|
Một đề tựa, hai bài viết hơi khác với nhau
Cách đây vài năm, nhân một buổi trà dư tửu
hậu, một người bạn góp ý rằng bây giờ xi-nê sao bắt đầu nhàm
chán quá, họ cứ đem mấy phim xưa ra quay đi quay lại hoài. Một
người bạn khác, chuyên viên về IT, cho biết ở thời đại kỹ thuật
dùng số, thế nào rồi cũng có ngày Hollywood sẽ phát minh ra thứ
xi-nê có hai ba lối kết cục khác nhau, lăng xê ra trình chiếu
tại những rạp “chớp bóng” khác nhau, hay cho thuê trên hai loại
dĩa DVD trình bày bìa khác nhau.
Ý tưởng một thứ phim xi-nê có hai đoạn kết
cục khác nhau cứ nằm đâu đó trong đầu tôi cho mãi đến tuần rồi,
nhân dịp đi shopping, thấy một vài phim nổi tiếng gần đây trình
bán trong một tiệm lớn bán phim đĩa DVD. Để ý thấy có một phim
quảng cáo ở bìa sau: phim có thêm vài đoạn hay đã bị cắt xén, và
đặc biệt có đoạn kết cục khác với phim bản đã trình chiếu ở rạp
hát trước đây. Hay quá! Như vậy là ý của ông bạn chuyên viên IT
lại đi trước thời đại mất rồi.
Vốn không phải một nhà văn hay một nhà báo
chuyên nghiệp, nhưng cũng có đến 5-6 năm nay, mỗi năm cứ vào
cuối tháng 10 tôi nhận được chừng 3 lá thư gởi bằng bưu cục “cổ
điển” có tem thư đàng hoàng, mời mọc viết bài đăng báo Xuân. Vừa
vui lại vừa lo. Vui là có vài tờ báo có lẽ đọc các bài viết cũ
của mình không kỹ, nên có thể nghĩ có người chịu khó đọc các bài
đó nên mới viết thư mời mọc. Lo thì đủ thứ chuyện. Nếu cứ tiếp
tục viết thế nào cũng có ngày bật mí, người đọc sẽ thấy bài quá
dở. Năm sau sẽ không còn báo nào nhắc nhở nữa thì lại buồn. Còn
một mối lo khác là lấy đề tài gì mà viết đây, nếu không phải lập
lại những gì mọi người cũng đều biết qua báo chí, ti-vi, và
internet. Một đề tài cũng đã khó rồi, còn sức đâu mà viết ra hai
bài khác nhau cho hai tờ báo quen biết trong cùng một thành phố,
hay một Bang hay một tỉnh.
Chợt nhớ đến quảng cáo ở bìa sau của phim đĩa
DVD rằng bản gốc phim này có sự chọn lựa cho hai kết cục hoàn
toàn khác nhau, người viết chợt nảy ra một ý kiến tương đối khá
“đột phá”. Đó là, thử viết một bài dưới một đề tựa, nhưng trong
đó thử đan xen vào một vài đoạn khác với nhau để có thể gửi đăng
cho 1 mùa báo Xuân nhưng những tờ báo khác nhau trong cùng 1
thành phố. Tuy vậy nhìn kỹ lối viết một đề tài ra thành nhiều
bài khác nhau, từ lâu được thường xuyên xử dụng trong giới hàn
lâm khoa bảng. Các nhà nghiên cứu hoặc giáo sư đại học vẫn
thường làm công chuyện này. Sửa đổi thân bài một chút, hay sửa
tựa bài, thường có thể gửi dự đăng ở một tờ báo hàn lâm chuyên
nghiệp khác hay một hội nghị quốc tế về một chủ đề thích hợp. Sự
thật trong lĩnh vực khoa học “cứng”, rất dễ biến 1 đề tài thành
hai ba bài khác nhau, bởi chỉ cần thêm 1 số dữ kiện, hay thêm
một dẫn chứng, hoặc thay đổi cách lý-luận là bài đã trở nên khác
rồi. Trong giới xi-nê, tương đương với remake, tức phim cũ được
quay lại. Thường thường, không thứ remake nào giống thứ ban đầu
hết. Nhiều phim remake lại do cùng một nhà đạo diễn làm lại
chính phim mà ông đã làm nhiều năm trước. Như phim “Người biết
quá nhiều” (The Man who knew too much) của Alfred Hitchcock.
Phim này làm năm 1956 với James Stewart và Doris Day lại là phim
quay lại một phim cũ (năm 1934) cũng của Hitchcock.
Chuyện viết bài thành nhiều dạng khác nhau,
xin tạm gọi: lối viết bài dùng kỹ thuật số, cũng giúp giải tỏa
được một “vấn nạn” lâu năm của người viết. Đó là rất nhiều tờ
báo trên thế giới, Tây cũng như Ta, ưa đưa ra một giới hạn cho
bài dự đăng, bởi nếu không có giới hạn, sẽ có tác giả viết một
hơi 20-30 trang cho báo, rồi chiếm trọn tờ báo, biến tờ báo
thành nhà xuất bản cho người viết một quyển tiểu thuyết dài, hay
một tập thơ sưu tập nhiều bài thơ lãng mạn ướt át. Nhưng thật ra
cũng có nhiều người viết lâu ngày ít viết nên đến khi viết, họ
cứ bút mực tuôn trào, can ngăn không được. Và nếu viết bài theo
kiểu kỹ thuật dùng số, chắc sẽ giải quyết được hiện tượng khó
khăn trên. Hai bài cùng một đề tài, dài khoảng 10 trang như
thông lệ, nhưng có nhiều đoạn khác nhau.
