa số là các đám rợ chưa biết nhiều về chữ nghĩa và
chính quyền, theo kiểu tộc Hoa-Hạ. Thường họ chỉ biết tuân-lệnh
chính-quyền để đổi lấy sự sống và hai chữ bình yên, với nghĩa
tương-đối. Lãnh thổ cũng không quan-trọng đối với ý niệm
'quốc-gia' ở thời xa xưa. Bởi lãnh-thổ chỉ trở nên quan trọng
khi dân cư trở nên đông đúc, và một khối 'dân-tộc' chia xẻ với
nhau một số đặc-tính, và truyền thống chung, cư ngụ ở vùng đất
đó, đã hoặc đang hình thành. Khi việc khai thác tài nguyên thiên
nhiên đã tiến triển qua một lằn mức nào đó. Hoặc nền kinh-tế hay
truyền-thống văn-hoá tín-ngưỡng (thí dụ: đất tổ) đã quy-định
được 'trị giá' (tinh-thần và/hay vật-chất) của lãnh-thổ đó đối
với quốc-gia. Hoặc đã có một mối liên-hệ hết sức mật-thiết giữa
tộc người cư-dân và lãnh-thổ quốc-gia. Tức ý-niệm lãnh-thổ là
tài-sản của dân-tộc và quốc-gia đã được hiện-thức rõ rệt. Để
rồi, lên đến cấp cao nhất, lãnh-thổ sẽ dính liền với 'tinh-thần'
quốc-gia, với niềm tự hào dân-tộc. Có thể nói, ở thời đại trước
Công Nguyên, tại Á Châu, kể cả Trung Hoa, quan-niệm lãnh-thổ, là
một thành-tố cơ-bản, hay tài-sản cơ-bản, của quốc-gia, hãy chưa
được hiện-thức đầy đủ. Bởi vậy chúng ta vẫn thấy, các thư tịch
cổ Trung Hoa thường dùng từ 'nước' để miêu tả xả láang một khối
tộc người nào đó, mà họ đã gặp (như 'nước' Lang Hoang ở vùng
Lĩnh Nam - gồm tộc người không mặc quần áo), hay đã có lần đối
tác, hoặc chống cự việc tiến quân của họ. Cũng ở lý do này,
chúng ta thấy ở những vùng dân thưa, như khu Phù Nam hay Thủy
Chân Lạp, hoặc ngay cả khu Hồ Tôn (Chiêm Thành) giới 'cầm quyền'
ưa cắt đất nhượng đất xả láang, mệt nghỉ, bởi quan niệm về
'nước' tập trung chỉ ở đám dân đen cùng chủng mà thôi. 'Dân tộc'
là thành tố to tát nhất trong ý niệm về 'nước' ở thời xa xưa.
Đây là một cái đinh rất quan trọng nếu muốn giải-mã
truyền-thuyết Âu-Cơ và Lạc-Long-Quân.
Xin mở một dấu ngoặc nhỏ để ghi nhận: Không có tiền-nhân nước
nào lại thương đám con cháu về sau như tổ tiên người Việt Nam.
Truyền thuyết Hùng Vương nhìn kỹ thật ra là một cẩm nang rất quý
báu của dân tộc. Truyền thuyết đã ghi lại rất rõ về khối người
hợp chủng, những mối nguy cơ cần phải tránh né. Và quan-trọng
hơn hết, đã đề cập thẳng đến, và nhấn mạnh, thành tố thứ 4 ở
trên. Tức giới cầm quyền phải có cùng chủng với đa số khối dân
chúng. Sự thật, theo kiến thức ở thế kỷ 21, chúng ta đều biết
khi một nhóm người di tản hay di dân sang một nơi khác để sinh
sống - dù một thời gian ngắn chừng 5 năm - luôn luôn có cái nạn
trai thừa gái thiếu. Vấn đề thứ hai là vấn đề mitochondrial-DNA,
thứ di-truyền thể, thường thường được bảo toàn khá kỹ từ người
mẹ ban đầu [4]. Phối hợp hai dữ kiện hiện đại này, rồi lùi lại
2000-3000 năm, ta sẽ thấy các chính quyền chư hầu nhà Chu bên
Tàu, không chóng thì chầy, cũng đã thu nhận dòng máu của mỹ nhân
các đám rợ, nhất là khối Đông Di, bao gồm phần lớn: Hẹ, Miêu,
Khương, Thái, Ngô, Mân, v.v. Tức mt-DNA của Việt tộc đã len vào
Hoa tộc ngay từ thời Đông Chu. Vấn đề này cũng lại được phản ánh
đầy đủ ở truyền thuyết Hùng Vương, ấn bản Việt hiệu đính từ bản
Mường, do các đồng tác giả Thái - Hẹ thực hiện. Ở chỗ nào? Ở chỗ
trong nguyên bản Mường, 100 đứa con của bà Âu-Cơ và ông Long
Wang gồm 50 trai - 50 gái.
