|
Qua
bài này chúng ta sẽ mượn 12 Con Giáp để thử xem lại tên gọi 12
địa-chi, với mục đích kiểm chứng một vài điểm khá quan trọng
trong 'truyền thuyết giải mã' [1] ở đây.
Nhưng trước hết xin
thử xem lại phát hiện rất quan trọng trong một bài trước. Đó là
chuyện [1] người Tàu rất thích phân loại 'nhóm ngôn ngữ
Hán Tạng', với hàm ý: tất cả các phương ngữ bên Tàu, nhất là
khối Bách Việt ngày xưa, có cùng chung một gốc với tiếng Hán
ròng ở miệt Hoa Bắc của Hoa tộc 'thuần túy', gộp chung nhau
thành nhóm Sino-Tibetan tức Hán Tạng. Tiền đề này thật ra hoàn
toàn tương phản với lý thuyết chúng tôi ở đây. Nói nôm-na, các
lý thuyết lớn về Hoa chủng tương phản với lý thuyết chúng tôi ở
chỗ, cả hai bên đều giành người Hẹ, người Mân, người Ngô, người
Yuệt (Quảng) ở thời xa xưa, về phía tộc người của mình. Người
Tàu có hỗ trợ của rất nhiều học giả Tây Phương lúc nào cũng cho
rằng các phương ngữ miền Hoa Nam, khi xưa có chung một gốc với
tiếng Hán, và hai khối tộc người, Hán và Bai-Yue (Bách Việt) ở
Hoa Nam đó tuy hai mà một. Rất tiện nghi cho mô hình một nước
Tàu nhất thống kéo luôn đến Tây Tạng. Bởi trong tên gọi
'Hán-Tạng' đã bao gồm sẵn 'Tây Tạng'.
Một trong những hệ
luận hoặc kết quả của thứ tiền đề này chính là công trình tạo
dựng lại cách phát âm tiếng Tàu ở thời cổ đại và thời Trung cổ.
Nổi tiếng nhất là công trình của nhà ngữ học Bernhard Karlgren.
Trong đó việc tái thiết lại các âm cổ bên Tàu, nhất là thời
Trung cổ (từ thế kỷ thứ 6 đến 10), đã dựa vào những trang sách
rời rạc của một hai bộ sách 'văn vần', như quyển Qie-Yun
切韻
tức Thiết Vận, của
Lu Fayan và cộng sự, 'xuất bản' vào năm 601 (đời nhà Tùy), và
đối chiếu với lối phát âm của ... các phương ngữ Bách Việt hiện
nay. Quan trọng nhất trong các nhóm ngôn ngữ họ jùng để đối
chiếu thường bao gồm tiếng Hẹ, Mân, Ngô, và đặc biệt tiếng Hán
Hàn, tức tiếng Hán 'du nhập' vào xứ Triều Tiên, và ... tiếng Hán
Việt, xử dụng ở thế kỷ 20 tại Việt Nam. Thí dụ: (i) 'Thác' trong
'phó thác' tiếng quanthoại hiện tại gọi [tuo]. Mấy học giả căn
cứ vào phát âm Hán-Việt gọi 'thác', Hán-Hàn gọi [thak], Mân đọc
[thok], Hẹ [thok] rồi kết luận tiếng Tàu Trung cổ đã
phát âm: [thak]. (ii) Phòng= Buồng. Quanthoại hiện nay: [fang].
