|
Điểm làm chúng tôi ngạc nhiên nhất khi khảo sát
về truyền-thuyết Hùng Vương, chính là tính cách khá bí-ẩn của
một truyền-thuyết thường tóm tắt chỉ chừng dăm ba hàng chữ,
trong các sách giáo-khoa, hay sử học. Những điểm bí-ẩn hoặc các
lối nói ẩn-dụ tiềm tàng trong truyền-thuyết, ngày trước, rất khó
có thể phát hiện. Nhất là khi các phương-tiện internet chưa xuất
hiện và chưa được xử dụng ào-ạt như hiện nay.
Tuy nhiên, nếu hoàn-toàn dựa thẳng vào các bài
viết trên internet, dù những bài đó do các giáo-sư đại-học viết,
cũng có thể dẫn đến chuyện 'tẩu hỏa nhập ma' như chơi. Bởi cổ sử
nước nào cũng rối nùi. Chỗ nhiều chỗ ít. Và môi trường internet
đã và sẽ luôn luôn là một môi trường chứa tin-liệu dễ dãi cho
đại đa số khối quần chúng. Thêm vào đó, vấn đề sử học ở Á Châu,
kể cả Trung-Quốc, xưa nay vẫn mang nặng tinh thần quốc-gia,
những cảm xúc chủ-quan, và ám ảnh Nhị-nguyên 'Họ và Ta'. Cũng
như rất nhiều công cuộc nghiên cứu ở Âu lẫn Á, cho đến khoảng
cuối thế kỷ 20, hãy còn mang nặng ảnh hưởng của mớ tiền đề xưa
cũ, kể cả những thứ có từ thời Tư Mã Thiên.
Khó-khăn nhất trong việc viết lên đầy đủ ý nghĩa
được giải mã chính là làm thế nào tóm tắt được các ý nghĩa đó.
Chứ nếu không, có viết đến 180 bài cũng không đủ. Như thế, mặc
dù đã gạt bỏ bớt rất nhiều tin-liệu hoặc thảo luận dài dòng,
chúng tôi bắt buộc phải tóm lược rất nhiều, những điểm muốn
trình bày. Mặt khác, chúng tôi thỉnh thoảng dùng những tên gọi
đời sau, áp-dụng vào đời trước theo đúng kiểu của truyền thuyết.
Cũng như thỉnh-thoảng phải lập đi lập lại một vài khám phá hoặc
ý tưởng mới. Dù vậy, việc giải-mã truyền-thuyết cũng đã tốn đến
18 bài, với bài 17 gồm 3 phần, và bài 18 gồm 9 phần. Tổng cộng
trên dưới 30 bài, mỗi bài bình quân 15 trang giấy. Tức tổng cộng
450 trang giấy. Mỗi một trang giấy chứa cỡ 620 từ, tức tổng cộng
450 x 620 ~ 280000 từ.
Xin đếm thử số từ của đoạn văn tóm lược
truyền-thuyết trong 'Việt Nam Sử Lược' [1]:
Tổng cộng chừng 222 từ. Như vậy bình-quân chúng
tôi đã tốn giấy mực khoảng 1260 từ (280000 / 222) cho mỗi một từ
trong đoạn tóm tắt trong Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim
[1]. Tức khoảng 2 trang giấy cho mỗi một từ, của đoạn văn
tóm-lược trên.
Xin nhắc lại sơ sơ một thí dụ nhỏ để cho thấy
tính cách cực kì phức-tạp của truyền-thuyết thường tóm-tắt chừng
15 dòng, như trên. Thí dụ: Lạc Long Quân => chúng ta đã khảo sát
những điểm chính sau: (i) truyền thuyết bản Việt khác với bản
Mường trong việc đổi tên 'Long Wang' thành Lạc Long Quân; (ii)
các tự dạng khác nhau của chữ 'Lạc'; (iii) Lạc Long Quân = giống
Rồng, khác với giống Tiên của Âu Cơ; (iv) Vấn đề tranh chấp giữa
Mẫu Hệ của bà Âu và Phụ Hệ của ông Lạc; (v) Chữ Lạc
貉
trong Lạc Long Quân viết theo bộ Trãi (Lạc bộ Trãi
貉
). Lạc bộ Trãi ngày trước được dùng để chỉ một đám du mục, có
thể bao gồm nhiều sắc tộc khác nhau, có mặt trong khối Đông Di,
ở tỉnh Sơn Đông ngày nay; (vi) Chữ Lạc [Luo]
貉
nầy ngày xưa cũng có phát âm như [He] hay [Ho] hoặc [Mo] {xem
[2] [19]}. Phát âm [He] hay [Ho] chính là tiền âm của chữ [Hẹ]
tiếng Việt. Và [Mo], cũng viết
貉
y như 'Lạc' [19], chúng tôi cho rằng tiền thân
của [Hmoob] có thể dùng để chỉ người 'Miao-Yao', tức Hmong-Mien,
xưa ưa sống gần người Lạc Việt, thuộc chi 'Hẹ'. Phát âm [Ho]
cũng mang âm hưởng của chữ [Hoa] đọc theo một phát âm địa-phương
tiếng Việt {[Ho-o]}, và [Hua] tiếng Tàu, chỉ gốc người Hoa-Hạ.
Theo từ điển CCDICT {chineselanguage.org} [2], từ [Luo] tức
'Lạc' mang nghĩa xưa: một nhóm rợ ở phía Bắc nước Tàu. (vii)
[He] hay [Luo] có mang phát âm [Ho] tức 'Hoa' gợi cho ta ý
tưởng: Rất có khả năng, người Hẹ (tức một nhóm Lạc Việt cổ) cũng
chính là một trong những tộc người tiến tạo nên Hoa tộc sau này.
(viii) Tiếp theo chúng ta khảo sát đến người Hẹ và thấy họ có
rất nhiều bản sắc giống người Việt Nam, tiếng Hẹ cũng rất giống
tiếng Việt, đặc biệt phát âm [Y] quan-thoại như [Dz], và [W] ở
nhiều phương-ngữ khác thành ra [V], giống kiểu phía Bắc.
Nhắc đến Lạc Long Quân, tất phải nói đến bà Âu
Cơ. Chúng tôi đã ghi nhận rất nhiều điểm chung quanh vị Thái
quốc mẫu này. Xin phép tóm tắt như sau:
(i) Trong khi người Kinh ít khi nghiêng về một
bên, bà Âu hay ông Lạc, người Mường thiên hẳn về bà Âu Cơ, mà họ
gọi theo kiểu Quảng Đông: Ngu Kơ. Tương tự, xã hội Kinh ưa giữ
thế 'trung lập' giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh, trong khi xã hội
Mường tập trung thờ phượng chỉ một mình Sơn Tinh (xem Cuisinier
[3]).
(ii) Âu Cơ, theo thiển ý biểu tượng cho chế độ
mẫu hệ - của người Việt cổ ở vùng Hoa Nam, và dải đất hình chữ S
- trước thời nhà Hán nhất thống Trung Hoa. Cuộc chia tay giữa bà
Âu và ông Lạc là biểu tượng cho tranh chấp giữa mẫu-hệ và
phụ-hệ. Âu Cơ cũng có thể biểu tượng cho tất cả các thứ Việt tộc
thích duy trì nếp sống xưa cũ tại các địa bàn rừng núi. Trong
tiếng Tàu, 'Cơ'
姬
thường dùng để chỉ một người phụ-nữ đẹp. 'Âu'
(hay [Ngu])
嫗
mang liên hệ gốc gác (âm) với hai từ khác cũng
chỉ dân sinh sống ở miền rừng núi: (a) 'Âu' [Ou] trong tên xứ
Tây Âu, tức Tây Việt hay Âu Việt, mang cùng một thứ địa bàn với
tỉnh Quảng Tây ngày nay. Và (b) 'Âu', như một biến chuyển với
'Iu', theo định luật 'Lau' <=> 'Liu'. 'Iu' thường dùng để chỉ
người 'Yao' một nhánh lớn của khối Miao-Yao [4]. Chia tay Âu &
Lạc có thể biều tượng cho giữa Miao và Hẹ. Tại Việt Nam, ngày
xưa tộc Miao-Yao cũng mang tên gọi là 'Mán', mà chúng tôi đã
dành trọn hai bài để đưa ra giả thuyết mới, rằng người Miao-Yao
mang gốc Đông Hồ / Mãn Châu. 'Mán' rất có khả năng chỉ là một âm
tắt của 'Mãn Châu'. Xưa nay ít người để ý, bởi khá giống 'Man'
trong 'Nam Man' người Tàu dành gọi người Hoa Nam khi xưa. Một
điểm khác cũng cần để ý: Trong tâm thức người Hoa, họ cho chủng
Hoa-Hạ đã có thế sát nhập với hai khối Nam Man và Đông Di. Nhưng
đối với Bắc Địch và Tây Nhung thì không [19]. Bắc Địch cũng có
hai nhóm lớn [19]: Xích Địch và Bạch Địch. Xích Địch mang từ
'Xích' (đỏ), có thể mang liên hệ với 'nước Xích Quỷ' và biệt
danh 'Xích Quỷ' của Xy Vưu.
(iii) Cả bà Âu và ông Lạc đều biểu tượng cho hai
thứ chủng Việt chính, xuất phát từ hai khu vực khác nhau từ xứ
Trung Hoa cổ. Âu Cơ: những nhóm người Việt từ miền Tây và Trung
nước Tàu, mang khuynh hướng mẫu hệ. Lạc Long Quân: các khối
người Việt ở vùng biển Đông, từ khu vực Sơn Tây - Hà Bắc - Sơn
Đông (phía cực Bắc), kéo xuống tận khu vực Phúc-Kiến - Triều
Châu. Nhóm người Lạc Việt viết theo bộ Trãi, mà chúng tôi đã
chứng minh chính là người Hẹ, bởi cũng xuất xứ từ, hoặc lân cận
với, địa bàn người Hoa Hạ (ban đầu) nên đã chuyển sang phụ hệ,
khi đến định cư tại xứ Việt cổ [5].
Trước khi thử tóm tắt một vài điểm chính của giải
mã truyền thuyết Hùng-Vương, trình bày trong suốt 18 bài qua,
chúng ta hãy lý giải hoặc trình bày thêm một lần nữa, vài điểm
rất quan trọng như sau.