Sang đến bản Việt, ta thấy 100 người con toàn là con trai. Nếu
lấy vợ, chắc chắn cả 100 vị hoàng tử này bắt buộc phải lấy vợ
người bản địa, tức vợ Thái, hay Môn-Khmer, hay Đa-đảo. Hùng
Vương đời thứ hai, nếu có, là một người biểu tượng cho giới cầm
quyền thời lập quốc, mang trong người 3 giòng máu: Âu, Lạc, và
bản-địa. Xin đóng dấu ngoặc.
Tiếp tục phân-tích về ý niệm 'Nước' qua 'chữ nghĩa' ta thấy,
'nước' là một từ 'thuần Nôm' kiểu Môn-Khmer, phản ánh qua tiếng
Chăm: [nưghar]. 'Nưghar' lại mang gốc gác từ Ấn-Độ qua tiếng
Sanskrit (Phạn) là [nagara]. 'Nagara' mang nghĩa sơ khởi là
'đô-thị', chỗ đông người tụ tập. Tiếng Mã-Lay cũng giống như
vậy: 'Negeri'. 'Nước', xuất xứ từ 'nagara' cũng có gốc chung với
tiếng Tamil (Sri Lanka / Tích Lan) là [naadu], tiếng Hàn là
[nara]. Tiếng đa-đảo cũng mang một âm (thứ 2) giống 'nước':
[foNua] và [atuNu?u]. Đặc biệt tiếng Maori là 'wheNua', có âm
thứ 2 [nua], rất giống 'nước'. Tiếng Khmer xưa biến đổi 'nagara'
thành ra: Angkor, xứ Angkor, cho ra tên hai đền đài nổi tiếng:
Angkor Wat và Angkor Thom. Chúng ta đã đánh một cái vòng. Tiếng
Anh của 'nước' là gì? Chính yếu là: Country, state và nation.
Mỗi một thứ từ nhấn mạnh đến một thành tố khác nhau. 'Country'
nhấn mạnh đến lãnh-thổ. 'State' nhấn mạnh đến chính-quyền,
liên-hệ đến tình-hình kinh-tế. 'Nation' tập trung vào khối
dân-tộc chủ lực của quốc-gia. Xin để ý đến 'nation'. 'Nation'
xuất phát từ tiếng Latin 'nationem' , cùng gốc với 'native',
mang nghĩa ban đầu 'một khối người mang cùng thứ chủng tộc với
nhau', hoặc 'nhóm người sinh đẻ tại bản địa / dân bản xứ'. Tức
tiếng Anh 'nation' mang nghĩa 'quốc-gia' (hay 'nước'), lúc ban
đầu chỉ tập trung vào khối dân tộc cư ngụ trên một vùng đất nào
đó mà thôi. Ý niệm về nước của người Á Châu (kể cả Trung Hoa)
vào thời cổ đại cũng y hệt như ý niệm 'nation' trong tiếng Anh.
Tức tổ-tiên dân-tộc ở đâu thì cương-giới của nước, đã kéo dài
đến đó. Y hệt như truyền-thuyết Âu-Lạc cho rằng nguyên vùng đất
Lĩnh Nam (tức Hoa Nam) là 'nước' của chủng Bách Việt. 'Nation'
sinh ra nationalism (tinh thần quốc-gia), nationality
(quốc-tịch), v.v. Để ý, tiếng Anh gọi quốc-tịch chỉ bằng
'nationality' chứ không bao giờ: 'countrility' hay 'stateness'.