So với Hán-Hàn: [pang], Hẹ: [fong] (=> phòng), và Mân (Phúc
Kiến): [bang]. Rồi để ý tiếng Việt: 'buồng', họ cho tiếng Tàu
thời xưa phát âm: [bwang]. (iii) Từ 'Văn' trong 'văn chương /
văn hoá', quanthoại đọc [wen], Hẹ: [Vun] (=> văn), Ngô-Việt:
[vâng]. Họ dựa thêm vào một chứng liệu nào khác rồi phối hợp với
âm quảngđông: [man], và âm Hán-Hàn là [mwun] rồi cho phát âm
trungcổ là [mun] [2] (iv) Dù có dễ dãi tạm chấp nhận thứ lí luận
'tầm nguyên' hoặc 'phiên thiết' loại này, theo thiển ý, ai cũng
có thể thấy kiểu truy nguồn phát-âm 'cổ đại' hay Trung-cổ của
các học giả Tây Tàu có vẻ hơi lủng củng, ngay ở chỗ họ cho ông
vua, có lẽ nổi tiếng xưa nhất của họ là Nghiêu, ngày nay tuy
mang phát âm [Yao]-quanthoại, nhưng vào thời cổ đại mang phát âm
y hệt như tiếng Hẹ và tiếng Việt (Nam) ngày nay: [Ngieu]. Tại
sao vậy? Bởi họ luôn cho rằng người Hẹ là người Hoa nguyên thủy
nhất, và đã từng sinh sống ở lưu vực sông Hoàng Hà gần chỗ ông
vua cổ xưa của 'Hán tộc' mang tên Nghiêu đó. Hoàn toàn lướt
qua, không để ý đến câu hỏi then chốt: 'Thế nhỡ người Hẹ-cổ
không phải thuộc Hoa tộc thì sao?'. Hoặc: 'Nền tảng tiếng Hán
Việt là gì?' Truy tầm phát âm Hoa cổ đó chỉ có thể đúng khi
chính tiếng Hoa đã được phát âm y hệt như vậy vào thế kỷ thứ
6-10 tại xứ An Nam, hay tại Triều Tiên. 'Có thật như vậy hay
chăng?' Chúng ta có thể thấy rất rõ và rất nhanh, rằng nếu trả
lời các câu hỏi trên nằm trong dạng phủ định, hay ngay cả lưng
chừng, lừng khừng, tất cả kết quả các công trình tầm nguyên phát
âm tiếng Tàu thời Trung-cổ cần được xem lại kỹ hơn.
Thật ra, nếu đứng ở
bờ sông bên này - phía lý thuyết trình bày ở đây - chúng ta có
thể nhận ra thêm một vài điểm khá lấn cấn của việc xử dụng tiền
đề 'Hán-Tạng' như một nhóm ngôn ngữ chung của các tộc người ở
Trung Hoa ngay từ thời cổ đại, trong việc truy tầm phát âm
Trung-cổ tiếng Hán, như sau:
(i) Trước hết, ta
thấy Hoa tộc, cũng như rất nhiều tộc người ‘thông minh’ khác
trên thế giới, rất ít khi chịu khó kiểm chứng lại mớ tiền đề sẵn
có. Họ có vẻ rất dễ dãi hoan nghênh chấp nhận công trình nghiên
kíu có vẻ rất khoa học của mấy học giả Tây phương. Không để ý
rằng những công trình này hoàn toàn dựa trên những tiền đề do
người Hoa đã bày sẵn. Điển hình, rất nhiều học giả Âu Mỹ cho
rằng Hoa ngữ ngày xưa y hệt như các phương ngữ Hoa Nam, nhưng
nay bị biến đổi khá nhiều. Thí dụ, Hoa ngữ theo kiểu quanthoại
nay bị mất các âm cuối như {p t k m nh} và chỉ còn lại {n
ng}: Yue NaN / YaNG Gui Fei (Việt Nam / Dương Quý Phi). Nếu để ý
đến thứ tiền đề này, người ta có thể thắc mắc: 'Tại sao các
phương ngữ Hoa Nam (của người Bách Việt cổ) vẫn giữ được nhiều
sắc thái ngôn ngữ như xưa trong khi Hoa tộc thuần túy lại
không?'
(ii) Nếu người Hẹ là
Hán tộc thuần túy, tại sao ngôn ngữ họ lại giống với phương ngữ
Hoa Nam (và ... Việt Nam) nhiều hơn giống với tiếng Hán. Tương
tự, nếu họ người Hán thuần túy tại sao họ lúc nào cũng cố gắng
gìn giữ tập tục ông cha, juy trì văn hoá và tiếng nói dữ dội như
vậy, và trong tất cả những bản chất văn hoá họ dzuy trì và gìn
giữ được qua cả ngàn năm đó, rất ít điểm giống với thứ của Hoa
tộc? Thí dụ: Người Hẹ không hề theo tập tục Hoa chủng, trong
việc bắt phụ nữ phải bó quặp bàn chân cho sang.
(iii) Mô hình trình
bày trong loạt bài này cho thấy tiếng Hán-Việt và ngay cả một
phần khá lớn của tiếng Nôm, đều có gốc gác với các thứ phương
ngữ Bách Việt, nhiều hơn với tiếng quanthoại ở phương Bắc [2].
