Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương (18):

Phần 4:  Biên giới xứ Việt cổ



 

 

Nếu có một điểm đặc-trưng nào, hết sức đặc-trưng nhưng cũng rất phổ-quát, dùng để miêu-tả nguyên lý 'nhị nguyên' áp dụng cho xã-hội loài người, cũng như tất cả mọi sinh vật trên quả địa cầu, đó phải là phân-biệt 'Họ và Ta'.

 

'Họ và Ta' có vẻ như một nền tảng vững chắc nhất cho tiến bộ cá nhân, xã hội, nhưng cũng đồng thời là nguyên do cơ-bản cho sự hủy-diệt, cho chiến-tranh, đàn-áp và khủng-bố. Có thể nói, nhị-nguyên 'Họ và Ta' sinh ra muôn vạn thứ nhị-nguyên khác, diễn-biến không ngừng, cùng với một thứ nhị-nguyên cơ-bản bất-biến khác là sự sống và sự chết.

 

Thật ra nguyên lý nhị-nguyên 'họ và ta' mang cường-độ phân-biệt luôn thay-đổi, theo từng thời-đại, cá tính chủng-tộc, từng quốc-gia, từng cộng đồng trong một quốc-gia, và dính liền với những 'đại-lượng' văn-minh văn-hoá khác, như tôn-giáo, thể-chế chính-trị, truyền thống văn hoá và lịch sử, tình hình kinh-tế của từng cộng-đồng hay quốc-gia. Thí dụ: tình-trạng 'họ và ta' giữa Anh-quốc và Tân-Tây-Lan, Mỹ với Nhật, Hoa-Kỳ với Trung-Hoa, v.v. luôn thay đổi chỉ trong vòng phần nửa sau của thế kỷ 20. Do-Thái và khối Á-rập, tuy mang cùng gốc chủng-tộc (Semitic), nhất là vào thời Abraham, nhưng phân biệt 'họ và ta' từ những thập-niên cuối thế-kỷ 20 trở lại đây, càng ngày càng trở nên gay gắt khốc-liệt. Các quốc-gia có tiếng mẹ đẻ là Anh-ngữ (như Hoa-Kỳ, Úc, Tân Tây Lan) đối với Anh-quốc, cũng có tương-quan 'Họ và Ta' thay đổi, đi đôi với quyền-lợi kinh-tế, chỉ nội trong cuối thế kỷ 20, sang qua thế kỷ 21. 

 

Nhị-nguyên 'Họ và Ta' thông thường dính liền với vấn-đề căn-cước lý-lịch [1]. Nhưng, thật ra, cường độ mâu-thuẫn 'Họ & Ta' không nhất thiết là một hàm-số của sự thông suốt về căn-cước lý-lịch. Hoặc hiểu-biết rành rọt về căn-cước không nhất thiết sẽ đưa đến kết-quả tốt đẹp hơn trong tranh-chấp 'Họ & Ta'. Ngược lại, có thể để ý, trong khi 'Họ & Ta' là một nhu cầu không thể thiếu của sinh hoạt con người và quốc gia, thiếu thốn hiểu biết về căn-cước lí-lịch có thể dẫn đến vận-hành thiếu tính nhất-quán, thiếu bài bản của nguyên-lý 'Họ & Ta', hao-hụt tài-nguyên và tiềm-năng, cũng như kềm hãm sức tiến của dân-tộc. Ở khía cạnh này, chúng ta có thể viện-dẫn chuyện canh tân quốc-gia của Nhật và Thái-Lan vào thế kỷ 19-20, so với nhiều quốc-gia khác ở Á Châu, kể cả Trung-Quốc, dựa trên sự hiểu biết căn-cước lý-lịch, cũng như mâu thuẫn nhị nguyên 'Họ và Ta'. Trong chuyện này, có thể để ý đến một quan điểm thường thấy, quy vào tinh-thần thủ-cựu của triều-đình nhà Nguyễn, vào đầu thế kỷ 19, trong việc chờ đợi xem triều-đình nhà Thanh ở phía Bắc có chiêu nào mới trong việc đối phó với sức tiến của Tây Phương hay không. Quan-điểm này hoàn-toàn lướt qua xem xét cá-tính và sự thấu-đáo về căn cước của người Việt Nam, cũng như đã vướng phải những hiểu biết về 'Họ và Ta' khá lộn xộn, hay ít nhất thiếu chính xác, được hun đúc qua nhiều thế-kỷ trước. 

