Điểm chính yếu của loạt bài này thật ra bắt
nguồn và xoay quanh ở chỗ đặt một câu hỏi đối với những nền tảng
cơ bản các nhà nghiên cứu hoặc các học giả vẫn thường xuyên xử
dụng từ trước đến giờ. Theo thiển ý, tất cả những công trình
nghiên cứu đều dựa trên những nền tảng cơ bản hay cơ sở lí luận,
thường gọi nôm na là 'tiền đề', rồi xây dựng trên đó những thao
tác lý luận, phân tích và tổng hợp, dùng các dữ kiện sẵn có,
hoặc mới tìm tòi được, và theo tinh thần khoa học, càng khách
quan càng tốt.
Nhân dịp viết loạt bài này, chúng tôi phát
hiện được rất nhiều công trình nghiên cứu, tìm tòi - phương Đông
cũng như phương Tây - đã mặc nhiên tiếp diễn từ đời này sang đời
khác, mà không bao giờ khắt khe xem xét lại nền tảng cơ bản, hay
tiền đề, đã được dùng để xây dựng mớ suy luận dẫn đến kết
quả các công trình đó. Một điểm khác: Có vẻ như mục tiêu chính
của tiến trình khoa học là tổng quát hoá vấn đề, thiết lập nên
một số định luật nào đó giải thích cho một hiện tượng. Rất tiện,
rất hay. Nhưng đôi khi, công việc tổng quát hoá một vấn đề cũng
có thể đưa mọi người vào cái vòng lẩn quẩn, mê hồn trận. Nhất là
khi luôn luôn dựa vào các tiền đề sẵn có.
Xin thử quan sát một vài khía cạnh về tiền đề
như sau.
1. Câu chuyện di dân thời tiền sử
Đa số những thuyết về nguồn gốc dân tộc, từ
Mã Lai đến Myanmar, từ Phi-líp-pin đến các dân đa đảo
Pô-li-nê-ziên, đều do những nhà khoa học Tây phương đề ra. Bắt
nguồn sâu xa từ làn sóng đi tìm và xâm chiếm đất dân da màu làm
thuộc địa ở vài thế kỉ trước. Sau này, có thêm những nhà khoa
học Á Châu được huấn luyện ở Âu Mỹ và mang học vị từ các đại học
phương Tây. Dường như có bao nhiêu nhà khoa học tên tuổi, là có
bấy nhiêu lí thuyết khác nhau. Thông thường, họ ưa truy tầm một
nguồn gốc đâu đó rồi mở cửa cho dân chúng tràn ra di tản về một
địa điểm khác. Thí dụ, đối với dân đa đảo, chúng ta thường nghe
đến thuyết 'Xuất phát từ Đài Loan'. Theo đó, dân Á Châu từ đảo
Formosa (Đài Loan) thấy buồn tình hay thiếu ăn sao đó, kéo nhau
lên thuyền bè di tản đến các hải đảo ở miền Tây và Nam của Thái
Bình Dương. Tại các hải đảo này, vào khoảng thời gian cách đây
vài nghìn năm, di dân từ Đài Loan mới hợp chủng với các sắc dân
bản địa tạo nên người dân đa đảo như: Samoa, Fiji, Tân
Calêđônia, Timor, Vanuatu, Papua New Guinea, v.v. Ngược lại cũng
có thuyết cho rằng các người hải đảo thích phiêu lưu, lên tàu bè
chạy lên mạn Bắc. Hợp với dân bản địa tạo thành người Nhật,
người Taiwan, v.v.. Hoặc giả, ngày xưa vào lúc mực nước biển
xuống thấp, nên quần đảo Inđô-nê-xia hãy còn nối liền với lục
địa Á Châu, khiến họ cuốc bộ di tản, đi lên miệt trên (thí dụ,
xem [1]). Đến tận phía Bắc nước Tàu, hoặc sang Ấn Độ cùng những
nơi xa xôi khác.
Nhìn chung, những điểm đặc trưng của các lý
thuyết kiểu này, thông thường bao gồm:
-
Những người tiền sử di tản
đều thuộc một thứ chủng tộc với nhau, nói cùng một thứ
tiếng, và thường thường chạy xuôi chạy ngược trong cùng một
khoảng thời gian. Cách thời hiện tại ít nhất là 5000 năm, và
trước thời gian tuổi tác xác định từ những di vật khai quật
được. Hầu hết các lí thuyết đều tránh nói rõ khoảng thời gian
những người tiền sử này đi di tản kéo dài bao lâu. Năm-mười năm
hay cả trăm năm, hằng ngàn năm, thường không được bàn vào chi
tiết;
-
Những người tiền sử thường
di tản trong hoà bình, và giao tác với nhau bằng mậu dịch thương
mại. Nhiều lý thuyết còn lạc quan đi sâu vào tình bà con đến độ
cho rằng người từ khu này đã di tản hằng ngàn dặm để chỉ bà con
nơi khác cách thức trồng lúa hoặc chăn nuôi. Các lí thuyết này
gần như không bao giờ đề cập đến những vụ xung đột, choảng nhau,
giành đất sống, thực phẩm, v.v. giữa những bộ lạc của người tiền
sử. Cũng như những vụ bắt tù binh làm nô lệ, làm Bát-bơ-kiu 7
món ăn thiệt, hoặc để tế thần, v.v.. Theo thiển ý, các lý thuyết
này có thể khác đi rất nhiều, nếu tiền đề đặt quan tâm đến kích
thước các thứ bộ lạc khác tộc nhau, và những vụ xung đột vẫn
thường xuyên xảy ra giữa các thị tộc, bộ lạc khác nhau;
-
Người tiền sử thích ứng
với khí hậu và môi trường thiên nhiên rất giỏi. Giỏi hơn hậu bối
của họ trong khoảng 2000-3000 năm trở lại đây. Các lí thuyết này
cứ cho người tiền sử tất cả di tản khá thoải mái từ khu nhiệt
đới sang qua ôn đới, từ vùng núi rừng xuống vùng sông biển, hay
ngược lại, khá dễ dàng. Nhảy lên thuyền bè rồi chèo hay căng
buồm lướt sóng đi tới vùng khác, như chơi. Thực tế cho thấy dân
ở đâu ưa làm quen khí hậu ở đó. Chỉ trừ phi có những biến động
khủng khiếp lắm, như nạn lụt lớn, như chiến tranh triền miên kéo
dài gần cả ngàn năm ở vùng Hoa Bắc thời Xuân Thu Chiến Quốc, thì
người ta mới chịu di tản đi xa. Dù vậy, ngay trong những cuộc di
tản thời Xuân Thu Chiến Quốc, hay mãi về sau, cho đến thời Mãn
Thanh, người ta ít khi thấy người Tàu thuộc Hoa chủng thuần túy,
ở phía Bắc, hoặc người Mông Cổ di cư xuống địa bàn Đông Nam Á,
bởi đối với họ, miệt dưới này khá nóng [7].
-
Những lí thuyết này thường
quan tâm đến điểm xuất phát ban đầu của toàn khối người tiền sử
di tản đó. Gần như, có bao nhiêu địa điểm khai quật, với nhiều
di vật mang 'chất lượng', là có bấy nhiêu điểm xuất phát của
những đợt sóng di tản, truyền bá văn minh. Xây dựng lí thuyết
kiểu này luôn luôn có ít nhất một khối từ vài chục triệu đến cả
trăm triệu người ủng hộ nhiệt liệt. Khối người này chính là, qua
tiếng nói của học giả hoặc chính trị gia bản địa, những người
dân hiện cư ngụ tại quốc gia chứa những địa điểm xuất phát các
nền văn minh đó;
-
Khảo sát dựa trên DNA, đặc
biệt loại mt-DNA (xem [1]), rất thời thượng hiện nay, theo thiển
ý, vẫn có thể lướt qua một số vấn đề rất quan trọng. Đó là việc
hợp chủng giữa các tộc người qua hằng ngàn năm sinh tồn với nhau
tại một vùng đất. Chúng ta vẫn chưa thấy một cuộc nghiên cứu dựa
vào di truyền thể DNA, cho biết đích xác một chủng tộc A nào đó
ở thế kỉ 21 chính là sản phẩm hợp chủng của 3 tộc người hơi khác
nhau hồi xưa, mang tên X, Y và Z. Bởi, như Oppenheimer [1] đã
nhìn nhận, kỹ thuật DNA cũng vẫn bó tay trong việc xác định thời
điểm lúc một chủng tách ra khỏi chủng mẹ, và số lượng cốt bộ,
xương xẩu tiền nhân để lại rất hiếm hoi, mang tính cách ‘trơ’ và
phần lớn nằm ngoài sự kiểm soát và quy hoạch của nhà khảo cứu.