Và bài này chính là bài viết đầu tiên được
viết dưới dạng…kỹ thuật dùng số đó.
Vào bài
Như đã viết trong bài báo năm trước, những
người ở thế hệ đi vào tuổi lão thường hay than phiền thời bây
giờ sao khác với ngày xưa quá. Nhưng nếu nhìn kỹ, ta sẽ thấy rõ
rệt thời nào cũng vậy. Xã hội loài người vào tuổi họ mới lớn và
còn thanh niên luôn luôn khác với xã hội chung quanh vào lúc họ
bước vào tuổi lão. Có lẽ lý do đơn giản nhất có thể giải thích
được việc này là ở chỗ nhân số trên quả đất lúc nào cũng gia
tăng. Và cơ thể con người chậm lại,
người cùng thời, kẻ còn ở lại, người thì đã ra đi. Người còn trẻ
lúc nào cũng ở trong tư thế chuẩn bị tích cực tham gia, và đóng
góp cho xã hội, trong khi người lớn tuổi, thường đã trả xong nợ
đời, cũng chuẩn bị, nhưng chuẩn bị buông thả, chuẩn bị hưu trí
nghỉ ngơi. Bởi xã hội lúc nào cũng có việc gia tăng dân số, cho
nên tổ chức xã hội và lối sống, cũng phải trải qua chuyện đổi
thay. Đáng để ý nhất, tầm thường nhất, nhưng ảnh hưởng đến nhiều
người nhất, chính là những tập tục, thói quen trong nhịp sống
hằng ngày của con người. Xin tiếp tục xem qua những tập tục, thú
vui, và thói quen sau đây, ngày trước hết sức phổ biến đối với
thế hệ sinh-sung, thế hệ hiện đang đi vào tuổi lão.
Trước hết, xin để ý đến việc “sưu tầm tem
thư”. Ở Việt Nam cũng như nhiều nơi trên thế giới trong thế kỷ
trước, việc chơi tem hay sưu tầm tem thư, là một thú vui khó tả,
phổ thông, nếu không nói tới đam mê, từ giới trẻ con cho đến
người lớn. Thành phố nào cũng có một tiệm nhỏ đủ sống, chuyên
bán tem thư sưu tầm, thường thường là tem quốc tế. Ở Sàigòn thời
xa xưa, trong thương xá Eden, được coi là “sang” nhất thời đó,
cũng có một gian hàng nhỏ chiếm một vị thế nổi bật trong thương
xá, chuyên buôn bán tem thư quốc tế. Ngoài ra còn nhiều tiệm bán
tem sưu tầm ở dọc các đường Nguyễn Huệ hay Tự Do. Ở xóm Bàn Cờ,
trong ngõ hẻm đường Nguyễn Thiện Thuật, cũng có một ông cụ,
trong suốt mấy mươi năm, cho đến khi ông qua đời vào khoảng giữa
thập kỷ 90, luôn sinh sống bằng nghề buôn bán tem thư sưu tầm.
Hằng tháng vẫn thấy ông xách cặp-táp to chứa tem đi bổ hàng tại
các tỉnh. Nhiều khi thấy ông ra tận Nha Trang, Qui Nhơn, cũng để
buôn bán tem.
Ở các thành phố Tây Phương như Wellington
(Tân Tây Lan) hay Sydney (Úc) cũng vậy. Trước thập kỷ 80 người
ta vẫn thấy nhiều cửa hàng nho nhỏ bán tem sưu tầm - thường pha
trộn với tiền coins bằng đồng, hay tiền giấy xưa.
Tóm tắt chơi tem có nhiều cấp. Cấp sơ đẳng
nhất thường bao gồm việc bóc con tem ra khỏi phong bì thư bằng
việc ngâm phong bì trong nước ấm cho tan bớt đi keo dán tem.
Xong rồi phơi khô trong phòng, rồi đem kẹp vào tập album đặc
biệt dành cho tem sưu tầm. Rồi trao đổi tem với nhau giữa các
“đồng nghiệp” có chung sở thích về tem thư. Trên một cấp nữa
phải sưu tầm cho đủ bộ, đủ loại giá tiền cho một thứ tem phát
hành cùng một lúc. Thông thường bằng cách trao đổi tem với bạn
bè hay đồng nghiệp cùng mang một sở thích. Việc này thường được
làm gọn hơn bằng cách ra nhà bưu điện mua trọn bộ tem vừa mới
phát hành, bán tự do trong ngày phát hành đầu tiên, với triện
dấu bưu chính, đề: “Ngày phát hành đầu tiên. Ngày ấy tháng ấy
năm đó”. Thỉnh thoảng triện này cũng có câu tiếng Anh: First Day
of Issue, v.v. Cao cấp nhất người ta thường chú tâm đến những
con tem hiếm và quý. Đôi khi con tem chỉ cần in sai hoặc bị thu
hồi lại sau khi phát hành vài trăm vài chục con tem. Những con
tem hiếm loại này đều có thư mục đàng hoàng cho giới sành điệu
tra cứu và giá cả có thể lên đến bạc nghìn.
Chơi tem, có thể nói tóm tắt, chỉ
có bao nhiêu đó thôi, nhưng nó đã gợi được và lôi cuốn bao nhiêu
đam mê của tuổi trẻ và người lớn, tại khắp nơi trên thế giới,
trong nhiều năm.