Việt Thường
Sử sách nước Việt thường đề cập đến xứ Việt
Thường, thỉnh thoảng với vài dẫn chứng. Thứ nhất, cuộc gặp gỡ
của người Việt Thường với các vua Nghiêu Thuấn, ở vào thời huyền
sử xa xưa, do ở sáng tác của Trịnh Tiều [8], trên 2000 năm sau.
Thứ hai, việc đại sứ Việt Thường mang con chim trĩ trắng tặng
vua nhà Chu vào khoảng năm 1120 TCN [9]. Thứ ba, vào cuối đời
nhà Đường, người Hoa đặt tên 'Việt Thường' cho một quận huyện,
nằm ở khu vực Quảng Bình - Quảng Trị ngày nay [10]. Do ở việc
danh xưng 'Việt Thường' tại nhiều chỗ khác nhau trong sử Hoa, sử
nước Nam đời sau rơi vào vùng ảo ảnh hết sức mù mờ.
Trước hết xin xem hai sự kiện về gặp-gỡ ở đời
Nghiêu Thuấn, và đời nhà Chu. Vào đời Nghiêu Thuấn, tộc người
Hoa-Hạ thuần túy dù có tổ chức đến cấp 'quốc-gia' vẫn không thể
nào rộng hơn một tỉnh ngày nay, như Hà Bắc chẳng hạn. Đến đầu
đời nhà Chu cũng vậy. Tộc người Hoa-Hạ thuần-túy, nếu có, luôn
được bao bọc, và sống chung với, hằng ngàn bộ-tộc - bộ-lạc láng
giềng khác nhau. Với các thứ tiếng nói khác nhau. Hoàn-toàn chưa
có những trung-tâm sinh-ngữ hay phiên-dịch để tộc người này cảm
thông với tộc kia. Đặc biệt xin chú tâm đến thời điểm năm 1120
TCN, khi đại-sứ đặc-nhiệm và toàn-quyền của xứ Việt Thường đáp
máy bay hãng Cathay Pacific sang thủ đô nước Trung Hoa trình ủy
nhiệm thơ, và tặng cho chủ tịch Chu Thành Vương một con chim
trĩ. Có gì lạ ở thời điểm năm 1120 TCN? Đó là cái năm mà sử sách
Tàu, viết vào khoảng 1000 năm sau, nói là vua nhà Chu phong đất
thả cửa cho họ hàng thân thích hay quan lớn có công trong triều.
Cũng một loại chuyện hoang-đường, viết theo kiểu 'chính sử' của
người Hoa. Với mục đích chính là đóng chặt cái đinh pháp-lí của,
hay xí phần chủ quyền trên, toàn lãnh thổ Trung Hoa. Đất nào,
nước chư hầu nào, cũng có cội nguồn từ thiên tử nhà Chu - thời
đại có thiệt 100% đầu tiên của lịch sử nước Tàu. Nước Sở (Kinh
Sở) được phong cho Hùng Dịch [Xiong Yi], cháu của ông thầy dạy
vua. Nước Lỗ phong cho con cháu ông Chu Công, chú của vua và
cũng là nhà hiền triết đầu tiên của Á Châu. Nước Tề phong cho
ông Lã Vọng, tức Khương Thượng, v.v. Mặc dù rằng người Hoa biết
rõ đa số thành phần khối lê dân trong các nước chư hầu này không
nhất thiết thuộc chủng Hoa-Hạ, nhưng họ cố tình tảng lờ đi dưới
đòi hỏi thiết bách của việc tạo dựng quốc-gia.
Từ đó, ta thấy cái năm 1120 TCN, hay khoảng Chu
Thành Vương vừa lên ngôi vua, đầu tiên được Khổng Tử hoặc sử-gia
Tư Mã Thiên lăng xê, với chuyện phong đất phong tước, nhanh
chóng trở thành một tiêu chuẩn khuôn vàng thước ngọc, cho sử gia
đời sau bắt chước. Việc miêu tả đại sứ Việt Thường đến gặp vua
Chu Thành Vương vào năm 1120 TCN, trình bày trong Đại Việt Sử
Lược [9], soạn ra trên 2000 năm sau cuộc 'tiếp kiến', do đó
không nằm ngoài việc 'cóp' lối viết sử của các sử gia thiên
triều. Tuy vậy, trong việc chép kiểu viết sử đó, sự kiện con
chim trĩ cũng có thể hé ra cho ta thấy một vài điểm quan trọng
sau:
a)
Đại Việt Sử Lược [9] nhìn nhận tộc người
Việt-Thường khác với tộc Hoa-Hạ, vào lúc khởi thủy của thời
'thực sử', năm 1120 TCN.
b)
Chữ 'Thường' [shang] 裳 trong hai chữ 'Việt
Thường' mang nghĩa 'quần áo' cho phần dưới thân thể, tức 'cái
khố' hay, rất có thể là 'sarong' hoặc 'sulu' hay 'pareo' của các
tộc người Thái-Lào hay Đa đảo. 'Việt Thường', do đó, đã miêu tả
đầy đủ cách ăn mặc của vị đại sứ, đi gặp vua Châu Thành Vương,
hay của tộc người Việt-Thường.
c)
Miêu tả về Việt Thường Thị của Đại Việt Sử Lược
[9] cũng chứa nhiều mâu thuẫn:
- Người Hoa đã biết, và đặt tên cho 15 bộ lạc
phía tây nam vào thời Hoàng Đế (Hiên Viên) - trong thiên niên kỷ
thứ 3 trước Công Nguyên. Vào thời đó lãnh địa của Hiên Viên
Hoàng Đế chỉ chiếm một khoảng đất nhỏ, bên sông Hoàng Hà, lớn
nhất cỡ một tỉnh ngày nay. Đất 'vàng' của tộc Hoa Hạ, chưa tiến
đến chế độ phong kiến, to rộng, và khi đó, vùng đất Trung Hoa
ngày nay, chứa trên 2000 bộ lạc lớn nhỏ khác nhau.
- Tên của 15 bộ lạc ở phía cực Nam nước Tàu đó,
bao gồm Văn Lang, Việt Thường Thị, Giao Chỉ, Gia Ninh, v.v.,
toàn là những thứ tên đặt ra vào lúc nhà Hán nhất thống được
toàn cõi nước Tàu, tức 3000 năm sau thời đại Hiên Viên (Hoàng
Đế).
- Đại Việt Sử Lược [9] lại xác nhận rằng tuy gọi
tên 15 bộ lạc như vậy, nhưng những thứ tên này hoàn toàn không
có trong danh sách 9 châu của thiên Vũ Cống do vua Đại Vũ nhà
Hạ, thiết lập. Kỹ sư Đại Vũ khởi nghiệp 18 đời nhà Hạ, sau thời
Hiên Viên cũng vài trăm năm, và thường được xem một người thuộc
tộc Khương (Môn-Khmer).
- Khi đại sứ của Việt Thường Thị mang con chim
bạch trĩ (một thứ gà rừng) tặng vua Chu Thành Vương (khoảng năm
1120 TCN), xứ Việt cổ chưa có Hùng Vương. Bởi theo [9], Hùng
Vương, một nhà ảo thuật đại tài, lạ mặt, chỉ làm cho dân địa
phương ở 'bộ lạc' Gia Ninh thán phục và tôn làm vua vào đời Chu
Trang Vương - khoảng năm 696-682 TCN, sau vụ dâng chim trĩ hơn
400 năm.
d)
Không cần quan tâm đến cuộc gặp gỡ đó, hoặc ngay
cả chuyện phong đất phong tước, có thật hay không, chúng ta
cũng có thể biết được, và chỉ cần biết, đã có sự hiện diện của
bộ tộc Việt Thường, vào thời khởi thủy của lịch sử Trung Hoa.
e)
Theo [8], bộ Sử Ký của Tư Mã Thiên cho biết địa
điểm xứ Việt Thường nằm đâu đó ở phía Đông Nam nước Phù Nam, tức
khoảng khu vực đảo Java ngày nay. Nên nhớ mặc dù Tư Mã Thiên có
đi chu du nhiều nơi lúc soạn bộ Sử Ký [8] [19], nhưng ông không
có đặt chân đến miền Hoa Nam, lãnh địa của khối Bách Việt.
f)
Do ở địa hình địa lý, và thực trạng của chính trị
thời cổ đại - cũng như hiện diện của hằng nghìn bộ tộc khác nhau
trên nước Tàu ở thời cổ sơ - bộ tộc Việt Thường đó phải có địa
bàn rất gần với lãnh địa của người Hoa-Hạ. Đâu đó trong khu vực
tỉnh Sơn Đông, Hà Bắc hay Sơn Tây, tức ở vùng Đông Bắc nước Tàu.
g)
Sự việc vào cuối đời nhà Đường, người Hoa lôi tên
Việt Thường trở ra và đặt cho miền cực nam xứ An-Nam, có lẽ
không ngoài xác nhận thứ tộc người ở khu Việt Thường thuộc nước
An-Nam có nhiều biệt sắc giống bộ tộc tại bắc Trung Hoa mà ngày
xưa tổ tiên họ gọi là 'Việt Thường'.
h)
Tộc Việt Thường cũng có tục điêu đề (xâm trán),
và do đó rất có khả năng là một bộ phận của khối Đông Di hay Cửu
Lê. Nếu nhớ hai thành phần chính của khối Cửu Lê là Miêu tộc và
Lê tộc (còn gọi Lai Di, tức [Hlai]). Và Lê tộc có bà con họ hàng
gần với, hay một chi tộc của, khối Khương, tức Môn-Khmer, có mặt
ở đảo Hải Nam, xứ Việt cổ, và Chiêm Thành. Chúng ta thấy ngay
'Việt Thường' đích thị là người Việt bản địa tối cổ, mang tên
Môn-Khmer. Khi xưa ở bên Tàu còn mang tên Khương tộc.
i)
Để ý thư tịch cổ của Tàu thường gọi kèm chữ 'Thị'
vào 'Việt Thường' => Việt Thường Thị. Mang ý nghĩa bộ tộc Việt
Thường, nhấn mạnh ở chỗ họ không thành lập quốc gia. Mặc dù
quan-niệm về 'nước' (quốc) của người xưa rất lỏng lẻo, khác hẳn
với 'nước' đòi hỏi vài ba yếu tố căn bản như ngày nay. Tại sao
như vậy? Bởi trong các nhóm bộ tộc thuộc khối Đông Zi, có rất
nhiều nhóm chuyên sinh sống với nếp sống du mục, nay đây mai đó,
không có địa bàn cố định. Không xin nhận một nơi nào đặc biệt
làm quê hương. Nổi tiếng nhất trong các đám du mục thuộc khối
Đông Di chính là người (Lạc) Việt viết với bộ Trãi, ngày nay
mang tên là người Hakka tức Hẹ (tiếng Việt). Như vậy, tộc Việt
Thường vào đầu đời nhà Chu (khoảng 1120 TCN) cũng có thể chính
là người Lạc Việt mang tên nôm là Hẹ.