Ngoài ra, mức độ biến đổi của ‘giên’ giữa người cùng tộc cao hơn
khác biệt giữa giên khác tộc với nhau.
-
Dựa vào các khảo sát về
ngôn ngữ, tác giả này trích dẫn kết quả tác giả kia, nhưng ít
khi kiểm chứng lẫn nhau, rồi ấn định khoảng thời gian ngôn ngữ
hình thành vào những thời điểm thuộc tiền sử, cách đây trên 3000
năm. Những lý thuyết như vậy mang khuynh hướng đặt điểm mốc thời
gian vào những thời Băng Kì (nước sông đóng băng, gần Bắc cực và
Nam cực) cách đây ít lắm 20000 năm, hay Hồng Thủy (lụt lớn) cách
đây cũng 4000 năm. Ít khi đá động đến những cảnh chém giết kinh
hoàng vào thời Đông Châu Liệt Quốc tại nước Tàu, cách đây khoảng
2500 năm. Theo thiển ý, chỉ việc tản mác xuống miền Đông Nam Á
của khối người ở Hoa Nam, xưa gọi Bai Yue (Bách Việt), khoảng
800 năm Trước và ngay cả Sau Công Nguyên, cũng đủ gây mầm cho
biến đổi chủng tộc và ngôn ngữ [11]. Sự thật, ngôn ngữ có thể
biến đổi rất nhiều trong vòng vài trăm năm, tùy theo mức độ giao
lưu và nhu cầu giữa các khối dân mang tiếng nói khác nhau.
Còn rất nhiều các điểm đặc trưng khác cho
thấy sự thiếu thốn quan tâm đến tiền đề, vẫn luôn luôn là đầu
giây mối nhợ cho nhiều kết luận khá lộn xộn về sau. Nhưng ở đây,
chúng ta hãy quan sát một số chi tiết hạn hẹp đề ra ở trên.
Trước hết hãy xem qua một số kết luận thường gặp.
Hồi đầu thế kỷ 20, ở bên trời Tây, có lý thuyết về chủng Mã Lai
rất ăn khách. Có 2 đợt: Proto-Malay và Deutero-Malay, mà Bình
Nguyên Lộc [5] đã chuyển ngữ ra Mã Lai đợt I và Mã Lai đợt II.
Đợt I di tản từ phía Tây nước Trung Hoa sang Hoa Nam rồi xuống
Đông Nam Á cách đây 5000 năm. Đợt II theo sau, cách đây 2500
năm. Tiền đề ẩn tàng là cả hai đợt Mã Lai đó hoàn toàn là những
khối người rất lớn, thuần chủng, và nói cùng một thứ tiếng. Nội
bao nhiêu đó cũng đưa đến bao nhiêu kết luận tách rời xa sự
thật. Điểm lộn xộn lớn của tất cả những lý thuyết mang hàm ý một
nhóm người cùng chủng phát xuất từ đâu đó nằm ở địa điểm xuất
xứ, và nơi đến hoặc chốn định cư cuối cùng. Cứ theo thuyết Mã
Lai, như vậy người Mã Lai Á rất dễ dàng bị hiểu lầm là người
thuần chủng nhất của tộc Mã Lai, bởi có vẻ sau khi di tản suốt
chặng đường dài, ghé vào chỗ này chỗ nọ, họ thấy mỏi mệt nên đã
dừng lại lập ra nước Mã Lai Á. Nhiều sai lầm ngộ nhận khác liên
tiếp xảy ra: Nhiều vị khác tự nhiên thấy người Chăm-pa có nhiều
nét và tiếng nói giống người Mã Lai nên lập ra thuyết người
Chămpa do người Mã Lai hợp với người đa đảo, đổ bộ lên và tạo
thành. Thay vì dùng tên chủng Malay, có người dùng tên
In-đô-nê-siên, hay đôi khi Nam Á, hoặc Nam Mông-gô-lích thì cũng
vậy thôi. Sự thật từ khi có khoa sử học, dù dưới dạng Xuân Thu
(Khổng Tử), Tả Truyện (Tả Khâu Minh), Chiến quốc sách (khuyết
danh), Sử Ký (Tư Mã Thiên), v.v. chúng ta luôn thấy nhiều chi
chủng khác nhau trước khi thành lập các nước Mã Lai, hay
In-đô-nê-xia. Việc gọi chung bằng tên một chủng lớn, có vẻ tổng
quát hoá vấn đề nhưng hãy còn loanh quanh, bởi không nói lên
đích xác một dân tộc A nào đó thuở mới lập quốc và hình thành
dân tộc, thật sự là hỗn hợp những tộc người khác nhau như thế
nào. Mà gần như hầu hết những quốc gia trên thế giới đều theo mô
hình hợp chủng này [8], phản ánh quan điểm của nhiều sử gia cho
rằng ‘quốc gia’ được thành lập do ở việc đòi hỏi phải hợp quần
với nhau để đối phó với mối đe dọa chung từ phía bên ngoài ([2]
& [9]).
Lí thuyết một khối người, thông thường
thuộc một thứ chủng tộc với nhau, di tản bằng đường bộ hay
bằng thuyền bè, hoặc bằng voi, hay 'máy bay trực thăng' bốc đi,
vẫn luôn luôn là tiền đề ẩn tàng sau những lí thuyết dù mang
tiếng rất hiện đại ở thế kỉ 21. Thí dụ, quyển sách mang tựa chữ
Việt: 'Địa đàng phương Đông' [1], tuy khá đồ sộ nhưng dành phần
lớn miêu tả về những lí thuyết trái ngược nhau đã có từ trước,
và dùng hơn nửa quyển sách chuyên chú về các truyền thuyết,
chuyện cổ tích xưa ở vùng Đông Nam Á, rồi vẫn phải tạm dùng
những truyền thuyết này để hỗ trợ thêm cho giả thuyết của tác
giả. Chỉ một phần rất nhỏ của sách ở chương 6-7 (trang 177-218,
trong 560 trang) là bàn đến kết quả dựa trên thử nghiệm DNA.
Quan trọng nhất, kết luận có vẻ vẫn dựa vào một tiền đề xưa: Một
khối người, có vẻ như cùng một chủng, tản mác từ khu vực
Sundaland (gần bán đảo Mã Lai ngày nay) mang văn minh đến những
nơi khác, kể cả Ấn Độ và Trung Hoa, sau một trận đại hồng thủy
làm chìm cả lục địa với một nền văn minh sáng chói.