 

Mâu thuẫn và thay đổi của hệ nhị nguyên 'Họ và Ta' xưa nay vẫn thường bắt nguồn ở lý do tôn-giáo hoặc ý-thức-hệ chính trị. Thí dụ: Vào giữa thế kỷ 20, Pakistan (Hồi quốc) tách ra khỏi Ấn Độ chỉ vì lý do tôn-giáo. Sau đó Đông Pakistan tách ra khỏi Pakistan, và trở thành một quốc-gia khác, mang tên Bengladesh, viện dẫn lý-do khác nhau về truyền- thống văn-hoá và lịch-sử. Những tiểu quốc nằm trong 'nước' Chăm-pa xưa, thường xung đột với xứ An-Nam hay Đại Việt ở phía Bắc, và các tiểu quốc thuộc 'khối Chân Lạp' (tức Cam-Bốt ngày nay) ở phía Tây và Nam, mặc dù có chung một thứ tộc bản địa: Môn-Khmer. Rất có khả năng do ở việc Chăm mang ảnh hưởng văn hoá và tôn-giáo Ấn-Độ và Hồi-giáo, trong khi xứ Chân-Lạp chịu ảnh hưởng Ấn-Độ và Phật-giáo, nhiều hơn Hồi-giáo, cũng như tộc chủ lực Khmer đông hơn khối Môn hay Thái ở phía Chân-Lạp. Chăm cũng khác với Việt tộc ở phía Bắc từ khoảng thế kỷ thứ 8 về sau, ở chỗ Việt tộc chịu ảnh hưởng 'Hán tộc' và đang chớm nở hệ tam giáo đồng-nguyên. Cũng như đang nhận nhiều di dân thuộc khối Lạc Việt (vùng biển). Trong các nhóm di dân này, có nhóm người Hẹ cổ (với đại biểu sáng chói là triều đại nhà Lý) và Mân-Việt, trong vài thế-kỷ đã trở thành nhóm chủ lực ở phía Bắc. Theo phụ-hệ giống như người Hoa phía Bắc. Trong khi tộc người Chăm, từ khoảng thế kỷ 8 trở về sau, mặc dù mang chủng chủ lực bản địa Môn-Khmer giống vùng đất phía Bắc, đã mang nặng ảnh hưởng văn-hoá Ấn-Độ, và 2 thứ tôn-giáo khác với nước Nam, là Bà-La-Môn và Hồi giáo. Ngoài ra, Chăm vẫn giữ mẫu hệ.

 

Nếu đọc kỹ lại Việt sử, nhất là bộ 'Đại Việt Sử Ký Toàn Thư' của Ngô Sĩ Liên [5], chúng ta sẽ thấy rất rõ đầu dây mối nhợ của bao nhầm lẫn giới nghiên cứu sử ở Việt Nam từng vướng phải nằm ở chỗ phân-biệt 'Họ và Ta' đã bị rối nùi hằng trăm, hằng nghìn năm trước. Chung quy ở chỗ lịch-sử nước Nam đã được viết theo sát các thư-tịch cổ của Tàu. Tai-hại nhất, phân-biệt 'Họ & Ta' được viết theo quan-điểm 'Họ và Ta' của các sư-phụ Tàu. Nói nôm-na, 'Họ' theo người Tàu, đôi khi và đúng ra, lại chính là 'Ta', nếu viết đúng theo quan-điểm khách quan. Nếu có hiệu-đính, các bậc tiền-bối Việt lại có khuynh-hướng 'hiệu-đính' theo lời dạy của vua quan nước Nam, hoặc theo trí hiểu biết rất hạn hẹp hay tinh thần 'quốc-gia' của các tiền-bối đó. Nội ở chỗ chép các thư-tịch cổ của Tàu, ta cũng có thể thấy rất dễ nhiều điểm sai trật ngay trên cơ bản. Thí dụ: (a) Xem sơ sơ căn cước lý lịch của các quan cai trị  'nước' Nam vào thuở ban đầu, như Sĩ Nhiếp (được người nước Nam tôn vinh là Sĩ Vương), Đái Lương, v.v. Sĩ Nhiếp, tổ tiên người nước Lỗ (Sơn Đông), (một địa-bàn ban đầu của khối Đông Di hay Cửu Lê), nhưng di cư về miệt Quảng Tây đến 6 đời, chắc chắn có mẹ hay bà ngoại, bà cố, thuộc chủng Việt (chi Thái). Đái Lương là thái-thú đầu tiên do 'chính-quyền' nước Đông Ngô của Tôn Quyền bổ nhiệm. Kinh đô Đông Ngô nằm ở Kiến Nghiệp thuộc tỉnh Chiết Giang ngày nay, địa bàn lâu đời của tộc Lạc Việt từ thời Câu Tiễn. (b) Đại sứ 'nước' Việt-Thường mang con chim Trĩ trắng dâng cho vua nhà Châu vào khoảng năm 1120. Tư Mã Thiên trong bộ Sử Ký, theo [6], ra đời khoảng 1000 năm sau, miêu tả 'nước' Việt-Thường nằm ở phía Nam xứ Phù Nam, tức khu Mã Lai ngày nay. Có thể vừa đúng vừa sai. Đúng ở chỗ dáng dấp một thứ người Việt-cổ có thể giống người xứ Java. Nhưng người Việt đời sau có thể hiểu sai bởi ghi chép đó đã không kể đến các bộ tộc Việt khác, như nhóm Âu (Thái) và nhóm Lạc (Việt) ở miền biển Đông. Sai lầm sẽ trở nên to tát, nếu 'Sử Ký' thật sự  cho rằng bộ tộc Việt-Thường nào đó ở khu Mã-Lay / Java, là bộ tộc nguyên-thủy của dân tộc Việt-Nam. (c) Sử sách Tàu thường thường rất hay và luôn được giới sử gia Tây phương hâm mộ. Tuy nhiên, cũng có nhiều điểm hết sức lổng chổng. Trong đó, có nhiều điểm rất tiếc lại liên hệ đến tộc người Việt Nam. Đặc biệt nhất, họ dùng xả laáng hai chữ 'Luo Yue' (tức Lạc Việt), đưa ra cạnh tranh với các thứ Việt khác như: Bách Việt, Bộc Việt, Mân Việt, U Việt, Âu Việt, v.v. Tuy vậy trong cái hỗn-độn lộn xộn cũng có gói-ghém những thứ trật tự hết sức tuyệt-chiêu, khác hẳn với định-luật thứ 2 của khoa Nhiệt-Động-Học, mà chúng tôi đã cố gắng trình bày trong suốt 18 bài qua. Trước hết để ý, trong các thứ 'Yue' (Việt) ở tại Trung Hoa, như Đông Việt, Mân Việt, Tây Việt, Ngô Việt, v.v. có lẽ chỉ có hai đám Bộc Việt và Lạc Việt là không có địa bàn nhất định vào ngày nay. Còn những thứ Việt khác đều có: Mân Việt => Phúc Kiến, Tây Việt => Quảng Tây, Nam Việt => Quảng Đông, v.v. Điểm thứ hai, chính là chữ 'Lạc' trong 'Lạc Việt'. Khi viết chữ 'Lạc' [Luo], người Hoa lại viết thành 3 thứ chữ khác nhau. Mỗi một thứ chữ Lạc, lại được dùng để chỉ 1 trong 3 thứ tộc người chủ lực xứ An-Nam xưa. Nếu viết theo quốc-ngữ chỉ có một: 'Lạc'. Nhưng viết theo Hán tự, 'Lạc', mang tên tộc người, lại viết thành 3 từ khác nhau. Đó là:

