|
Điểm
quan-trọng nhất, xưa nay sử sách nước Việt thường thiếu sót
chính là sự kiện vào năm 1160 vua Anh Tôn nhà Lý ra lệnh cho xây
cất đền thờ Hai Bà Trưng và thánh Xy Vưu. Xy Vưu là lãnh tụ của
khối Cửu Lê, ở miền Đông Bắc nước Tàu, vào thời huyền sử xa xưa.
Đại biểu chủ lực của Cửu Lê chính là tộc người Miao-Yao. Cũng
như Thần Nông là thánh tổ dân Thái Lan - Lào và Mường, Xy Vưu từ
lâu được xem như thánh tổ dân Triều Tiên (Bắc) và Hàn quốc
(Nam). Trong khi, ngày trước tại Trung Hoa, Xy Vưu có vẻ không
ai muốn biết đến. Nhưng ngày nay, người Hoa đã nhìn nhận Xy Vưu
là thánh tổ dân tộc họ. Đứng vào hàng thứ ba, sau Hiên Viên
(Hoàng Đế) và Thần Nông (Viêm Đế).
Trong bài trước chúng ta đã xem qua những điểm quan-trọng sau
đây:
1)
Truyền thuyết về thời Hồng Bàng tại ba
quốc-gia, Trung Hoa, Triều Tiên (Hàn), và Việt Nam, rất giống
nhau. Giống đến nỗi người ta phải ngờ rằng các truyền thuyết đó
đều có chung một nhóm tác giả với nhau. Những điểm chính giống
nhau, có thể kể:: (a) 18 đời vua; (b) thời đại Hồng Bàng, tại 3
nơi, đều bao gồm chữ Hùng
雄
hay Hùng Vương; (c) lãnh thổ của cả 3 quốc gia vào thuở cổ thời
đều hết sức rộng lớn: Cổ Cao Ly (Triều Tiên) kéo dài từ Hàn quốc
cho đến miền Tây Tạng, nhưng phía trên sông Hoàng Hà, cổ Trung
Hoa gồm miền Hoa Bắc và mơ hồ kể luôn Hoa Nam, và cổ Việt, từ
khu vực sông Dương Tử - Động Đình Hồ ở miền Hoa Nam kéo đến Hồ
Tôn (Chiêm Thành); (d) Riêng hai nước Cao Ly và cổ Việt đều xử
dụng đến 2 chữ Xích Quỷ: ở Cao Ly, biệt danh của 'vua' Xy Vưu,
và tại cổ Việt, tên nước Xích Quỷ.
2)
Xin xem lại hai bảng tóm-tắt sau:
(a) Thánh-tổ:
|
Trung-Hoa |
Triều-Tiên |
Thái-Lan |
Việt-Nam |
Ghi-Chú |
|
Hiên-Viên
Thần Nông
Xy Vưu (mới) |
Xy Vưu |
Thần Nông |
? Thần Nông
? Xy Vưu |
* nội tổ ông Lạc
* vua nhà Lý lập đền thờ, năm 1160. |
(b) Thời đại huyền-sử với 18 đời vua, ở 3 nước Việt, Hàn
và Hoa:
|
VIỆT |
HÀN (Triều Tiên) |
HOA |
|
Hùng Vương |
Hàn Hùng (Bai Dal) - Xy Vưu |
Hạ (vua Đại Vũ) |
|
2879-258 TCN |
3898-2333 TCN |
2200-1800 TCN |
Đối với bảng (a) ta để ý Việt Nam là quốc-gia duy nhất trong 4
nước kể trên, hãy còn do dự về, hoặc hoàn-toàn không quan-tâm
đến, vấn-đề thánh-tổ. Đặc biệt Xy Vưu hãy còn hết sức xa lạ đối
với hơn 99.9% dân Việt Nam. Mặc dù đã được nhắc đến một lần
trong bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên [1], về việc
vua Lý Anh Tôn vào năm 1160 cho lập đền thờ Xy Vưu cùng với đền
thờ Hai Bà Trưng. Còn Thần Nông, có lẽ chỉ có những người thuộc
thế-hệ sinh sung, hay đã có dịp học qua cổ-sử thời Trần Trọng
Kim thì còn nhớ ông là nội tổ của Lạc Long Quân, thân phụ của
Hùng Vương số 1. Trong khi tại nhiều Mường bản, tại Lào và Thái
Lan, Thần Nông có vẻ khá quen thuộc đối với người dân thường.
