|
Cách đây vài năm, chúng tôi đọc được đâu đó, bài
viết của một vị thuộc nhóm chuyên gia phụ trách về vụ khai quật
thành Đại La. Đại khái, tác giả đã thành thật và thận trọng, cho
biết kiến thức hiện thời của giới hữu trách về sử, khảo cổ, cũng
như dân tộc học, áp dụng vào 'di chỉ' Đại La, thật ra chưa được
đầy đủ để có thể lý giải toàn bộ vấn đề với mức chính xác cao.
Nên đành phải tạm gác lại một thời gian. Trước đó ít lâu chúng
tôi được một người bạn Tân Tây Lan, bà Allison Vũ, một chuyên
gia về đồ sứ xứ An-Nam, cho biết một trong những điểm khá li kì
của kiến trúc Đại La, chính là sắc thái mang nhiều ảnh hưởng
Chiêm Thành (Chăm), thay vì Trung Hoa hay 'Việt tộc', như thường
nghĩ.
Gần đây, đúng vào lúc chuẩn bị viết bài này,
chúng tôi được đọc một quyển sách cũ của Lê Văn Siêu [1], trong
đó học giả họ Lê có ghi, trang 97:
'Tuy nhiên, sự thờ thần tượng thể cách hoá thành
linga của Brahman, Visnu, Siva thì người Việt không thờ theo, mà
trong các đền đài vua quan hay các anh hùng dân tộc, như ở đền
Lý Bát Đế - Bắc Ninh, ở lăng quận công Nguyễn Diễn cạnh chùa
Lim, ở chùa Thầy - Sơn Tây, đều có hai phỗng đá chầu hầu tạc
theo hình người Chàm, quỳ chân chắp tay phía trước, bụng phệ và
mắt lõm. Nói không thờ theo là nói chung tất cả, chớ cũng có
làng thờ ông Đùng bà Đàng (phiên âm tiếng Chàm Yan nghĩa là linh
ứng) hàng năm còn rước thần tượng Linga và Yoni
[9] bằng gỗ
sơn son thiếp vàng. Có lẽ đó là phong tục cũ của một làng xưa có
những tù binh Chàm bị nhà vua bắt an trí và bắt khai khẩn ruộng
đất.'
Xin để ý hai thứ lí giải khá phổ biến trong giới
nghiên cứu Việt Nam, thường dựa vào mớ lý thuyết của các học giả
Âu Tây, dựa rất nhiều vào nguyên lý Nhị Nguyên, tiêu biểu qua
phân biệt 'Họ và Ta': (i) Ảnh hưởng văn hoá Chiêm [12] trên xứ
Việt cổ toàn là do ở dấu vết các tù binh Chiêm. (ii) 'Nước'
Chiêm Thành tan rã bởi họ lo chinh chiến nhiều quá, không để ý
đến việc kiến thiết an dân.
Chúng tôi, qua bài này, sẽ xin phép trình bày một
khía cạnh khác của lý thuyết ở đây đặt 'tập trung' về phía Nam -
và một phần của kết quả sẽ đưa đến hai thứ lý giải hoàn toàn
khác biệt với các thứ đã có sẵn từ trước.
Nhưng trước hết xin ghi thêm về lối làm việc của
những học giả Tây phương trong vấn đề cổ sử Á Đông. Có thể tóm
tắt một vài điểm đặc trưng như sau.
¨
Theo phương pháp khoa học, việc đầu tiên của họ
là phân loại, xếp nhóm với nhau. Nhất là về ngôn ngữ. Đáng kể ở
Đông Nam Á, họ chia thành hai loại chính: Nam Á (Austroasiatic)
và Nam đảo (Austronesian). Nam-Á có 2 nhánh: Môn Khmer và Munda,
hiện diện ở Đông Bắc Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Lào, Việt Nam,
một hai tỉnh miền Nam Trung Hoa, Mã-Lay-Á, và rất nhiều đảo chạy
dọc theo Ấn Độ Dương. Nhóm tiếng Nam-Đảo trong khi đó có mặt từ
đảo Madagascar ở Phi Châu đến đảo Easter ở Thái bình Dương, thọc
lên tận Formosa (Đài Loan), và bao gồm quần đảo Inđô-nêxia,
xuống tận Tân Tây Lan.