Khương, hay Hẹ, bộ tộc Việt-Thường có lẽ đã có
mặt ở xứ Việt cổ, và trước đó cũng có mặt tại địa bàn gần gũi,
và cũng có thể đan xen, với người Hoa-Hạ vào thời khởi sử xa
xưa, tại miền cực Bắc nước Trung Hoa.
Tiền-đề về ngôn-ngữ
Tiền đề về ngôn-ngữ thường đi theo các tiền-đề về
sử học. Cả hai thứ tiền-đề, xưa nay vẫn thường được lướt qua,
ngay cả ở Trung Hoa. Như đã trình bày nhiều lần, việc dựa trên
những tiền-đề xưa cũ, sẽ rất dễ dẫn đến cái vòng lẩn quẩn cho
công cuộc tìm tòi nghiên cứu hao tốn nhiều thời gian. Bởi nhiều,
nếu không nói đa số, tiền đề về ngôn-ngữ và sử học tại Á Châu,
đều vướng phải những định-kiến xa xưa, xuất phát từ phía triều
đình thể theo nhu cầu giải quyết xung đột chính-trị, hay trị dân
của giới cầm quyền. Cũng có thể nói những tiền đề này thật ra
chưa thoát khỏi ảnh hưởng của các thư tịch cổ của Tàu, nhất là
những thứ như Thi Kinh, Xuân Thu, Chiến Quốc Sách, Sử Ký, v.v.
Khi người Tây Phương đến Á Châu và bắt tay vào
việc nghiên-cứu ngôn ngữ và cổ sử, chuyện đầu tiên là họ phải
dựa vào lối diễn-dịch hay lí-giải về những vấn-đề địa-phương
theo sách vở sẵn có, hay theo quan-điểm do giới cầm-quyền trình
bày. Mặt khác, giới viết sử hay nghiên cứu về ngôn-ngữ ở Á Châu,
ngày trước cũng ít khi ngờ rằng học-giả Tây Phương cũng có
vấn-đề liên-hệ đến những tiền-đề xưa cũ, theo sát với tiến triển
khoa học phương Tây. Nói một cách khác, học giả Á Châu ở thế kỷ
trước có thể đã tin tưởng 'chắc nịch' rằng khoa-học Tây Phương
đã tiến đến tột đỉnh rồi. Những gì người Tây Phương công bố hay
viết thành sách phải là chân lí, hoặc sự thật. Cũng giống như
lời dạy của các vị thánh hiền ngày xưa. Thật ra, đối với
khoa-học và kỹ-thuật, có lẽ không bao giờ có chuyện tột đỉnh cả.
Tột đĩnh có lẽ chỉ xảy ra đúng vào lúc tận thế của loài người.
Do đó, những công trình, dù có thể to-tát, của các học-giả Tây
Phương, rất có khả năng, đã chất chứa khá nhiều công việc 'đánh
bóng' tiền-đề sẵn có ở Đông Phương.
Đứng giữa các thứ tiền đề về ngôn-ngữ, có thể là
thứ công trình phiên-thiết lại các âm xưa cũ của tiếng Tàu. Tức
tìm xem người Tàu phát âm từ này từ nọ ra làm sao vào thời Xuân
Thu Chiến Quốc, hay thời Trung Cổ. Giả-định quan-trọng nhất các
công-trình loại này đã dựa vào chính là: Dân Tàu xưa nay vẫn là
một thứ dân thuần chủng. Một thứ giả-định mang tính chất hoang
đường, đã bị uốn nắn theo một xu hướng hay nhu cầu nào đó, hoặc
mang nặng ảnh hưởng của các tiền đề xưa cũ, ở cả Đông lẫn Tây
phương.
Ở Việt Nam, ngày trước các tiền bối, có lẽ bối
rối khá nhiều trước tình-trạng tạp-pín-lù của chữ Nôm, đã đề ra
một vài lối giải thích tính cách đa dạng của âm tiếng Việt.
Những lối giải thích này, thường dựa trên các công bố của người
phương Tây, hay trên các mô-hình có sẵn của người Hoa. Trong đó
có: (a) Vay mượn; (b) Biến đổi âm Hán cho hợp khẩu vị người
Việt; (c) Thay đổi theo phong-thổ và qua giao tác với dân địa
phương; (d) Học tiếng Hán qua các trường dạy sinh ngữ do Bắc
triều thiết lập; và (e) Biến đổi 'khơi khơi' theo thời đại,
hoặc theo địa phương.
Những lối giải thích về biến đổi, hay chuyển âm,
trong tiếng Việt theo kiểu trên, có vẻ dính chặt vào tâm thức
của mọi giới ở Việt Nam, kể cả giới ê-lít đã được hấp thụ thêm
một hai ngoại ngữ nào đó. Nhưng lại thường bất kể đến những tiến
bộ trong khảo cứu về biến thái ngôn ngữ, hay đồng-hoá (lẫn nhau)
về ngôn ngữ - giữa những phương ngữ xử dụng bởi những tộc người
khác nhau.
Xin phép dành một vài dòng để minh giải vấn đề
'chuyển âm' liên hệ đến đề tài Hùng Vương. Ngày trước, có vài
học giả Việt cho rằng 'vua Hùng' là tiếng của người Mường: Pò
Khun. [Pò] tương đương với 'vua' và [Khun] là 'biến âm' của
'Hùng', theo kiểu qua lại giữa âm [Kh] và [H] theo kiểu: [Khan]
=> [Hãn] / Genghis Khan => Thành Cát Tư Hãn.
Thoạt nhìn rất hay, nhưng nhìn kỹ lại khá lấn
cấn. Xin phép tóm tắt như sau:
·
Người Mường không dùng âm [Po] để chỉ 'Vua'. Gần
âm [Po] có chữ 'Pổ' mang nghĩa 'Bố' (Cha). Âm [Po] mang nghĩa
'Ngài', 'Bà Chúa', hay một người có địa vị cao sang lại thuộc
tiếng Chăm-pa ở phía Nam, mà người Chăm-pa, chúng tôi cho rằng
xưa có bà con gần với người Việt bản địa tối cổ: Môn-Khmer.
·
Từ 'vua' tiếng Mường đọc như 'Byua' (kí âm là
[Bua] theo một quy luật ngữ học dành cho một số tiếng Âu Châu
[14]) - giống kiểu Nam bộ và quốc ngữ thời thế kỷ 17. Theo thiển
ý, âm [byua] có cùng gốc với một âm quan-thoại xưa [yu] cho từ 王
, mà phát âm thông thường là [wang] tức 'vương'.
·
Tiếng Mường có âm gần [Khun] nhất là [Cun] hay
[Kun] mang nghĩa 'Quan'. Kun Lang (hay: Lang Cun) = Quan Lang.
·
Biến âm [Kh] <=> [H] có thể là một thứ biến âm
giữa tiếng Hán và tiếng Mông Cổ [12] [13]. Âm [Kh] tiếng Mường
thường tương đương với âm [S] tiếng Việt, chứ không phải [H].
Thí dụ [11]:
- sông => không (giống âm Thái: [khung]). Sông
Mekong = Me + Kong. Me, tiếng
Thái = Mẹ, cái gì to tát. Kong => Khong => sông.
Mekong => sông lớn, sông mẹ. Rất
giống 'Menam', trong đó: 'nam' mang nghĩa 'nước',
hay nghĩa rộng là 'sông'.
- khủng ống = súng ống. - khổ măl = số may.
- khứu = sửu (thuối khứu = tuổi sửu)
- khon = son. Bâm khon = mâm son (Để ý: [B] =>
[M]: Bangkok => Mân Gốc) [27].
- khay khướt = say khướt. - khăc đác = sặc
nước. - khăc mùi rão = sặc mùi rượu
- khủng mũi = sống mũi (để ý âm [u] <=> [ô], như
[tui] <=> [tôi]). - khẩu = sáu (6).
- khúp mẽnh = súc miệng. - khup tố = sụp đổ. -
khức = sức.
·
Cũng không chính xác khi dùng hai từ 'biến âm'.
Bởi vẫn mang ý nhị nguyên. Từ tiếng A sang tiếng B, với tập
trung ở A. Tiếng A giữ vai chính. 'Biến âm' cũng mang tính chất
'nhị nguyên' Trước-với-Sau, thường che mờ những đường hướng khảo
sát khác của các khoa học tương cận như: sử, dân tộc, xã hội,
hoặc khảo cổ [18]. Chính xác hơn một chút có lẽ phải dùng 'âm
tương đương'. Thí dụ: Tra từ điển Mường [11] ta thấy âm [Kh]
Mường mang khuynh hướng tương đương âm [S] Việt, bởi có đến hằng
chục từ như vậy. {Xem phía trên}. Nhưng nếu muốn thiết lập một
định lý tương tự cho [Th] <=> [R] chúng ta bắt đầu thấy sự gượng
ép. Ở chỗ chỉ có lác đác vài từ mang biến chuyển: [Th] Mường <=>
[R] Việt. Thí dụ: [thăng] <=> [răng]. [tha] <=> [ra]. [thẳm] <=>
[rắm] (đánh rắm). [thảnh] <=> [rắn] (không thuần nguyên âm ở
sau). Và đa số vẫn giữ: [Th] => [Th]: thăm <=> thăm; thơ ký <=>
thư ký. Âm [R] vẫn giữ [R], [R] <=> [R]: rão <=> rượu. Định
luật [Th] <=> [T] mang nhiều thí dụ hay chứng tích cụ thể hơn:
[thắc] => [tóc]. [Thay tăm] <=> [Tay đăm] => [Tay mặt] (từ điển
Huình Tịnh Của ghi [đăm] = mặt, phải, [chiêu] = trái. 'Đăm' và
'Chiêu' mang gốc Mường hay Thái-cổ). [Thuối]=> [tuổi]. [Thà]
(ảo) => [tà] (áo). Thơ thằm => Tơ tằm.