Vấn đề hai vị Thần Nông và Xy Vưu, (nhất là Xy Vưu), đã đi vào
quên lãng trong tâm khảm các sử gia Việt Nam nói riêng, và người
Việt nói chung, có lẽ nằm ở vị trí khá xa xôi của địa-bàn ban
đầu của Xy Vưu và nhóm Cửu Lê, đối với xứ Việt, so với các nước
như Triều Tiên và Trung Hoa. Cũng như vấn đề hợp-chủng xưa nay
vẫn nằm sâu ở phía dưới những mặt bằng quan sát của các sử gia.
Ở bảng (b) làm một con tính nhẫm ta thấy thời gian bình quân của
mỗi một đời vua trong 18 đời vua ở mỗi nước như sau: Trung Hoa:
400/18 = 22 năm; Cao Ly (Triều Tiên/Hàn): 1565/18 = 87 năm; Việt
Nam: 2621/18 = 146 năm.
Như vậy - mỗi một đời vua Hùng Vương tại xứ Việt cổ kéo dài lâu
nhất (146 năm). Đời nhà Hạ bên Tàu, mỗi vua kéo dài trung bình
chỉ khoảng 22 năm, hợp lí nhất. Nhưng cả 3 thời Hồng Bàng tại 3
xứ vẫn hãy còn xếp vào thời huyền sử, tức chưa có một chứng cớ
nào để xác định nó có thật hay không. Số 18 được dùng tại ba nơi
cho thấy đó có thể một con số về ý niệm cho sự liên tục như đã
trình bày trong một bài đầu.
Hai điểm quan-trọng có thể suy diễn từ những sự kiện giống nhau
về thời Hồng Bàng ở 3 xứ khác nhau (ngày nay): (a) Có thể 3 thời
Hồng Bàng này do cùng một nhóm tác giả sáng tác hay ghi lại
(truyền tụng) cho hậu thế, HOẶC 3 thời Hồng Bàng thật ra chỉ là
một khi 3 quốc-gia đó chưa hình thành rõ rệt, xảy ra tại khu vực
gối đầu của 3 khối chủng tộc. Hoặc, ngày nay tuy gồm 3 dân tộc
khác nhau, nhưng ngày xưa có thể chỉ một khối chung chung. (b)
Vua Hùng Vương thứ nhất, cũng có thể chính là vua Đại Vũ (nhà
Hạ), hoặc Xy Vưu (thời Bai-Dal ở Cao Ly), hay Hùng Vương số 1 ở
nước Sở, thời Đông Châu.
Miao tộc, các người là ai?
Xin trở lại việc vua Gia-Long dùng đến hai chữ 'Viêm Giao' trong
lá thơ gởi cho vua nhà Thanh bên Tàu, về việc xin phong vương
[2]. Và chúng ta đã xem sơ qua giả thuyết:
'Viêm' => Thần Nông (Viêm Đế), và 'Giao' => tộc Dao => Xy Vưu =>
tộc Miao-Yao.
Việc kèm theo Miao tộc vào nhóm người Việt di tản sang, rồi định
cư ở xứ Việt cổ với các sắc dân bản địa đã gây tranh cãi khá sôi
nổi tại Sàigòn, vào những năm 60's thuộc thế-kỷ trước. Đặc biệt
giữa tác giả quyển Mã Lai [5] và các tiền bối như: Lm Kim Định,
Lê Chí Thiệp, Nguyễn Bạt Tụy, Mộng Văn Thông (người Hoa), v.v.
[6]. Chung quanh vấn đề có nên đem Miao tộc vào gộp chung với
Việt tộc hay không. Có lẽ bắt nguồn từ những thư tịch cổ của
Tàu, và cũng từ hai chữ 'Viêm-Giao' dùng trong lá thơ xin phong
vương gởi cho nhà Thanh của vua Gia Long.