¨
Ở thời buổi ban đầu trong việc nghiên cứu về cổ
sử và ngôn ngữ các nước Đông Nam Á, các học giả phương Tây có lẽ
chưa đạt được hiểu biết đầy đủ về những chuyện hết sức gút mắt
của văn hoá từng tộc người ở vùng này, và có thể cũng mang chút
ít thành kiến: Họ đặt tên các nhóm ngôn ngữ rồi dẫn đến chủng
tộc, dựa vào quan sát việc tộc người nào có đền đài và kiến trúc
cổ, to và đẹp nhất. Hay dân chỗ nào đông và có nền văn hoá lẫy
lừng nhất. Từ đó ta thấy Hán-Tạng, Tạng-Miến, Mã-Lay, Môn-Khmer,
Indonesia, rồi Thai-Kadai trở thành những ứng viên sáng giá
nhất. Bởi chủng Việt, một phần lớn đã sát nhập chung với tộc Hoa
Hạ tạo nên người Hán [4], phần kia nằm dưới ách đô hộ của người
Pháp, nên tiếng Việt nằm ngoài vòng sắp xếp của các học giả Tây
phương. Dù vậy họ đoan chắc tiếng Việt, ít ra một phần lớn tiếng
Nôm xưa, nằm trong nhóm Môn-Khmer, thuộc khối Nam-Á.
¨
Phối hợp vào đó với thứ tiền đề đã có sẵn, dựa
trên sự kiện người vượn đảo Java có trước người vượn Bắc Kinh,
họ tạo dựng nên một số các tiền đề phụ, mà kết quả là luôn luôn
đánh lạc hướng mọi công trình tìm về cội nguồn dân tộc, nghiên
cứu về cổ sử, ngôn ngữ, và luôn cả khảo cổ. Tóm tắt có chừng 4
hướng di-chuyển của người tiền sử: Bắc xuống Nam, Nam lên Bắc,
Đông sang Tây, Tây qua Đông. (Thuyết Địa Đàng Phương Đông của
Oppenheimer là một thứ thuyết với hàm ý: từ Nam lên Bắc và từ
Đông sang Tây). Thí dụ nôm na hơn: Họ thường cho người Chàm
(Chăm) là thuộc gốc Malayo-Polynesian, tức Mã-Lay+Đa-đảo. Tức
nhóm người Chàm đầu tiên phải là nhóm người dùng thuyền bè từ
các hải đảo phía Nam, ghé vào bán đảo Mã Lay, rủ rê một số đồng
bào thích phiêu lưu mạo hiểm, cùng nhau chèo thuyền về phía Bắc
rồi sau cùng đổ bộ lên khu vực Hội An sau này. Kiến tạo nên nền
văn hoá Sa Huỳnh nổi tiếng. Ngược lại, họ cho dân đa-đảo xuất
phát từ đảo Formosa, tức Đài Loan ngày nay. Tiếp tục suy luận:
Dân Formosa xưa có tiếng nói hơi giống dân Hoa Nam. Do đó, khối
Đa đảo được xếp chung với thổ dân Formosa vào nhóm Nam-Đảo, tức
Austronesian. Giả thuyết người Java có trước người Bắc Kinh
thông thường đưa đến việc cho vùng đất Mã-Lai-Á chính là thủy tổ
dân Á Châu. Tức dân Java mò lên tận Trung Hoa trước. Vài nghìn
năm sau, vào lúc cực điểm của chiến tranh Đông Chu liệt quốc, họ
lại chạy ngược trở xuống, trở về Nam.
Toàn bộ các thứ tiền đề liên hệ đến 3 điểm chính
yếu kể trên đã đưa đến vô số những lý thuyết về ngôn ngữ, chủng
tộc, và lịch sử của các thứ dân miền Đông Nam Á kéo dài suốt thế
kỷ 20. Đa số các học giả, nhất là người gốc Á Đông, đều không
ngờ rằng, tất cả những tiền đề đó đã được dàn dựng từ thời xa
xưa. Khi học giả Tây phương hãy chưa am tường, nắm vững hay phối
hợp được các chi tiết hết sức gay cấn và đôi khi mâu thuẫn với
nhau. Trên cơ bản, theo thiển ý, những lý thuyết có vẻ rất khoa
học và đầy ấn tượng đó có thể chưá khá nhiều lổng chổng lấn cấn.
Xin thử đưa ra vài thí dụ, như sau.
q
Điển hình nhất trong lối sắp xếp phân biệt Nam Á
với Nam Đảo chính là vấn đề xứ Chăm-pa. Quyển 'Luật tục Chăm &
Luật tục Raglai' [5], dựa vào lối phân biệt Nam-Á và Nam-đảo của
các tác giả Tây phương, cho rằng: 'Người Chăm thuộc chủng tộc
Nam Á, tiếng nói của họ rất gần gũi với các dân tộc Raglai,
Churu, Jarai, Êđê, thuộc ngôn ngữ Austronesian (nhóm ngôn ngữ
Malayo-Polynesian).' Chủng tộc thuộc khối Nam-Á, nhưng ngôn
ngữ lại theo phe Nam Đảo. Rõ ràng có chuyện lấn cấn đâu đó. Hay
nôm na hơn, lấy râu ông nọ cắm vào cằm bà kia. Thêm một thí dụ
khác: Theo Nguyễn Đức Hiệp [13] một số sắc người dân tộc ở phía
Nam, như: Mạ, Stiêng, Churu, v.v. thường có tiếng nói được xếp
vào nhóm Môn-Khmer, nhưng nhiều học giả Tây phương lại xếp tộc
chủng (hoặc đôi khi cả ngôn ngữ), của họ vào nhóm Nam-Đảo.