 

·        Lạc bộ Chuy dùng để chỉ tộc Môn-Khmer. Dùng ghép trong: Lạc-Hầu, Lạc-Tướng.

·        Lạc bộ Mã   dùng chỉ tộc 'Mân+Ngô' (PhúcKiến, ChiếtGiang,...), và để viết chữ 'Lạc' trong 'Lạc-Việt'.

·        Lạc bộ Trãi (còn gọi bộ Trĩ) dùng cho dân Bộc-Việt (tức Hẹ-cổ), và họ Lạc của 'Lạc Long Quân'.  Lạc bộ Trãi, theo thiển ý, được viết ra để miêu tả đám Việt cổ ở gần lưu vực sông Hoàng Hà, nhất là phía Đông.

 

Đặc biệt chữ Lạc 'nguyên-thủy' có vẻ không bao gồm tộc Thái cổ (Âu). Nhưng ngày nay lại được dùng lẫn lộn chỉ cả 2 đám Âu và Lạc, trong các sách vở Tây phương lẫn Đông phương. Lý thuyết chúng tôi bắt đầu bằng cách tỉ mỉ phân biệt và tách rời Âu ra khỏi Lạc, và tạm cho rằng 'Lạc Việt' chỉ nên dùng riêng cho đám Lạc ở vùng bờ biển nước Tàu.

 

Việt (Yue) cũng có 2 cách viết chính khác nhau:

 

·        Việt bộ Mễ  dùng để chỉ người Việt thuộc chi Âu. Ngày nay là tên tắt của tỉnh Quảng Đông. Mễ mang nghĩa 'thóc / gạo'. Việt bộ Mễ do đó chỉ thứ dân Việt chuyên sống bằng nghề trồng lúa. Việt-tộc thuộc chi Âu này (Việt bộ Mễ) chính là tiền thân chủ lực của dân Thái-Lan, hiện đứng đầu thế giới về ngành xuất cảng gạo, và cũng chính là một trong hai ba tộc người chủ-lực bản-địa ở xứ Việt-cổ.

·        Việt bộ Tẩu dùng để chỉ những nhóm người Việt khác, sống bằng nghề du mục / săn bắn hay chăn nuôi. Thuở xa xưa, mang hàm ý những đám Việt không phải chi Âu. Đặc biệt, Hẹ-Miêu, Môn-Khmer, và những nhóm Việt khác ở vùng bờ biển phía Đông nước Tàu.

 

Nói nôm na theo kiểu toán-học, phương trình bậc 3, 'Lạc = x' có tất cả 3 trị số cho x:

x1= Chuy (Môn-Khmer); x2=  Mã (Mân+Ngô); x3= Trãi (Hakka+Hmong){tức Hẹ-Miêu}

x1= .  x2=  .  x3=  .

 

Ẩn số 'y' trong 'Việt = y' cũng có 3 trị số:

y1= Mễ (Thái); y2= y3= Tẩu (Hẹ-Miêu) / (Môn-Khmer) {không chuyên nghề trồng lúa}

y1=  y2= y3=  . [Chữ 'Việt' trong 'Việt Nam' viết theo bộ Tẩu: ].