·
Nhóm âm tương đương thể hiện rõ nét hơn giữa các
phương ngữ Hoa Nam, và điểm chúng tôi thường nhấn mạnh chính là:
Một khi ta thấy có hiện tượng âm tương đương trong tiếng Việt và
âm tương đương giữa các phương ngữ Hoa Nam, chúng ta cần phác
họa nên một định luật và thường xuyên kiểm chứng định luật đó.
Nếu nhiều kiểm chứng các nhóm âm tương đương đạt được kết quả
tốt, chúng ta sẽ có thêm một chứng cớ khá vững, tiếng Việt là
một hỗn hợp các phương ngữ đó, và tộc người Việt đã là một hợp
chủng các tộc Bách Việt đó. Hoàn toàn tránh khỏi cảnh tộc người
này là thủy tổ tộc người kia. Chỉ là bà con vào lúc ban đầu.
Không phải do ở tinh thần quốc-gia, nhưng do ở tinh thần
khoa-học. Qua nhiều thí dụ viện dẫn, thí dụ: ka/gia, kẻ/gả,
ăn/uống, đường-xá, tâm-địa, v.v., chúng ta thấy âm tương đương
trong tiếng Nôm và tiếng Hán Việt đều được phản ánh đầy đủ trong
các phương ngữ Hoa Nam, tiếng Thái, tiếng Hmong-Mien (Miêu-Dao),
tiếng Đa-Đảo, tiếng Chăm và tiếng Môn-Khmer.
·
Chứng cớ vững chắc nhất cho nguyên lý về 'âm
tương đương' chính là phương ngữ nào ở Hoa Nam thường vẫn giữ
vững phần lớn âm vận xưa cũ của nó [18]. Tiếng Quảng Đông có
những âm đặc thù Quảng Đông. Phúc Kiến cũng vậy. Và Hẹ cũng thế.
Thí dụ 1: Tương đương giữa âm [W] quan-thoại với [V] Hẹ, [M]
Quảng Đông, và [B] Phúc Kiến: 'Vô' mang nghĩa 'phủ định', tức
'không có'. Âm Quanthoại: [wu] => Hẹ [vu] (vô) => Quảng [mou]
(mậu) => Ngô-Việt [hhu] => Phúc Kiến [bo] (=> Nam bộ: [byô]).
Thí dụ 2: Quanthoại [wan] (10000) => Hẹ [van] (vạn) => Quảng
[maan] (muôn) => Ngô-Việt [vE] => Phúc Kiến [ban] (byạn). Thí dụ
3: Nó, anh ta, cô ta - phát âm phổ biến nhất tiếng Tàu là [ta].
Nhưng quảng-đông vẫn giữ âm cũ: [koi] hay [keoi] hoặc [gei] hay
[heoi]: 其 hay 渠 . Cùng gốc với [kẻ] (ấy) hoặc [gả] (đó), hay
[hắn] trong tiếng Việt. Rất giống tiếng Thái: [kão] cho nam, và
[te] (giống [ta]) cho nữ. [Nó] trong tiếng Việt lại mang xuất xứ
từ tiếng Ngô-Việt [nong] dùng để chỉ đại từ ngôi thứ 2 (anh,
chị, ông, bà) và cả ngôi thứ 3 => 'nó'. Thí dụ 4: Những cặp từ
như: Đa/Nhiều, Bông/Hoa, Ô/Dù, Thiểu/Ít, v.v. [18], đều được
phản ánh đầy đủ giữa các phương ngữ Trung Hoa, nhưng với tự dạng
khác nhau. Sơ sót ngày xưa chính là khi học tiếng Hán, các tiền
bối học theo kiểu một đối một, 1 <=> 1, nhầm tưởng một từ là
Hán, một là Việt. Đơn thuần 1 => 1, theo kiểu Tam Thiên Tự:
thiên là trời, địa là đất, đa = nhiều, thiểu = ít. Thật ra một
sự vật hay động tác ngày xưa đều có nhiều từ khác nhau, tùy theo
phương ngữ và cách phát âm, để diễn tả. Nếu cùng một từ, lại có
những lối phát âm khác nhau tùy phương ngữ. Các phương ngữ tiếng
Hoa phần lớn vẫn còn giữ nhiều dấu vết của việc hợp chủng và hợp
ngôn ngữ, cho đến ngày nay.
Hùng Vương và Hùng Thị
Thế vua Hùng Vương có thật hay không? Thật ra,
rất khó trả lời câu hỏi này, theo dạng nhị nguyên: Có - hoặc -
Không. Bởi như đã trình bày, nó liên hệ đến một mức độ tư tưởng
thật cao, cao hơn cả khoa-học và triết-lí. Tuy nhiên, nếu cố
gắng chúng ta có thể thiết lập một số mô-hình giải đáp gần đúng
như sau.
1)
Hùng Vương là người Việt đầu tiên. Tức trước thời
Hùng Vương, chưa có người Việt theo nhân dạng, cá tính và DNA
của người Việt ngày nay. Do đó, Hùng Vương có thể thuộc bất cứ
thứ chủng nào, hoặc, hợp lý hơn, một người mang hai ba dòng máu.
Có thể: Hẹ, Miêu, Thái, Khương, Lê, Lạc (miền biển), Đa Đảo,
v.v. Theo mô-hình này, chủng Việt (Nam) chưa hình thành khi Hùng
Vương xuất hiện - cũng có nghĩa vua Hùng số 1, có thể là vua Đại
Vũ (nhà Hạ) mang gốc Khương tộc, hay vua Xy Vưu, thủ lãnh nhóm
Cửu Lê - bà con dân Hàn (Triều Tiên) - thuộc Lê tộc hay Miêu
tộc. Cả hai thời đại nhà Hạ của ông Vũ (Trung Hoa) và Bai-Dal
của ông Xy Vưu (Hàn) đều kéo dài đến 18 đời mới chấm dứt. Hai
thời Hồng Bàng ở Trung Hoa (Hiên Viên) và Triều Tiên (Bai-Dal),
đều mang chữ 'Hùng' y như 'Hùng Vương': Hữu Hùng Thị (Hiên Viên)
và Hàn Hùng (Bai Dal). Tương tự, chủ tịch Xy Vưu của Bai-Dal với
biệt hiệu vua 'Xích Quỷ', giống tên nước Xích Quỷ thời Kinh
Dương Vương, cũng có thể là Hùng Vương số 1. (Di Cosmo [19] dựa
theo thư tịch cổ của Tàu, cho biết có 2 thứ Bắc Địch: Xích Địch
và Bạch Địch). Ngoài ra họ của vua nước Sở với lê dân đa số
thuộc chủng Việt, truyền qua nhiều đời cũng là họ 'Hùng' cùng
âm, nhưng viết khác (có thể phát âm: [Mị]) và mang nghĩa khác.
Tức Hùng Vương số 1 cũng có thể là Hùng Dịch ở nước Sở. Ngoài
ra, cũng có đề nghị từ một học giả Pháp ngày trước, Việt vương
Câu Tiễn là Hùng Vương thuộc đời thứ 6.
2)
Hùng Vương thứ 1 là con trai trưởng của Âu Cơ và
Lạc Long Quân. Có hai trường hợp: (i) Âu và Lạc là hai thị
tộc: Âu Cơ Thị (theo mẫu hệ) và Lạc Long Quân Thị (theo phụ hệ),
và (ii) Âu Cơ và Lạc Long Quân đều là người thật. Trường hợp (i)
dùng quan điểm Thị tộc sẽ cho Hùng Vương là một thị tộc mới,
liên minh giữa hai thị-tộc, có thể gọi Hùng Thị. Thật vậy tại
đền Hùng, xây thời nhà Lý, theo [8], có bài vị ghi:
- Đột ngột cao sơn
- Cổ Việt Hùng Thị
Bài vị ghi là 'Hùng Thị', tức thị tộc mang tên
Hùng, chứ không phải Hùng Vương. Hiểu Hùng Vương như Hùng Thị
cũng mang hàm ý, tộc người chủ lực ở xứ Việt cổ trong suốt 18
đời Hồng bàng, là một thị tộc duy nhất: Hùng Thị. Trường hợp
người thật (ii): Hùng Vương thứ nhất phải là một người mang hai
giòng máu, Âu và Lạc, và Hùng Vương thứ hai trở đi, mang trong
người ít lắm 3 giòng máu. Giòng máu thứ 3 là máu của Hùng hoàng
hậu, người bản địa (rất có khả năng thuộc tộc Môn-Khmer).
3)
Kiểm chứng với quyển sách về người Mường của
Cuisinier [3] hoặc với bộ Thủy Kinh Chú của Lịch Đạo Nguyên
[15], hay Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên [16] cho biết,
theo quan sát của người Mường và người Hoa thời xưa, không phải
chỉ có một mà lại có rất nhiều Hùng Vương, Lạc Vương hay Hùng
Trưởng, ở xứ Việt cổ. Ở vài mường bản, người Mường thường gọi vị
đó là vua Yịt Yàng, tức vua Việt (Yịt) ưa mặc áo vàng (Yàng), ở
một xứ miền Kinh lân cận. Những vị này chia nhau cai trị những
vùng đất ở miền Kinh, giống thể chế Quan Lang, Thổ Lang của
người Mường. Ở phương diện này, Trần Trọng Kim trong quyển Việt
Nam Sử Lược [1] có viết: “Khi đất Giao
Châu còn gọi là Văn Lang hay là Âu Lạc thì người bản xứ ăn ở thế
nào, phong tục làm sao, nay cũng không có di tích gì mà kê cứu
ra cho rõ được. Có lẽ cũng tự hồ như Mường hay là Mán ở mạn
thượng du đất Bắc Việt bây giờ. Giả sử có đem vua Hùng Vương họ
Hồng Bàng hay An Dương Vương họ Thục mà sánh với mấy người Quan
Lang ở mạn thượng du thì dễ thường cũng không xa sự thực là
mấy.’