Có rất nhiều điểm hết sức lấn cấn của tất cả
những lí thuyết dựa vào chuyện 'di tản hằng khối thuộc một chủng
tộc'. Chung qui do ảnh hưởng của 'tiền đề', hay cơ sở lí luận
ban đầu. Thứ nhất, đối với các thuyết xây dựng chung quanh
Sundaland, người ta có thể đặt câu hỏi tại sao những người di
tản đó không chạy thẳng lên khu vực sau này trở thành đảo
Borneo, rất to lớn và đất đai phì nhiêu hơn nhiều vùng đất ở lục
địa Á Châu. Hoặc đất Sundaland chắc phải có cái gì hấp dẫn lắm,
khiến nhiều người cuối cùng chọn nơi đó làm chốn định cư, sau
khi di cư từ phía Tây xuyên qua nhiều nơi chốn phong cảnh hữu
tình, đất đai phì nhiêu và nhiều lương thực hơn ở đó. Để rồi,
sau khi đã xây dựng nền văn minh, gặp nạn hồng thủy làm chìm hết
đất đai, họ lại tản mác lên Bắc, sang Tây, lần mò về hướng xuất
phát ban đầu. Thứ hai, theo nhiều khám phá của các nhà sử học
(thí dụ [2] & [9]), hầu như tất cả những vùng đất ở Đông Nam Á,
cho đến khoảng 800 năm đầu sau Công Nguyên hãy còn nằm trong
tình trạng bộ lạc, hay liên minh bộ lạc của những người sinh
sống gần nhau. Chứ không phải dưới dạng vương quốc với mô hình
‘nhà nước’ theo kiểu miền Hoa Bắc. Những bộ lạc khác chủng sinh
sống gần nhau chắc chắn không tránh khỏi xung đột, chiến tranh
lẫn nhau. Ở miền Hoa Nam thuộc Trung Hoa lục địa cũng vậy. Có
rất nhiều chi chủng khác nhau, và tổ chức chính trị rất rời rạc,
lỏng lẻo, chưa đến hình thái nhà nước. Và cũng bởi lý do đó, Hoa
chủng đã mất đến 800 năm để nhất thống các vương quốc miền Hoa
Bắc, nhưng chỉ tốn trên dưới 8 năm để nuốt trọn các bộ lạc, hay
'tiểu quốc', tại Hoa Nam. Dữ kiện ngày nay còn cho biết nội
người Dao (bà con gần với người Hmong) cũng có đến 300 chi chủng
khác nhau [3]. Thứ ba, việc di tản một khối người, lớn hơn số
người trung bình của một bộ lạc, cùng một chủng tộc, nhất là
trong một thời gian ngắn, là một chuyện rất khó có khả năng, nếu
không có một tổ chức 'trung ương'. Ở mức cơ bản, tổ chức trung
ương đó cần phải có một ngôn ngữ chung, có chữ viết càng tốt, và
bắt buộc phải có quyền có uy. Có quyền uy trên một khối người
lớn, tất phải có nhà nước, hay cấu trúc chính trị đầu não. Thứ
tư, cho đến ngày nay, các nhà khoa học, từ nhân chủng đến khảo
cổ xuyên qua y khoa - sinh vật dựa trên DNA, chưa thể cho biết ở
vào thời điểm nào, 5000 năm, hay 10000 năm, hoặc 50000 năm,
100000 năm, 500000 năm trước đây, con người hoặc một chủng lớn
nào đó bắt đầu tách ra thành các chủng khác nhau. Nhưng chúng
ta đều biết rõ, một khi có sử học thì đã có những tộc người khác
nhau. Đó là một sự thật hiển nhiên. Cổ sử Đông Nam Á cho
thấy rất nhiều nhóm người cùng một thứ chủng tộc, chỉ di tản đến
một vùng đất nào đó, trước sau một hai trăm năm là có giặc,
tranh giành địa bàn sinh sống lẫn nhau. Điển hình là giặc giã
vẫn thường xuyên xảy ra giữa người Khờ-Me và người Chăm-pa, ở
thời xa xưa, người Môn với người Myanmar, xưa và nay, mặc dù họ
có thể có bà con rất gần với nhau, v.v. [10].
Đến đây, chúng ta có thể tự hỏi: 'Tại sao các
tác giả Âu Mỹ gần như bao giờ cũng có thói quen nghiên cứu dưới
những thứ tiền đề như vậy?'. Theo thiển ý, đó là một vấn đề nằm
trong cốt lõi văn minh thuộc truyền thống GiuĐà-KiTô [6]. Nếu
người Đông phương ưa thấm nhuần đạo Khổng, Lão, hay đạo Phật,
thì người Tây phương thường 'hành sự' dưới ảnh hưởng Ki-Tô giáo.
Họ nhìn rất nhiều vấn đề trên quan điểm của văn hoá và lịch sử
Tây phương. Quan trọng nhất và liên hệ trực tiếp đến thảo luận ở
đây chính là:
(a)
Ảnh hưởng của thánh kinh
Cựu Ước. Theo đó, loài người đều con cháu của Adam và Eve. Có
trận lụt hết sức lớn và chuyến tàu di tản của Noah. Cũng như
chuyện thánh Moses dẫn một khối người toàn chủng Do Thái di tản
khỏi Ai Cập. Đi di tản hằng khối người thuộc một chủng duy nhất.
(b)
Chủ thuyết Ki-Tô lên án
việc ăn thịt người, hoặc loài người chém giết lẫn nhau. Từ đó,
chúng ta luôn luôn thấy những cuộc di tản thời tiền sử được mô
tả như những cuộc di tản hết sức êm thắm, và trong tinh thần
huynh đệ đùm bọc lẫn nhau. Sự thật, việc Hiên Viên Hoàng Đế
choảng nhau với lãnh tụ Xuy Vưu của tộc Hmong, và nhiều tù
trưởng tên tuổi khác, có lẽ cũng không nằm ngoài chuyện giành
địa bàn sinh sống trong lúc và sau khi di tản đến một vùng đất
mới. Việc chém giết nhau giữa 5 thị tộc lớn ở thời Hiên Viên -
Xuy Vưu: Miêu, Hạ (tức Hán sau này), Khương, Địch, Nhung, cho
biết cách đây 5000 năm, người Á Châu ở Tàu đã phân tán ra nhiều
chi chủng khác nhau. Tương tự, thơ văn và thư tịch cổ của Tàu
vẫn có những đoạn miêu tả nạn ăn thịt người tại các bộ lạc ở Hoa
Nam, hay chính vua nhà Châu dùng người man-di để tế thần [5].
(c)
Lối nhìn của họ đối với cổ
sử phương Đông, cũng dễ bị méo mó bởi lịch sử phương Tây. Theo
đó, văn minh được tồn tại và phát triển do ở việc lan tràn từ
một điểm gốc. Ánh sáng văn minh đầu tiên ló dạng ở khu vực Trung
Đông, đặc biệt Ai Cập. Sau truyền sang Hy Lạp. La Mã thừa hưởng
và phát triển tiếp văn minh Hy Lạp. Rồi lan ra khắp Âu Châu.
Tiền đề này rất quan trọng, và từ đó ta thấy bất cứ công cuộc
nghiên cứu nào về cổ sử Á Châu cũng đều có thể quy về thứ tiền
đề này hết. Phải có một chỗ xuất phát rồi lan tràn qua những
vùng đất chung quanh. Chung chung, nhiều tác giả vẫn mang thói
quen truy tầm điểm gốc xuất phát một nền văn minh nào đó. Thí
dụ, thuyết 'Địa đàng phương Đông' [1], qui văn minh Tàu và Ấn
trở lại một gốc, từ khu Sundaland ở miệt đảo Java nay đã chìm
xuống biển. Sundaland rất dễ khơi cho chúng ta hình ảnh đô thị
văn minh Atlantis đã bị chìm xuống biển, trong truyền thuyết Tây
Phương. Gốc văn minh nằm ở Sundaland cũng phảng phất âm hưởng
các lí thuyết khảo cổ xưa nói rằng người vượn Java có trước
người vượn Bắc Kinh.
(d)
Quan trọng nhất, chúng ta
có thể để ý khoa học các ngành thuộc cổ sử phát triển khá rầm rộ
từ khoảng đầu thế kỷ 20. Vào lúc đó chủ thuyết thực dân thuộc
địa bắt đầu trình diễn đến màn cuối. Từ thập niên 1950’s trở về
sau, ta để ý nghiên cứu của các nhà khoa học Tây phương, một
phần vì lịch sự hoặc thiếu thốn am tường, bắt đầu tôn trọng
‘tiền đề’ do chính các học giả bản địa thiết lập. Tức họ lâm vào
cảnh, đối với một số vấn đề nào đó, tiền đề của họ lại phải dựa
vào, hay phối hợp với, một mớ tiền đề khác. Mà thật ra, mớ tiền
đề bản địa này đã hoàn toàn trốn thoát được các lối kiểm chứng
khắt khe với kính hiển vi của khoa học. Xin thử quan sát tiêu
biểu một mớ tiền đề bản địa của người Hoa như sau.
2. Các thứ tiền đề của người Hoa
Văn minh Hoa Hạ lưu truyền đến ngày nay cũng
vướng phải nhiều hội chứng về tiền đề không kém gì Tây phương.