Và 'X National' mang nghĩa 'người mang quốc-tịch X', chứ không
phải là 'nồi cơm điện', như nồi cơm điện National của Nhật (!).
Thế 'nước' trong 'nước uống', tức H2O, thì sao? 'Nước' (water)
mang cùng gốc với [nam] tiếng Thái, [nac] hay [dac] hay [non],
tiếng Lào, Mường, và Hoa Nam.
[Duik] tiếng Cam-Bốt. Tiếng Myanmar là
[yei]. Đa đảo [vai], có vẻ bắt chước [wara]-tiếng New Guinea,
[wai]-Maori, và 'water' tiếng Anh. Nhưng [wai] hay [vai] cũng có
thể nằm trong biến chuyển [y] <=> [v] của các phương ngữ Hoa
Nam, nếu để ý [vai] gần giống âm sau với [yei] tiếng Myanmar.
[Yei] tiếng Myanmar lại rất giống [Ya] tiếng Chàm (Chăm). Người
Việt-cổ (tộc Môn-Khmer) ở khu vực Chăm-pa về sau, có vẻ là
dân-tộc duy nhất trên thế-giới đã 'đồng-hoá' ý niệm 'đất-tổ',
tức 'nước' hay 'quốc-gia', trong khung ý niệm hết sức thô-sơ ban
đầu, với nguồn nước, 'nước uống'. Họ có khuynh hướng ghép, hoặc
xí phần, hay theo kiểu nói ngày nay: 'cắm cờ', nơi chốn một
nguồn nước, hay dòng sông dòng suối, với tên gọi của bộ tộc,
thành 'lãnh-thổ' (tức 'nước') của bộ-tộc. Xin dẫn hai thí dụ.
Thứ nhất, [Ya Krum] với [Ya] mang nghĩa dòng sông hay dòng nước,
và [Krum] tên riêng bộ tộc Krum, từng ở khu đó, có nhiều tre hay
lau (Krum = tre / lau). Quốc-ngữ trờ tới, ký âm theo với mẹo
luật chính tả, biến [Ya Krum] thành 'Nha Trang', tên thành phố
Nha Trang. Thứ hai, [Ya Lat] hay [Ya Lạc] mang nghĩa dòng suối
của bộ tộc mang tên [Lat]. Quốc-ngữ kí âm thành [Da-Lat], với
'Da' hàm chứa âm [Y]. Người Pháp rất thích lên đó nghỉ mát, và
thấy chữ 'D' trong 'Da' tưởng lầm là âm [D] tiếng Tây, nên phát
âm: [Đa-Lat], sinh ra tên thành phố gọi 'Đà-Lạt'. Cũng có thể
liên-kết 'Đà' trong 'Đà-Lạt' với từ 'Đác' của tiếng Sơ-Đăng (như
trong: Đak-Tô, Đak-lắk), cũng mang nghĩa: 'Nước'. 'Nước' trong
tiếng Việt do đó mang hai nghĩa rất khó tách rời nhau trong sự
sống của dân-tộc: nước uống, và quốc-gia. 'Nước' mang nghĩa
'quốc-gia', quyện chung với 'nước' trong 'nước uống', là một từ
'tuyệt chiêu' của tiếng Việt, xuất xứ từ hai tộc người bản địa
lâu đời ở miền đất hình chữ S: Thái-cổ và Môn-Khmer.