4)
Quan-điểm của Trần Trọng Kim về một xứ Việt cổ
nhỏ bé, thật ra rất phù hợp với nhiều sử gia hiện đại. Trong đó
có ý niệm về Mandala do Oliver Wolters đề xướng vào năm 1982, và
ý niệm về Xứ Tù Trưởng (chiefdom) mà hiện nhiều sử gia Việt Nam
ưa trích dẫn [6] [7] [17] [20] [21]. Mandala là một ý niệm,
xuất xứ từ những đơn-vị xã-hội tôn-giáo tại Ấn Độ và Tây Tạng,
đại khái mang ý nghĩa trung tâm thờ phượng thần thánh và giao
tiếp với vũ trụ. Trong ý nghĩa một tổ chức chính trị, Mandala
lỏng lẻo hơn, và dưới cấp, một quốc gia, và có thể được biểu
diễn bởi những vòng tròn không đồng tâm mà lại giao cắt với
nhau. Tức một số nhà lãnh đạo có thể tòng phục hai ba minh chúa
khác nhau, ở các trung tâm cách biệt nhau. Theo Boike Rehbein
[22] từ Thái Lan tương đương với Mandala chính là [Muang], mà
tiếng Việt gọi là 'Mường'. Xứ-Tù-Trưởng (chiefdom) [23] tuy
giống Mandala ở chỗ không như, và dưới cấp tổ chức quốc gia,
nhưng mang đặc điểm là những người có quyền hành trong tổ chức
'Xứ Tù Trưởng' đó, thường là bà con họ hàng với vị Tù Trưởng.
Tức điểm đặc-trưng của Xứ Tù Trường chính là nhóm người cai trị
thuộc dòng họ hàng bà con thân thuộc với nhau.
5)
Mô-hình bình dân về Hùng Vương sẵn có từ xưa đến
nay cũng có thể được giữ vững, với một số cải tiến, phát xuất từ
lí luận của giải mã ở đây, như sau:
a)
Hùng Vương thứ 1, là quốc tổ mang hai giòng máu:
Thái & Việt {tức Âu & Lạc}.
b)
Hùng Vương thứ 2 trở về sau, luôn mang trong
người ít nhất 3 giòng máu. Giòng máu thứ 3 là giòng máu tộc
người Việt bản địa tối cổ: Cũng có thể người Hoà Bình, hay Đông
Sơn hay Sa Huỳnh, hoặc Đa Đảo. Hệ thống số đếm, và những từ cơ
bản của đầu mình thân thể tứ chi, và của xã hội đơn sơ, đều có
chung nguồn gốc với tộc người Môn-Khmer, Thái-cổ và Đa-đảo.
c)
Huyết tộc của tổ tiên Hùng Vương như: Thần Nông,
Kinh Dương Vương, Động Đình Quân, v.v., đều thuộc Việt tộc nói
chung. Có thể là Khương tộc, Miêu tộc, Lê tộc, Thái-cổ, và Lạc
Việt. Thần Nông, mặc dù quê ở bên Tàu và người Tàu vẫn thờ như
một thánh tổ, ngang vai vế với Hiên Viên, có tộc gốc là Khương,
hay Việt (Thái). Người Hoa thờ Thần Nông bởi từ lâu họ đã nhìn
nhận tộc Khương (hay Việt) chính là một trong những tộc người đã
tiến tạo nên Hoa chủng. Thần Nông cũng là thánh tổ của dân Thái
Lan ngày nay. Đây cũng là điểm hết sức gút mắt từ trước đến giờ
sử sách Việt thường tránh né, bởi thiếu thốn hiểu biết hiện đại
về gốc gác của Thần Nông, và thường lầm ông là một người Tàu
chay, hay một thị tộc thuộc chủng Hoa-Hạ.
d)
Thời điểm khởi đầu và thời điểm cuối của thời đại
Hùng Vương bắt buộc phải giữ vững: 2879-258 TCN. Nhất là thời
điểm khởi đầu. Tại sao vậy? Bởi như chúng ta đã thấy, 3 truyền
thuyết về thời Hồng Bàng hết sức giống nhau giữa 3 nước: Trung
Hoa, Việt Nam, và Triều Tiên (Hàn), và rất có thể cả 3 truyền
thuyết đều có chung một nhóm tác giả. Thời điểm khởi đầu nước
này không thể xảy ra sau nước kia, bởi theo quan niệm thông
thường, như vậy có nghĩa nước này có thể là hậu duệ hoặc do nước
kia thành lập. Như vậy, thuyết Hùng Vương, một nhà ảo thuật đại
tài xuất hiện ở Gia Ninh vào thế kỉ thứ 7 TCN, trình bày trong
Đại Việt Sử Lược, cần được thẳng tay gạt bỏ.
e)
So với 18 đời vua nhà Hạ ở Trung Hoa - 18 đời
Hàn-Hùng ở Triều Tiên và 18 đời Hùng Vương ở Việt Nam mang nhiều
tính cách vô lí hơn hết, bởi bình quân, mỗi một đời vua ở Triều
Tiên kéo dài 87 năm, và ở xứ Việt, 146 năm. Nhưng không ai được
quyền thay đổi con số 18 huyền nhiệm này hết, bởi ta chưa hiểu
được trọn vẹn ý nghĩa của con số 18. Ngoài việc quan sát, qua
loạt bài này, con số 18 có thể biểu tượng cho một chu kì kín hết
sức tốt đẹp, của thời Hồng Bàng. Hoặc một ý niệm về liên tục.
Hoặc đơn thuần, một con số gấp đôi con số 9 tượng trưng cho lãnh
tụ, vua chúa, hay thiên tử. Hoặc một con số đã được dùng khá
thuận phong-thủy (feng-shui) cho hai nước kia: Trung Hoa và
Triều Tiên.
f)
Một điểm quan-trọng cần ghi nhớ: Triều nhà Hạ ở
Trung Hoa, Bai-Dal tại Triều Tiên, và Hùng Vương tại Việt Nam,
thật ra hãy còn thuộc thời huyền sử, tức chưa có bằng cớ gì xác
đáng.
6)
Xem lại mô hình về nhiều Hùng Vương với nhiều xứ
Tù Trưởng, ta thấy:
(a)
Điểm khó khăn vẫn là xác định, có một hay nhiều
Hùng Vương. Có nhiều chứng liệu cho biết truyền thuyết nghiêng
về phía 'nhiều Hùng Vương', như sau:
·
Ấn bản truyền thuyết người Mường cho biết 100
người con của bà Âu ông Lạc bao gồm 50 trai 50 gái, chia nhau
cai trị hai vùng đất của xứ Việt.
·
Theo ấn bản Việt, Hùng Vương thứ 1 chỉ cai trị
vùng đồng bằng của xứ Việt cổ. Tức ít lắm cũng có 2 vùng khác
nhau. Vùng rừng núi kia vẫn do đám con theo bà Âu chia nhau cai
trị.
·
Ấn bản Việt cho 100 người con Âu-Lạc toàn là con
trai. Điều này có nghĩa truyền thuyết bản Việt thừa nhận: (a)
đất Việt cổ có sẵn người bản địa, sinh sống từ trước; (b) 100 vị
hoàng-tử Âu-Lạc này sẽ là những người cai trị đầu tiên - chứ
không phải hoàn toàn là người Việt đầu tiên. Bởi họ vẫn phải tìm
vợ và lấy vợ từ khối người bản địa. (Người bản địa mới chính là
người Việt cổ đầu tiên). Do ở thiếu thốn chứng liệu về chữ viết
và con ngựa (phương tiện truyền thông, và quản trị hành chánh),
rất khó có chuyện một vị vua duy nhất cai trị một xứ lớn rộng
hơn một bộ lạc lớn hay một tỉnh lớn như ngày nay.
·
Nếu cho: Lạc Vương = Hùng Vương, các thư tịch cổ
của Tàu (thí dụ: Thủy Kinh Chú) đều dùng tên gọi 'Lạc Vương' với
số nhiều.
·
Tuy vậy nếu dùng truyền thuyết y như đã chép
trong Việt Nam Sử Lược, ta phải hiểu việc chọn người con trưởng
làm Hùng Vương thứ 1 ở vùng Kinh như biểu tượng cho: (a) việc
lập quốc trong khung đối chiếu với thời nhà Hạ và thời Bai-Dal;
(b) nhấn mạnh ở việc nhất thống các bộ lạc để tiến lên thể chế
'Nước Nhà'; và (c) nhấn mạnh ở việc lựa chọn Phụ Hệ, tại lãnh
thổ ở vùng Kinh.
·
Nói chung truyền thuyết chứa một thông điệp ngắn:
Trung Hoa lập quốc ra sao, nước Việt cũng giống như vậy. Hơi
gượng ép và có thể xa lìa sự thật, nhưng nói lên ước muốn độc
lập, đồng đẳng, của các chủng Việt đối với tộc Hoa Hạ, cũng như
các truyền thuyết của Tàu, Việt, và Hàn, có thể cùng một tác
giả.
(b)
Địa bàn ban đầu của Hùng Thị bao gồm không phải
một trung tâm, mà khá nhiều trung-tâm theo dạng 'mandala' hay xứ
Tù trưởng - trải dài trên vùng đất chạy từ Dương Tử giang (khu
Động Đình Hồ) xuống tới xứ Hồ Tôn hay Phù Nam. Ở chiều Đông Tây,
từ Tứ-Xuyên - Vân Nam, đến tận biển Đông. Tức vùng đất của khối
Bách Việt xa xưa.
(c)
Ngay tại xứ Việt cổ, cũng không chỉ có một
trung-tâm duy nhất, mà nhiều trung tâm, tập trung ở những khu
vực như: Hoà Bình, Đông Sơn, Sa Huỳnh, v.v. Tình trạng nhiều
trung tâm sinh cư của dân Việt, cho đến thời nhà Hán tiến chiếm
Nam Việt của Triệu Đà (khoảng năm 110 TCN) được phản ánh đầy đủ
trong Hán Thư, ghi lại việc 'vua' xứ Tây Vu (xưa ở khu Phú Thọ /
Phong Châu) bị một tướng lãnh tâm phúc tên Hoàng Đồng làm phản,
giết chết, rồi đầu hàng nhà Hán [8] [25].