Nhưng các thứ tiền đề của họ lại phức tạp hơn Âu Mỹ rất nhiều,
do khác biệt ở nền tảng văn minh. Nói chung, văn minh Tây phương
phát triển trên nền tảng khám phá những luật về thiên nhiên, và
xem chế ngự thiên nhiên là thử thách của đời sống. Trong khi
Đông phương ưa hoà điệu với thiên nhiên, và thích sinh sống, lý
luận dựa vào thiên nhiên. Điểm đặc trưng nổi bật nhất của văn
minh Trung Hoa, như một quốc gia lớn mạnh ngày nay, có lẽ không
phải ở chỗ họ có nhiều di sản văn hoá, hay tài nguyên nhân lực
hoặc chất xám, mà chính ở chỗ Trung Hoa là một Hợp Chủng Quốc
tạp-pín-lù xưa cổ nhất, và kì lạ nhất. Kì lạ ở điểm họ chỉ nhất
thống được chữ viết. Còn tiếng nói thì có đến cả ngàn thứ phát
âm và phương ngữ khác nhau. Nếu so sánh Trung Hoa với Liên Xô
(cũ) hay Yugoslavia (cũ), chúng ta thấy có vẻ như rằng chính cái
căn cước lý lịch của Hoa tộc, có chung một quá trình lịch sử dài
lâu, đã giúp họ rất nhiều trong việc sinh tồn gắn bó với nhau
trong thế kỉ 21, như một quốc gia lớn mạnh. Dù rằng người Hoa
nào cũng biết Hoa tộc ngày nay là một hợp chủng lớn nhất với dấu
vết hãy còn hiện rõ qua nhân dạng và ngôn ngữ.
Những tiền đề chính xuất phát từ Trung Hoa,
liên hệ thẳng với đề tài ở đây gồm có:
(i) Hoa tộc với nền văn minh Hoa Hạ là một
thứ chủng số dzách, hết sức cao siêu, có nhiều khả năng thiên
phú ở mọi mặt. Sự thật: Hoa chủng thuần túy, ở thời Nghiêu
Thuấn, thường mang tiếng có đầu óc hết sức thực tế, và thuần lí
khô khan. Rất khó là tác giả của những áng thi văn bất hủ để
đời. Nhiều địa điểm khai quật cho thấy những nền văn minh xưa cũ
lại nằm trong các địa bàn của chủng Yue xa xưa [13]. Chữ viết
cũng vậy. Hoa tộc vẫn thường tự hào chính họ phát minh ra chữ
viết, ngày nay thường gọi Hán tự. Nhưng gần đây nhiều tác giả,
có thể tìm thấy trên các trang mạng, cho rằng Miêu tộc, tức nhóm
Miêu-Yao còn gọi Hmong-Mien, mới chính là tác giả chữ viết [13]
mà Hán tộc đã chôm lấy rồi tiếp tục phát triển về sau. Nhóm
Hmong-Mien còn mang tên vào thuở cổ thời là Cửu Lê [Jiu Li], một
bộ tộc khá lớn thuộc khối Đông Di dưới sự lãnh đạo của Xuy Vưu,
về sau bị đại bại dưới tay Hiên Viên Hoàng Đế, và bị chặt đầu.
Người Triều Tiên (Hàn) hiện nay đều nhìn nhận Xuy Vưu là một
thánh tổ quan trọng của họ, và như vậy người Hmong chính là một
giòng tổ tiên của dân Triều Tiên. Đặc biệt, chủng Lạc Việt và Âu
Việt, hoặc nói chung các thứ Yue, ngày nay được xem như một thứ
Hán tộc thuần túy, bởi đóng góp của họ đối với Hoa tộc sau hai
ngàn năm quá sức lớn lao.
(ii) Dân Bách Việt ở miền Hoa Nam, tức phía
Nam sông Dương Tử, đã được đồng hoá thành Tàu từ lâu. Và họ chỉ
di tản xuống miền Đông Nam Á vào thời Ngũ đại hay Thập quốc, thế
kỷ thứ 10, trở về sau, nhất là vào thời Mãn Thanh. Tức người ở
Trung Hoa lục địa chỉ di tản ra ngoài, xuống miền Đông Nam Á,
sau khi họ đã thành Tàu. Trước đó không có. Đây là một thứ tiền
đề hết sức quan trọng, đã khiến rất nhiều công cuộc khảo cứu về
cổ sử Đông Nam Á chạy lệch sang một hướng khác. Rất nhiều hệ
luận khá lệch lạc bắt nguồn từ chỗ tiền đề méo mó này. Quan
trọng nhất người ta thấy rất nhiều thuyết về nguồn gốc các dân
tộc miền Đông Nam Á ít khi hoặc không bao giờ đề cập đến khối
người chạy trốn giặc giã vào cái thời Xuân Thu Chiến Quốc
(770-221 TCN) kinh hoàng xảy ra khi các nước ở miền Hoa Bắc
tranh hùng xưng bá với nhau. Ảnh hưởng khốc liệt của chiến tranh
miền Hoa Bắc tràn xuống Hoa Nam, bắt đầu từ thời xa xưa, từ
những cuộc đụng độ giữa Hoa tộc với đám rợ Nhung ở phía Tây, và
binh biến chung quanh các nước Sở, nước Việt ở miền Hồ Bắc, Hồ
Nam và Chiết Giang. Nạn binh lửa đau thương trong các nhóm thuộc
Bách Việt ở Hoa Nam có lẽ leo thang lên đến tột điểm, vào thời
Tần Thủy Hoàng, rồi kéo đến đời nhà Hán khi Hán Cao Tổ ra lệnh
tiến chiếm Mân Việt và Nam Việt (111 TCN), để rồi tạo dựng nên
một nước Trung Hoa hết sức rộng lớn. Nhưng nếu để ý, như rất
nhiều sử sách đã ghi, mỗi lần có binh lửa là có chém giết, chết
chóc hết sức kinh hoàng. Hằng vạn người thuộc phe thất trận
thường bị cúp-pê, hay trảm mất cái đầu như chơi. Và như vậy chắc
chắn có chuyện chạy giặc và di tản, hằng khối.
(iii) Ẩn tàng sau lưng hai tiền đề phía trên là
một tiền đề khác, do ở việc đánh trống rầm rĩ của những học giả
và chính trị gia người Hoa từ đời này sang đời nọ, riết rồi ai
cũng đành dễ dãi chấp nhận. Đó là trừ những người dân tộc ở miền
rừng núi, dân Tây Tạng, dân Mãn, Mông, Hồi, Choang, v.v. Hoa tộc
chỉ là Hán tộc, một tộc người thuần chủng duy nhất làm chủ lục
địa Trung Hoa và những vùng đất lân cận như Đài Loan, v.v.. Tức
hễ là người Tàu, họ phải, hoặc thuộc vào khối đa số Hán tộc,
hoặc dân tộc ít người. Thật ra, trái với tuyên truyền của người
Hoa, không ai biết rõ Hoa tộc như ngày nay, thật sự bắt đầu hình
thành vào khoảng thế kỉ nào. Tiền đề một Hoa tộc lớn lao thuần
chủng này thật sự rất quan trọng, và dẫn ngay đến hai hệ luận
khác.
Hệ luận thứ nhất:
Khối người Tàu ở Hoa Nam ngày nay, xưa nay vẫn là Hán tộc -
không liên hệ gì đến khối người Á Châu khổng lồ ở khu vực Đông
Nam Á. Có lẽ chỉ trừ dân Thái Lan, Lào, Myanmar, Triều Tiên,
Khmer là biết rõ nguồn gốc dân mình từ nhóm nào ở bên Tàu vào
thời xa xưa, còn những dân khác như Inđô-nêxia, Phi-líp-pin,
v.v. hoàn toàn mù mờ hoặc không để ý gì đến liên hệ chủng tộc
thời xưa với khối Bai Yue ở Hoa Nam. Tuy nhiên ở điểm này, chúng
ta có thể nhìn nhận cổ sử Tàu ở một mặt nào đó siêu hơn cổ sử
Tây phương. Nhất là trong việc phân biệt các chi chủng khác
nhau, ngay vào thời tiền sử, kéo đến Xuân Thu Chiến Quốc. Đặc
biệt họ biết rõ từ lâu những chủng như Miêu tộc (Hmong), Khương
tộc, và nhiều chi chủng thuộc khối Bai Yue ở Hoa Nam.