|
Việt |
Chăm |
|
Việt |
Chăm |
GHI CHÚ |
|
ông |
ông |
|
trật (chân) |
chut |
ông= [ong] Ngô-Việt |
|
cái |
gai? |
|
bông (hoa) |
bingu |
cái nầy / cái kia |
|
ỉa (đại tiện) |
eh |
|
muỗi (con) |
jamauk |
eh = ỉa = cứt |
|
bởi đó cho nên |
mưđuh yôw năn |
|
bỏ (muối vào thức ăn) |
buh |
bởi => mởi
m <=> b : âm môi-môi |
|
mỡ |
rưma |
|
mụn |
mun |
M-K: mỡ: mơnh, muâ |
|
khăng |
khăng |
|
còng (vòng) |
kong |
khăng khăng= cứng đầu |
|
ta |
ita |
|
múa (vũ) |
mya |
Thái-Lan: muay => võ |
|
vui-vẻ |
buy-baiy |
|
mực |
mưk |
= tiếng Thái [mưk] |
|
khom (lưng) |
khum |
|
hóc (xương) |
hoq (ho?) |
khum:[khu]N.[kheng]M |
|
nó |
nyu |
|
trước |
tahlow=> tlow |
[tsO] Ngô {N} |
|
nước (uống) |
ya, nya |
|
Nước (state) |
Nưgar |
nước= đác / nác (Mg) |
|
quai |
kway |
|
lạnh |
laăn |
[leng]qt |
|
kẹo |
kew |
|
bút (viết) |
but |
viết = wă? = tă? (Chăm) |
|
gỗ (cây) |
kayôw |
|
câm |
kamlo |
cây/gỗ: pokok /kayu-ML |
|
cắt (ngắt) |
keh |
|
bóng vía |
pingu yawa |
[mong]QĐ.[bu]qt.[vu]N |
Bảng I. Từ tiêu biểu đối chiếu Việt - Chăm (theo [10]). Viết
tắt: N= Ngô-Việt (Chiết Giang / Giang Tô). ML= Mã-Lay. M-K=
Môn-Khmer. QĐ= Quảng-Đông. M= Mân (TriềuChâu - Phúckiến). Mg=
Mường.
Trước khi trở lại phân-biệt 'Họ & Ta' trong vấn-đề tộc người
Việt bản-địa tối cổ, xin phép trình bày thêm những thứ từ
tiêu-biểu khá tương đồng, giữa tiếng Việt và Chăm, Bảng I.
Nhìn bảng I, chúng ta có thể để ý, có nhiều từ Chăm, hay cụm từ,
giống tiếng Việt như hai giọt nước, tuy mang hình thái đa-âm.
Đặc biệt: nước, kẹo, bút, mụn, viết (để ý: [tă?] giống tiếng Hoa
hiện đại: [xie] => tả. [wa?] rất giống 'wiết'), ông, ta, con
muỗi, bởi đó cho nên, khom (lưng) {cũng mang cùng gốc tiếng Hoa
miền biển: [khu] & [kheng]}, v.v.
Liên-hệ gốc-gác tiêu-biểu giữa tiếng Việt, Chăm và Môn-Khmer,
xin trình bày trong Bảng II (theo [10] [12]). Xin ghi nhận các
từ thuộc tiếng Môn-Khmer trình bày ở đây luôn mang tính cách
không được thấu-đáo hoặc toàn-vẹn, phản ánh qua tính cách 'rất'
đa dạng của nhiều từ dùng để tả một sự vật, trạng thái hay động
tác. Lý do: Mỗi bộ tộc, dù cùng chung một thứ chủng gốc, có
khuynh hướng dùng từ khác nhau. Thí dụ: có bộ tộc dùng 'mặt' để
chỉ 'face' tiếng Anh, nhưng cũng có bộ tộc dùng 'bộ'. Tiếng Việt
chịu khó thống nhất, bởi đã tiến tới hình thái quốc-gia từ lâu,
nên ta nói: 'bộ mặt', 'đường xá', 'tâm địa', 'chút ít', v.v. Dù
vậy Bảng II , cũng như Bảng I và các Bảng đối chiếu trong các
bài trước, cho thấy một số đông các từ cơ bản tiếng Việt có
chung gốc-gác với tiếng Chăm, và tiếng người Việt bản địa lâu
đời: Môn-Khmer.