Đến ngày nay, thú vui “chơi tem” này có vẻ
như bắt đầu đi khắp nơi để chào tạm biệt chốn hồng trần. Với hai
lí do chính. Thứ nhất, cũng như thú chơi cá lia thia, đá cá, đá
gà, v.v., tự nhiên bị giòng đời đào thải, khi có nhiều thú chơi
khác nảy sinh ra vào cuối thế kỷ 20, song song với khuynh hướng
đổ xô về sinh sống ở thành thị được mọi người ưa chuộng tại khắp
nơi trên thế giới. Bởi ở thành thị có nhiều cơ hội việc làm, học
hành và đời sống vui nhộn, đa dạng hơn chốn thôn quê. Đời sống
thành thị cũng đi đôi với kỹ thuật tân tiến, và những thứ do kỹ
thuật mang đến, như Karaoke, bia ôm, hay đi ăn uống ở ngoài
chẳng hạn, đã chiếm phần lớn thì giờ, ngày trước con người dành
cho những thú vui xưa như chơi tem và trao đổi tem. Thứ hai, với
cách mạng internet trong đó có email, việc xử dụng tem thư kéo
theo sưu tầm tem, tự nhiên bị xuống cấp, rồi từ từ đào thải với
thời gian. Ngay cho đến việc mua tem cho bưu thiếp vào dịp Giáng
Sinh hay Tết Tây Tết Ta, mỗi năm mỗi xuống dốc rõ rệt. Dần dà
thiên hạ mang khuynh hướng gởi bưu thiếp điện tử (e-Card) cho
nhau. Nó nhanh hơn, viết được nhiều hơn, tránh được xao nhãng,
quên lãng, như việc ra shop tìm bưu thiếp cho vừa ý rồi sắp hàng
ở bưu điện chờ mua đúng tem để gởi cho người thân hay bạn bè.
Như thế, tem do bưu cục nhà nước ở khắp nơi in ra mỗi ngày một
ít đi, và sức tiêu dùng của nó luôn bị những kỹ thuật mới cạnh
tranh, và đưa vào quên lãng. Những kỹ thuật này phải kể: Vận
chuyển hàng hoá tư nhân, như Fed Ex chằng hạn, Điện thoại đường
dây đất; Điện thoại di động, nhắn tin SMS; Máy fax; Điện thư
I-meo; Điện thoại gọi xa dùng internet; Gặp nhau tận mặt (Vé máy
bay rẻ); v.v. Thứ kỹ thuật nào kiểu mới cũng không cần đến tem
thư. Nhưng phổ biến nhất hiện nay có lẻ là I-meo (email). Trên
nguyên tắc, nó không tốn hơn tiền nối internet, và gởi có đến
hằng triệu bức thư chào hàng, mua hàng hay thư tình, tranh luận
thời cuộc, đi nữa thì chẳng tốn thêm một đồng xu nào.
Dấu vết của việc chuẩn bị “tuyệt tích giang
hồ” của việc chơi tem ra sao? Trước hết nhiều tiệm chuyên bán
tem và tiền đồng sưu tầm ở cả Sàigòn và Sydney đều bắt đầu biến
mất. Trong khoảng mười năm cuối thế kỷ trước nếu ai ra khu
“downtown” Saigon, khu vực đường Nguyễn Huệ hay Lê Lợi chẳng
hạn, thế nào cũng gặp những người ăn mặc khá tươm tất đem theo
vài quyển tem sưu tầm hay đồng tiền cũ, chào hàng mời mua. Với
giá khá rẻ. Bây giờ không thấy họ đâu. Ở Sydney, tại khu vực
Bankstown, có một toà nhà có lẻ thuộc chính quyền địa phương
dành cho cộng đồng (cuối đường Restwell), mỗi sáng chủ nhật đầu
tháng họ có vài gian hàng bán tem sưu tầm và tiền đồng cũ. Mười
mấy năm trước khá đông người vào xem mua. Bây giờ chỉ lưa thưa
một vài cụ lớn tuổi tham gia. Đa số là di dân, trong đó có vài
người gốc Trung Hoa. Cũng ở tuổi trung niên trở lên. Cảm tưởng
của người từng chơi tem khi đứng giữa căn phòng vắng lạnh của
câu lạc bộ chơi tem ở Bankstown chắc không khác với cảm xúc của
người ở giữa thế kỷ trước đối với ông đồ già, như Vũ Đình Liên
đã ghi lại:
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
. . .
Nhưng mỗi năm một vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu
. . .
Năm nay hoa đào nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Chuyện kế tiếp cũng là thứ chuyện ảo thuật
tàng hình biến mất kiểu Houdini. Đó là các thứ tiệm cho thuê
băng video phim ảnh theo dạng VHS. Các tiệm thứ này đang bắt
chước các tiệm bán tem thư sưu tầm lần lượt đóng cửa, tại nhiều
khu phố, mặc dù trải qua một thời gian chuyển hệ sang việc cho
thuê DVD, thay thế cho băng nhựa video.