7)
Sở dĩ chúng ta phải trở đi trở lại ở mô hình một
'xứ tù trưởng' là bởi xưa nay, thật ra chưa có một chứng liệu
nào về tổ chức hành chánh ở thời Hùng Vương. Ngoài một câu trích
từ thư tịch cổ của Tàu, viết 'sau đó' cũng khoảng 500 năm: Có
ruộng Lạc, Lạc Hầu và Lạc Tướng. Tổ chức hành chánh đi đôi với
hình thành quốc gia, với nước nhà và nhà nước. Nội chuyện quan
sát về các cơ chế dẫn đến việc thành lập 'Nước' cũng có thể là
một đề tài hấp dẫn cho hằng chục, hằng trăm luận án tiến sĩ khắp
nơi. Không phải là một vấn đề đơn giản, theo kiểu khi có phân
biệt giai cấp là có nhà nước & nước nhà. Mà còn luôn luôn thay
đổi theo địa hình, lối sống, và đời sống kinh tế của từng vùng.
Thí dụ: Các chuyên gia về cổ sử Đông Nam Á ưa đưa ra các giả
thuyết về Mandala như trên, hoặc thuyết dựa trên sự cần thiết
của đoàn kết hay hợp chủng khi đối phó với một mối đe doạ chung
từ bên ngoài {xem [26]}. Nhưng Nicola Di Cosmo [19] trong quan
sát về việc tiến tới hình thái 'Nước' ban đầu, của khối dân Hung
Nô ở miền Bắc nước Tàu, lại phải duyệt qua nhiều lí thuyết khác
nhau về cơ chế thành lập quốc gia, khác hẵn với thuyết Mandala
hay 'Đoàn kết và hợp nhất, để chống ngoại xâm'. Nói một cách
khác, nội trong việc xác nhận 'nước' Văn Lang hay Xích Quỷ ra
thế nào, chúng ta thấy cổ sử Việt Nam có rất nhiều vấn đề đối
với khoa học hiện đại. Quan trọng hơn hết là phân biệt một số
các lí thuyết về việc thành lập nước nhà và nhà nước. Rồi sau đó
tìm kiếm những chứng tích có thể hỗ trợ cho từng lí thuyết một.
Cả hai việc này từ xưa đến nay hoàn toàn vắng bóng trong các tủ
sách về sử học của Việt Nam.
Kết
Đúng vào lúc chúng tôi viết những dòng chữ kết
thúc loạt bài này, trên một vài mạng hay trao đổi i-meo giữa bạn
bè, có lăng xê một mẩu tin sốt dẻo về một câu chuyện khá cũ:
Người đầu tiên phát minh ra Giấy (paper) là một người Việt mang
tên Thái Luân.
Những chuyện bề ngoài có vẻ rất hào hứng như vậy,
thật ra đối với người Hoa không có gì lạ hết. Bởi những lí do
sau:
1.
Cho đến ngày nay, người Hoa vẫn còn thói quen gọi
người Phúc Kiến là người Mân, gọi tắt cho Mân-Việt. Người Chiết
Giang / Giang Tô, gọi Ngô (tiếng Ngô), tắt cho Ngô-Việt. Người
Vân-Nam còn gọi người Điền, thay cho Điền Việt. Đặc biệt nhất,
người Quảng Đông, tỉnh Quảng Đông, tiếng Quảng Đông, và thức ăn
Quảng Đông, thường vẫn được gọi chung là [Yue] tức Việt. Việt
Quảng Đông (Đông Việt) và Việt Quảng Tây (Tây Việt) được viết
với bộ Mễ chỉ thóc gạo:
粵.
Bằng chứng cho đến thế kỷ cuối đời nhà Thanh (khoảng năm 1802),
khi vua Gia Long xin tấn phong vương với tên nước là Nam Việt,
Thanh Triều cũng viện lẽ đã có hai tên rất giống là Tây Việt và
Đông Việt, nằm ở vùng đất Nam Việt xưa của Triệu Đà, nên dùng
tên Nam Việt không ổn và bắt buộc đổi thành Việt Nam.
2.
Cho đến ngày nay, người Hoa ở miền Nam sông Dương
Tử cũng còn nhớ họ thuộc chủng [Yue] tức Việt. Nhưng từ dạo có
những cổ xúy của các danh nhân gốc 'Yue' như Tôn Dật Tiên, La
Hương Lâm, kêu gọi sát nhập chủng Yue vào chung với Hán tộc, vào
khoảng đầu thế kỷ 20, gần như tất cả những người Hoa đều nhất
thống quan điểm rằng 'Yue' (Việt) tức là Hán. Hỏi bất cứ người
Hoa nào, nhất là giới học thức, về tập hợp các tộc Hoa chính ra
sao, sẽ được câu trả lời như Kim Dung đã trình bày trong các bộ
truyện chưởng của ông, âm vọng tuyên bố của Tôn Trung Sơn ngày
trước: Hoa tộc ngày nay bao gồm 5 thành phần, Hán, Mông, Mãn,
Tạng và Hồi (hoặc Choang). Không nhắc nhở gì đến Việt trong đó.
Nhưng nếu có người thắc mắc hỏi tiếp: 'Thế Việt tộc [Yue zu] thì
sao?'. Câu trả lời tiếp theo sẽ hết sức ngắn gọn: 'Việt tộc tức
là Hán tộc'.
Lý thuyết giải mã về Hùng Vương ở đây cũng hoàn
toàn đồng thuận với hội chứng nhị-nguyên 'Họ và Ta' trong
phân-biệt Hoa-Việt / Việt-Hoa, qua câu chuyện một người Việt tên
Thái Luân đã phát minh ra giấy. Tuy nhiên chúng tôi xin phép
nhấn mạnh những người Việt như Thái Luân (có lẽ thuộc tộc Thái
cổ), Khương Tử Nha (Khương tộc), công chúa nước Việt, Miao Shan
(Miêu Sơn => Miêu tộc) tức Phật Bà Quan Thế Âm, và hằng chục
hằng trăm danh nhân Trung Hoa, tuy có thể mang tiếng người Việt,
nhưng họ không phải là người Việt Nam. Bởi họ không có sanh đẻ
và lớn lên tại nước Việt (Nam) xưa. Sở dĩ, người Việt tử thế hệ
sinh sung về sau, cảm thấy tính cách hào hứng của vấn đề, bởi đa
số có vẻ không biết và không ngờ rằng ngày nay ở bên Tàu, người
ta vẫn có thói quen gọi tiếng Quảng Đông là tiếng Việt [Yue yu],
và đồ ăn Quảng Đông là đồ ăn Việt [Yue cai]. Vấn đề 'những
danh nhân Hoa là người Việt, nhưng không phải Việt Nam' có
thể lan rộng ra đến nhiều thảo luận khác nhau, nhưng chúng tôi
chỉ xin tóm tắt, bằng một thí dụ nhỏ về việc không bao giờ ta
thấy người Tân Tây Lan hay người Úc tìm bất cứ một danh nhân nào
người Anh hay Ái Nhĩ Lan rồi nói rằng những vị này cũng là người
Tân Tây Lan hay Úc, bởi họ cùng mang giòng máu Anglo-Saxon, và
có thể có cùng một thứ chủng tổ tiên. Hay xa hơn nữa phát minh
nào của người Anh, người Đức cũng có thể nhận bừa là của người
Đức, hay ngược lại, bởi ngày trước, khi người Anh chưa hình
thành, có một bộ tộc chủ-lực Ăng-Lê mang tên Angles có gốc là
vùng Angeln ở Đức.
Lý thuyết về Hùng Vương ở đây thật ra rất khác
với gần như tất cả những lí thuyết có sẵn từ trước đến giờ, qua
những điểm chính yếu sau đây.
1.
Tộc người Việt-Nam là một tộc hợp chủng. Qua hằng
nghìn năm, đã hỗn hợp các thứ tộc người chủ lực như: Thái,
Môn-Khmer, Hẹ, Miêu-Dao, Đa Đảo, Hắc Nụy, Hắc Đảo. Có thể gọi
thuộc nhóm Nam Môngoloid, nhưng rất ít máu Hoa-Hạ. Khác với các
lí thuyết từ trước, chúng tôi không quan tâm nhiều đến việc xuất
xứ, hay hướng đi - từ Bắc xuôi Nam hay Tây sang Đông, hoặc ngược
lại - mà chỉ truy tầm những biệt sắc chung, nhất là ngôn-ngữ,
giữa các tộc người đóng góp, và người Việt Nam. Dù vậy, lý
thuyết đã tập trung trọn vẹn tất cả các phương hướng đóng góp
của những tộc thành phần. Bao gồm trọn 5 hướng của thuyết Ngũ
Hành: Đông, Tây, Nam, Bắc và bản địa. Hướng Bắc và Tây Bắc thì
có tộc Thái-cổ, Môn-Khmer. Hướng Đông và Đông Bắc có các thứ Lạc
Việt miền biển, đến xứ Việt cổ bằng đường bộ và đường biển.
Trong những nhóm đến Việt Nam bằng đường biển, hay rời khỏi Việt
Nam sau nầy, cũng có người Hlai (tức Lê tộc hay Khương) từ vùng
Hải Nam, và Miêu từ vùng biển phía Bắc. Cũng có người Đa đảo và
Hắc Đảo. Ở phía Nam, chúng tôi, lần đầu tiên gợi ý rằng ở thời
tiền sử, dân phía Nam ở vùng Chiêm Thành, Chân Lạp hay Phù Nam,
cũng là họ hàng bà con với người Việt tối cổ thuở ban đầu. Giao
thoa với các tộc người từ hướng Tây, đa số thuộc chủng Môn-Khmer
và Thái cổ.
2.
Khám phá quan-trọng nữa là người Việt ở thời
huyền sử xa xưa, cũng đã có mặt ở miền cực Bắc nước Tàu. Nằm
trong những đám người du mục - viết theo kiểu tượng hình là {越}.
Thể hiện qua người Lạc [Luo] và người Miêu [Mo] {giống âm hiện
đại người Hmong tự gọi họ: [Hmoob]}, cả hai đều viết với chữ
貉,
sinh sống tại lưu vực sông Hoàng Hà. Nicola Di Cosmo [19] dựa
vào Chiến Quốc Sách cho biết người Hoa khi xưa đã chú ý dân [Mo]
貉
và dân [Yueh] (Việt)
越
ưa giúp đỡ che chở lẫn nhau. Chữ
貉
[Mo] cũng được dùng để viết họ Lạc của Lạc Long Quân, và cũng
được dùng để chỉ người Hẹ. Nhưng người [Hu] (Hồ)
胡
và người [Mo] (chúng tôi cho rằng [Mo] là âm xưa của 'Miao')
貉,
lại thường được xếp vào khối Bắc Địch. Tức chúng ta có một kiểu
Tam đoạn luận khá phức tạp:
- [Mo]
貉
và [Yueh]
越
ưa giúp đỡ lẫn nhau.