Nhiều dấu hiệu cho thấy tiếng 'Hán-Việt' thật sự chỉ phát triển
tại nước Nam, bắt đầu từ thế kỷ 11, tức sau khi đã tạm vượt khỏi
ách đô hộ 1000-năm của Bắc phương. Một phần lớn tiếng Hán-Việt
đó đã do các người thuộc tộc Lạc Việt từ bên Tàu mang sang, tiêu
biểu bằng nhà Lý và nhà Trần. Do đó việc đối chiếu tiếng Hán
Việt (phát triển tại Đại Việt từ thế kỷ 11 về sau) để truy tầm
phát âm tiếng Hán ở thế kỷ 6-10 bên Tàu là một việc làm dựa trên
tiền đề có thể vướng khá nhiều lấn cấn.
(iv) Quan trọng
nhất, việc phiên thiết âm vận xưa dựa vào những quyển sách
(không đủ bộ) như Qie-Yun cũng có thể dựa vào một số điểm cơ bản
không được chuẩn. Nhất là huyết thống của tác giả những quyển
văn vần đó. Bởi nếu chính tác giả mang Việt tộc, hoặc sinh sống
ở khu vực có đa số là Việt tộc, âm vận của tác giả vẫn có thể
không phải thứ âm vận do người Hoa cổ phát ra vào thời đó. Nói
một cách khác, người Hoa hiện nay thật sự cũng hãy còn mù mờ
trong phân bố của các tộc người, nhất là Hoa tộc thuần túy, vào
thời cổ đại ở miền Hoa Bắc (phía bắc sông Dương Tử).
Bây giờ chúng ta hãy
'thử xem lại' 12 con Giáp.
Văn hoá xoay quanh
'12 Con Giáp' được thể hiện tại hầu hết các quốc gia vùng Đông Á
và Đông Nam Á, trừ một vài nước mang nặng ảnh hưởng Hồi giáo như
In-đô-nê-xia, và Mã Lai Á, dù rằng cộng đồng người Hoa tại những
nước này vẫn còn hâm mộ việc ăn Tết và xem tuổi coi ngày theo
'Tử Vi 12 Con Giáp', gọi 'Sinh Tiêu' (生肖 [shengxiao]).
Bảng đối chiếu sau
sẽ tóm tắt 12 con Giáp, tiếng Tàu gọi 12 địa-chi. Dấu [*] cho
thấy tương đồng của phương ngữ Hoa Nam với tiếng Hán Việt.
|
Địa-chi |
Hán |
Hẹ |
Quảng |
Q.Thoại |
Ngô |
Mân |
|
|
|
|
Tý |
子 |
zii* |
chi |
zi* |
tsưi |
chi |
zi* |
Chuột |
鼠
|
|
Sửu |
丑 |
chiu |
chau |
chou |
tshơw |
thiu |
siu* |
Trâu (Bò) |
牛
|
|
Dần |
寅 |
Jin* |
Yan* |
yin |
iing |
in |
yan* |
Cọp
|
虎
|
|
Mão |
卯 |
mau* |
maau* |
mao* |
mo |
myo |
mao* |
Thỏ (Mèo) |
兔
|
|
Thìn |
晨 |
shin* |
san |
chen |
---- |
sin |
dièn |
Rồng |
龍
|
|
Tỵ |
巳 |
tsih* |
ji |
si |
----- |
chi |
ki |
Rắn |
蛇
|
|
Ngọ |
午 |
ng |
ng |
wu |
ngu* |
ngou |
ngo* |
Ngựa |
馬
|
|
Mùi |
未 |
Mui* |
Mei* |
wei |
vi* |
bi+ |
muat |
Cừu (Dê) |
羊
|
|
Thân |
申 |
shin |
san* |
shen* |
seng |
sin |
diẹn |
Khỉ |
猴
|
|
Dậu |
酉 |
ju / riu |
Yau* |
you |
----- |
yu |
jiu |
Gà |
雞
|
|
Tuất
|
戌 |
sut* |
seut* |
xu |
----- |
sut |
tuat* |
Chó |
狗
|
|
Hợi |
亥 |
hoi* |
hoi* |
hai |
----- |
hai |
hai |
Heo |
豬
|
Sự thật, 12 địa-chi
có lẽ xuất phát đầu tiên từ 12 tháng tính theo âm-lịch, tức theo
chuyển động mặt trăng. Người xưa, sau vài ngàn năm sinh sống
trên trái đất bắt đầu phát hiện cứ thấy 12 lần trăng tròn thì
thấy khí hậu trở lại giống như cái 'chu kỳ' cũ: Ấm áp (xuân),
nắng chói (hạ), mát mẻ / lá rơi (thu), và băng giá/lạnh lẽo
(đông). Từ đó sinh ra 12 tháng. Thường gọi chung với ‘trăng’
bằng một từ duy nhất. Tức ‘tháng’ mang nghĩa nguyên thủy ‘một
chu kỳ Trăng’. Thí dụ: Tiếng ‘Hán’ (Hẹ) gọi cả ‘trăng’ lẫn
‘tháng’ bằng [ngiet], quốcngữ đã ký âm thành: [nguyệt], có lẽ
sau khi phối hợp âm Hẹ [ngiet] [1], với lối phát âm Mân [goeh]
và Hải-Nam, [guet].