Những ai từng sinh sống ở xã hội Tây Phương
trong nhiều thập niên qua đều có thể nhớ, các tiệm cho mướn phim
ghi trên băng nhựa, bắt đầu ào ạt mở cửa khai trương vào đầu
thập kỷ 1980. Lúc đó, còn tranh tối tranh sáng, giữa hai thứ hệ
băng video. Thứ ra trước gọi là Beta-Max do hãng Sony của Nhật
lăng xê. Thật ra kỹ thuật Betamax lại dựa vào một kỹ thuật tiền
bối khác thường dùng trong các phim trường hay đài truyền hình
mang tên U-Matic. Cực nhọc nhất cho giới tiêu thụ là trong
khoảng những năm đầu thập niên 80’s. Người ta không biết nên mua
đầu máy chạy băng Betamax hay VHS, một thứ băng do hãng JVC tung
ra để cạnh tranh với Betamax. Băng VHS sau cùng thắng cuộc và
chính là thứ băng hiện nay đang bị dĩa DVD lật đổ. Thật ra tại
các nước Á Châu, như Thái Lan, Hongkong và Singapore, khác với
các nước Âu Mỹ, trước khi đến dạng DVD, họ cũng trải qua chừng
10 năm chơi thứ dĩa rẻ tiền hơn gọi là VCD, tức Video Compact
Disk. VCD chứa ít bộ nhớ, và thu ít hình hơn dĩa loại DVD. Thí
dụ một phim thường dài khoảng 1 giờ rưỡi ngày trước cần đến 2
đĩa VCD, thì ngày nay chỉ chiếm có 1 dĩa DVD, mà còn thêm rất
nhiều thứ “phụ trương” khác.
Chuyện băng nhựa VHS làm bá chủ thị trường
chỉ trong vòng 25 năm tức một phần tư thế kỷ, cũng khá giống với
cái máy TELEX ngày xưa ưa dùng để gởi điện tín. Máy Telex thật
ra chỉ là “hậu thân” của một số phát minh kỹ thuật chung quanh
việc gửi tín hiệu đi xa bắt đầu từ cuối thế kỷ 19. Và việc xử
dụng máy kiểu Telex để gởi điện tín telegrams hay cablegrams
thật sự chỉ xảy ra vào thập niên 1950. Khác biệt lớn giữa máy
Telex và máy fax gồm có: (a) Telex thật ra không có viết bằng
dấu. Tiếng Việt không thể chuyển nguyên vẹn bằng điện tín nên
nhiều khi dễ bị hiểu lầm, hoặc nếu theo một phương pháp đánh dấu
nào đó, như kiểu biến dấu thành một chữ cái a-b-c đặt sau từ như
kiểu tiếng người Hmong viết theo mẫu tự Latinh, người nhận lại
phải học đầy đủ phương pháp đánh dấu đó mới có thể giải mã thư
nhận qua Telex. (Thí dụ về đánh dấu kiểu Telex: “ối” viết theo
kiểu điện tín telex thành ra [oosi], với: ô= [oo] / dấu sắc:
[s]. (b) Telex tốn kém hơn máy fax rất nhiều và thường phải thuê
riêng một “chuyên gia” xử dụng máy. Tuy nhiên văn kiện gởi nhận
cho nhau bằng Telex thường có hiệu quả pháp lý tại chỗ, bởi mỗi
một đơn vị Telex đều có mã số riêng và có dấu hiệu ghi lại khi
nhận được thư gửi. Điện tín dùng telex ngày xưa rất phổ biến tại
các nhà bưu chính, nhưng đến khoảng đầu thập kỷ 1990 nó được
thay thế bằng máy Fax, và cho đến đầu thế kỷ 21 – có thể nói rất
ít ai còn cần tới nhà bưu điện khi phải gởi gấp một cuộc nhắn
tin, mà hồi xưa người ta cần đến điện tín. Họ đã có sẵn email
hay gởi SMS qua các điện thoại di động. Để ý, tiến triển khoa
học kỹ thuật có vẻ tăng theo cấp số nhân. Cuộc đời của máy Telex
kéo dài gần nửa thế kỷ, trong khi băng nhựa ghi phim VHS (cho
mướn) chỉ kéo dài trên dưới 1/4 thế kỷ. Ứng viên kế tiếp, theo
đuôi băng nhựa VHS, đi vào con đường đào thải, chính là dĩa DVD
dưới dạng phim cho thuê. Lý do chính: Có sự cạnh tranh từ các
cao thủ với tuổi đời còn xanh hơn DVD là: Tivi “văng” tức Cable
TV, phim tải từ mạng xuống, các thứ truyền hình quốc tế xem từ
internet, hay bằng ăng-ten móc trên mái nhà, và ở tương lai gần:
xem Tivi bằng điện thoại di-động, v.v..
Câu chuyện xin mạn đàm kế tiếp là câu chuyện
về quyển album chứa hình ảnh photo của gia đình. Nó cũng đang có
triệu chứng bệnh trầm kha, nếu không nói nan y và đang chuyển
đến thời kỳ kết thúc terminal.
Xin được nhắc lại, trên toàn cầu, đặc biệt ở
các nước Tây Phương, thế hệ sinh ra sau thế chiến thứ hai,
thường gọi thế hệ sinh-sung tức baby-boom, lần lượt đi vào tuổi
hưu trí. Tương lai và trách nhiệm xã hội hiện đang được chuyền
sang thế hệ X, ra đời trong khoảng 1964 cho đến 1979. Điểm đặc
trưng nổi bật nhất của thời đại thế hệ X chính là mạng điện tử
toàn cầu internet và điện thoại di động cá nhân. Song song với
việc xử dụng Anh ngữ thường xuyên ở khắp nơi, cũng như thay đổi
khí hậu, và toàn cầu hoá về mậu dịch thương mại.