- [Mo] viết theo
貉
thường được đọc kiểu 'Hán-Việt' là [Lạc] {[Luo]}
- [Luo] chính là chữ 'Luo' của 'Luo Yue' tức Lạc
Việt.
- Như vậy [Luo Yue] = [Mo Yue]. Hay người [Mo]
cũng là người Việt. Nói một cách khác, người Lạc Việt thời xưa
đã có mặt ở miền cực Bắc nước Tàu, và thường được xếp vào nhóm
Đông Di hay Bắc Địch. Đại biểu của họ là người Hẹ hay người Miao
{Mo}, cả hai thường được viết theo tiếng Tàu là [Luo]
貉,
tức Lạc viết với bộ Trãi.
3.
Lý thuyết ở đây, cũng chịu khó để ý đến lối nhìn
của người Hàn (Triều Tiên) và người Thái-Lan đối với các thánh
tổ hoặc thị tộc ở thời huyền sử như Xy Vưu và Thần Nông. Từ đó
chúng ta thấy rõ, Xy Vưu Thị hay Thần Nông Thị không phải thuộc
tộc người Hoa Hạ, nhưng lại là một trong những tộc người hợp
chủng tiến tạo nên người Trung Hoa. Đây cũng chính là điểm mà sử
Việt từ xưa đến nay, vẫn thiếu tự tin, bởi hoàn toàn theo sát
các thư tịch cổ của người Tàu.
4.
Việc 'thử xem lại truyền thuyết Hùng Vương' cũng
đã gợi nên một ý muốn duyệt lại một thứ tiền đề rất quan trọng
mà người Việt từ trước đến giờ thường chấp nhận không chút thắc
mắc. Đó là cái thế nhị nguyên 'Họ và Ta' - Hoa Việt & Việt Hoa.
Ngày xưa, phân biệt 'Hoa-Việt & Việt Hoa' thật sự nó ra làm sao?
Nhất là khi để ý đến hội chứng tương phản: Người Kinh ít nhắc
nhở đến Thần Nông bởi thường lầm ông là Tàu, nhưng ở đầu thế kỷ
21, lại thích nhận Thái Luân, người phát minh ra giấy, là một
người Việt. Và lại thích tảng lờ đi phân biệt giữa Thái Luân,
người Việt, với Thái Luân - người Việt Nam. Phải chăng nhị
nguyên 'Hoa-Việt / Việt-Hoa' giữa nước An-Nam (hay Đại Việt) và
Bắc triều, có lẽ cũng không khác thế nhị nguyên giữa các tộc
Việt ở vùng Hoa Nam, và người Hoa Hạ ban đầu ở phía Bắc, cho đến
đời nhà Minh bên Tàu hay nhà Lê tại An-Nam. Với bằng chứng, các
phương ngữ ở Hoa Nam, mặc dù đã hợp nhất khá nhiều, vẫn còn khác
với tiếng Tàu ở phía Bắc, có lẽ mãi mãi cho đến tận cùng của
thời gian. Sử sách Việt cũng chưa hề xem lại danh sách các thái
thú, tiết độ sứ, hay thứ sử bổ nhiệm tại xứ An Nam, cũng như gốc
gác chủng tộc của họ, rồi đem ra so sánh với các thái thú hay
quan cai trị những vùng đất khác nhau ở miền Hoa Nam, ngày xưa.
Cũng như nhóm chủ nhân, bổ nhiệm các quan cai trị này là ai? Rất
có khả năng, rất ít khi họ cũng là chủ nhân của toàn lãnh thổ
nước Tàu. Thí dụ: nước Đông Ngô ở thời Tam Quốc (220-280), gồm
phần lớn Việt tộc, thừa kế nhà Đông Hán làm chủ xứ Giao Châu. Và
phải chăng, thế nhị nguyên, Hoa-Yue (Việt Hoa Nam), chỉ thật sự
chấm dứt ở bên Tàu vào đầu thế kỷ 20, khi Hán tộc và Yue (Việt)
tộc bắt đầu nhận thức được mối nguy chung chính là sức tiến của
người Tây Phương. Được đánh dấu bằng lời kêu gọi Hán-Yue đề huề
của Tôn Dật Tiên.
5.
Nhiều sử gia Âu Mỹ, như trình bày trong [6] [7]
[26], bày tỏ ngạc nhiên khi cho biết nước An-Nam sau khoảng 10
thế kỷ người Tàu đô hộ, khi giành được độc lập vẫn còn giữ nhiều
cá tính Đông Nam Á hơn là Tàu. Khi đưa ra những nhận xét như
vậy, các sử gia Âu Mỹ, có lẽ cũng không để ý rằng phần lớn những
tộc gốc tiến tạo nên người Việt Nam, như trình bày trong loạt
bài này, có chung tổ tiên, nhiều với khối người Đông Nam Á, hơn
là với người Trung Hoa (phía Bắc). Trong khi đó, tộc Việt cũng
đã là một tộc chủ lực góp phần tiến tạo nên người Trung Hoa ngày
nay. Cũng xin phép nhắc lại, đế quốc Ottoman (tiền thân Thổ Nhị
Kì) đã từng chiếm đóng và cai trị xứ Hy Lạp khoảng 400 năm
(1453-1821). Trong lúc cai trị họ cấm đoán người bản địa đủ
điều, nhất là việc tự do xử dụng tiếng Hy Lạp. Nhưng đến lúc Hy
Lạp giành được độc lập, người Hy Lạp vẫn là người Hy Lạp nói
tiếng Hy Lạp như xưa.
Sau cùng, chúng tôi xin phép ghi nhận 2 điểm quan
trọng sau:
1.
Hùng Vương, có thật hay không, không quan-trọng,
nhưng tên ông luôn dính liền với tộc người Việt Nam. Từ ngàn xưa
cho mãi đến ngàn sau.
2.
Việc giải mã truyền thuyết Hùng Vương chỉ có thể
thực hiện được khi tách ra được, và phân biệt những chủng chủ
lực, đóng góp và tiến tạo nên tộc người Việt Nam. Theo sát với
lời tâm sự của Lạc Long Quân với Âu Cơ: 'Ta là giống Rồng, nàng
là giống Tiên'. Sự phân-biệt đó là một phương cách thiết yếu của
khoa học. Chứ thật ra tộc người Việt Nam là một tộc người duy
nhất. Nhưng nếu không có bất cứ một tộc nào trong các thứ tộc:
Thái-cổ, Môn-Khmer, Hẹ, Miêu-Dao, Đa đảo và Hắc đảo, v.v., chắc
chắn đã không có tộc người Việt Nam, như ngày nay.
15 Tháng 9, 2006
N.N.
CẢM TẠ: Chúng tôi xin chân thành cảm tạ giúp đỡ
của những vị sau đây, bằng cách này hay cách khác, đã khuyến
khích, góp ý, phê bình, hoặc thảo luận, trong suốt thời gian
thực hiện loạt bài này, kéo dài hai năm qua:
- Mai Anh Tuấn, đã sốt sắng cho lên trang mạng
7ND (Mitchong) các bản thảo đầu tiên.
- Tôn Thất Phương, Nguyễn Quý Đại và các đồng
nghiệp trong báo Khoahoc.net đã giúp phổ biến loạt bài này khắp
nơi.
- Lm. Trần Cao Tường đã giúp phổ biến trên báo
Dunglac.net.
- Đỗ Phụng, Nguyễn Cung Thông, Cung Đình Thanh
(quá vãng), Nguyễn Đức Hiệp, Trần Nam Bình, Nguyễn Văn Tuấn,
Nguyên Giao, Phạm Quang Tuấn, Nguyễn Văn Thanh, Hồ Đắc Duy, Trần
Thiên Dũng, Từ Minh Tâm, Trần Thành Minh, Nguyễn Thanh Liêm,
Nguyễn Trọng Do, Đặng Thành Danh, Đỗ Tiến Đức, Mai Hữu Hùng, Bùi
Thế Trường, Trần Vĩnh Tường, Nguyễn Danh Ngôn, Quách Đại, và
nhiều bằng hữu gần xa.
GHI CHÚ
[1] Trần Trọng Kim (1971)
Việt Nam Sử Lược. Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục xuất bản.
Đại Nam tái xuất bản tại Hoa Kỳ.
[2]
http://chinalanguage.com/cgi-bin/dict.php
[3] Jeanne Cuisinier
(1946) Les Mương – Géographie Humaine et Sociologie. Institut
d’Ethnographie. Paris
[4] Trong tiếng Mường, 'Âu' họ gọi 'Ngu'. Tiếng
Hẹ có thể phát âm [Yao] như [Ngiau] rất gần với [Ngu] trong 'Ngu
Kơ'.
[5] Điểm nổi bật trong phân biệt phụ hệ với mẫu
hệ, do chúng tôi phát hiện, chính là lối gọi giản lược Chú - Bác
và Cô cho tương đương tiếng Anh: Uncle / Aunt thay vì một lô các
từ phân biệt, theo kiểu Hoa Nam và phía Nam, như: Cô, Dì, Dượng,
Cậu, Mợ, Chú, Bác, Thiếm, v.v.
[6] Hermann Kulke (1986) The Early and Imperial
Kingdom in Southeast Asian History. IN: David G. Marr & A.C.
Milner (Ed.) (1986) Southeast Asia in the 9th to 14th
centuries. Institute of Southeast Asian Studies – Singapore &
Research School of Pacific Studies – ANU Canberra. pp 1-22.
[7] (a) John K. Whitmore (1986) 'Elephants can
actually swim': Contemporary Chinese views of late Ly Dai Viet.
IN: David G. Marr & A.C. Milner (Eds) (1986) Southeast Asia in
the 9th to 14th centuries. Institute of Southeast Asian Studies
- Singapore & Research School of Pacific Studies - ANU Canberra.
pp 118-133
[7] (b) Trần quốc Vượng (1986) Traditions,
Acculturation, Renovation: The evolution of Vietnamese culture.