|
Việt |
Chăm-pa |
Môn-Khmer |
|
Việt |
Chăm-pa |
Môn-Khmer |
|
ăn (xơi) |
băng |
suam, som,
sam, ăn, sa, kuon |
|
muỗi |
camôq |
munh, muweh, moich, mach, xơmah |
|
bụng (dạ) |
tiya:n, tung |
pung, bung,
tian, kapung |
|
nhỏ (đẹt) |
nêh, sit |
yoh, onoh, dét, del, dikih |
|
bông (hoa) |
bangu, bunga |
bông, pung,
piar, pkau |
|
ói,ộc,khạc |
oq |
oi, ô, ooq,
haq, kâta |
|
cá |
ikan, kan |
ka, kaq, ika |
|
ruột |
pRuac, prôyq |
rooc, ruaq,
roiq, ruơch, ruak |
|
cột (thắt) |
kăq,găng,ikă', côwq, thăq |
kơt, kơc,
kơlơc, tôk, đăk, đơk, teh |
|
ruồi
|
rôy |
ruai, ruy,
rooy, ruwey, rul/ruôi, r-hai |
|
chim |
cim |
chêm,
sim,xêm, chium |
|
rừng |
ralông, răm |
krông, rơng,
bri,rứng |
|
chết (mất) |
mưtay, ngêng
|
kchit,
chhơt, kachêt, ... |
|
sông, (Mg:
không) |
krung |
krông,
không, rong, sungai, klong, |
|
cằm (hàm) |
kăm |
Ka, jangKa,
kap, kăng |
|
tai |
tangi |
tôr,
talinga, thai |
|
lạnh, rét |
laăn |
lngiơ, mret,
rơ-lêh |
|
tay
|
tangin |
têy/đai,
đay, ti, atêi, toek, taiql, tơi, đêi |
|
liếm |
lyăh |
lali, dilaq,
lit, lim, liam |
|
cắp (trộm) |
kleq |
kaw, cakaw,
kumlaw |
|
mây (vân) |
hawêy,
bol,... |
kamâl,
ramưl, mâl |
|
vay (mượn) |
mưthre |
wai, vuai, /
yưm |
|
mía |
tabôw |
kmiê, meq,
mai, kơlme |
|
nhà |
thang |
nha, nya,
nhi, nghia |
Bảng II. Đối chiếu vài từ cơ-bản Việt - Chiêm và Môn-Khmer.
Tìm cách lý-giải nhiều hiện-tượng lịch-sử, dựa trên phân-tích
'Họ & Ta', có thể cho thấy một vài điểm khá gút mắt của chuyện
hợp-chủng tiến tạo nên dân-tộc Việt-Nam.
Xin thử đặt câu hỏi: 'Tại sao trước sức ép lịch-sử, dân Việt xưa
gần như không bao giờ nghĩ đến chuyện nới rộng 'lãnh thổ' hay di
chuyển về phía Tây (tức vùng Lục Chân-Lạp và 'nước' Lào sau thế
kỷ 13)?' và câu hỏi: 'Tại sao truyền thuyết Âu-Lạc cho rằng
'biên-giới' phía Nam chỉ đến 'nước' Hồ Tôn, tức Chiêm Thành, ở
phía Nam?'.
Trả lời 2 câu-hỏi này có thể giúp chúng ta rất nhiều trong việc
tìm hiểu truyền thuyết Hùng Vương và cổ sử người nước Nam.
Để ý đến vùng đất ngày xưa của các tỉnh miền Tây và Tây Bắc.
Những tỉnh như Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang,
Tuyên Quang, Phú Thọ, Hoà Bình, Thanh Hoá (phía Tây) [15]. Khu
vực miền Tây này có vẻ hoàn toàn nằm ngoài 'ranh giới' fuzzy của
Giao Châu, trong bản đồ trang 45, 'Việt-Nam Sử-Lược' của Trần
Trọng Kim [24]. Đó là địa bàn chính của tộc người Việt tối cổ
thuộc chi Âu, với một phần nhỏ (miệt Sơn La, Lai Châu, Thanh
Hoá) thuộc chi Môn-Khmer. Tộc người chủ lực bản địa chạy từ nam
Thanh Hoá đến tận khu Mã Lay chính là khối Môn-Khmer. So với các
tộc người Việt bản-địa, thuộc chi Âu (Thái) và Môn-Khmer, phần
lớn khối tộc người Việt ở bình nguyên sông Hồng là những người
Việt 'mới |