 

Để ý một trường hợp đáng ghi nhận ở đây: 'Luo Yue' nếu viết theo quốc-ngữ (dùng a-b-c) là 'Lạc Việt', tức dựa trên tiếng nói, có thể bao hàm tất cả các thứ 'Lạc' và 'Việt', trong khi viết theo Hán Tự, chữ viết theo ý-nghĩa, người ta phải phối hợp 3 chữ Lạc với 2 chữ Việt mới nói lên gần hết các hỗn-hợp tộc người tiến tạo nên dân Việt-Nam vào thuở ban đầu.

 

Ngoài ý niệm 'Họ & Ta' (sẽ bàn thêm phía sau), muốn hiểu rõ vấn đề cổ sử Việt Nam, ta cần nhắc lại 2 ý niệm quan trọng khác. Đó là ý niệm về 'nước' (tức quốc-gia) và ý niệm của toán-học cuối thế kỷ 20 về tập-hợp fuzzy, hay lô-gích fuzzy. Fuzzy mang nghĩa, đại khái: sởn xơ, mù mờ, mơ hồ, không rõ rệt. Cũng như phương pháp nội suy, và ngoại suy trong toán-học cơ bản. Xin sơ lược từ dưới lên trên, như sau.

 

Phương pháp nội-suy / ngoại-suy thường mang giả định: trị-số thay đổi theo một đường thẳng. Thí dụ: nếu biết lương hướng của một nhân viên cấp cao nhất, và của một nhân viên cấp thấp nhất, của một cơ quan, người ta có thể suy ra gần đúng lương của một nhân viên ở cấp giữa. Nếu biết mức lợi tức của một kỹ sư Phi-Líp-Pin, và Thái-Lan, người ta có thể suy ra gần đúng mức lương của một kỹ sư ở Hàn quốc, nhất là khi được biết 'tổng sản lượng quốc-gia' của ba nước đó.

 

'Tập-hợp fuzzy' (Fuzzy set) do Lotfi Zadeh, giáo sư đại học California - Berkeley phát kiến vào năm 1965. Được người Nhật hâm mộ, đem về xứ Phù-Tang phát triển khá rầm rộ, từ đó đến nay. Lô-gích fuzzy hiện nay trở thành một trong vài đường hướng chính được áp-dụng trong khoa 'Thông-minh nhân tạo'. Đại khái 'tập hợp fuzzy' đặt ra để khai triển tiếp ý-niệm của một 'tập-hợp' cổ-điển. Thí dụ về tập hợp cổ điển: 'tập hợp các xe gắn máy mang hiệu Honda', 'tập hợp những đàn ông con trai trong lứa tuổi 18-35'. Đặc tính chính yếu của 'tập hợp cổ điển' là một sự vật chỉ có hai trị-số 1 hay 0, tùy theo sự vật đó có nằm trong tập hợp nào đó hay không [14]. Tức cũng một dạng của 'Nhị Nguyên', theo kiểu Cartesian. (Cartesian dualism, dùng để vinh danh nhà toán-học và triết gia Pháp René Descartes). Trong khi tập hợp fuzzy là một thứ tập hợp theo kiểu: 'tập hợp các bộ suit hàng ngoại đắt tiền', hoặc 'tập hợp những sinh viên to con ở Harvard',  hay 'tập hợp những người Mỹ thầm lặng', hoặc 'tập hợp các ca sĩ nổi tiếng'. Ta thấy ngay, tập hợp fuzzy kéo theo một số tiêu chuẩn chọn lựa cho vào tập hợp, thông thường mang tính chủ quan. Chứ không đơn thuần giữa hai trị số 0 và 1, như trong tập hợp cổ điển [14]. Bởi việc muốn sắp xếp một sự vật vào trong tập hợp fuzzy, luôn luôn vướng phải chuyện tìm trả lời thích đáng cho câu hỏi theo kiểu: 'giá bộ suit cao đến bao nhiêu thì gọi đắt tiền?', 'to con' cỡ nào mới được gọi 'to con'?', ''thầm lặng' ra sao mới được cho vào tập hợp người Mỹ thầm lặng?', v.v. Điểm quan trọng cần để ý là trong khi tập hợp cổ điển có lằn ranh giới phân chia rõ ràng (trong và ngoài tập hợp), tập hợp fuzzy không có lằn mức phân chia rõ rệt, và giống như một áng mây mờ. Nhắc đến ý-niệm tập-hợp fuzzy, chúng ta thấy ngay, và chỉ cần nhớ, khi căn-cước thành-viên của một tập-hợp hãy còn mang tính mơ-hồ, bất định kiểu fuzzy (có trị số nằm giữa hai số 0 và 1), biên giới của tập hợp đó chắc chắn cũng fuzzy, cũng mơ-hồ, chứ không rõ nét như thứ tập-hợp cứng-dòn.         

 

Quan niệm về 'nước', về 'quốc-gia' vào thế kỷ 20-21 thật ra cũng hoàn toàn khác hẳn với quan-niệm 'nước', như nước Văn Lang, nước Hồ Tôn, Phù Nam, v.v., ở thời cổ đại tại miền Hoa Nam và hầu như khắp mọi khu vực miền Đông Nam Á.