Bình Nguyên Lộc [5], có lẽ quá nồng nhiệt với thuyết Mã-Lai ở
đầu thế kỷ 20 mà ông giúp lăng-xê, đưa ra nhiều luận-cứ để gạt
bỏ Miêu tộc ra khỏi đẳng thức tộc người tiến tạo nên người Việt
Nam. Nhưng, cả tác giả quyển Mã-Lai và hằng chục hằng trăm
học-giả khắp nơi trên thế giới, kể cả những vị thuộc tộc Hmong,
cho đến mãi ngày nay, đều vẫn chưa, hay tảng lờ đi, xác định tộc
gốc của người Miao là gì, và họ từ đâu đến.
Câu hỏi then chốt của chúng ta ở đây chính là: 'Nếu biết người
Miao khi xưa ưa sống bên cạnh người Hakka, tức Hẹ, và vua Lý Anh
Tôn vào năm 1160 có lập đền thờ Xy Vưu [1], thánh tổ của người
Miao, chúng ta có ... dám đưa người Miao vào danh sách, thành
một trong những tộc người di cư đến xứ Việt cổ, bên cạnh người
Hẹ, rồi trở thành một trong những tộc người tiến tạo nên người
Việt Nam hay chăng?'
Bất cứ ai muốn tìm trả lời cho câu hỏi này đều phải vướng vào
những vấn đề hết sức gút mắt, liên-hệ đến hiểu biết hãy còn khá
mù mờ, mặc dù có lẽ chỉ ở bề ngoài, của người Hoa đối với tộc
người kì bí mang tên Miao-Yao, hay Hmong-Mien.
Mù mờ trên hết là thành phần của khối Jiu Li, tức Cửu Lê. Thông
thường lẫn lộn. Khi thì họ gộp chung với nhóm Đông Di ở địa bàn
Sơn Đông, Sơn Tây, Hà Bắc, Hà Nam. Khi cho vào nhóm Tam Hàn đi
di tản sang các nơi khác: Jin Han => Mãn Châu, Ma Han => Cao Ly,
Bun Han => Bắc Kinh [15]. Tức có liên hệ với đám rợ phía Bắc
mang tên chung: Bắc Địch [北 狄.]. Khi thì họ cho ra những đám
'rợ' mang tên khác như Bách Bộc, Bộc Việt, He (viết y hệt như họ
Lạc
貉, và thật ra chính là Hẹ ngày nay),
cũng xuất hiện ở chung quanh khu vực sông Hoàng Hà vào thời Xuân
Thu Chiến Quốc. Nhưng nói chung họ cho khối Cửu Lê (hay Ly) có
tất cả 9 nhóm [7]. Mỗi một nhóm có 9 bộ tộc hơi khác với nhau.
Như vậy tổng cộng có tất cả 9 x 9 = 81 tiểu chi Cửu Ly, mà chúng
tôi đã cho rằng chính là số 100 (Bách) theo hệ thống đếm theo cơ
số 9. Một hệ thống đếm rất xưa, có thể của một hai bộ phận nào
đó của siêu tộc Khương, mà chưa có sách vở nào đề cập đến. Hệ
thống đếm theo cơ số 9 chính là hệ đếm của người Mường tại Việt
Nam. Theo hệ này, số đếm lớn nhất là 9 chứ không phải 10. Đếm từ
1 đến 9, rồi tiếp theo gọi là 9+1, 9+2,... cho đến 9+9, đọc là
29 (hai lần chín), tức bằng 18 trong hệ đếm theo cơ số 10. Bởi
vậy quyển 'Les Mường' của Jeanne Cuisinier [16] đã nêu thắc mắc
không hiểu tại sao Việt đếm 27 trong khi Mường đọc 39 (tức 3 x
9 = 3 lần 9 = 27 trong cơ 10). Hệ thống đếm theo số 9, chính là
đầu dây mối nhợ cho các 'cụm từ' hay ý niệm dùng 9, hay bội số
của 9, như: chốn cửu tuyền (chín suối), cửu trùng, chín tầng
mây, 18 đời vua, 9 cái đĩnh vua nhà Châu, 36 kế, thất thập nhị
(72) huyền công, 108 anh hùng Lương Sơn Bạc, Giáng Long thập bát
(18) chưởng của Kim Dung, v.v. Chúng tôi cũng mạo muội cho rằng,
hệ thống đếm dựa trên cơ số 9 xuất phát hay được hiện-thức từ
nhận xét về bào thai nằm suốt 9 tháng, tức 9 tuần trăng, trong
bụng mẹ.