q
Nhìn lại lối sắp xếp Nam Đảo với Nam Á, ta thấy
họ sắp tiếng Mã-Lay vào nhóm Nam Á, nhưng In-đô-nê-xia lại chạy
vào nhóm Nam Đảo. Thế, chúng ta được biết tiếng Mã Lay rất giống
tiếng In-đô (như tiếng Lào giống tiếng Thái Lan). Như vậy toàn
bộ việc phân biệt Nam Á và Nam Đảo chắc chắn đã tổng quát hoá
vấn đề bằng một đường lối nào đó khá li kì.
q
Lối phân chia Nam Đảo / Nam Á, đem vào áp dụng
cho người Chăm rất dễ bị gảy đổ. Bởi một mặt, người Tây phương
thấy người Chăm giống người Việt và Khmer, như Mường ở giữa Thái
và Việt. Tam đoạn luận tiếp theo (mà người Việt thuộc khối Nam
Á), sẽ bắt buộc sắp người Chăm vào nhóm Nam Á. Mặt khác, họ lại
thấy tiếng Chăm giống tiếng Mã Lai - phối hợp với tiếng Đa đảo,
nên họ cho tiếng Chăm thuộc khối Nam Đảo. Nhưng họ vẫn chưa
'shuua', và để cho chắc ăn, họ đặt ra một phân loại ngôn ngữ
khác dành cho Chàm và Mã Lai: Malayo-Polynesian (Mã Lay - Đa
đảo).
q
Phân biệt Nam đảo / Nam Á của mấy bậc tiền bối
Tây phương đã vô tình tảng lờ đi khối ngôn ngữ của dân Bách Việt
ở Hoa Nam. Qua những bài trước chúng ta đã thấy rất nhiều dấu
vết của những phương ngữ Hoa Nam trên tiếng Việt. Thế nhưng, các
phương ngữ Hoa Nam lại cho vào nhóm Hán-Tạng, trong khi Việt lại
thuộc hệ Nam Á. Ảnh hưởng biến chuyển giữa các phương ngữ Bách
Việt cũng phản ánh đầy đủ trong các thứ tiếng Nam đảo (Đa đảo).
Thí dụ: 'Cẩu' hay 'Kiủ' mang nghĩa con Chó. Sang đến nhiều đảo
Thái Bình Dương, 'Chó' ở tiếng Bách Việt [Kiủ => Kủ] trở thành
[kuli]. Nhưng tại Tân Tây Lan, dân Maori gọi đó [kuri]. Thấy rõ
âm [l] ([kuli]) ở các khối dân Nam đảo trở thành [r]: [kuri],
trong tiếng Maori. [L] => [R] y hệt như 'Fried Rice' (cơm chiên)
phát âm như '"Flied" Lice' (Lice= rận) kiểu người Quảng Đông,
bởi tiếng họ không có âm [R] như Mon-Khmer.
q
Lộn xộn trong câu chuyện khoa học về Đông Nam Á
của mấy ông Tây phải kể đến xứ Hải Nam. Từ xưa đến nay, có lẽ
người Hải Nam nào cũng biết, ngoài những món độc chiêu: cơm gà
Hải-Nam, trồng nhiều cây dừa (tiếng HN: [ya zhi]), nhảy múa theo
nhịp đập hai thanh tre - tộc người nguyên thủy bản địa của xứ
Hải-Nam chính là Miêu tộc và Lê tộc (Miao & Li). Và tiếng Hải
Nam là một thứ tiếng 'thuộc nhóm Hán-Tạng' (do mấy học giả Tây
phương phân loại), nhưng chỉ có 1 thinh, y hệt như các thứ tiếng
Inđô-nêxia, Mã-Lay, và nhất là tiếng Khmer. Gần đây họ lại đổi ý
và cho tiếng Hải Nam giống Mã-Lay nhất. Xin để ý hiện tượng các
'cặp bài trùng' ưa nương tựa nhau: Âu (Việt)+Lạc (Việt) {tức
Thái-Việt}, Hẹ-Miêu, Miêu-Dao (Hmong-Mien), Môn-Khmer, Thái-Hẹ,
Thái-Mân, Miêu-Lê, v.v. Xin tập trung và dừng lại ở Lê tộc (Li
zu
黎族
), một trong 2 tộc người bản địa Hải Nam. Sách vở
các học giả Âu Mỹ không hề liên kết tộc người cốt lõi của người
Chăm với người Hải Nam, và khá mơ hồ bất nhất với tộc Lê ở Hải
Nam. Từ xưa đến giờ có lẽ chưa một sử gia nào, đặc biệt Hoa hay
Việt, đưa ra lí giải hiện tượng ghi lại ở một vài tài liệu rải
rác đó đây [6][7]: 'Sau khi lính Chiêm bị bắt làm tù binh hay nô
lệ ở nước An-Nam hay Đại Việt, lúc trốn thoát được, họ có khuynh
hướng trốn về ... Hải Nam'. Theo thiển ý, nguyên do chính của
thế bí Nam-đảo / Nam-Á / Malayo-Polynesian / Mon-Khmer / Li,
trong vấn đề Chăm-pa & Hải-Nam chính là lối phân biệt hết sức
bất chợt, thiếu thốn hiểu biết rành rọt các chi tiết gút mắt của
ngôn ngữ và chủng tộc, ở Đông Nam Á.