 

'Nước' ngày nay, có thể mang rất nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng tựu trung nhấn mạnh đến 4 thành tố: (i) lãnh thổ, (ii) dân tộc, (iii) chính quyền, và (iv) những người cầm quyền thuộc và xuất thân từ khối dân tộc đó. Thành-tố (iv) sau cùng, đặc-biệt nhấn-mạnh tinh-thần độc-lập tự-chủ của quốc-gia. Mới được hiện-thức trong vòng thế-kỷ 20.

 

Đối với người Hoa ngày xưa, nhất là trước thời Đông Chu (trước năm 770 TCN), quan niệm 'nước' tập trung ở thành tố thứ 2 (dân tộc), còn thành tố thứ 1, thứ 3 và nhất là thứ 4, hoàn toàn không quan trọng. Tại rất nhiều nước chư hầu, giới cầm quyền thuở ban đầu là giới quan lớn có nhiều công trạng hoặc hoàng thân quốc thích của triều đình nhà Châu, do chính các vua nhà Châu bổ nhiệm [6]. Trong khi lê dân thường lại thuộc những chủng tộc khác. Đa số là các đám rợ chưa biết nhiều về chữ nghĩa và chính quyền, theo kiểu tộc Hoa-Hạ. Thường họ chỉ biết tuân-lệnh chính-quyền để đổi lấy sự sống và hai chữ bình yên, với nghĩa tương-đối. Lãnh thổ cũng không quan-trọng đối với ý niệm 'quốc-gia' ở thời xa xưa. Bởi lãnh-thổ chỉ trở nên quan trọng khi dân cư trở nên đông đúc, và một khối 'dân-tộc' chia xẻ với nhau một số đặc-tính, và truyền thống chung, cư ngụ ở vùng đất đó, đã hoặc đang hình thành. Khi việc khai thác tài nguyên thiên nhiên đã tiến triển qua một lằn mức nào đó. Hoặc nền kinh-tế hay truyền-thống văn-hoá tín-ngưỡng (thí dụ: đất tổ) đã quy-định được 'trị giá' (tinh-thần và/hay vật-chất) của lãnh-thổ đó đối với quốc-gia. Hoặc đã có một mối liên-hệ hết sức mật-thiết giữa tộc người cư-dân và lãnh-thổ quốc-gia. Tức ý-niệm lãnh-thổ là tài-sản của dân-tộc và quốc-gia đã được hiện-thức rõ rệt. Để rồi, lên đến cấp cao nhất, lãnh-thổ sẽ dính liền với 'tinh-thần' quốc-gia, với niềm tự hào dân-tộc. Có thể nói, ở thời đại trước Công Nguyên, tại Á Châu, kể cả Trung Hoa, quan-niệm lãnh-thổ, là một thành-tố cơ-bản, hay tài-sản cơ-bản, của quốc-gia, hãy chưa được hiện-thức đầy đủ.  Bởi vậy chúng ta vẫn thấy, các thư tịch cổ Trung Hoa thường dùng từ 'nước' để miêu tả xả láang một khối tộc người nào đó, mà họ đã gặp (như 'nước' Lang Hoang ở vùng Lĩnh Nam - gồm tộc người không mặc quần áo), hay đã có lần đối tác, hoặc chống cự việc tiến quân của họ. Cũng ở lý do này, chúng ta thấy ở những vùng dân thưa, như khu Phù Nam hay Thủy Chân Lạp, hoặc ngay cả khu Hồ Tôn (Chiêm Thành) giới 'cầm quyền' ưa cắt đất nhượng đất xả láang, mệt nghỉ, bởi quan niệm về 'nước' tập trung chỉ ở đám dân đen cùng chủng mà thôi. 'Dân tộc' là thành tố to tát nhất trong ý niệm về 'nước' ở thời xa xưa. Đây là một cái đinh rất quan trọng nếu muốn giải-mã truyền-thuyết Âu-Cơ và Lạc-Long-Quân.

 

Xin mở một dấu ngoặc nhỏ để ghi nhận: Không có tiền-nhân nước nào lại thương đám con cháu về sau như tổ tiên người Việt Nam. Truyền thuyết Hùng Vương nhìn kỹ thật ra là một cẩm nang rất quý báu của dân tộc. Truyền thuyết đã ghi lại rất rõ về khối người hợp chủng, những mối nguy cơ cần phải tránh né. Và quan-trọng hơn hết, đã đề cập thẳng đến, và nhấn mạnh, thành tố thứ 4 ở trên. Tức giới cầm quyền phải có cùng chủng với đa số khối dân chúng. Sự thật, theo kiến thức ở thế kỷ 21, chúng ta đều biết khi một nhóm người di tản hay di dân sang một nơi khác để sinh sống - dù một thời gian ngắn chừng 5 năm - luôn luôn có cái nạn trai thừa gái thiếu. Vấn đề thứ hai là vấn đề mitochondrial-DNA, thứ di-truyền thể, thường thường được bảo toàn khá kỹ từ người mẹ ban đầu [4]. Phối hợp hai dữ kiện hiện đại này, rồi lùi lại 2000-3000 năm, ta sẽ thấy các chính quyền chư hầu nhà Chu bên Tàu, không chóng thì chầy, cũng đã thu nhận dòng máu của mỹ nhân các đám rợ, nhất là khối Đông Di, bao gồm phần lớn: Hẹ, Miêu, Khương, Thái, Ngô, Mân, v.v. Tức mt-DNA của Việt tộc đã len vào Hoa tộc ngay từ thời Đông Chu. Vấn đề này cũng lại được phản ánh đầy đủ ở truyền thuyết Hùng Vương, ấn bản Việt hiệu đính từ bản Mường, do các đồng tác giả Thái - Hẹ thực hiện. Ở chỗ nào? Ở chỗ trong nguyên bản Mường, 100 đứa con của bà Âu-Cơ và ông Long Wang gồm 50 trai - 50 gái. Sang đến bản Việt, ta thấy 100 người con toàn là con trai. Nếu lấy vợ, chắc chắn cả 100 vị hoàng tử này bắt buộc phải lấy vợ người bản địa, tức vợ Thái, hay Môn-Khmer, hay Đa-đảo. Hùng Vương đời thứ hai, nếu có, là một người biểu tượng cho giới cầm quyền thời lập quốc, mang trong người 3 giòng máu: Âu, Lạc, và bản-địa. Xin đóng dấu ngoặc.