Nếu thế hệ sinh-sung mang nhiều đặc điểm “nhớ
đời”, nhất là trong khoảng thập niên 1960 đến khoảng đầu thập
niên 1970, như: cao trào nhạc Rock với nhiều tài năng như Elvis
Presley, The Beatles, the Rolling Stones, v.v.; giới Hippies tóc
dài – đi chân không; bắt đầu phong trào người mẫu thời trang
(Twiggy), điển hình bằng chiếc váy ngắn mini-skirt; vai trò quan
trọng trong xã hội của phim ảnh và Tivi; chiến tranh lạnh; tranh
đấu dân quyền tại Mỹ; v.v., thì thế hệ X, nối tiếp bằng thế hệ Y
(sinh ra đời vào khoảng những năm 1976-1991), đã đóng góp, và sẽ
được nhớ đến qua, những thứ như: máy điện toán cá nhân (tên gọi
lúc ban đầu), điện thoại di động, và nhất là internet và điện
thư email. Còn phải kể luôn cả: VCD (đặc biệt Hongkong /
Singapore), DVD, iPod, trang mạng Blogs, máy chụp ảnh dùng kỹ
thuật số, Màn hình phẳng cho Tivi và máy điện toán, thế hệ vươn
lên của hàng hiệu, phong trào ăn mặc đẹp và người mẫu thời
trang, v.v. Nói chung toàn là những thứ phải tiêu tiền hằng giây
hằng phút, theo sát với câu châm ngôn ngày trước: “Thì giờ là
tiền bạc”. Cũng như những thứ dễ đưa con người vào thế giới ảo,
và tránh chuyện đối diện, mặt giáp mặt với nhau. Thế hệ X cũng
còn được biết đến như một thế hệ mang nợ nần nhiều hạng nhì, chỉ
đứng sau lưng thế hệ đàn em là thế hệ Y, với tuổi đời vào năm
2008, từ khoảng 18-32.
Điểm đặc trưng chính giữa của thời đại hiện
giờ là đời sống càng ngày càng dựa vào kỹ thuật điện tử. Bất cứ
một thứ shop nào, nhất là nếu do một công ty làm chủ, thì khi bị
cúp điện hay máy điện toán bị hỏng, lập tức shop phải tạm ngừng
hoạt động. Thí dụ: trạm bán xăng – hay siêu thị, hoặc các thứ
tiệm bán tạp hoá nhỏ - thường đều phải tạm đóng cửa, khi máy
tính tiền không chạy, hoặc đường nối mạch điện toán bị hỏng hay
ngưng hoạt động. Điểm khác nữa là kiểu dáng hàng luôn thay đổi,
từ cái Tivi, iPod, cho đến điện thoại lưu động, hộp ghi trí nhớ,
máy in điện toán, máy ảnh dùng số, v.v.. Nếu mua một loại điện
thoại di động kiểu mới nhất vào đầu năm, đến cuối năm kiểu đó
trở thành kiểu cũ. So sánh một cái máy thu hình và âm thanh theo
dạng DVD thì rõ. Vào khoảng đầu thập kỷ 1990, một cái máy như
vậy (copy dĩa DVD) mang giá trên dưới $10000.00. Ngày nay giới
tiêu thụ có thể copy trên bất cứ 1 máy điện toán nào, hoặc nếu
muốn mua riêng một máy ghi thẳng từ chương trình Tivi, người ta
chỉ tốn chừng $180 là có thể mua được một “đầu máy” ghi DVD mới
tinh.
Thử xem qua ảnh hưởng của máy ảnh dùng số.
Lợi điểm thấy rõ của máy ảnh dùng số là nó thay thế ngay cho
loại máy Polaroid ngày xưa, và hay hơn rất nhiều. Chụp ảnh có
ngay. Nhanh hơn Polaroid và có thể chép ra nhiều bản, mệt nghỉ.
Thông thường nối kết với một máy điện toán. Ngày nay máy ảnh
dùng số cũng thường được gắn vào chiếc điện thoại di động, và
như vậy thì người ta lúc nào cũng có máy chụp ảnh trong tay.
Cũng giống như nhiều thứ dùng kỹ thuật tân tiến, máy ảnh dùng số
luôn thay đổi kiểu dáng và bình quân một kiểu dáng mới chỉ tồn
tại không quá 12 tháng. Tuy nhiên, từ lúc máy ảnh dùng số ra đời
cho đến khi nó trở thành phổ biến toàn cầu, đó lại là lúc các
tiệm rửa hình (tráng ảnh) chuẩn bị … dẹp tiệm, hoặc sang nhượng
shop để buôn bán thứ khác, hay để người khác khai thác thành một
hiệu in ảnh photo theo kỹ thuật số.
Đối với đời sống gia đình, quyển album sưu
tập hình ảnh dần dần bị bụi đóng lớp bởi ít khi người ta có hình
ảnh mới gắn thêm vào. Nhiều photo mới trong vài ba năm gần đây
đã bắt đầu được lưu trữ gọn gàng trong máy điện toán. Nhiều khi
trong máy để ở sở làm hay trong máy điện toán laptop mang đi.
Thay vào quyển sưu tập photo ngày xưa, giới kỹ thuật đã “phát
minh” ra khung ảnh dùng kỹ thuật số. Theo đó, một khung ảnh,
thường dưới khổ một trang giấy, có thể chứa đầy hình ảnh photo
gia đình, liên tiếp thay photo này sang qua photo kia, điều
khiển bằng dòng điện từ lỗ cắm trong nhà. Để khung ảnh dùng số ở
phòng khách, mỗi ngày ai đi qua đi lại đều có thể thấy đầy đủ
hình ảnh photo của mình từ nhỏ đến lớn, từ lúc mới biết đi, biết
yêu, cho tới hiện nay đang chống gậy tìm cặp mắt kính để xem
quyển “album” tự động dùng kỹ thuật số. Thật gọn gàng. Nhưng nó
làm … sao ấy. Và rủi ro có ăn trộm vào nhà, hay máy điện toán bị
hỏng, hoặc album tự động dùng số bị trục trặc kỹ thuật, tất cả
di ảnh đều tự động biến mất, chạy tuốt vào thế giới ảo mà không
hẹn ngày trở lại. Nên nhớ, hình như kẻ cắp ngày xưa không để ý
gì đến quyển album, nhưng ăn trộm thời bây giờ có vẻ rất thích
album dùng kỹ thuật số. Đó chính là phản ánh và ảo ảnh của kỹ
thuật trên đời sống con người, trong thời đại mới.