Rất nhiều ngôn ngữ
do đó dùng chung một từ cho 'trăng' và 'tháng'. Tiếng Persia /
Ba-Tư (Iran) gọi cả 'trăng' lẫn 'tháng' bằng [măh]. Tiếng Tàu
quanthoại có [yue], Hán-Việt đọc [nguyệt] theo kiểu Hẹ, mang
nghĩa 'tháng' và 'trăng'. Tiếng Khmer cũng vậy: [khai] mang hai
nghĩa 'tháng' và 'trăng'. Tiếng Myanmar: [lá] => tháng & trăng.
Người dân tộc A-Kha gọi ‘tháng’ bằng [bala] và ‘trăng’ [pala].
Người P’u-Noi, tháng= trăng= [ula]. Tiếng Mã-Lai: [bulan] =>
tháng & trăng. [Bulan] sinh ra [blang] => [blăng] => tiến đến
[trăng] do tác động của kí âm quốc ngữ. Nhưng [bulan] không tiến
thẳng đến [tháng] trong Việt ngữ. 'Tháng' lại có vẻ phối hợp
[blăng] hay [tlăng] với một từ tiếng Thái chỉ 'mặt trăng' và
'tháng': [deuang]. [Duang] tiếng Thái mang hai nghĩa: {tháng} và
{trăng}. Đối với {trăng} rất thường tiếng Thái kèm theo [Jan]:
[Duang Jan]. [Jan] sinh ra [giăng] tại một số khu vực Bắc Bộ.
[Duang] sinh ra 'tháng' cũng như một lô từ chỉ 'tháng' của các
nhóm người dân tộc. Người Pu-Noi gọi 'tháng Giêng' bằng [Dưon
Chieng]. Người Mường: 'khảng Chiêng' (tháng Giêng {1}), 'khảng
Môch' (tháng 11), 'khảng khảu' (tháng 6), 'khảng chap' (tháng
chạp). Người Tày-Nùng [6] yùng [Bươn chiêng] cho 'tháng
Giêng', [Bươn nhỉ]: tháng hai, [Bươn êt]: tháng một (mười một),
[Bươn lap]: tháng Chạp.
Theo thiển ý, ‘tháng’ có vẻ khác với ‘trăng’ do ở kí âm quốcngữ
cố tổng hợp 2 âm [duang] và [tlăng]:
Tháng = {duang} +
{tlăng}.
Hoặc đã dựa vào lối
phát âm [thang] của người Mân cho từ
朣, mang nghĩa
'trăng mọc'.
Theo Jeanne
Cuisinier [7], dẫn từ các công trình của Coedès và Maspéro,
người Mường cũng có chu kì 12 năm tương ứng với 12 con Giáp.
Nhưng có vẻ như rằng 10 thiên-can (Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh
Tân Nhâm Quý) đến với các mường bản rất trễ. Rất giống với thư
tịch tối cổ của Tàu, ít thấy miêu tả đến chu kỳ 60 năm,
phối hợp 10 thiêncan với 12 địachi. Theo [5] cho đến đời Đông
Hán bên Tàu (tương đương với Hai Bà Trưng xứ Việt cổ), vẫn chưa
thấy xuất hiện 10 thiên-can. Tuy vậy người Mường vẫn có thói
quen chia 1 tháng ra làm 3 tuần, mỗi tuần 10 ngày. Đặc biệt một
ngày có 12 giờ, mỗi giờ xưa như vậy tương ứng với 2 giờ ngày
nay. Giờ Tý đầu tiên bắt đầu từ 11giờ đêm và chấm dứt lúc 1 giờ
sáng. Tiếp đó giờ Sửu: 1giờ-3giờ sáng, v.v. Tuy nhiên, theo
Cuisinier, 12 con Giáp du nhập sang Thái Lan và các mường bản,
từ người Khmer.