Lý thuyết chúng tôi ở đây đặc biệt không
dựa trên các tiền đề quen thuộc Tây phương:
(i) Xuất xứ: Java hay Peking. (ii) Nếu ngôn ngữ
mang dấu Malayo-Polynesian, thì tộc người đó có xuất xứ từ phía
Mã Lai - Đa đảo. (iii) Tộc người thuần chủng và ngôn ngữ ở thời
cổ đại vay mượn lẫn nhau [22]. Và cũng không dựa vào thứ tiền đề
nhiều nhà nghiên cứu Việt rất thích: văn hoá Hoà Bình hay Đông
Sơn là thứ văn hoá thủy tổ trong vùng. Sự thật nhà nghiên cứu
Tây phương có khuynh hướng dùng tên di chỉ họ khai quật được
(đầu tiên) để làm tên chung cho thứ văn hoá cùng thể loại. Nó
hoàn toàn không có nghĩa đó là địa điểm trước tiên của thứ văn
hoá đó. Đặc biệt không thể gọi ngay là 'văn minh'. Điểm này đã
được Wilhelm G. Solheim II [24] xác nhận, khi ông cho biết người
ta đã tìm thấy tại phía Bắc Thái Lan khuôn đúc đồng hai lớp có
tuổi đời trên 3000 năm trước C.N..
Ngược lại chúng tôi cố gắng thiết lập một số quan
điểm nền tảng:
1)
Không tập trung ở, hoặc xin tạm
gác, nguồn gốc nguyên thủy - ở thời xa xưa, cách đây trên 4000
năm: Chúng tôi đã dựa vào các nhận xét sau. Thứ nhất, không nhất
thiết lập quốc càng lâu chừng nào, dân tộc càng hưởng được nhiều
hạnh phúc thái bình, hay càng giàu mạnh chừng nấy. Thái-Lan lập
quốc rất muộn, sau thế kỷ thứ 10, nhưng Thái-Lan luôn giữ vững
nền độc lập trước sức tiến của Tây phương, và ngày nay giữ ngôi
vị xuất khẩu gạo hạng 1 đúng như truyền thống tổ tiên họ là Yue
tộc viết với bộ Mễ (gạo):
粤.
Xin-ga-po (Singapore) 'lập quốc' không đầy một thế kỷ nhưng mức
lương bình quân đã bắt đầu qua mặt lợi tức người Úc. Nước Hoa Kỳ
được khám phá vào khoảng thời gian các nước Âu Châu còn tranh
hùng xưng bá với nhau, nhưng chỉ trong vòng hai trăm năm trở
thành minh chủ các quốc gia Tây phương. Úc, Tân Tây Lan, Gia nã
Đại, có tuổi đời non trẻ hơn rất nhiều nước ở Á Châu, nhưng mức
sống thì đi trước cả trăm năm. Thứ hai, lịch sử, văn hoá, văn
minh, cũng như cá tính dân tộc ngày nay được hun đúc cao lắm là
2500 năm. Thường chỉ khoảng 500-1000 năm mà thôi. Trong khoảng
thời gian dài đó có bao nhiêu chuyện vật đổi sao dời, di dân hợp
chủng đủ thứ. Nếu muốn hiểu rõ lịch sử, ưu tiên số một cần dành
cho khoảng thời gian 2500 trở lại đây thôi. Thêm vào đó, có lẽ
rất ít quốc gia trên thế giới, kể cả người Ý và người Hoa, có
thể tự hào rằng họ hiểu biết rõ về cổ sử trước đây trên 2500
năm.
2)
Không dựa vào lối phân loại thông
thường của Âu Mỹ để từ đó cho rằng tộc này là hậu duệ tộc kia.