Theo cổ sử Tàu, Chi You (Xy Vưu) chỉ lãnh đạo có 72 chi tộc
trong tổng số 81 nhóm Cửu Lê. Và họ không thể kể ra được 72 chi
tộc theo Xy Vưu đó thuộc những đám nào. Dù vậy một vài tài liệu
mới {website 12 của [3]}, cho biết khối Khiết Đan (Khitan), tộc
người của Tiêu Phong trong Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung, ngày
xưa bao gồm 72 bộ tộc.
Vấn đề nhận diện gốc gác của người Miêu lại gặp thêm nhiều khó
khăn ở chỗ:
(a)
Người Miao có nhiều lối hành xử rất giống người Do-Thái.
Không phải giống ở chỗ có tín ngưỡng mạnh và giỏi về những vấn
đề tài chánh hay tiền bạc, nhưng ở chỗ họ giữ vững lối sống, tập
tục tổ tiên, và rất gắn bó với tình đồng tộc. Giống người Nhật,
họ ít chịu sống hoà mình với các tộc khác. Cũng bởi lí do này,
có một hai học giả Tây phương đưa ra giả thuyết họ là một trong
những bộ lạc thất tung của người Do Thái.
(b)
Cũng lại có những học-giả đặt ra giả thuyết gộp họ vào
nhóm Tai-Kadai (tức Thái-cổ). Và cũng có thuyết cho họ thuộc
khối siêu tộc Để-Khương.
(c)
Tôn-giáo cổ truyền của họ rất giống nhiều bộ tộc tại
Trung Hoa thời cổ xưa. Đó là thờ cúng tổ tiên, và shamanism, tức
tông giáo đồng bóng.
(d)
Cũng giống như người Hẹ, bởi có một quá trình du mục nay
đây mai đó, họ không nhớ rõ quê-hương ban đầu của họ ở tại đâu.
Tuy vậy họ có thể kể một vài truyện cổ tích cho biết họ rất gần
gũi với con gấu (Bắc Cực) - và đã từng ở chốn có đến sáu tháng
ban ngày và sáu tháng toàn ban đêm. Tức khu vực rất gần miền Bắc
Cực.
(e)
Ngôn-ngữ của họ lại không giống tiếng Thái, mà cũng không
giống các tiếng Môn-Khmer. Cũng rất khó cho vào nhóm Hán-Tạng,
bởi cũng không giống Hán ngữ trên phương diện từ-vựng.
(f)
Bởi ngày nay, người Miao chỉ tập trung tại miền Hoa Nam
(phía Nam sông Dương Tử), đông nhất tại Quý Châu, và liên hệ
giữa nhóm Cửu Lê (phần lớn là người Miao) với dân Cao Ly (Hàn)
chỉ được ghi lại ở thời tiền sử, cho nên liên kết giữa người
Miao với người Đông Hồ (tức Tungus) hoàn toàn bị bỏ sót. Đó là
không kể đến một khuynh hướng cố-hữu của người Hoa là bỏ sót hay
không chú trọng nhiều đến người Miao.
(g)
Người Miao sống ở miền Hoa Nam ngày nay, bởi vẫn giữ vững
lối sống tổ tiên nên tình hình kinh tế tại những tỉnh họ tập
trung, như Quý Châu, có vẻ phát triển chậm hơn những vùng khác.
Nhiều cộng-đồng người Miao-Yao cũng khá nổi tiếng với lối canh
tác 'đốn & đốt', như cộng đồng người SHE tại Phúc Kiến, Giang
Tây và Chiết Giang. Tuy nhiên cũng có rất nhiều cộng đồng
Miêu-Dao rất thành công về tài chánh, buôn bán ở Hoa Nam và
Thái-Lan.
(h)
Đặc biệt người She mặc dù tộc gốc rất có thể là Yao,
nhưng tiếng nói họ pha lẫn với tiếng Hakka (Hẹ) rất nhiều. Cho
thấy trong quá khứ họ sống rất gần người Hakka.