Người Yi [4] [8],
với dân số ngày nay khoảng 8 triệu tập trung tại Tứ Xuyên, Quí
Châu và đông nhất tại Vân Nam - giáp giới với Việt Nam, ngày
trước dùng lịch 10 tháng. Mỗi tháng 36 ngày, tức một năm 360
ngày. Năm (5) ngày còn lại của năm họ dùng để ăn...Tết, không
tính vào năm [5]. Có lẽ họ tính lịch theo chuyển vận hằng ngày
của mặt Trời. Một năm gồm {360 + 5} lần vận chuyển 'mọc' và
'lặn' của mặt trời. Năm 10 tháng của người Yi, được chia thành 5
quí. Một (1) quí = 2 tháng, tức 72 ngày. Mỗi tháng có 3 tiết khí
[4]. Mỗi tiết khí có 12 ngày. Tức vào thuở cổ thời, có hai con
số đáng nhớ trong khung đối chiếu ngày, tháng, và năm. Đó là số
12 và số 10. Ngoài ra, còn có thêm một con số đáng nhớ nữa. Con
số 5. Số 5 tiêu biểu cho thuyết 'âm dương' Ngũ Hành, rất thông
thường liên hệ mật thiết đến 12 địa chi và 10 thiên-can (Giáp -
Ất - Bính - Đinh - Mậu - Kỷ - Canh - Tân - Nhâm - Quý).
Điểm đáng ghi nhớ:
Vân Nam, tức Đại Lý năm xưa, là một ngã 3 rất quan trọng nối
liền Trung quốc, Việt Nam với văn minh phương Tây vào lúc cổ
thời. Nhiều sách vở mới của Trung Quốc [5] [8] cho biết Vân Nam
chính là cái nôi văn hoá Đông Nam Á, do ở vị trí ngã ba đường,
tiếp xúc với ba nền văn minh Đông, Tây và Nam, cũng như phong
cảnh thần tiên u linh, khí hậu mát mẻ. So với nhiều 'xứ' ở khu
vực Bách Việt - Hoa Nam, nền độc lập 'địa phương' của khu Vân
Nam (Điền Việt / Nam Chiếu / Đại Lý), cũng được giữ khá vững,
cho đến khi nhà Nguyên của tộc Mông Cổ quyết định dứt điểm xứ
này vào giữa thế kỷ 13.
Bây giờ xin phép trở lại vấn đề then chốt của bài này: 'Thử mượn
12 con Giáp để tiếp tục minh giải câu chuyện 'hợp chủng' của tộc
người Việt Nam'. Đặc biệt chúng ta sẽ tìm cách lý giải tại sao
nhiều tộc người tại Đông Dương và khu vực Lưỡng Quảng - Vân Nam
lại có thói quen gọi 'tháng 1' bằng 'tháng Giêng' hay những âm
vận tương tự. Với chút ít trực giác, chúng ta thấy nếu tìm được
lý giải cho 'tháng Giêng / tháng Chạp' chúng ta có thể hiểu rõ
hơn một chút những điểm hết sức mù mờ từ trước đến giờ trong
lòng cổ sử dân tộc, cũng như của các khối người láng giềng.
Tuy nhiên trước hết
xin ghi lại một số nhận xét thu thập được từ sách vở và
internet.
1.
Hệ thống tử vi Đông
và Tây tính theo lịch 12 tháng hoặc chu kỳ 12 năm (địa chi) xoay
quanh với 10 thiên-can là một hệ thống hết sức tinh vi. Những
tộc người nào phát triển chúng đến nơi đến chốn bắt buộc,
theo thiển ý, phải hội đủ các điều kiện sau đây: (a) Phải có sẵn
một hệ thống số đếm và chữ viết. Bởi quá phức tạp để phát triển
bằng lối truyền miệng trong dân gian; (b) Phải kinh qua hằng
trăm hằng ngàn năm để thu thập dữ kiện, tạo nên các định luật
tổng hợp; (c) Phải thu thập được rất nhiều chứng liệu lịch sử
qua giao tác giữa người với người, dân tộc này với dân tộc kia.