Nhắc tới kỹ thuật dùng số, đến thời đại tin
học và internet, mà không nói đến chuyện biến đổi trong chuyện
viết lách, xuất bản cũng là điều thiếu sót. Quan trọng nhất
chúng ta thấy trong vòng mười năm nay, từ hồi internet được lăng
xê trên toàn cầu, nhiều thay đổi cần được ghi nhớ như sau:
(a)
Hồi xưa, chỉ
có một số nhỏ và nhất định về các nhà văn, nhà báo, hay thi sĩ.
Bây giờ con số đó càng ngày càng tăng, theo kiểu ếch-pô-nen-sơl,
tức cấp số nhân, và trong một tương lai gần, có thể nói cứ trong
5-6 người thì thế nào cũng có một nhà văn, nhà báo. Ít ra trong
thế giới ảo của internet.
Tìm
hiểu hiện tượng này sẽ dễ dàng hơn khi ta để ý đến những yếu tố
ràng buộc chung quanh việc viết lách ngày trước. Nhìn vào vấn đề
một cách đơn giản, chúng ta sẽ thấy định nghĩa đơn sơ nhất về
một nhà văn, nhà báo, hay thi sĩ – là những người viết một cái
gì đó, mà có người khác đọc - và những gì viết thường vô thưởng
vô phạt hay không liên can đến người đọc, ít ra trong tính cách
trực tiếp, cá nhân. Số người khác đọc (trừ những người thân như
chồng con) càng tăng bao nhiêu, thì người viết càng nổi tiếng
bấy nhiêu. Và sở dĩ ngày trước con số nhà văn, nhà báo, nhà thơ,
lúc nào cũng có vẻ bị hạn chế (chỉ chừng ấy thôi) là chung qui
cũng do ở phương tiện viết lách và “phát hành”, nếu không kể đến
công việc khó khăn là phải trèo qua bức tường “mặc cảm viết
lách”.
Dạng
đơn sơ nhất của việc bắt đầu sự nghiệp viết lách ngày trước nằm
ở tuổi học trò. Đó là viết vào những quyển tập “lưu bút” ngày
xưa, hoặc những tập thơ của bạn hữu với sức “lưu hành” hết sức
hạn chế. Và thường sự nghiệp viết lách được chấm dứt sau khi rời
mái nhà trường. May mắn lắm những nhà văn tuổi thơ đó có được
một hai bài viết, truyện ngắn hay thơ, đã được đăng trong một
giai phẩm xuân nào đó của trường, hay phô trương qua “bích báo”
(dán tường).
(b)
Một cái
“test” kế tiếp để một “văng sĩ” ngày xưa được chứng nhận là đã
phát huy tài năng của mình, khi truyện ngắn hay bài thơ của văn
sĩ đó được in bằng một “phông” chữ đàng hoàng, hay ít lắm được
đánh máy chữ, rồi in “ronéo”, chứ không phải đơn thuần chép
tay.
(c)
Điều kiện
thứ ba, cũng rất quan trọng, là người viết, bất kể già hay trẻ,
lúc nào cũng cần có chất liệu, chất xám, tin liệu hay một số ý
tưởng gì để viết. Ngày trước, nó đòi hỏi người (muốn) viết, phải
đọc sách báo thật nhiều. Phải ưa tán láo. Thích đọc tiểu thuyết,
đọc truyện Tàu, truyện kiếm hiệp, truyện chưởng, truyện trinh
thám, chuyện tình ướt át, … Hay mê xem chiếu bóng, xi-nê. Ngày
nay, với việc nổ tung tin liệu trên internet và email, bất cứ ai
cũng đều có thể tiếp cận đến những thứ tin liệu mới nhất, nhiều
khi chỉ xảy ra hay có trước đó chừng vài phút. Người (muốn) viết
nào cũng có thể tập tành nghề viết bằng cách cắt hoặc trích
những tin tức, những bài bình luận, những bài thơ trào phúng hay
còn ướt chưa khô, những bức ảnh đẹp hay tranh châm biếm, các
chuyện tiếu lâm, … Rồi gởi đi cho nhiều địa chỉ bằng hữu khác
nhau trên mạng. Voilà, một ngôi sao vừa chớm nở.
(d)
Chúng ta có
thể thấy tất cả các điều kiện (a), (b) và (c) kể trên ngày nay
đều được phương tiện email / internet cung cấp đầy đủ. Rất đầy
đủ. Từ đó chuyện nảy sinh ra nhiều nhà văn, nhà báo, nhà thơ, kí
giả, bình luận gia về thời cuộc, những nhà tư tưởng lớn nhỏ, hay
mini, … với tốc độ MegaRAM, trong những năm gần đây, trở nên một
chuyện hết sức thường tình và đương nhiên.
Phương tiện internet đã đem lại cho xã hội
loài người nhiều nhà văn, nhà báo mang tính cách tức thời, cũng
giống như chuyện rèn luyện để trở thành ca sĩ, với những giọng
hát “điêu luyện”, ngày nay ai cũng có thể đạt được, nhờ ở bộ máy
Karaoke, một phát minh đóng góp cũng khá quan trọng của người
Nhật vào cuối thế kỷ vừa qua.