(i)
Trong rất nhiều cộng đồng người Dao,
người ta kiêng kị xơi món mộc tồn. Bởi giống như nhiều cộng đồng
người Mông Cổ, totem của họ là con Chó. Họ cũng có chuyện cổ
tích về Chó Bàn Hồ [Pan Hu]
盤
瓠
hoặc Bàn Cổ [Pan Gu]
盤
古,
như sau: Ngày xưa, có vua Tàu tìm người dẫn quân đánh giặc chống
ngoại xâm. Sau cùng, vua tìm ra con Chó chịu đảm nhận chức vụ
thiếu tướng tư lệnh quân-đoàn hoàng-gia. Nhưng chó Pan Hu đòi
vua phải gả công chúa, và chia giang san, dành phân nửa cho nó
nếu diệt được giặc. Thắng trận trở về, nó cưới được công chúa
nhưng vua chỉ cho nó phần đất trên không, tức vùng cao nguyên
chướng khí. Nó phải ngủ nhiều ngày để trở thành người. Nhưng đến
ngày thứ 7, nó bị đánh thức nên cả thân hình đã trở thành thân
người. Chỉ chừa cái đầu, vẫn còn đầu 'khuyển' như xưa. Có thể để
ý đến 2 chi tiết nhỏ từ chuyện chó Bàn Hồ. Thứ nhất, tên Bàn Hồ
mang chữ 'Hồ' mang âm vận rất giống đám rợ Hồ
胡
ở phía Bắc nước Tàu (Nhớ chuyện: Chiêu Quân cống Hồ). Thứ hai,
Bàn Hồ cũng có một lối phát âm giống như Bàn Cổ [Pan Gu], và Bàn
Cổ chính là tên ông thủy tổ tạo nên nước Tàu khi thức dậy, sau
một giấc ngủ kéo dài 18000 năm.
Bây giờ xin tiếp-tục truy-tầm nguồn-gốc tộc Miao-Yao theo các
chứng liệu ngôn-ngữ gần xa, với mục-đích xem qua có phải tộc
người Miao đã nằm sẵn trong lòng tộc người Việt-Nam hay không.
Đi đôi với việc vua Lý Anh Tông cho lập đền thờ thánh Xy Vưu.
Bảng I trình bày dưới đây cho thấy, lần đầu tiên, một số từ khá
tương đồng giữa tiếng Việt và Miao, điển hình qua tiếng Hmong,
phần lớn trích từ quyển từ-điển Hmong-Anh / Anh-Hmong do trung
tâm Saturn tại St Paul (Minnesota) xuất bản [8].
|
Việt |
Hmong (Miêu) |
Việt |
Hmong (Miêu) |
GHI CHÚ |
|
thế |
thiaj |
(chu) vi |
vij |
rau = [zaub]Hm/Hẹ = [Jăm] Chăm |
|
Tro |
tshauv |
tre, trúc |
xyoob |
tro <= [zeon]Q. Đông |
|
Xe |
tsheb |
lớn |
loj |
mạnh: muaj (Hm). |
|
một tí |
ntsis |
lùn |
luv |
lùn= talut (Chăm) |
|
xương |
txha |
khoe |
khav |
khoe <= [kho]Ngô. [chhoe] Mân |
|
chết |
cheej |
nợ |
nuj nqi |
chết: [tsa?]Ngô-[se]&[chiong]Mân |
|
thứ 8 |
thib yim (8) |
(lừa) đảo |
dag |
đảo (lừa) <= [tao]Ngô |
|
từ từ |
zuj zus |
bà |
pog |
từ từ <= [tun]QT, [zi] Ngô-Việt |
|
mắt |
muag |
mặt |
ntsej muag |
[mưta], [mata] : Chăm, Đa đảo |
|
Lông mày |
plaub muag |
mi mắt |
di muag |
rượt => edjoeT (Khmer) |
|
vườn |
vaj |
me (trái) |
miv |
Thái: me <= maekham |
|
rượt |
raws |
nhà |
nyob |
Mon-Khmer: niơ, nyia, hniơm |
|
Rút |
rho |
tay |
txhais Tes |
Nhật: te. Taha (Đađảo) |
|
nước |
dej |
chỗ |
chaw |
nước<= đác/ nác. chỗ: tsasM(MK) |
|
Người lớn |
neeg laus |
chùi |
cheb |
chỗ:[tsu]Hẹ. chốn: tsong,tiong -PK |
|
ngựa |
neeg |
tụi nó |
tej no |
[ngi] Hẹ. [ngai] QĐ |
|
cổ họng |
qa, caj pas |
Xy Vưu |
Txiv Yawg |
Txiv=cha/Yawg=ông. [Chi You]qt |
|
lưỡi |
plaig |
răng (nha) |
hniav |
[ya] QT <= 'nha' (nha sĩ) |
|
muôn |
meem |
vạn |
vam |
muôn=vạn=> [maan]QĐ [van]Hẹ |
|
đầu gối |
hauv caug |
gõ (cửa) |
khog |
khỏ = gõ= khog. [g] => [kh] |
|
lớn, to |
log, dav |
hoàng-hậu |
poj huabtais |
[poj] => Bà. [huabtais]= vua |
|
bé |
me |
cám ơn |
cham o |
cham o = tiếng Yao ở Thái-Lan |
|
cuối |
kawg |
lai (áo) |
leeg |
lai (quần / áo) = seam |
|
mua |
muas |
bán |
muag |
[mai]3 & [mai]4. [buan]2&[buan]7 PK.