Hệ luận thứ hai:
Hệ luận về ngôn
ngữ, rất giống với hệ luận phía trên. Tất cả các phương ngữ ở
Trung Hoa đều bị (được) xếp vào nhóm Hán Tạng. Sự thật rất nhiều
phương ngữ Hoa Nam mang liên hệ hết sức mật thiết với nhóm ngôn
ngữ Nam Á, ít ra trong gốc gác. Việc sắp xếp thành nhóm này hoặc
nhóm kia, thí dụ: Nam Á và Nam Đảo, đã gây không ít lộn xộn. Bởi
giữa các nước Á Châu gần gũi với nhau và có chung một mối liên
hệ với khối Bách Việt ở Hoa Nam từ xưa, mà nay đã hoàn toàn tách
rời ra, ta có thể thấy nhiều từ vựng giữa ngôn ngữ của ba nhóm:
Hán Tạng (phía Hoa Nam), Nam Á và Nam Đảo, thường gối lên nhau.
Phân loại của nhiều học giả tên tuổi, như Paul Benedict với
siêu-nhóm Austro-Thai của ông, vẫn gây lộn xộn và bắt buộc phải
sửa đi chữa lại như thường [1] [14].
(iv) Một tiền đề khác của người Hoa cũng
thường xuyên đánh lạc hướng các công trình nghiên cứu khoa học,
xưa và nay. Đó là tiền đề cho rằng ngày xưa Yue tộc hoàn toàn
không có mặt ở miền Hoa Bắc, tức phía Bắc sông Dương Tử. Chúng
ta đã quan sát rất kỹ tiền đề này trong vài bài trước khi minh
giải người Hakka (Hẹ) chính là người Bộc Việt hay Bách Bộc năm
xưa. Một nhóm người du mục có địa bàn ban đầu bên sông Bộc, gần
thành phố Bộc Dương [PuYang], tỉnh Hà Nam, và khu vực tỉnh Sơn
Đông, thường sinh sống gần gũi với dân Tam Miêu, tức người
Hmong-Yao, thường gọi đám rợ Đông Di, hay đôi khi Tam Hàn, Lai
Di, về sau di tản qua bán đảo Cao Ly và lập nên nước Triều Tiên
(Hàn). Tiền đề này dẫn đến hai hệ luận chính. Thứ nhất:
Nếu một nhóm người nào đó, thí dụ người Hẹ, có xuất xứ từ phương
Bắc, họ phải là một thứ người thuộc Hán tộc, tối cổ và nguyên
thủy. Thứ hai: Trong các công trình nghiên cứu về phương
ngữ, các sắc dân không phải xuất phát từ Hoa Nam ở thời xa xưa,
như người Hakka, đều được xem như Hán gốc. Do đó, khi nghiên cứu
về biến chuyển các phương ngữ, như tiếng Hẹ (Hakka) chẳng hạn,
các nhà ngôn ngữ học thường đối chiếu với tiếng Tàu khu Bắc
Kinh. Tức dựa trên một tiền đề có thể dẫn đến nhiều câu hỏi.
Xin phép dành một đôi dòng để bàn về việc
nghiên cứu so sánh dựa trên ngôn ngữ. Những lý thuyết về gốc gác
tộc người, hoặc truy tìm tộc người nào đã là tác giả của những
di vật khai quật được, thông thường dựa trên khảo sát dùng nhân
chủng học, khoa khảo cổ, chứng liệu lịch sử, văn hoá, truyền
thuyết và ngôn ngữ học. Thời thượng hơn, nhưng có vẻ hãy còn khá
mới, ngay cả đối với những nhà nghiên cứu thuộc các ngành nghề
khác với y khoa, hay sinh vật học, người ta có thể dùng di
truyền thể DNA (xem [1]). Tuy nhiên, chúng ta thấy rất ít khi
một công trình nghiên cứu nào đó có thể bao gồm hết những khảo
sát xuyên qua hết mọi ngành nghề kể trên. Thường thường, nhà
khảo cứu ưa đề cập tới vấn đề ngôn ngữ, nhất là như một khởi
điểm, hay một chặng kiểm chứng sau cùng. Theo nhiều bài viết gần
đây (thí dụ: Sagart [15]), khác với thời Paul Benedict cách đây
khoảng nửa thế kỉ, những nhà ngôn ngữ chuyên nghiệp ngày nay có
vẻ xa dần việc đơn thuần đối chiếu từ vựng giữa các ngôn ngữ với
nhau, mà lại chú tâm nhiều đến những 'đổi mới có chia sẻ', cũng
như những 'điểm đặc trưng có chung', giữa 2 ngôn ngữ khác nhau
[16]. Chính ngay ở kỹ thuật ngôn ngữ có vẻ mới mẻ này vẫn có thể
trật đường rầy như thường nếu dựa vào tiền đề mang hệ luận thứ
hai ở trên, cho rằng mọi phương ngữ bên Tàu đều chung một gốc
Hán Tạng như tiếng quan thoại. Ngoài ra, lối khảo sát ngôn ngữ
qua 'đổi mới có chia sẻ' cũng có thể gặp khó khăn khi dùng để
phân tích một thứ ngôn ngữ tiến hoá do ở sự hợp nhất giữa ba,
bốn phương ngữ với nhau.
3. Tiền đề phía Việt Nam và truyền thuyết
Hùng Vương
Khó khăn về nghiên cứu cổ sử phía Việt Nam,
theo thiển ý, có lẽ nằm ở chỗ bị vướng phải sức nặng cả hai khối
tiền đề rất to lớn của Âu Mỹ và của Trung Hoa. Quan trọng nhất,
theo thiển ý, truyền thuyết Hùng Vương thông thường đã đánh mất
đi một chi tiết chính. Đó là việc Lạc Long Quân và Âu Cơ thuộc
hai tộc người khác nhau. Và, chúng ta thường đánh mất chi tiết
cực kì quan trọng trong truyền thuyết quý nhất của người Việt,
ngoài ở chỗ vô tình bị dẫn dắt bởi các thứ tiền đề của Tây -
Tàu, có lẽ còn do ảnh hưởng từ lối nói ẩn dụ của người xưa: con
Rồng cháu Tiên. Lạc hướng bởi quá thích thú với chuyện Rồng và
Thần Tiên, chúng ta hoàn toàn không để ý đến Rồng và Tiên là hai
giống khác nhau và quên đi, không quan tâm đến việc li hôn giữa
'thái quốc tổ' Lạc và 'thái quốc mẫu' Âu, như chính cụ Lạc đã
xác nhận.
Nếu có dịp so sánh với các chuyện cổ tích về
thời phát sinh ra dân tộc, của các tộc người láng giềng như Mã
Lai, Nhật, Triều Tiên, Lào, Java, v.v. có lẽ không có chuyện nào
lại có vẻ thiếu ‘feng shui’ như chuyện Âu Cơ và Lạc Long Quân.
Đó là chuyện hai vợ chồng ‘thủy tổ’ một dân tộc lại phải chia
tay nhau. Nhưng thật ra hết sức chính xác và tuyệt chiêu. Bởi
truyền thuyết này có lẽ là thứ truyền thuyết rất hiếm có, so với
nhiều truyền thuyết các thứ dân khác, nhìn nhận tộc người Việt
Nam là một hỗn hợp kì diệu giữa 2 tộc bên ngoài di cư đến cộng
với các sắc dân bản địa. Truyền thuyết Âu-Lạc còn chính xác ở
chỗ có một ấn bản khác [18] của người Mường, hãy còn truyền tụng
cho đến ngày nay. Những chi tiết trong bản Mường đã hỗ tương với
chi tiết bản Việt, và cả hai thứ đều ăn khớp với nhiều chi tiết
lịch sử. Không những vào thời Hồng bàng ban đầu, mà kéo đến các
thời nhà Đinh, Lê, Lý, Trần, và Hậu Lê, v.v.