Biến đổi xã hội trong mấy mươi năm qua cũng
đã chia sẻ ảnh hưởng không ít đối với chuyện học vấn, huấn
nghiệp và giáo dục nói chung. Sự thật trái với suy tưởng thường
có của một số ít người là xã hội Âu Mỹ đã đi đến hoàn hảo trong
tổ chức, rất nhiều chính phủ các nước tiên tiến vẫn thường xuyên
gặp khó khăn, hoặc đôi khi phải bó tay trước những biến đổi
thường xuyên của xã hội. Thông thường nhất có lẽ là những vấn đề
liên quan đến y tế, huấn nghiệp và giáo dục. Nhất là huấn nghiệp
và giáo dục, bởi nó ảnh hưởng đến nhiều thế hệ mai sau. Nhiều
người còn nhớ ở đầu thế kỷ 20 có rất ít ngành dạy nghề và ít thứ
bằng cấp đại học khác nhau. Dạy nghề chỉ có nghề điện, đông
lạnh, máy tàu, hàn xì, cơ khí, thợ nề, thợ mộc, v.v. Ở các
trường đại học thì có các phân khoa như: Y, Dược, Nha, Khoa Học,
Luật, Sư Phạm, Văn Khoa, Kiến Trúc và Kỹ Sư. Ở nhiều nước Tây
Phương, vào đầu thế kỷ 20 người ta chỉ có 2 loại kỹ sư: kỹ sư
dân chính, và kỹ sư quân sự. Đến cuối thế kỷ 20, mọi việc liên
hệ đến giáo dục hay huấn nghiệp đều phân chia ra nhiều nhánh,
nhiều ngành khác nhau, và xáo trộn qua lại giữa chuyện huấn
nghiệp thuần túy và giáo dục khoa bảng, dựa trên nhu cầu thời
đại và một phần ở thị hiếu giới trẻ. Huấn nghiệp và giáo dục đi
đôi với việc làm và nhu cầu nhân dụng, và trên cùng là nền kinh
tế quốc gia.
Ở cấp huấn nghiệp, nảy sinh ra nhiều khoá
huấn nghiệp cho những “nghề” tạm gọi khá mới: nấu ăn và đầu bếp,
vẽ kiểu thời trang, trang điểm, sửa sắc đẹp, làm “nail”, huấn
luyện thể thao, thể dục thẩm mỹ, chăm sóc ăn kiêng, quay phim
ảnh video, kỹ thuật âm thanh, xử dụng điện toán, sửa chữa máy
điện toán, thảo chương điện toán, kế toán, tham vấn di trú,
thông dịch, địa ốc, tài chánh, thiết kế đầu tư, v.v.
Đại học cũng bắt đầu dao động và trải qua
nhiều biến đổi quan trọng trong nhiều thập niên qua, và cho đến
nay thì đã lâm vào tình trạng thường xuyên thay đổi, không có cơ
ổn định lâu dài. Nhiều nước, tuy mang tiếng văn minh tiến bộ,
như Nhật chẳng hạn, lại luôn bị khó khăn trầm kha về vấn đề giáo
dục. Ở một nước từ xưa vẫn nổi tiếng về nạn tự tử (bình quân cứ
mỗi 15 phút là có 1 người Nhật tự tử - và nước Nhật có gấp hai
lần số người tự tử so với Mĩ nhưng dân số chỉ bằng phân nửa nước
Mĩ) - tại Nhật ngày nay, chuyện tự tử đã bắt đầu lan rộng vào
giới trẻ còn đang đi học trung học hay cao đẳng. Đa số liên quan
đến việc chán đời bởi đường học có nhiều chông gai, và tương lai
còn mù mịt. Một con số thống kê trong năm 2003 cho biết số học
sinh trung học tự kết liễu cuộc đời lên gần 30% so với năm trước
với tổng số là 225 em học sinh. Tuy nhiên Nhật là nước không
được xếp vào hạng 1 tới 10 về số tự tử cao. Các giải quán quân
này dành cho nhiều nước ở Đông Âu, như Lithuania hạng 1
(42/100000) và Nga, hạng 2 (37/100000).
Và cũng giống như cấp cao đẳng hay kỹ thuật,
giáo dục tại đại học thường xuyên biến đổi trong mấy mươi năm
qua và không còn như những thập niên đầu của thế kỷ 20, phân
khoa các ngành học tại đại học đã lên đến mức hằng trăm, đếm
không xiết. Phân khoa nào cũng phân tán ra, chia thành nhiều bộ
môn khác nhau. Điện ban đầu sinh ra điện-tử, rồi đến điện toán.
Điện toán tách ra hai ngành riêng: kỹ sư và khoa học. Hoặc chia
theo kiểu phần mềm, phần cứng, v.v. Tương tự, phân khoa Văn
Khoa, từ khoảng những thập niên cuối thế kỷ 20, nảy sinh, và
tách ra thành nhiều khoa học mới: Xã Hội học, Ngôn ngữ học,
Chính trị học, Chính quyền và chính sách học, Bang giao quốc tế
học, … Nhiều bộ môn “tương đối mới mẻ” hay thoát thai từ những
ngành khác cũng len chân vào cấp đại học. Xin kể sơ sơ: tài
chánh, thị trường chứng khoán, quản lý thương vụ (mang tên hấp
dẫn một thời là MBA), thiết kế đầu tư, làm bánh mì thịt nướng
hamburger (ở Mĩ có một đại học riêng cho McDonald’s), tính toán
cho ngành bảo hiểm, nhãn khoa (ở đây có chút ít lấn cấn về danh
xưng: Việt Nam gọi Bác sĩ Nhãn Khoa, ở Úc gọi Optometrist, và có
thể giáo trình, hay môn học lại khác nhau), phim ảnh, kí giả,
quảng cáo, xây dựng, thông dịch, kịch nghệ, âm nhạc, thư viện,
địa ốc, v.v.
