|
0 = son {đọc như:
/sohn/} => không
1 = múay /mooeh/ =>
một
2 = bpii /bpee/ =>
hai
3 = bey /bay/ =>
ba
4 = buan /booan/ =>
bốn
5 = bram /blam/ =>
năm => Số lớn nhất trong hệ 5.
Muốn đếm tiếp, phải
dùng đến số 5, rồi cộng thêm:
6 = bram-múay
/blam-mooeh/ => sáu => sáu (6)= bram (5)+muay (1): bram-muay
7 = bram-bpil
/bram-bpee/ => bảy=> bảy (7)= bram (5)+bpil (2): bram-bpil
8 = bram-bey /bram-bay/
=> tám => 8= bram (5)+bey (3)
9 = bram-búan
/bram-booan/ => chín => 9= bram (5)+buan (4)
10 = dop /dup/ =>
mười => một tên gọi mới có nghĩa 2x5
11 = dop-muay /dup-mooeh/
=> 11= dop (10)+muay (1), mười một
12 = dop-bpii
/dup-bpie/ => 12= dop (10)+bpie (2), mười hai
[1] Trần Trọng Kim (
1971) Việt Nam Sử Lược. Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục xuất
bản. Đại Nam tái xuất bản tại Hoa Kỳ.
[2] Ngô Sĩ Liên và
cộng sự (1697). Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Thanh Việt và Phạm Ngọc
Luật hiệu đính theo bản dịch của Đào Duy Anh. Nxb Văn Hoá Thông
Tin (2004). Bản của Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam được trình bày
đầy đủ trên mạng internet: perso.wanadoo.fr/charite
[3] Khuyết Danh
(1377-1388) Đại Việt Sử Lược. Bản dịch của Nguyễn Gia Tường. Nxb
Thành Phố HCM. Bộ Môn Á Châu Á Học. Đại Học Tổng Hợp, TP HCM.
[4] Họ Châu và họ
Chu là hai họ hoàn toàn khác nhau. Từ phát âm, ý nghĩa, lối viết
chữ Hán. Họ Châu có: Châu Nhuận Phát, Châu Ân Lai, nhà Châu bên
Tàu (Đông Châu liệt quốc), Châu Chỉ Nhược (Ỷ Thiên Đồ Long Ký),
v.v.. Họ Chu có: Chu Nguyên Chương (Minh Thái Tổ), Chu Dung Cơ
(cựu Tổng Lý), v.v. Từ ‘châu’ và ‘chu’ cũng vậy. ‘Châu báu, Trân
Châu Cảng,…’ đáng nhẽ phải được viết và phát âm ‘chu báu, Trân
Chu Cảng,…’. Ngược lại ‘Chu kỳ, Đông Chu liệt quốc,…’ đúng ra
phải được viết và đọc ‘châu kỳ, Đông Châu liệt quốc,…’. Người
Việt ưa lẫn lộn hai thứ họ và từ 'châu' và 'chu', do việc kị húy
chúa Nguyễn Phúc Chu. Xin xem [6].
[5] Bình Nguyên Lộc
(1971) Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam. Nxb Xuân Thu (USA)
tái bản.
[6] Nguyên Nguyên
(2004) Loạt bài: ‘Từ chữ Nôm đến quốc ngữ’ (tổng cộng 8 bài). Có
đây đủ.tại các mạng: Khoahoc.net, Aihưucongchanh.com,
honque.net, perso.wanadoo.fr/charite.
[7] Ở một đoạn bàn
luận về Lạc Long Quân, Ngô Sĩ Liên [2] cho thấy ông cũng có một
viễn kiến đi trước Charles Darwin khá lâu: 'Trong buổi trời
đất mới mở mang có người do khỉ mà hoá ra...'
[8] Nguyễn Vũ Tuấn
Anh (2002) Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại. Nxb
Văn Hoá Thông Tin.