Thí dụ: Chăm là Malayo-Polynesian, như vậy người Chăm là hậu duệ
của hai chủng Mã Lai và Đa đảo. Hay tiếng Việt có nhiều từ giống
tiếng Mã Lai, nên người Việt thuộc Mã Lai đợt I theo kiểu thuyết
Mã Lai [7]. Ngược lại, chúng tôi đặt tập trung ở các chi chủng:
Môn-Khmer, Lê tộc, Thái-cổ, Hakka, Mân, Ngô, Hmong-Mien, Đa-đảo,
v.v. Sau đó, tìm những đặc tính riêng của từng tộc người. Đặc
biệt nhất, các tính chất ngôn ngữ và văn hoá. Sau đó, nếu thấy
dân một nước nào có những tính đặc trưng dân tộc nào đó, chúng
tôi sẽ đi đến kết luận tạm: có sự hiện diện của tộc đó trong
lòng dân nước kia. Thí dụ: dân bản địa ở Hải Nam có món vũ ống
tre. Dân Phi-líp-Pin cũng có vũ múa ống tre. Do đó một thứ tộc
bản địa Hải Nam (người Lê) đã có mặt ở Phi-líp-Pin. Inđônêxia có
trống đồng, Thái Lan có trống đồng, Việt Nam (phía Bắc), và khu
Vân Nam cũng có trống đồng. Như vậy có một thứ tộc nào đó ngày
trước, chuyên đúc chế trống đồng đã có mặt tại những nơi có
trống đồng. Chúng tôi sẽ tạm gác lại tính tự hào dân tộc thường
đổ dồn nổ lực nghiên cứu xem xuất xứ nó ở đâu. Và tiền đề quan
trọng chúng tôi đề ra: Gần như tất cả dân tộc miền Đông Nam Á
đều là hợp chủng. Có thể một vài quốc gia có một tộc chủ lực
chiếm đa số, nhưng thường thường nằm ở tình trạng một chín một
mười.
3)
Không dựa vào chuyện vay mượn 'ngôn
ngữ' ở thời cổ đại [22]. Chúng tôi cho đó chuyện bất khả thi, ít
nhất trên bình diện tổng quát, bởi thời đó không có báo chí,
radio, Tivi, internet, điện thoại cầm tay, v.v. Không lẽ khi bí
về sự vật hay động tác nào đó, người bộ lạc này phải cỡi trâu
hay voi, hoặc chạy bộ để cho khoẻ và tiêu mỡ cholesterol, sang
bộ lạc hàng xóm để hỏi họ dùng tiếng gì để chỉ việc đó. Chỉ có
chuyện hỗn hợp các thứ tiếng của các bộ lạc khác nhau. Như đã đề
cập trong một bài trước, chuyện 'hợp-chữ' có thể đưa đến 3 kết
quả chính: (a) hai từ chỉ chung một sự vật sẽ cạnh tranh mãnh
liệt với nhau, cuối cùng tiếng của tộc người nào cư ngụ đông đúc
tại khu kinh đô sẽ đạt được thế phổ biến nhất. Thí dụ: chân >
cẳng > giò. (b) các từ tương đương chỉ cùng một động tác hay sự
vật sẽ dần dà thay đổi ý nghĩa để kho tàng từ vựng trở nên phong
phú thêm lên: trễ / muộn / trì trệ; khuân / vác / cầm / mang /
bưng / đem [23], và (c) hai từ, mỗi từ xuất từ một bộ tộc khác
nhau sẽ hợp lại cho ra một hợp-từ đa âm, nghe êm tai hơn, và tộc
nào nghe cũng hiểu: tâm địa, nước non ('non' cũng có nghĩa:
'nước'), màu sắc, thâm sâu, đen huyền, thân thể, thân mình,
đường xá, sinh đẻ, bông hoa, v.v. Ở khía cạnh này chúng tôi để
ý, khi một quốc gia hãy còn trong tình trạng chưa hoàn toàn nhất
thống, một từ tiếng Tây hay tiếng Việt rất thường mang nhiều từ
cùng nghĩa trong tiếng 'nước' đó. Điển hình: tiếng 'nước'
Chăm-pa [8], làm lễ= hayăm, katăt, ngă?, đayôw?, thaw băh.
4)
Không dựa vào tiền đề cố hữu của
người Hoa: dân tộc ít người thuộc giống thiếu văn minh, không
phải Hoa-Hạ. Có thể đúng một phần nào trên quan điểm của người
Hoa-Hạ thuần túy, ở phía Bắc. Nhưng hoàn toàn sai trật đối với
miền Hoa Nam và hầu hết các quốc gia ở Đông Nam Á. Đây có lẽ là
thứ định kiến tai hại nhất do thế lực phía Bắc truyền đến phía
Nam và rất nhiều nơi ở miền Đông Nam Á. Hãy còn mang dấu ấn rất
mạnh cho đến ngày nay tại nước Myanmar. Ở đó nhà cầm quyền dán
vào các nhóm người dân tộc một nhãn hiệu 'phiến loạn'. Rất tiếc
các nhà nghiên cứu Tây phương cũng có vẻ không mấy để ý đến
chuyện hết sức gút mắt và phức tạp nầy. Tuy vậy, đôi khi có vẻ
họ cũng chứng tỏ họ đã rành nghề 6 câu, khi họ xử dụng nó như
một công cụ phục vụ cho những mục tiêu chiến tranh và chính trị.