Cũng khác với lối suy nghĩ của một số phụ
huynh, việc mang nhiều ngành nghề mới lên cấp đại học thật ra
cũng chẳng giải quyết được gì ở nhu cầu nhân dụng và việc làm.
Bởi môi trường đại học mang truyền thống lâu đời nặng phần lí
thuyết nhiều hơn thực hành, mà rất nhiều ngành nghề “mới” lại
đòi hỏi thực hành hơn lí thuyết. Điển hình là những ngành mới
liên hệ đến thời trang, quảng cáo, hay kỹ nghệ giải trí, kịch
nghệ và phim ảnh. Những sinh viên theo đuổi các ngành học này
tại đại học sau khi tốt nghiệp thường phải qua một hai khoá học
chuyên về thực hành tại những trường cao đẳng “dân lập” khác
nữa, mới hy vọng tìm được việc làm.
Thế, về phương diện suy nghĩ và tư tưởng, có
gì nổi bật nhất, khác biệt nhất giữa những thập niên 60-70 ở thế
kỷ trước, với cuối thế kỷ 20, chuyển sang thế kỷ 21 như hiện
nay? Thật ra có rất nhiều, và cũng nhiều như cách mạng internet
và điện thoại di động, hay kỹ thuật dùng số, v.v. Nhưng khó nhận
diện và xác định hơn, bởi ngay cả những nhà khoa học về xã hội
cũng đều bị cơn gió lốc của tiến bộ khoa học, kỹ thuật lôi cuốn,
để có thể bình tâm đứng vững mà phân tích. Đó là không kể đến
việc đầu óc họ luôn bị phân tán bởi những đề tài mới mẻ và cấp
bách cần phải chú tâm như: Việc di cư của những chủng dân khác
nhau đến với các nước tân tiến nhưng tương đối an bình mỗi khi
có giặc giã loạn lạc ở địa phương; Toàn cầu hoá giao thương mậu
dịch; Mâu thuẫn giữa khối Ki-Tô (Âu Mỹ) và Muslim càng ngày càng
gay gắt, khó khăn hơn thời chiến tranh lạnh rất nhiều; Thay đổi
khí hậu thời tiết do việc ô nhiễm ở thời kì quá độ của công nghệ
hoá toàn cầu; v.v..
Xin điểm sơ qua một vài điểm đáng chú ý.
-
Huyền thoại nước Nhật là nước Á Châu duy nhất canh tân bị
xụp đổ:
Ở thế
kỷ trước, nhất là trong hai thập niên 60 và 70, người Tây Phương
thấy nước Nhật canh tân nhanh chóng và theo kịp sát với phương
Tây, nên việc đầu tiên là họ tìm xem những gì nước Nhật có, khác
với các nước Á Châu chung quanh. Từ đó một thứ huyền thoại về
nước Nhật number one nhanh chóng được tạo dựng, chung quanh
những truyền thống văn hoá rất hay của người Nhật, hoặc một nước
Nhật “thuần chủng”, mà nhiều nước Á Đông khác không có hoặc còn
nấp kín dưới một số hình thái khác. Đến cuối thập kỷ 1980, lần
lượt xuất hiện năm sáu con rồng Á Châu tăng trưởng nhanh chóng
về kinh tế, như: Hong Kong, Hàn Quốc, Singapore, Taiwan, Thái
Lan, Mã Lai Á, Inđônêxia, v.v. Lúc đó người Tây Phương chưa kịp
đưa ra lí giải mới để dung hoà với lí giải có sẵn từ trước dựa
trên mô-hình nước Nhật, (ngoài hai lí lẽ thường có là: ổn định
chính trị, và đầu tư nước ngoài), thì đùng một cái, Trung Quốc
chạy ào ra đằng trước và hiện nay đã trở nên nền kinh tế lớn bậc
thứ tư, chỉ sau lưng Hoa Kỳ, Nhật và Đức. Và nhiều nhà bình luận
cho rằng Trung Hoa sẽ qua mặt Đức trong vòng vài tháng tới, tức
khoảng đầu năm 2008. Trung quốc hiện còn là chủ nợ cho vay lãi
thấp đối với nhiều quốc gia, trong đó có Hoa Kì, để những nước
này bắt buộc phải tiếp tục nhập khẩu và tiêu thụ hàng hoá Trung
Quốc.
-
Nhiều quan-niệm mới được lăng xê theo với “toàn cầu hoá”:
Rất
nhiều quan niệm mới (thật ra cũng không phải hoàn toàn mới, hay
theo kiểu bình mới rượu cũ), càng ngày càng ăn sâu vào tâm khảm
của mọi người trên thế giới. Trong đó, quan trọng nhất phải kể
đến “Hiện đại”, thường xem như bao hàm các thứ như: Khoa Học,
Học thuật và Học hỏi, Dân Chủ, Toàn Cầu hoá.
Và cũng
quan trọng không kém với “hiện đại” là những vấn đề thiết thực
khác như “Thay đổi khí hậu”, “Cạn nguồn Tài nguyên”, và một vấn
đề rất xa xưa, xưa từ lúc bắt đầu có loài người. Đó là “Tôn
giáo”.
Mỗi một đề tài này đòi hỏi ít lắm là trọn một
số báo với nhiều người tham gia thảo luận mới có thể “bắt mạch”
hay “khơi mạch” được.
NN
Trở về Trang Chính |