[9] Arthur Cotterell
(1995) China – A History. Pimlico (Random House)
[10] Ngọc Phương
(2003) Kể chuyện Văn Hoá Truyền Thống Trung Quốc. Nhà Xuất Bản
Thế Giới (Hànội)
[11] Nguyên Nguyên
(2004) Thử tìm hiểu số đếm 1-10 trong văn minh Đông Sơn. Xem các
báo mạng: khoahoc.net, honque.net, aihuucongchanh.com,
perso.wanadoo.fr/charite,...
[12] Nguyễn Hiến Lê
(2002) Sử Trung Quốc. Nxb Văn Hoá
[13] Janet McRae &
Peg White (1984) The Chinese Way. Brooks Waterloo
[14] Phục Hy, đặt ra
bát quái, căn bản của Kinh Dịch. Thần Nông: tổ nghề nông và dược
thảo. Hoàng Đế: biểu tượng của vua đất màu vàng (Hoàng). Đất
vàng có tên khoa học là loess, chính là đất bồi do gió mang đến.
Ở Trung thổ có lớp dày đến 3 thước. Rất phì nhiêu bởi nước thẫm
dễ dàng. Người Hoa cho dân tộc họ mang mạng Thổ, màu vàng, ở
miền chính giữa: Trung. Bởi vậy nước của họ gọi Trung Hoa hay
Trung Quốc. Thời xưa, nếu đối chiếu với bên ngoài họ vẫn gọi đất
của họ: Trung nguyên. Thí dụ, trong truyện của Kim Dung, giới
giang hồ ưa hỏi nhau: ‘Không biết tin đồn Tạ Tốn đã trở lại
Trung nguyên có thật hay không’. Hiện diện của bà Nữ Oa, được
sắp xếp rất lộn xộn, chỉ chứng tỏ giai đoạn cổ thời theo Mẫu hệ
của Hoa chủng. Theo đó bà Nữ Oa đáng lẽ phải được sắp xếp trước
tiên. Điển hình, Thái Dương Thần Nữ của dân tộc Phù Tang bị kẹt
cứng thành mẫu tổ của dân Nhật. Dân Trung Hoa xưa sau khi chuyển
qua Phụ hệ đã thay đổi thứ tự và đưa bà Nữ Oa xuống.
[15] Jeanne Cuisinier (1946) Les Mương – Géographie humaine et
sociologie. Institut d’Ethnologie. Paris
[16] Cũng có thể ‘tá’ ở thời thượng cổ dùng để chỉ ‘hai chục’
theo hệ 9.
Hai chục trong hệ 9 tức là 2x9 = 18. Bởi ‘tá‘ (=
打
/da/ =
‘đôi’(?) = đôi chín
= đôi chục?) ngày xưa tại Viêt Nam, có nơi chính là 18. Một tá
xoài= 18 trái xoài = 2 x 9 trái xoài. Tất nhiên khi văn minh các
nơi khác đến, ‘tá’ được đem ra dùng để dịch ‘dozen’, rồi trở
thành 12. Nhưng đây chỉ là tản mạn mà thôi.
[17] Xin để ý ngoài
cái mốt 18 cho một liên tục về thời đại, cổ sử Hoa ưa cho việc
mất nước vì đàn bà đẹp. Có lẽ ‘suy diễn ngược’ từ vụ Đường Minh
Hoàng với Dương Quí Phi. Đầu tiên vua Kiệt nhà Hạ vì mê nàng
Muội Hỉ nên bị Thành Thang diệt. Kế đó vua Trụ nhà Thang vì sủng
ái Đắt Kỉ nên mất nước với nhà Châu. Tiếp theo đó, vua nhà Châu
vì mê Bao Tự nên thua giặc rợ Khuyển Nhung và bị giết. Sau đò
phải di đô về phía Đông: Đông Châu.
[18] Sử Việt Nam có
vẻ mang khuynh hướng dễ dãi xem những vị Tam Hoàng Ngũ Đế này có
thật. Người Tây Phương lại khác. Họ ưa xem những vị thần thánh
nguyên thủy này như những biểu tượng xã hội.
Trở về Trang Chính |