Cá tính và cuộc đời của rất nhiều cá nhân khác nhau; (d) Có sự
đóng góp trong cốt lõi của các nhà khoa học hay những ‘tu sĩ’ cỡ
bự, dù dưới dạng đồng bóng, phù thủy hay tiên tri thời tiết, chứ
lê dân bình thường không đủ sức để phân tích / tổng hợp hằng
ngàn hằng trăm ngàn dữ kiện khác nhau để hệ thống hoá phương
cách 'sinh tiêu' tức xem tử vi bằng 12 con Giáp (Tây và Đông)
đối chiếu với ngày năm sinh và cuốn lịch; và quantrọng nhất: (e)
vào cổ thời các dân tộc này phải rất quenthuộc với 'con Ngựa'
thuộc địachi thứ 7 của 12 'con Giáp'. Xin xem chi tiết phía sau.
2.
Trên góc độ thuần
lý, chúng ta có thể thấy những tộc người đã thật sự góp công
phát triển hệ thống ‘tử vi 12 con Giáp’ đến nơi đến chốn, rất
khó hiện thực được nếu địa bàn cư trú của họ nằm ở những nơi xảy
ra chiến tranh triền miên, hay họ đã sinh sống bằng lối 'ju mụk'
nay đây mai đó. Chúng tôi thật sự cố ý dùng động từ ‘phát triển’
thôi, chứ không dám dùng ‘phát minh’, bởi thật ra hệ thống tử vi
biểu tượng bằng sự vật hay sinh vật, đã hiện diện ngay từ thời
xa xưa, từ Trung đông sang Âu châu, kéo đến Á châu. Theo nhà
nghiên cứu người Hoa, Thường Tuấn [5], cổ Ai Cập, cổ Babylon,
Ấn Độ, Hy Lạp và Trung Quốc đã có tập tục ghi lịch bằng 12 loài
vật từ rất sớm. Tại cổ Ai Cập và Hy Lạp, 12 con Giáp gồm có:
trâu đực, dê, sư tử, lừa, cua, rắn, chó, chuột (hoặc mèo), cá
sấu, hồng hạc, vượn, chim ưng. Cổ Ấn Độ có 12 con giáp rất giống
với Trung quốc: chuột, trâu, sư tử, thỏ, rồng, rắn độc, ngựa,
dê, khỉ Ma-các, gà, chó, heo. Để ý, con sư tử trở thành 'hổ'
(cọp) khi đến Trung Hoa, hoặc ngược lại, bởi bên Tàu, sư tử rất
hiếm. Mười-hai con giáp của xứ Babylon ở thời cổ đại là mèo,
chó, rắn, bọ-hung, lừa, sư-tử, dê đực, trâu đực, chim cắt, khỉ,
hồng hạc, và cá sấu. Trong 12 con giáp Nhật Bản hiện tại, con
lợn biến thành lợn rừng giống đực, đồng thời lịch của họ cũng đã
biến đổi từ âm-lịch sang dương-lịch. Trong khi, tại nước
Hung-ga-ri, do ở ảnh hưởng chiếm đóng ngày xưa (thế kỷ 4-5) của
dân 'Hun' (lãnh tụ Hốt Tất Liệt - Attila), 12 con giáp xứ này
giống y như của Trung Hoa. 12 con giáp kiểu Tàu cũng được áp
dụng trong khối dân Turkestan, và dân xứ Bul-ga-ri ở Đông Âu.
3.
Chúng ta cũng có thể
thấy trong khi tử vi Tây Phương quây quần với 12 giáp: Bảo Bình,
Song Ngư, Miên Dương, Kim Ngưu, Song Nam, Bắc Giải, Hải Sư, Xử
Nữ, Thiên Xứng, Hổ Cáp, Nhân Mã, và Nam Dương, tương ứng với
khoảng thời gian trung bình 30 ngày, bắt đầu từ 'khoảng' ngày 20
mỗi tháng tây, tử vi Đông phương vượt luôn qua chu kì 12 tháng,
lên đến 12 năm và 10 phân loại (thiêncan), phối hợp với nhau
thành 1 chu kỳ chung là 60 năm, tương ứng trên dưới một đời
người. Sở dĩ, Đông phương tiến mạnh đến một chu kì con giáp 12
năm, chứ không phải 12 tháng có lẽ bắt nguồn ở chỗ các nhà thiên
văn Đông phương, đã dựa 'khoa tử vi' theo sát với vận chuyển của
các tinh tú, đặc biệt 'nhị thập bát tú', tức 28 chòm sao trên
trời. Những nhà thiênvăn thuộc các tộc người 'phát triển' tử vi
12 'năm-giáp', đã quan sát chuyển động các hành tinh và biết
được rằng Tuế tinh, tức sao Mộc, đi được một vòng quanh bầu trời
trong khoảng thời gian đúng 12 năm [5]. Tuy nhiên, có vẻ chưa có
luận cứ 'chắc nịch' tương tự về chu kì thiên-can gồm 10 thứ:
Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý, ngoài việc cho rằng
số 10 cho 10 năm, có lẽ xuất xứ từ lịch cổ 10 tháng (mỗi tháng
36 ngày) của người Yi ở xứ Điền Việt (Nam Chiếu/Đại Lý) xa xưa,
hoặc, theo thiển ý, thuyết Âm-Dương Ngũ Hành, bao gồm 5 hành,
nhân (x) với nhị nguyên (2) 'Âm' và 'Dương' (Kim Mộc Thủy Hỏa
Thổ (5) nhân với Âm Dương (2) cho ra 10).