IN: David G. Marr & A.C. Milner (Eds) (1986) Southeast Asia in
the 9th to 14th centuries. Institute of Southeast Asian Studies
- Singapore & Research Schơol of Pacific Studies - ANU Canberra.
pp 272-277
[8] Bình Nguyên Lộc
(1971) Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam. Nxb
Xuân Thu (USA) tái bản.
[9] Khuyết Danh
(1377-1388) Đại Việt Sử Lược. Bản dịch của Nguyễn Gia Tường. Nhà
Xuất Bản Thành Phố HCM. Bộ Môn Châu Á Học Đại Học Tổng Hợp
TP.HCM.
[10] Vị trí chính xác của
xứ Việt Thường trong tương quan với Việt Nam xưa nay, thật ra
hãy còn bất nhất. Đại Việt Sử Lược [9] cho rằng đó là 1 trong 15
bộ của nước Văn Lang. An Nam Chí Lược, của hoàng thân lưu vong
Lê Tắc, cho rằng thuộc địa hạt Thanh Hoá. Khâm Định Việt Sử viết
dưới triều Nguyễn cho rằng thuộc Quảng Trị / Thuận Hoá. Trong
khi thơ của Gia Long gởi cho vua nhà Thanh xem Việt Thường như
toàn cõi phía Bắc Việt Nam.
[11] Nguyễn văn Khang (chủ
biên), Bùi Chỉ - Hoàng văn Hành (2002) Từ điển Mường-Việt. Nxb
Văn Hoá Dân Tộc (Hànội)
[12] Cũng có một hai ngoại
lệ, nhưng vẫn không cho thấy biến chuyển trực tiếp [Kh] => [H]
giữa tiếng Mường & Việt. Thí dụ: [khảl] => hổ, hùm. [Kh] => [H]
nhưng không trọn vẹn bởi âm sau: [ổ] (hổ) hay [ùm] (hùm) không
liên hệ với [ảl] (khảl) trong Mường. Mặt khác, [khảl] cũng dùng
chỉ 'con beo' (báo), và mang âm gần với [khai] tiền âm của con
'cầy' tức 'chó'. Trong khi đó [hổ] hay [hùm] mang liên hệ trực
tiếp với âm quanthoại: 虎 [hu]. Còn 'beo' mang cùng gốc với
tiếng Hẹ 彪 [biau] hay quan-thoại [biao]. Phương ngữ Hoa Nam
cũng có từ 倀 phát âm rất giống 'Dần' theo Quảng Đông: [zan] hay
[zaang], mang nghĩa con Cọp ma. Điểm chính của biến chuyển
[Khảl] => [Hổ] là vẫn thiếu yếu tố 'ăn khớp' nguyên âm như kiểu
[Kh] => [S] giữa Mường và Việt: [khức] => [sức]. [Khup tố] =>
[sụp đổ].
[13] Hãn = mồ hôi => tiếng Mông Cổ: [Khels]. [H]
Hoa => [Kh] Mông Cổ
[14] Nguyên lý ngữ học này cũng gây khá nhiều rắc
rối. Xem hai từ [vưu] và [bưu]. Cả hai đều có phát âm Tàu y như
nhau: [you]. Nhưng [vưu] mang nghĩa khác (như Xy Vưu) dùng chữ
'v' đứng đầu. [Bưu] mang nghĩa 'bưu điện', 'bưu chính', viết bắt
đầu bằng 'B' nhưng thật ra âm xưa cổ phải là [By] => [Byưu] mới
phù hợp với âm gốc Hoa [you]. Theo đúng quy tắc ngôn ngữ, 'Bưu'
trong 'Bưu Cục' có thể được viết: 'Dưu', hay 'Vưu'.
'Vua' và 'Bua' cũng theo sát nguyên lý này. Có
thể đã được viết khác nhau để phân biệt: 'bua chúa' (vua chúa)
và 'phân bua'. Ở thế kỷ 17, 'vua' được viết như 'bua' - hoàn
toàn che lấp âm [y] trong [byua]. Âm [by] trong [byua] không
phải là đơn thuần âm Nam bộ, Mường, Tày-Nùng, Chăm-pa, v.v.,
nhưng là một âm quốc-tế - giống như phát âm [beauty] tiếng Anh
hay [bienvenu] tiếng Pháp.
[15]
Lịch Đạo Nguyên chú, Dương Thủ Kính, Hùng Hội
Trinh sớ, Đoàn Hy Trọng điểm hiệu, Trần Kiều Dịch phúc hiệu
(1999) Nguyễn Bá Mão dịch (2005). Thủy Kinh Chú Sớ. Nxb Thuận
Hoá.
[16]
Ngô Sĩ Liên và cộng sự (1497). Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Thanh
Việt và Phạm Ngọc Luật hiệu đính theo bản dịch của Đào Duy Anh.
Nxb Văn Hoá Thông Tin (2004). Bản của Viện Khoa Học Xã Hội Việt
Nam được trình bày đầy đủ trên mạng internet:
perso.wanadoo.fr/charite
[17] Chử Văn Tần (2003) Văn Hoá Đông Sơn - Văn
Minh Việt Cổ. Nxb Khoa Học Xã Hội
[18] Cụm từ 'biến âm' đánh lạc hướng nghiên cứu
khá dễ. Bởi 'biến âm' sẽ khiến ta không chú ý đến, hoặc lướt
qua, hiện-tượng về lời ăn tiếng nói của nhóm người nắm thế chủ
động lịch trình chính trị trong qua khứ. Thí dụ, một sự vật hay
động tác, nhóm người chủ lực ở kinh đô gọi nó là A. Nhóm người
này đa số thuộc chủng 'aa' có chính quyền trong tay kéo dài
chừng 100 năm, thì chuyển sang nhóm khác thuộc tộc 'bb'. Tộc
'bb' gọi sự vật hay động tác hoặc trạng thái 'A' bằng 'B'. Nhưng
bởi họ nắm thế chủ động chính trị, do đó sẽ kéo theo học vấn và
chữ nghĩa. Do đó trong thời đại chủng 'bb' chiếm đa số hay chủ
lực ở kinh đô, từ 'A' sẽ dần dần được thay bằng 'B'. Nhà
ngôn-ngữ thông thường sẽ cho là đã có biến âm từ 'A' sang 'B'.
Nhưng thật ra, trước và sau thời chính quyền sang tay từ tộc
'aa' qua tộc 'bb', phần lớn người thuộc tộc 'aa' đã và sẽ gọi
vật đó là A. Trong khi tộc 'bb' xưa và nay, đa số vẫn cứ gọi đó
là B. Thí dụ: Dù / Ô; Bông / Hoa. Cả 'Dù' và 'Ô' đều thuộc các
phương ngữ tiếng Hoa, mang nghĩa 'mưa'. Dù <=> [Yu] (quanthoại),
tức 'Vũ', trong khi [Ô] = [U], tức [yu] (mưa) bị lột [y] theo
kiểu tiếng Phúc Kiến. [U] cũng là âm Hán-Nhật để chỉ 'mưa'. Cả
hai lối gọi 'Hoa' và 'Ô', thay vì Bông và Dù, đều là lối gọi của
người Mân Việt (Phúc Kiến), hay tộc gốc của hoàng gia nhà Trần,
và ta có thể liên kết việc thích dùng 'Hoa' và 'Ô' đến một sự
kiện lịch sử: Vào thế kỷ 17 khi Mãn Thanh chiếm đóng toàn cõi
Trung Hoa có rất nhiều dân quân người Yue ở Hoa Nam, nhất là
Phúc Kiến đã tràn sang nương náu với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài [8]
[24]. Còn [bông] là một lối gọi của người Hẹ [bung] và của nhiều
tộc khác, như Mon-Khmer, Mã Lay, Champa, Mường, dành cho 'Hoa'.
Trước thời nhà Lê và chúa Trịnh - chúa Nguyễn, ở khu vực Thăng
Long, tộc chủ lực chính là những người thân thiết với họ nhà
Trần (1225-1400), cũng mang gốc Mân Việt - những người mang
khuynh hướng dùng âm 'Hoa' và 'Ô' thay vì 'Bông' và 'Dù'. Đây là
một giả thuyết nhỏ nằm trong toàn khung lý thuyết về Hùng Vương,
trình bày ở đây. Xin để ý thêm: Thay đổi giữa [u] và [ô] {kung
fu <=> công phu} có thể là biến âm. Nhưng thay đổi giữa các phát
âm: [U] {hay [Ô]} => [Wu] => [Ngu] => [Ngô] => [Ưng] {kí âm như
'NG'}, v.v., cho từ dùng để chỉ 'nước Ngô' bên Tàu, hay họ
'Ngô', hoặc Tàu Ô, hay họ 'Ưng' (Ng), v.v., lại là những âm vận
tương đương của cùng một từ, giữa các phương ngữ (Hoa Nam).
[19] Nicola Di Cosmo (2002) Ancient China and its
enemies - The rise of nomadic power in East Asian history.
Cambridge University Press.
[20] Chandler, David (1983). A History of
Cambodia. Westview Press, 1983. ISBN 0813335116
[21] Wolters, O.W. (1982) History, Culture and
Region in Southeast Asian Perspectives. Institute of Southeast
Asian Studies, 1982. ISBN 0877277257
[22] Boike Rehbein (2005) Configurations of
Globalization in Laos and Cambodia. Does Faster Globalization
mean Better Development. At:
http://www.cgs.uiuc.edu/resources/conf_seminars_workshops/TS_Rehbein.pdf#search=%22oliver%20wolters%20mandala%22
[23] Giới viết sử tại Việt Nam thường dịch
Chiefdom bằng Tù Trưởng Quốc. Vẫn thích dùng chữ 'Quốc' cho oai.
Theo thiển ý, có tương phản khi dùng 'Tù Trưởng' đi với 'Quốc'.
Bởi Chiefdom là một tổ chức lỏng lẻo hơn, và dưới cấp, 'quốc
gia', và không phải là 'quốc'. Kingdom có thể dịch 'vương quốc'
nhưng khi dịch Chiefdom ta phải dùng từ khác với 'quốc'. Bởi có
tương phản giữa 'Quốc' và 'Tù Trưởng'. Giống như khi ta nói: Một
Thiền Sư 'nổi tiếng', hay Một Cụ Già 'sexy'.
[24] Nguyễn Văn Huy (1993) Người Hoa tại Việt
Nam. Nxb NBC, Costa Mesa- California.
|