Những điểm đặc trưng sau đây đã được phát
hiện qua truyền thuyết giải mã:
(i)
Thời điểm Lạc Long Quân
thành hôn với Âu Cơ chính là vào thời Xuân Thu Chiến Quốc ở bên
Tàu, tức bình quân khoảng năm 500 TCN;
(ii)
Hùng Vương, nếu là người thật, bắt buộc
phải mang hai giòng máu;
(iii)
Đại gia đình Âu - Lạc,
theo ấn bản người Mường, tức 100 người con của bà Âu ông Lạc, về
sau đều làm ‘xếp’ dân bản địa đã ở đó từ trước. Có nghĩa tộc
người Việt Nam là hỗn hợp dài lâu giữa các tộc khác nhau: Âu,
Lạc, và dân bản địa.
(iv)
18 đời Hùng Vương thật ra
chỉ là một ý niệm về ‘đại khái’ vào thời cổ đại. Mười tám (18)
đời vua thời Hồng Bàng thật ra đã được cóp lẫn nhau, giữa cổ sử
3 nước: Việt Nam (Hùng Vương), Trung Hoa (nhà Hạ) và Triều Tiên
(Bai-dal). Cả triều đại nhà Hạ của Tàu, và Bai-dal của Triều
Tiên đều trải qua 18 đời vua rồi mới ‘xụm’, mới kết thúc, y như
18 đời Hùng Vương.
(v)
Tác giả truyền thuyết này
là những người Việt, đặc biệt chủng Âu với sự giúp sức và hiệu
đính của chủng Lạc, và trái với bao nhiêu hiểu lầm từ xưa đến
nay, cả bà Âu và ông Lạc không vị nào mang giọt máu Tàu nào hết.
Gần đây tại Việt Nam, có vẻ có khuynh hướng
xử dụng một ‘câu chuyện’ khác về Hùng Vương, xem ông như một nhà
ảo thuật đại tài. ‘Câu chuyện’ này dựa trên một đoạn của quyển
Đại Việt Sử Lược [17], tức quyển sách khuyết danh thất lạc về
sau tìm ra được tại một thư khố nhà Thanh bên Tàu. Quyển sử này
chắc đã được người Tàu hiệu đính khá kỹ trước khi trao lại cho
nước Nam. Theo đó, vào thời vua Châu Trang Vương ở bên Tàu
(696-682 trước Công Nguyên) 'ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng
ảo thuật quy phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương đóng đô
ở Văn Lang, đặt quốc hiệu là Văn Lang, phong tục thuần lương
chơn chất, chính sự dùng lối thắt gút'.
Theo thiển ý, chi tiết xuất xứ của Hùng Vương dựa
theo Đại Việt Sử Lược, kiểu 'nhà ảo thuật', chỉ có một lợi điểm
là phù hợp với những phát hiện của khoa khảo cổ về văn minh Đông
Sơn, ở chỗ thời điểm 'dựng nước' (khoảng năm 600-700 TCN), nhưng
rất tai hại về chứng liệu lịch sử, và hoàn toàn dở về 'feng
shui', tức phong thủy.
Nếu đọc thật kỹ chỉ một vế nhỏ của miêu tả về nhà
ảo thuật: ‘Ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật quy phục
được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương,…’, chúng ta có thể
thấy một số điểm lấn cấn như sau.
Thứ nhất, câu chuyện Hùng Vương nhà ảo thuật,
không phải là một truyền thuyết. Nó hoàn toàn xa lạ với dân
gian, và lại ‘rặc mùi Tàu’. Nó chỉ xuất hiện độc nhất trong một
bộ sách thất lạc pên Tầu lâu năm. So với truyền thuyết Âu Cơ,
rất phổ biến tại nước Nam từ thời xa xưa, và có luôn một bản đối
chiếu của người Mường, đồng tác giả của truyền thuyết, ‘câu
chuyện’ này phải thua xa ở tính xác thực, dù chỉ ở mặt truyền
thuyết.
Thứ hai, nếu phân tích kỹ (Ở bộ Gia Ninh
có người lạ), ta thấy nhà ảo thuật Hùng Vương có thể
thuộc bất kì chủng nào có mặt, hay tạm dừng chân ở bộ Gia Ninh.
Để ý, ‘Gia Ninh’ là một cái tên rặc Tàu, do người Tàu đặt nên.
Nhà ảo thuật đó có thể là người Lê, người Tây Âu, người Ba,
người Thục, người Địch, người Khương, người hắc nụy tóc xoăn,
người Lạc Việt từ vùng biển, người du mục Bách Bộc, người Thổ
gia, và ngay cả người Đông Di. Nhà ảo thuật này cũng có thể là
một người Hung Nô cưỡi ngựa đi lạc đến khu Gia Ninh, và biểu
diễn lối nhào lộn trên lưng ngựa làm màn ảo thuật, gây nhiều ấn
tượng cho người xem. Ông cũng có thể là một người Jo-Thái, người
Hy Lạp, người Ai Cập, người Aryan, người xứ 1001 đêm, v.v. Rất
có thể, theo ý tác giả, ông là người Hoa Hạ chạy giặc từ phương
Bắc xuống. Không biết ảo thuật gia họ Hùng đó nói thứ tiếng gì.
Từ đâu đến hay thuộc chủng nào không rõ, chỉ biết ông ta, có vẻ
một người khách lạ, xuất hiện ở Gia Ninh vào một buổi chiều đầu
Xuân hay tàn Thu nào đó, dùng ảo thuật quy phục được các bộ
lạc, tự xưng là Hùng Vương. Tức, chi tiết đã mô tả xác định
rất rõ nhà ảo thuật đó không nhất thiết cùng chủng với dân bản
địa, và đã lập gia đình rồi hay chưa. Nếu nhà ảo thuật đã có vợ,
và mang vợ theo đến Gia Ninh, ta có thể thắc mắc vợ ông ta thuộc
tộc nào. Nhưng nói chung, chỉ nội câu hỏi về huyết tộc của nhà
ảo thuật ở bộ Gia Ninh, đã cho thấy ông ta rất khó thành quốc tổ
của dân Việt Nam.
Thứ ba, câu chuyện một nhà ảo thuật trở thành
nguyên thủ đầu tiên thời dựng nước, dễ bị lấn cấn nhiều mặt.
Trước hết, vị đại tù trưởng tạo dựng nên nước Nam này đã hoàn
toàn thiếu thốn ‘cội nguồn quyền lực’. So với truyền thuyết
Âu-Lạc, Thục Phán, ông này thua xa. Mấy vị kia đều là con cháu
vua chúa, biết rõ cội nguồn quyền lực, và biết thế nào là quyền
bính và cai trị, còn ông này thì không! Nghề nghiệp của ông chỉ
là ảo thuật, và thuật trị nước, truyền đến 18 đời, theo quan sát
lịch sử nhân loại rất khó xây dựng trên những kỹ năng ảo thuật.
Thêm vào đó, ‘câu chuyện’ ảo thuật có vẻ cố ý xuống cấp giới
lãnh đạo, cho dù của một số các bộ lạc, mầm mống của nước Nam về
sau. Rất có khả năng đó là dụng ý các sư phụ Tàu, mà nhiều tiền
bối đã thiếu khắt khe, vô tình lướt qua.
Vấn đề sử sách nước Nam vô tình dựa vào ‘thư
tịch cổ Tàu’ cùng các thứ tiền đề của Tàu, trong tinh thần thiếu
khắt khe của khoa học, trong khi lại bị lạc hướng trong việc bỏ
rất nhiều thì giờ và công phu lo kiểm chứng địa điểm này thật ra
tên viết làm sao, ông này bà nọ tên đánh vần ra sao mới đúng,
theo thiển ý, đã và sẽ tiếp tục gây nhiều nhầm lẫn và lạc hướng.