Ngược lại, chúng tôi cho rằng có một mối liên hệ rất mật thiết
giữa các sắc người dân tộc với người Kinh, trong vấn đề huyết
thống, và cốt lõi văn hoá, ít nhất trong thời cổ đại xa xưa.
Bây giờ chúng tôi xin phép bàn về một vấn đề gút
mắt khác. Đó là chuyện xếp loại nhóm ngôn ngữ tiếng Việt. Ngày
trước, tiếng Việt thuộc nhóm Môn-Khmer, thuộc hệ Nam Á. Từ
khoảng những năm 1970, tiếng Việt thay đổi tên nhóm, và khoác
lên một tên mới: nhóm Việt-Mường. Từ dạo đó về sau, các công
trình nghiên cứu tại Việt Nam, có vẻ vì quá thích thú với tên
gọi mới, đã dần dà mang khuynh hướng tách xa khỏi tên cũ là
Môn-Khmer. Cái thói quen chuộng mới quên cũ rất phù hợp với
'Nguyên Lý Heisenberg' còn gọi 'Nguyên Lý Bất Định', thuộc khoa
Vật Lý. Một trong hai nguyên lý của khoa học cứng mà chúng tôi
cho rằng có thể đem áp dụng rất hữu hiệu cho các ngành thuộc
khoa nhân văn. (Nguyên lý kia là 'nguyên lý bảo toàn năng
lượng'). Đại khái, nguyên lý Bất Định cho biết khi một vật thể
được miêu tả bằng hai hay ba đại lượng, một khi ta đo được khá
rõ về đại lượng này, thì mức chính xác của đại lượng kia sẽ bị
suy giảm. Nôm na hơn, nếu hạt điện tử được miêu tả bằng vị trí
và cái trớn chuyển động của nó, một khi ta biết rõ về vị trí thì
sẽ mù mờ một chút về cái trớn của hạt điện tử. Hoặc ngược lại.
Trong văn hoá Á Đông ngày trước, người xưa ưa nhìn nhận 'tài đức
vẹn toàn' hay 'văn võ song toàn' là một chuyện rất khó. Hết sức
khó. Nguyễn Du cũng ghi lại: 'Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét
nhau'. Được cái này phải mất cái kia. Giới nghiên cứu tại
Việt Nam, chụp được tên Việt Mường, dần dà sẽ phải quên đi tên
cũ của nhóm tiếng Việt: tiếng Việt ở tầng lớp cơ bản thuộc nhóm
Môn-Khmer.
Thật ra không những chỉ giới nghiên cứu Việt Nam
bị rơi vào 'nguyên lý Bất Định', học giả Âu Mỹ cũng không hơn
gì, và cũng như rứa mà thôi. Xin xem kỹ một số vấn đề sau:
a)
Như đã trình bày phía trên, phân
loại Nam Á, Nam Đảo, Malayo-Polynesian, Mon-Khmer, rồi...
Indonesian cho các thứ tộc người và ngôn ngữ, là thứ phân biệt
khá lủng củng của các học giả Tây Phương. Có vẻ như kết quả tất
yếu khi chưa thấu đáo vấn đề, cũng như thiếu thốn hợp tác chặt
chẽ giữa giới ngôn ngữ học và khảo cổ / dân tộc học. Tộc người
Indonesian là tộc người thế nào? Tộc này liên hệ đến tộc
Môn-Khmer ra sao? Có gì khác nhau giữa tộc Indonesian với tộc
Malay (trong hợp chủng Malayo-Polynesian) hay chăng? Thế ngôn
ngữ cốt lõi của tộc Inđônêsiên là gì? Phải là tiếng Inđônesian
cổ hay chăng? Họ lộn xộn tả pín lù cả lên. Nhưng rất ít ai để ý.