=> buôn*bán => mua*bán. |
Bảng I: Đối chiếu một số từ giống nhau giữa Việt & Miêu. QT=
quan-thoại. QĐ= quảng-đông. PK= Phúc-kiến. Hm= Hmong. MK=
Môn-Khờme.
Một số từ hay cụm từ, giữa tiếng Hmong và tiếng Việt, giống nhau
như đúc. Thí dụ:
lớn => loj. lùn => luj. khoe => khav. chết => cheej. đảo => daj.
rượt => raws.
me (trái me - tamarind) => miv. chỗ => chaw. nước (H20, đác/nác)
=> dej. nhà => nyob.
tụi nó => tej no. chùi => cheb. muôn (10000) => meem. gõ (cửa)
=> khog (khỏ).
lai (áo - seam) => leeg. rau (vegetable) => zaub (giống Hẹ). mua
=> muas. bé => me.
Xin nhắc lại trong chữ viết các thứ tiếng Miao-Yao, thinh (tức
'tone' hay phát âm theo dấu cho thanh điệu) được kí âm bằng các
phụ âm viết cuối từ. Thí dụ: [muas] = mua, có thinh biểu diễn
bằng chữ 's'. [muag] => bán, thinh viết bằng 'g'.
Để ý: [bé] => [me]. Cả 'b' và 'm' đều là âm 'môi-môi', 'b' âm
tỏ, trong khi 'm' âm mũi. Trong môi trường không dùng chữ viết
dựa trên a-b-c, âm 'b' dễ lẫn lộn với 'm'.
Những điểm đặc-trưng sau cho biết tiếng Miao đã từ lâu nằm ngay
trong lòng tiếng Việt:
1)
Tiếng Miao có nhiều thinh (tone). Có bộ
tộc dùng 5. Có nơi: 8. Giống như rất nhiều phương ngữ Hoa Nam,
như Quảng Đông, Mân, Hẹ, v.v. Họ kí âm thinh bằng phụ âm đặt
cuối các từ: 0, b, j, g, v, m, s, và d. Nhiều học-giả cho rằng
thinh của tiếng Miao là thủy tổ thinh của nhiều thứ tiếng ở miền
Hoa Nam, và Đông Nam Á.
2)
Khác nhiều phương ngữ Hoa, nhưng giống
Hẹ, tiếng Miao dùng âm [V] thay cho [W].
3)
Tiếng Miêu là một thứ tiếng có thể gọi
Đơn-Âm giống tiếng Việt, tiếng Hán. Tuy vậy, tiếng Miao có khá
nhiều phụ âm kép không giống tiếng Hán: [Hl] => người Hlai (tức
người Lê ở Hải Nam; Hluav => lửa; [Hm] => Hmong; [Nq] => nqaij
(thịt), v.v.
4)
Tiếng Mien (Yao) có phụ âm [NG] ở đầu
giống tiếng Việt, Hakka, Quảng Đông: guh nguaaic = ở phía trên.