 

Tiếp tục phân-tích về ý niệm 'Nước' qua 'chữ nghĩa' ta thấy, 'nước' là một từ 'thuần Nôm' kiểu Môn-Khmer, phản ánh qua tiếng Chăm: [nưghar]. 'Nưghar' lại mang gốc gác từ Ấn-Độ qua tiếng Sanskrit (Phạn) là [nagara]. 'Nagara' mang nghĩa sơ khởi là 'đô-thị', chỗ đông người tụ tập. Tiếng Mã-Lay cũng giống như vậy: 'Negeri'. 'Nước', xuất xứ từ 'nagara' cũng có gốc chung với tiếng Tamil (Sri Lanka / Tích Lan) là [naadu], tiếng Hàn là [nara]. Tiếng đa-đảo cũng mang một âm (thứ 2) giống 'nước': [foNua] và [atuNu?u]. Đặc biệt tiếng Maori là 'wheNua', có âm thứ 2 [nua], rất giống 'nước'. Tiếng Khmer xưa biến đổi 'nagara' thành ra: Angkor, xứ Angkor, cho ra tên hai đền đài nổi tiếng: Angkor Wat và Angkor Thom. Chúng ta đã đánh một cái vòng. Tiếng Anh của 'nước' là gì? Chính yếu là: Country, state và nation. Mỗi một thứ từ nhấn mạnh đến một thành tố khác nhau. 'Country' nhấn mạnh đến lãnh-thổ. 'State' nhấn mạnh đến chính-quyền, liên-hệ đến tình-hình kinh-tế. 'Nation' tập trung vào khối dân-tộc chủ lực của quốc-gia. Xin để ý đến 'nation'. 'Nation' xuất phát từ tiếng Latin 'nationem' , cùng gốc với 'native', mang nghĩa ban đầu 'một khối người mang cùng thứ chủng tộc với nhau', hoặc 'nhóm người sinh đẻ tại bản địa / dân bản xứ'. Tức tiếng Anh 'nation' mang nghĩa 'quốc-gia' (hay 'nước'), lúc ban đầu chỉ tập trung vào khối dân tộc cư ngụ trên một vùng đất nào đó mà thôi. Ý niệm về nước của người Á Châu (kể cả Trung Hoa) vào thời cổ đại cũng y hệt như ý niệm 'nation' trong tiếng Anh. Tức tổ-tiên dân-tộc ở đâu thì cương-giới của nước, đã kéo dài đến đó. Y hệt như truyền-thuyết Âu-Lạc cho rằng nguyên vùng đất Lĩnh Nam (tức Hoa Nam) là 'nước' của chủng Bách Việt. 'Nation' sinh ra nationalism (tinh thần quốc-gia), nationality (quốc-tịch), v.v. Để ý, tiếng Anh gọi quốc-tịch chỉ bằng 'nationality' chứ không bao giờ: 'countrility' hay 'stateness'. Và 'X  National' mang nghĩa 'người mang quốc-tịch X', chứ không phải là 'nồi cơm điện', như nồi cơm điện National của Nhật (!).

 