4.
Xin được phép nhấn
mạnh, tất cả các thư tịch cổ cũng như sách vở hiện đại của người
Hoa, không bao giờ ghi chép tên của 12 địa-chi là tên của 12 con
cầm-thú tương ứng. Thí dụ: {Mùi} chỉ là địa chi thứ 8, chứ không
phải {Mùi} mang nghĩa {con Dê}. Trong chữ Hán ghi ở bảng phía
trên, ta để ý, một lần nữa, phát âm Việt giống phát âm Hẹ nhất:
[Mui]. {Mùi} viết theo Hán tự:
未 có nghĩa
'mùi vị' được thể hiện khá đầy đủ trong các phương ngữ Hoa Nam.
[Mùi] tương ứng với quanthoại [Wei] chính là [vị] theo tiếng
Việt. Phát âm y hệt [vi] trong tiếng Ngô-Việt (Chiết Giang /
Thượng Hải). [Vi] lại được phát âm [bi] trong phương ngữ Mân
(tức PhúcKiến / TriềuChâu), khá giống [byị] phát âm Nambộ, kí âm
quốc tế (lột [y]) thành [bi]. Kiểm chứng với bất cứ người Hoa
nào chúng ta sẽ thấy, tên 12 địachi không mang nghĩa 12 con thú
hoặc cầm đó. Cả hai quyển từ điển về tiếng Hán và Nôm, của Huình
Tịnh Của và Đào Duy Anh, đều cho kết quả tương tự. Không bao giờ
có sự việc: Tý = con Chuột, Sửu = con Trâu, Dần = con Hổ, v.v.
Tuy nhiên, ở phía dưới, chúng tôi sẽ mạo muội thử tìm tòi, và
kiểm chứng, với tính cách sơ lược và tiêu biểu, mối dây liên hệ
trong ngôn ngữ giữa tên địachi với tên con cầm-thú tươngứng.
Bây giờ xin xem lại
10 thiêncan theo phát âm giữa các phươngngữ, như sau.
|
Thiên-Can |
Hán |
P'u-Noi |
Dao |
Hẹ |
Quảng |
Q.thoại |
Ngô |
|
|
|
Giáp
|
甲 |
Cáp |
Chạp |
gap |
gaap |
jia |
tsia? |
ga |
kah |
|
Ất |
乙 |
Hăp |
Dật |
jat/ jet |
yut |
yi |
ìI? |
yat |
it |
|
Bính |
丙
|
Hoài |
Pềnh |
biang |
bing |
bing |
ping |
bing |
peng |
|
Đinh |
丁 |
Mừng |
Tềnh |
den |
ding |
ding |
ting |
ding |
teng |
|
Mậu |
戊 |
Púc |
Mù |
meu |
mou |
wu |
----- |
mao |
bou |
|
Kỷ |
己 |
Căt |
Kỳ |
gi |
gei |
ji |
i |
ki |
ki |
|
Canh |
庚
|
Côt |
Cành |
gang |
gang |
geng |
keng |
keng |
keN |
|
Tân |
辛 |
Nuông |
Phiền |
sin |
san |
xin |
----- |
tien |
sin |
|
Nhâm |
壬
|
Táu
|
Nhiêm |
nhim |
yam |
ren |
----- |
jam |
jim |
|
Quý |
癸 |
Ca |
Cuồi |
gui/ kui |
gwai |
gui |
----- |
hui |
| |