Cũng có [NY] giống tiếng Việt [NH]: Mienh nyei laangz = làng
(người) Mien. Ăn = Nyanc. Nhà = Nyob. {Ãm cuối 'b' dùng cho
thinh}
5)
Thông thường, hình-dung-từ theo sau
danh từ: dlev luj => chó lớn (luj = lớn) [10]
6)
Phó từ chỉ thời gian, đi trước: Sau
đó, tôi mới ăn cơm => Maaj-mam, kuv yuav noj mov
[10]. Phó từ hỗ trợ hành động thường đặt phía sau: Tôi ăn thật
nhiều => kuv noj ntau. Tôi ăn lẹ lẹ => kuv
noj ceev ceev. {Tôi = [kuv]. Ăn = [noj]}
7)
Động từ 'To Be' của tiếng Hmong gần
tiếng Việt hơn tiếng Anh. Nó giỏi thật (không cần dùng 'To Be')
= Nws zoo heev. Nws= nó, zoo= giỏi, heev= thật (lắm). Dùng 'Có'
thay To Be (Is there): Có nước (uống) không? = Puas muaj dlej?
(muaj => có). Trường hợp dùng To Be: Nó là người Tàu = Nws yog
Suav [10].
8)
Độc đáo hơn chính là những từ hay
cụm-từ sau đây giữa tiếng Hmong [8] và Việt:
|
Hmong |
Việt |
Ghi Chú |
|
nga(g) ki(s) |
ngày kia |
= ngày sau ngày mai. (g) và (s) là 'dấu' |
|
qai(b) |
con gà |
đọc như tiếng Quảng: Gáy => gà. Dấu 'b' |
|
vì(m) / vi(m) chi(j) |
vì (bởi vì) / chỉ vì |
phát âm rất giống nhau.
[vì chỉ] đảo lộn. |
|
de(j) |
nước (đác / nác) |
Rất giống [đác] => Nôm (Mường/ M-K) |
|
mua(j) zo(g) |
mạnh giỏi |
(j) và (g) đều là dấu (thinh) |
|
Txha |
xương |
tiếng Hán: [gu] tức Cốt. |
|
hlua(s). Đọc: plua(s) |
trẻ |
Việt cổ: [plẻ] hay [tlẻ]. Tiếng Khả: [plở] |
|
no(j) |
ăn (no) |
Xem chú thích [11] => Cơm no áo ấm |
|
hno(v) |
nghe |
[hnov] có phát âm gần với: [hngo] => nghe |
9)
Nhưng độc-đáo nhất là lối cấu trúc sau
đây của tiếng Miao (Hmong) từ lâu vẫn có trong tiếng Việt. Nhưng
nằm im lìm, ít người để ý. Đó là lối đặt 'túc-từ' ở phía trước,
bắt đầu câu. Thông thường, tiếng Miao cũng như tiếng Việt: Chủ
từ + động từ + túc từ. Kov noj mov= Tôi xơi cơm. {Kov= tôi. noj=
xơi. mov= cơm}. Nhưng đôi khi trong tiếng Hmong, túc-từ được đặt
ở đầu câu, kèm với chữ [mas]: Mov mas, kuv nyam noj ntau= Cơm
hả, tôi thích xơi thật nhiều. Mov= cơm, kuv= tôi, nyam= thích,
noj= xơi/ăn [11], ntau= nhiều. Thử xem những lối nói sau đây
trong tiếng Việt, có cùng cấu trúc đặt túc-từ ra phía trước:
·
Cơm, tôi đã để dành phần anh rồi. HAY:
Cơm - anh về cứ ăn trước, đừng đợi.
·
Hành trang, tôi đã xếp xong. Nửa đêm
lúc cậu đến, thì xách đi ngay.
·
Mền chiếu, em đã dọn ra ngoài chuồng
heo. Tối nay anh ra ngoài đó ngủ.
·
Bài làm thầy cho, tớ đã làm xong.
·
Cơm nước, tụi tôi ăn rồi.
·
Nợ nần, tôi vừa thanh toán hết rồi. Bây
giờ anh lại rủ đi Las Vegas nữa!
·
Thi cử, tôi đã xong. Bây giờ, chuyện
cưới vợ, tôi phải tự lo.
·
Bia ôm, anh mới đi hồi tối, bây giờ lại
đòi đi nữa.
Lối cấu trúc kể trên, đưa túc-từ ra đằng trước, rất giống tiếng
Miao-Yao (Hmong-Mien).
Nhưng xin ghi nhận: Từ vựng tiếng Miao trong tiếng Việt không
được dồi dào bằng các thứ tiếng Hẹ, Mân (Phúc Kiến), và Quảng
Đông, trong các thứ Nôm từ phía Bắc. Và Miao tộc trong hằng
nghìn năm luôn luôn nấp kín sau tộc Hẹ tức Hakka. Cũng giống như
người Đa đảo nấp sau người Thái-cổ và Môn-Khmer. Trong lòng tộc
người Việt Nam.