Thế 'nước' trong 'nước uống', tức H2O, thì sao? 'Nước' (water) mang cùng gốc với [nam] tiếng Thái, [nac] hay [dac] hay [non], tiếng Lào, Mường, và Hoa Nam. [Duik] tiếng Cam-Bốt. Tiếng Myanmar là [yei]. Đa đảo [vai], có vẻ  bắt chước [wara]-tiếng New Guinea, [wai]-Maori, và 'water' tiếng Anh. Nhưng [wai] hay [vai] cũng có thể nằm trong biến chuyển [y] <=> [v] của các phương ngữ Hoa Nam, nếu để ý [vai] gần giống âm sau với [yei] tiếng Myanmar. [Yei] tiếng Myanmar lại rất giống [Ya] tiếng Chàm (Chăm). Người Việt-cổ (tộc Môn-Khmer) ở khu vực Chăm-pa về sau, có vẻ là dân-tộc duy nhất trên thế-giới đã 'đồng-hoá' ý niệm 'đất-tổ', tức 'nước' hay 'quốc-gia', trong khung ý niệm hết sức thô-sơ ban đầu, với nguồn nước, 'nước uống'. Họ có khuynh hướng ghép, hoặc xí phần, hay theo kiểu nói ngày nay: 'cắm cờ', nơi chốn một nguồn nước, hay dòng sông dòng suối, với tên gọi của bộ tộc, thành 'lãnh-thổ' (tức 'nước') của bộ-tộc. Xin dẫn hai thí dụ. Thứ nhất, [Ya Krum] với [Ya] mang nghĩa dòng sông hay dòng nước, và [Krum] tên riêng bộ tộc Krum, từng ở khu đó, có nhiều tre hay lau (Krum = tre / lau). Quốc-ngữ trờ tới, ký âm theo với mẹo luật chính tả, biến [Ya Krum] thành 'Nha Trang', tên thành phố Nha Trang. Thứ hai, [Ya Lat] hay [Ya Lạc] mang nghĩa dòng suối của bộ tộc mang tên [Lat]. Quốc-ngữ kí âm thành [Da-Lat], với 'Da' hàm chứa âm [Y]. Người Pháp rất thích lên đó nghỉ mát, và thấy chữ 'D' trong 'Da' tưởng lầm là âm [D] tiếng Tây, nên phát âm: [Đa-Lat], sinh ra tên thành phố gọi 'Đà-Lạt'. Cũng có thể liên-kết 'Đà' trong 'Đà-Lạt' với từ 'Đác' của tiếng Sơ-Đăng (như trong: Đak-Tô, Đak-lắk), cũng mang nghĩa: 'Nước'. 'Nước' trong tiếng Việt do đó mang hai nghĩa rất khó tách rời nhau trong sự sống của dân-tộc: nước uống, và quốc-gia. 'Nước' mang nghĩa 'quốc-gia', quyện chung với 'nước' trong 'nước uống', là một từ 'tuyệt chiêu' của tiếng Việt, xuất xứ từ hai tộc người bản địa lâu đời ở miền đất hình chữ S: Thái-cổ và Môn-Khmer.

 

Việt

Chăm

 

Việt

Chăm

GHI CHÚ

ông

ông

 

trật (chân)

chut

ông= [ong] Ngô-Việt

cái

gai?

 

bông (hoa)

bingu

cái nầy / cái kia

ỉa (đại tiện)

eh

 

muỗi (con)

jamauk

eh = ỉa = cứt

bởi đó cho nên

mưđuh yôw năn

 

bỏ (muối vào thức ăn)

buh

bởi => mởi

m <=> b : âm môi-môi

mỡ

rưma

 

mụn

mun

M-K: mỡ: mơnh, muâ

khăng

khăng

 

còng (vòng)

kong

khăng khăng= cứng đầu

ta

ita

 

múa (vũ)

mya

Thái-Lan: muay => võ

vui-vẻ

buy-baiy

 

mực

mưk

= tiếng Thái [mưk]

khom (lưng)

khum

 

hóc (xương)

hoq (ho?)

khum:[khu]N.[kheng]M

nyu

 

trước

tahlow=> tlow

[tsO] Ngô {N}

nước (uống)

ya, nya

 

Nước (state)

Nưgar

nước= đác / nác (Mg)

quai

kway

 

lạnh

laăn

[leng]qt

kẹo

kew

 

bút (viết)

but

viết = wă? = tă? (Chăm)

gỗ (cây)

kayôw

 

câm

kamlo

cây/gỗ: pokok /kayu-ML

cắt (ngắt)

keh

 

bóng vía

pingu yawa

[mong]QĐ.[bu]qt.[vu]N

Bảng I. Từ tiêu biểu đối chiếu Việt - Chăm (theo [10]). Viết tắt: N= Ngô-Việt (Chiết Giang / Giang Tô). ML= Mã-Lay. M-K= Môn-Khmer. QĐ= Quảng-Đông. M= Mân (TriềuChâu - Phúckiến). Mg= Mường.

 

Trước khi trở lại phân-biệt 'Họ & Ta' trong vấn-đề tộc người Việt bản-địa tối cổ, xin phép trình bày thêm những thứ từ tiêu-biểu khá tương đồng, giữa tiếng Việt và Chăm, Bảng I.

 

Nhìn bảng I, chúng ta có thể để ý, có nhiều từ Chăm, hay cụm từ, giống tiếng Việt như hai giọt nước, tuy mang hình thái đa-âm. Đặc biệt: nước, kẹo, bút, mụn, viết (để ý: [tă?] giống tiếng Hoa hiện đại: [xie] => tả. [wa?] rất giống 'wiết'), ông, ta, con muỗi, bởi đó cho nên, khom (lưng) {cũng mang cùng gốc tiếng Hoa miền biển: [khu] & [kheng]}, v.v.