Nhất là chủng Inđonesian. Học giả Đào Duy Anh thích xử dụng tên
Inđônêsiên cho chủng nguồn gốc tộc người Việt Nam, trong khi
Bình Nguyên Lộc lại khoái Mã Lai. Để ý, lúc họ tập trung với một
trong các thứ tộc họ đặt tên cho khối Đông Nam Á, họ thường lu
mờ đối với các tộc khác.
b)
Để ý ở phương diện 'dân-tộc-học',
người Hoa có vẻ đi trước Tây Phương cũng trên cả nghìn năm. Từ
ngàn xưa, khi đối tác với các nhóm rợ ở 4 phương, họ đã miêu tả
khá rõ bằng chữ viết tượng hình, đã trình bày trong một số bài
trước: Tây Nhung, Bắc Địch, Đông Di và Nam Man. Xin chú ý đến
nhóm Tây Nhung, xuất phát từ hướng Tây. Đây chính là nhóm người
đã làm cỏ Cảo Kinh, thành đô của nhà Tây Châu vào năm 770 TCN,
khiến cho vua mới phải dời đô về Lạc Dương ở phía Đông. Phần
chính yếu của đám rợ Tây Nhung, tức Khuyển Nhung, chính là hai
đám Để 氐 và Khương
羌,
gọi chung Để-Khương, mà chúng tôi cho rằng chính là lối gọi
người Hoa, dành cho 'cặp bài trùng' Môn-Khmer. Tra cứu trên
internet cho biết có một đám Khương dừng chân tại nước Tàu và
định cư ở một vùng đất mang tên Gao Mian (Cao Miên) mang nghĩa
'người ở vùng đồi núi cao, sản xuất tơ sợi'. Tương tự, ngày
trước người Hoa-Việt ưa gọi nước Lào bằng 'Ai Lao'. Ai Lao chính
tên một rặng núi tại Vân Nam, nơi xuất phát nguyên thủy của
người Lào. Tóm lại đối với kiến thức người Hoa, không có tộc nào
mang tên Inđônexia hay Mã Lai hết, mà chỉ có nhóm người từ phía
Tây, mang tên: Để-Khương hay Môn-Khmer. Thường gọi tắt Khương
tộc. Điểm gốc xuất phát của họ chính là vùng bình nguyên chung
quanh xứ Tây Tạng ngày nay.
c)
Rõ nét nhất trong 'nguyên lý bất
định' đối với 'các' tộc người Việt cổ xưa, cũng vẫn là cặp bài
trùng 'Môn-Khmer'. Phản ánh qua người Chiêm (Thành), tức
Chăm-pa. Hễ tập trung vào Môn, thì Khmer sẽ lu mờ. Hay ngược
lại. Bởi người Tây phương sắp xếp lộn xộn cho dân Chiêm thuộc
gốc Malayo-Đa-đảo, nên họ quên khuấy đi mất tộc người chủ lực từ
vùng Thanh Hoá chạy qua Inđônêxia, Phi-Luật Tân, xuống Mã Lay Á,
và nhiều quần đảo dọc theo Thái Bình Dương, theo thiển ý, là
nhóm: Môn Khmer. Điểm vô lí nhất trong câu chuyện Malayo /
Inđônexia / Mon-Khmer, chính là ta ít khi hoặc không hề nghe
tiếng nói cốt lõi của các tộc Inđônêxia hay Malay là gì, và cũng
ít khi nghe đến tộc chính xử dụng các thứ tiếng thuộc hệ
Môn-Khmer. Họ cũng mơ hồ trong gạch nối giữa chủng Inđônêxia và
dân nước Inđônêxia ngày nay. Cũng như tộc Mã Lai và dân nước Mã
Lay Á. Theo lý thuyết chúng tôi, tộc Mon-Khmer là một trong các
tộc chủ lực của rất nhiều nước ở Đông Nam Á, gồm cả Inđônêxia và
Mã Lay Á. 'Nguyên Lý Bất Định' xảy ra cho xứ Chăm, ở 2 cấp. Cấp
1, họ sắp dân Chăm vào khối Malay-Đa-đảo, nên quên đi Môn-Khmer.
Ở cấp 2, nếu mơ hồ liên kết tiếng Chăm với nhóm Môn-Khmer, họ
chỉ tập trung được 1 trong 2 đặc tính sau: (i) Tiếng Môn (bà con
với tiếng Myanmar ngày nay) có vài ba 'thinh', tức tone, từ mang
thanh điệu kiểu có dấu. (ii) Trong khi tiếng Khmer lại chỉ một
thinh, giống tiếng Hải Nam, Inđônêxia, Mã Lay, phần phía bắc
Trung Bộ,... Hoặc (i) Người Môn có khuynh hướng chôn người
chết trong mộ chum (vò). (Điển hình là văn hoá Sa Huỳnh, xem
[13]). (ii) Trong khi Khương tộc nổi tiếng với lối hỏa táng, từ
khi họ còn ở bên Tàu, phản ánh qua lối hỏa táng của vua Chế Mân,
phu quân của Huyền Trân Công Chúa.