Xin đơn cử vài thí dụ về việc dựa vào thư tịch cổ của Tàu, nhưng
thiếu thốn suy nghiệm khắt khe. Thứ nhất, chuyện ‘tỵ ẩm’. Người
Tàu ngày xưa ưa chế nhạo dân man di bằng nhiều cách. Trong đó có
chuyện ‘tỵ ẩm’ tức uống nước bằng … mũi, có ghi lại trong bộ
‘Thủy Kinh Chú’ [12]. Đó là một chuyện nhạo báng phản khoa học,
nhưng một hai quyển sách Việt lại tiếp tục chép và ghi thêm
chuyện ông Trạng nào đó biểu diễn ở triều đình Bắc phương lối
uống nước bằng mũi. Thứ hai, chuyện bà Triệu Âu (Triệu Thị
Trinh) ra trận với vú dài ba thước, được ghi lại y chang trong
bộ sử của Ngô Sĩ Liên. Chúng tôi hy vọng sẽ đưa ra lí giải những
hiện tượng khá kì quặc này trong một dịp khác.
Tóm lược
Trong bài này, chúng ta đã xem qua ‘Tiền đề’
như một ảnh hưởng rất quan trọng của nghiên cứu khoa học, mà
giới sử học hay ngay cả ngôn ngữ, trong bối cảnh cổ sử Á Đông và
đặc biệt Việt Nam, vẫn thường dễ dãi lướt qua.
Trong cái khung đối chiếu của truyền thuyết
Âu Cơ cổ điển của Đại Việt Sử Ký, và câu chuyện nhà ảo thuật
Hùng Vương của Đại Việt Sử Lược, chúng ta thấy cả hai đều vướng
phải nhiều lấn cấn, và tạo thành những thứ tiền đề cứng nhắc,
không thể nào giải thích được hết các hiện tượng hay biến cố
lịch sử kéo dài từ thời Hồng Bàng cho đến cận kim.
Những thứ tiền đề đó dễ bị vướng vấp ở hai
điểm chính như sau.
(i)
Việt Nam lập quốc từ xưa,
và dân Việt sống ở thời Hùng Vương và người Việt ngày nay, trước
sau chỉ là một tộc người mà thôi. Thứ tiền đề này thật sự hoàn
toàn tách rời sự thật, hết sức hiển nhiên. Chỉ cần so sánh với
các nước chung quanh hiện nay, ta thấy vào thời điểm đó, không
có nhóm người nào, hay tộc người nào tiến được đến hình thái nhà
nước với lãnh thổ to lớn như ngày nay. Các quốc gia lớn ngày nay
như Myanmar, Thái Lan, v.v. phải chờ đến sau thế kỉ thứ 10 mới
thành lập được. Ngay cả chuyện so sánh với nước Trung Hoa. Trái
với tuyên truyền của họ, đất nước họ, trong thiên niên kỷ đầu
sau Công Nguyên, chỉ nhất thống được trong một hai trăm năm rồi
lại tan rã, chia năm xẻ bảy, và nhiều lần như vậy. Đáng kể nhất,
chỉ có nhà Đường (618-907) là gây nên ấn tượng nhất thống huy
hoàng trong lịch sử mà thôi. Cũng bởi lí do đó người Hoa ưa tự
gọi họ là ‘Thoòng dành’ hay ‘Tang ren’ theo quan thoại, tức
Đường nhân, hay người Đường. Cho đến việc biết được vào thế kỉ
nào Hoa chủng bắt đầu hình thành, hiện hãy còn là một vấn đề
chứa nhiều bí ẩn. Tuy nhiên, người ta có thể để ý Hoa tộc chỉ
thật sự hình thành sau khi Trung Hoa bị quân Mông Cổ chiếm đóng
(1279-1368), tức sau khi có một mối đe dọa chung từ bên ngoài.
Giống như ý kiến về ‘hình thành nước nhà’ của nhiều sử gia [2].
(ii)
Trong khi có thể nhìn nhận
chuyện gạt bỏ nhanh chóng thứ chữ Nôm xưa cũ là một việc làm hết
sức thực tiễn và cấp bách, nhiều ngộ nhận trong vấn đề ngôn ngữ,
đương nhiên phải xảy ra. Những ngộ nhận này thông thường dính
liền với tiền đề Việt tộc là một tộc người thuần chủng sinh sống
ở bình nguyên sông Hồng từ ngàn xưa. Và cũng liên hệ đến việc
đánh mất cái khoen nối liên tục giữa hai thế hệ học và xử dụng
chữ Hán-Nôm, và thế hệ dùng chữ quốc ngữ. Đặc biệt, bởi dựa vào
thứ mô hình xưa về tộc người có sẵn từ lâu, chúng ta thường ít
để ý những lí giải từ xưa đến nay, thông thường vẫn chưa đạt mức
thỏa đáng. Xin đơn cử một vài thí dụ.
- Phân
biệt âm đầu 'S' và 'X' => 'bổ sung' ưa đọc thành 'bổ xung'. Lý
giải mới theo truyền thuyết giải mã: Tộc Thái cổ, phản ánh qua
các thứ tiếng Mường, Thái, Quảng Đông, v.v. hoàn toàn không có
âm 'S' (phát âm như 'SH'). Tộc Thái cổ là một trong ba bốn tộc
chủ lực tạo thành người Việt Nam.
- Phân
biệt hỏi-ngã thông thường vắng bóng ở Trung và Nam bộ. Lý giải
mới: Phải chăng các tộc cổ chủ lực tại phần lớn các khu vực này
ngày trước, ngay cả thời chữ Nôm, chỉ xử dụng 5 thanh âm, thay
vì 6 thanh âm (bằng hỏi ngã sắc nặng huyền). Việc số thanh âm
khác nhau hoàn toàn không thành vấn đề giữa các phương ngữ Trung
Hoa, một phần do ở việc tiếng Tàu không như tiếng Việt, không
dựa vào, hay không cần biết đến, mẫu tự Latinh A-B-C. Thí dụ:
Quảng Đông có 9, Hakka thường có 6, một vài nhóm có đến 7 thanh
âm, Quan thoại chỉ có 4. Chúng tôi hy vọng sẽ trở lại vấn đề
này, đặc biệt quan sát các từ thường gọi Hán Việt, vào một dịp
khác.
Trong những bối cảnh khác, 'tiền đề' có thể
xem như chia sẻ chung ý niệm với 'định kiến', hay khuynh hướng
'bảo thủ'. Sự thật, rất khó gạt bỏ quan niệm thông thường cho
rằng 'định kiến' hoặc lối suy nghĩ bảo thủ, chính là một trong
những bản năng thiết yếu của loài người, giúp kiến tạo nền móng
xã hội vững chắc. Tuy nhiên, cũng không thể chối bỏ tiến bộ của
cá nhân hay nhân loại lại cũng tùy thuộc vào cải tiến dựa trên
hiểu biết mới hoặc xem xét lại những định kiến hay lối suy nghĩ
bảo thủ đã có từ trước. Trong lãnh vực khoa học, việc xem xét và
kiểm chứng tiền đề, từ lâu vẫn là một thứ thao tác đứng hàng
đầu.
NN
Tháng 8-2005
Ghi Chú
[1] Stephen Oppenheimer (2001) Eden in the
East - The Drowned Continent of Southeast Asia. Phoenix (Orion
Books Ltd). (Hiện đã được dịch ra tiếng Việt, và xuất bản tại
VN)
[2]
David G. Marr & A.C. Milner
(Ed.) (1986) Southeast Asia in the 9th to 14th
centuries. Institute of Southeast Asian Studies – Singapore &
Research School of Pacific Studies – ANU Canberra.
[3] Võ Mai Phương (Chu Thái Sơn chủ biên)
(2005) Người Dao. Nxb Trẻ
[4] Ngô Sĩ Liên và cộng sự (1497). Đại Việt Sử Ký
Toàn Thư. Thanh Việt và Phạm Ngọc Luật hiệu đính theo bản dịch
của Đào Duy Anh. Nxb Văn Hoá Thông Tin (2004). Bản của Viện Khoa
Học Xã Hội Việt Nam được trình bày đầy đủ trên mạng internet:
perso.wanadoo.fr/charite
[5] Bình Nguyên Lộc (1971) Nguồn gốc Mã Lai
của dân tộc Việt Nam. Nxb Xuân Thu, tái bản tại Hoa Kỳ.