Xuất xứ Miao tộc
Tìm ra được chứng tích hiện diện của Miao tộc, đại biểu của nhóm
Cửu Lê, trong lòng tộc người Việt Nam, chúng ta sẽ không dằn
được tò mò muốn biết họ xuất xứ tự nơi nào. Mặc dù đã biết rõ
các học giả Tây lẫn Tàu xưa nay vẫn bó tay, chịu nước cờ bí. Có
lẽ do ở việc người Hoa mang một chủ trương nào đó không thích
nghiên cứu về Miao tộc chăng?
Tuy vậy chúng ta vẫn có thể ức đoán được một hai sự việc dựa
trên những quan-sát khá mới mẻ, như sau:
1)
Trước hết, xin để ý người Hmong có thói
quen dùng lịch xem ngày tháng của nhà Châu, ở thời Xuân Thu
Chiến Quốc. Lịch nhà Châu có tháng 1 bắt đầu bằng tháng Tý, tức
tháng 11. Trong khi lịch nhà Tần bắt đầu tháng 10. Nhà Tống theo
nhà Thương bắt đầu tháng Sửu (12). Nhà Tấn bắt chước nhà Hạ dùng
tháng Dần (Giêng) như tháng 1. Việc người Hmong theo nhà Châu
dùng tháng Tý (11) như tháng 1 cho biết họ đã có mặt ở miền Hoa
Bắc trong thời Xuân Thu, vào lúc nhà Châu làm bá chủ các chư hầu
ở miền Hoa Bắc. Họ có địa bàn xưa ở phía Đông, chứ không phía
Tây như nước Tần.
2)
Người Miao có tục búi tóc đằng sau
giống như nhiều bộ tộc Lạc Việt, hay Môn-Khmer hoặc Nam Ấn, ở
thời xưa (xem [5]).
3)
Chỉ số sọ, mặc dù nay có vẻ lỗi thời
[9], trình bày trong quyển Mã Lai [5] cho biết chỉ số sọ
bình-quân của Miao tộc là 80.6, nằm trong khoảng 79.0-81.4 của
người Mãn Châu và Tungus (Đông Hồ). Người Tungus là ai? Người
Tungus là một trong những nhóm người, như Turkic, Mông-Cổ, Hàn,
v.v. có ngôn ngữ xếp vào nhóm Altai. (Hiện vẫn còn nhiều tranh
cãi về nhóm ngôn ngữ Altai). Địa bàn ban đầu của họ chính là khu
vực chung quanh Hắc Long Giang ở vùng Siberia (Tây Bá Lợi Á) &
Manchuria - nơi có núi Lộc Đĩnh, được dùng trong bộ Lộc Đỉnh Ký
của Kim Dung. Địa bàn Siberia của người Tungus cũng là nơi lạnh
nhất (-71oC hay -159.8 oF) sau Nam Cực và
Bắc Cực. Tungus, gọi theo tiếng Hán: Đông Hồ 東 胡, cũng là tên
chung cho nhiều bộ tộc, đa số du mục, mang khá nhiều tên khác
nhau, phía Đông Mông Cổ. Mặc dù hiện nay, có rất nhiều lí thuyết
về phân bố của các bộ tộc dưới tên, hoặc cùng tên như, Tungus,
đại khái chúng ta có thể biết dải đất của người Tungus nằm giữa
Mông Cổ và Mãn Châu. Có học-giả cho rằng họ là tộc tiền-Mông-Cổ.
Có nơi cho họ là tiền-Mãn-Châu. Tên những khối tộc người liên hệ
khá mật thiết với khối Tungus bao gồm:
·
Jurchen 女真, (Nữ Chân) => nhà Kim 金 朝
của Hoàng Nhan Liệt trong bộ Xạ Điêu Anh Hùng Truyện của Kim
Dung. Một bộ tộc của Jurchen cũng mang tên Mohe (Malgal) viết
như 靺 鞨 [Mohe] hay 莫 贺 弗 [Mohefu], trực thuộc Sushen-Shi
肃 慎
氏
(Túc Thận Thị)
|