 

Liên-hệ gốc-gác tiêu-biểu giữa tiếng Việt, Chăm và Môn-Khmer, xin trình bày trong Bảng II (theo [10] [12]). Xin ghi nhận các từ thuộc tiếng Môn-Khmer trình bày ở đây luôn mang tính cách không được thấu-đáo hoặc toàn-vẹn, phản ánh qua tính cách 'rất' đa dạng của nhiều từ dùng để tả một sự vật, trạng thái hay động tác. Lý do: Mỗi bộ tộc, dù cùng chung một thứ chủng gốc, có khuynh hướng dùng từ khác nhau. Thí dụ: có bộ tộc dùng 'mặt' để chỉ 'face' tiếng Anh, nhưng cũng có bộ tộc dùng 'bộ'. Tiếng Việt chịu khó thống nhất, bởi đã tiến tới hình thái quốc-gia từ lâu, nên ta nói: 'bộ mặt', 'đường xá', 'tâm địa', 'chút ít', v.v. Dù vậy Bảng II , cũng như Bảng I và các Bảng đối chiếu trong các bài trước, cho thấy một số đông các từ cơ bản tiếng Việt có chung gốc-gác với tiếng Chăm, và tiếng người Việt bản địa lâu đời: Môn-Khmer.

 

Việt

Chăm-pa

Môn-Khmer

 

Việt

Chăm-pa

Môn-Khmer

ăn (xơi)

băng

suam, som, sam, ăn, sa, kuon

 

muỗi

camôq

munh, muweh, moich, mach, xơmah

bụng (dạ)

tiya:n, tung

pung, bung, tian, kapung

 

nhỏ (đẹt)

nêh, sit

yoh, onoh, dét, del, dikih

bông (hoa)

bangu, bunga

bông, pung, piar, pkau

 

ói,ộc,khạc

oq

oi, ô, ooq, haq, kâta

ikan, kan

ka, kaq, ika

 

ruột

pRuac, prôyq

rooc, ruaq, roiq, ruơch, ruak

cột (thắt)

kăq,găng,ikă', côwq, thăq

kơt, kơc, kơlơc, tôk, đăk, đơk, teh

 

ruồi

rôy

ruai, ruy, rooy, ruwey, rul/ruôi, r-hai

chim

cim

chêm, sim,xêm, chium

 

rừng

ralông, răm

krông, rơng, bri,rứng

chết (mất)

mưtay, ngêng

kchit, chhơt, kachêt, ...

 

sông, (Mg: không)

krung

krông, không, rong, sungai, klong,

cằm (hàm)

kăm

Ka, jangKa, kap, kăng

 

tai

tangi

tôr, talinga, thai

lạnh, rét

laăn

lngiơ, mret, rơ-lêh

 

tay

tangin

têy/đai, đay, ti, atêi, toek, taiql, tơi, đêi

liếm

lyăh

lali, dilaq, lit, lim, liam

 

cắp (trộm)

kleq

kaw, cakaw, kumlaw

mây (vân)

hawêy, bol,...

kamâl, ramưl, mâl

 

vay (mượn)

mưthre

wai, vuai, / yưm

mía

tabôw

kmiê, meq, mai, kơlme

 

nhà

thang

nha, nya, nhi, nghia

Bảng II. Đối chiếu vài từ cơ-bản Việt - Chiêm và Môn-Khmer.

 

Tìm cách lý-giải nhiều hiện-tượng lịch-sử, dựa trên phân-tích 'Họ & Ta', có thể cho thấy một vài điểm khá gút mắt của chuyện hợp-chủng tiến tạo nên dân-tộc Việt-Nam.

 

Xin thử đặt câu hỏi: 'Tại sao trước sức ép lịch-sử, dân Việt xưa gần như không bao giờ nghĩ đến chuyện nới rộng 'lãnh thổ' hay di chuyển về phía Tây (tức vùng Lục Chân-Lạp và 'nước' Lào sau thế kỷ 13)?' và câu hỏi: 'Tại sao truyền thuyết Âu-Lạc cho rằng 'biên-giới' phía Nam chỉ đến 'nước' Hồ Tôn, tức Chiêm Thành, ở phía Nam?'.

 

Trả lời 2 câu-hỏi này có thể giúp chúng ta rất nhiều trong việc tìm hiểu truyền thuyết Hùng Vương và cổ sử người nước Nam.

 

Để ý đến vùng đất ngày xưa của các tỉnh miền Tây và Tây Bắc. Những tỉnh như Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Hoà Bình, Thanh Hoá (phía Tây) [15]. Khu vực miền Tây này có vẻ hoàn toàn nằm ngoài 'ranh giới' fuzzy của Giao Châu, trong bản đồ trang 45, 'Việt-Nam Sử-Lược' của Trần Trọng Kim [24]. Đó là địa bàn chính của tộc người Việt tối cổ thuộc chi Âu, với một phần nhỏ (miệt Sơn La, Lai Châu, Thanh Hoá) thuộc chi Môn-Khmer. Tộc người chủ lực bản địa chạy từ nam Thanh Hoá đến tận khu Mã Lay chính là khối Môn-Khmer. So với các tộc người Việt bản-địa, thuộc chi Âu (Thái) và Môn-Khmer, phần lớn khối tộc người Việt ở bình nguyên sông Hồng là những người Việt 'mới&#