[6] Giu-đà - Ki-Tô = Ju-đà & Kitô = Judaism
Christianity. Để ý ‘Judaism’ chính là từ phiên âm tiếng địa
phương, phiên âm tiếp sang tiếng Hoa là 'Yu Tai'. Sang tiếng
Việt: Do-Thái. Một lần nữa, ta thấy biến chuyển qua lại giữa âm
[Y] và âm [J] - như đã trình bày trong một bài trước (số 9) -
khởi đầu khi còn ở bên Tàu. Người Hẹ có thể phát âm 'Jo-Thai'
hay 'Ju-Thai', hoặc 'Yu-Tai' tương ứng với quan thoại 'Yu-Tai'.
Sang tiếng Việt các tôn sư quốc ngữ dùng vần chữ /D/: Do Thái.
Phía Bắc có thể phát âm theo một lối Hẹ: Jo Thái (Dzo Thái), và
phía Nam xử dụng kiểu kia, cũng thể hiện trong tiếng Hẹ và nhiều
phương ngữ tiếng Hoa, dùng âm [Y]: Yo-Thái. Theo thiển ý, chữ
‘D’ do các tôn sư quốc ngữ đề ra, có lẽ để hoá giải việc phân
cực giữa âm ‘Dz’ và ‘Y’, mà chính các nhóm Hẹ cũng phát âm khác
nhau như vậy. Do đó, khi gặp những từ ký âm bắt đầu bằng chữ
‘D’, người Việt tùy ý chọn lựa lối phát âm, phù hợp với thói
quen ‘thị tộc’ mình từ ngàn xưa.
Hiện tượng tôn sư quốc ngữ thu gọn 2 âm cũ
thành 1 âm qua 1 cách đánh vần dzuy nhất còn được thể hiện qua:
‘Lưu’ dùng cho ‘Liu & Lau’; Âm chữ ‘V’ cho 3 thứ: ‘W’ (con Woi),
‘V’ (theo kiểu Lạc Việt và Hakka): văn chương, và ‘By’ theo rất
nhiều phương ngữ Bách Việt: đi byào & byách tường (đánh vần theo
chữ Nôm tương ứng bằng âm [B]); v.v.
[7] Quân Mông Cổ thua trận tại Việt Nam, Mã
Lai và Nhật Bản, có lẽ một phần vì họ không quen thủy chiến. Hay
không bằng hên, tại Nhật đoàn thuyền chiến của quân Mông Cổ bị
bão tố làm đắm chìm trước khi đến Nhật.
[8] Ngay cả dân tộc thường tự hào thuần chủng
nhất thế giới, người Nhật, vẫn biết rõ họ là một hợp chủng giữa
tộc Jomon và Yayoi, với người Ainu trong bối cảnh.
[9] Donald G. McCloud (1995) Southeast Asia.
Tradition and Modernity in the Contemporary World. Westview
Press, Inc. (Boulder - Colorado)
[10] Y như chiến tranh giữa người Zo Thái và
Á rập. Hai giống người này vào thời Abraham, chỉ là một chủng
người. Tiếng Anh có từ miêu tả chung cả người Yo Thái lẫn Á rập,
là Semites. Anti-semitism mang 2 nghĩa có vẻ tương phản nhau:
Chống Do Thái, hoặc: Chống Á rập.
[11] Có thể viện dẫn rất nhiều từ vựng, cho
thấy liên kết giữa tiếng của miền Hoa Nam với tiếng Việt, và
tiếng Mã Lai, ít nhất trong việc vay mượn từ vựng lẫn
nhau. Thí dụ:
* Mất (chết) => Mok (Hẹ) => Mati (Mã Lai).
* Quê= Làng => gKue (Phúc Kiến) => Kẻ/ Kuel
(Việt/Mường) => T'lang (Mã Lai).
* Cẳng/chân=> Ka-tui (Phúc Kiến, tui <=> túc) =>
Kaki (Mã Lai) => Kaat (Chăm-pa) => Jeung (Cam-bốt).
* Cây (gỗ) => Ki (Nhật) => Ki (Kha) => Kayu
(Mã Lai) => poKok (Mã Lai)
* Béo / Mập => Bui (Phuc Kiến) (= phì) =>
Besar (Mã Lai) (=Bự) => leMak (Mã Lai)
* Ô / Dù => Yu-san (quan thoại) => hOh-san
(Phúc Kiến) => paYung (Mã Lai)
[12] Lịch Đạo Nguyên (chú); Dương Thủ Kính &
Hùng Hội Trinh (sớ); Đoàn Hy Trọng (điểm hiệu); Trần Kiều Dịch
(phúc hiệu) (1999) Thủy Kinh Chú Sớ. Nguyễn Bá Mão
(dịch). Nxb Thuận Hoá.
[13] Khu vực khai quật Liangzhu (Lương Chúc)
{ 梁祝 } tức Hàng Châu ngày nay, gần Thượng Hải, thuộc tỉnh Chiết
Giang cho thấy đã có ở đó một nền văn minh khá cổ (3310-2250
TCN). Lương Chúc nằm trong địa bàn chủng Yue và có đề nghị cho
rằng, cư dân cổ thời ở đó là tiền bối của dân Tam Miêu tức người
Miêu-Dao (Hmong-Mien) sau này. Khai quật ở Liangzhu cho thấy dấu
vết chữ viết, xưa dùng để tiên đoán thời tiết.
[14] Lộn xộn trong phân loại trong tiếng
Việt: Ngày trước, nhiều học giả xếp tiếng Việt trong nhóm
Môn-Khmer, thuộc khối Nam Á. Bây giờ đổi thành Việt Mường. Theo
thiển ý, vẫn chưa được chính xác. Bởi theo luận cứ, và chứng cớ
trình bày trong loạt bài này, tiếng Việt thuở ban sơ chính là
tiếng Môn Khmer. Người bản địa thời xa xưa có thể gồm 2 tộc Môn
Khmer và Thái cổ. Về sau, vào thời Xuân Thu Chiến quốc, có thêm
gia nhập của các đợt chủng Thái cổ (Âu), Cửu Lê, rồi nhiều nhóm
Lạc Việt từ vùng bờ biển phía Đông nước Tàu. Rất nhiều từ vựng
của các nhóm Âu và Lạc đã trở thành tiếng Nôm, và tiếng Hán. Một
phần lớn người Việt thuộc chủng Thái cổ và Việt cổ (Thái nhiều
hơn Việt) sống biệt lập ở miền rừng núi, hợp chủng với dân đen
tử đảo và dân nêgritô, lâu ngày trở thành người Mường. Theo
thiển ý, tiếng Việt phần chính là giao tác giữa tiếng Môn-Khmer,
Âu, Lạc và các thứ tiếng 'Bách Việt' ở miền Hoa Nam.
[15] L. Sagart (2001) Gan, Hakka and the
formation of Chinese dialects. Centre de Recherches
Linguistiques sur l'Asie Orientale. Ecole des Hautes Etudes en
Sciences Sociales (UMR 8563 du CNRS) Paris - France
[16] Trong phần chứng minh 'Hẹ= Việt cổ',
chúng tôi đã cố gắng áp dụng lối so sánh kiểm chứng của các nhà
ngôn ngữ học, truy tầm những điểm đặc trưng có chung, hoặc những
'đổi thay chia sẻ', giữa tiếng Hẹ và Việt. Thí dụ: Mất (Chết)
<=> 'Mok'. 'Gà Mái' <=> 'Gai Ma'. 'Chúng tôi / Chúng ta'. 'Châu
& Chu'. 'Vách & Biách'. Âm V. Âm 'Dz & Y' có trong tiếng Hẹ và
Việt, v.v. để hỗ trợ cho nhiều luận cứ khác dẫn đến đẳng thức:
Một bộ phận của khối Lạc Việt = Hẹ cổ.
[17] Khuyết Danh (1377-1388) Đại Việt Sử
Lược. Bản dịch của Nguyễn Gia Tường. Nhà Xuất Bản Thành Phố HCM.
Bộ Môn Châu Á Học Đại Học Tổng Hợp TP.HCM.
[18] Jeanne Cuisinier (1946) Les Mường,
Géographie et Sociologie humaine.
Université de Paris.
Trở về Trang Chính |