d)
Chi tiết bất định kể trên đã khiến
các học giả Tây Phương khó dứt khoát về tộc gốc của người Chiêm,
hay nguồn gốc tiếng Chiêm (xem [17] [18]). Họ đưa ra một giải
pháp thứ ba: tộc hỗn hợp Mã Lay - Đa đảo. Họ cũng ít khi xác
nhận văn hoá Sa Huỳnh (thuộc Quảng Ngãi ngày nay) thuộc nhóm tộc
người nào ngày trước. Bởi theo sử sách, của Tây và Tàu, nước
Chiêm lập quốc vào khoảng thế kỷ thứ 2, sau văn hoá Sa Huỳnh
cũng khoảng 3-7 thế kỷ. Một trong những điểm đặc trưng của văn
hoá Sa Huỳnh, chính là mộ chum, mộ vò, kéo dài sang cánh đồng
Chum bên Lào. 'Nước Chăm' thật ra cũng không phải đơn thuần 1
nước như nhiều người thường nghĩ, mà thật ra có đến (ít nhất) 5
tiểu quốc (Indrapura, Amaravati, Wijaya, Kauthara, Panduranga
[19]) thường xuyên choảng với nhau (xem [15][16][17][18]). Po
Dharma [15] cũng cho biết kết quả những nghiên cứu mới nhất,
rằng toàn thể các xứ Chiêm Thành tan rã không phải vào năm 1471
theo sử Việt, mà chính là năm 1832 khi cứ địa cuối cùng
Panduranga (Phan Rang - Phan Rí) giải thể.
e)
Nguyên lý bất định phản ánh qua
tiếng Chăm như sau: Theo từ điển Chăm [8], do Trung Tâm Văn Hoá
Chàm - Phan Rang xuất bản, tiếng Chăm có 4 thinh (thanh điệu),
tức có 4 thứ dấu - trong đó có dấu nặng khá nhiều. Nhưng gần
đây, Lafont [18] cho biết từ điển Chăm được soạn dựa trên phát
âm vùng Phan Rang. Tiếng Chăm ở Châu Đốc và bên Cam-Bốt thật ra
chỉ có 1 thinh mà thôi. Lý giải chúng tôi: Ở hạ tầng, người Chăm
thuộc khối Môn-Khmer. Hỗn hợp Môn và Khmer. Tiếng Môn, cùng gốc
với tiếng Myanmar ngày nay, là thứ tiếng có nhiều (~ 4) thinh.
Tiếng Khmer lại chỉ có 1 thinh. Do đó ở những vùng có tộc Môn
làm chủ lực, tiếng Chăm có nhiều thinh. Ở những khu vực xử dụng
tiếng Khmer cơ bản, tiếng Chăm lại chỉ có 1 thinh. Thường thường
thinh dấu nặng. Phân tích này cho thấy, nếu dựa vào các phân
loại Nam đảo hay Malay-Đađảo, và hoàn toàn không biết đến nguyên
lý Bất Định Heisenberg, rất khó lý giải 2 hệ thanh điệu cơ bản
của tiếng Chăm.
f)
Nguyên lý Bất Định Heisenberg thật
ra trở nên rất quan trọng trong việc truy nguồn gốc tộc các dân
miền Đông Nam Á. Đại khái, nguyên lý luôn nhắc nhở người nghiên
cứu không nên tập trung vào một tộc người duy nhất trong vấn đề
sử, dân tộc, khảo cổ học, v.v. mà cần để ý trong mọi trường hợp
đóng góp hay ảnh hưởng của từng bộ tộc trong chiều dài lịch sử.
Xin trở lại câu chuyện đảo Hải Nam. Nếu tra cứu trên mạng về đảo
Hainan, hay tộc người Hmong (Miêu hay Miao) và Li (Lê), chúng ta
thấy những nguồn từ các tác giả Hoa hoặc dựa trên tài liệu Hoa,
cho biết: dân Hải Nam = Miao + Li + Hán tộc (tức di dân từ lục
địa). Họ khá mơ hồ về tộc Li tức Lê. Chỗ nói họ thuộc nhóm
Thai-Kadai, chỗ nói thuộc Khương tộc,... Một vài chỗ lại miêu tả
thổ dân họ thuộc nhóm Malayo-Polynesian, y hệt như Chiêm Thành.
Nhưng khi dùng Malayo-Polenesian, không thấy họ dùng tộc 'Li',
tức Lê. Nếu thử phối hợp các chi tiết sau đây: (i) Tiếng Hải Nam
là một trong ít thứ phương ngữ Trung Hoa, chỉ có 1 thanh điệu
(thinh) mà thôi. (ii) Tiếng Môn-Khmer có một bộ phận (Khmer) chỉ
mang 1 thinh mà thôi. (iii) Người Chiêm ngày xưa vào những lúc
hoạn nạn khốn cùng, có khuynh hướng chạy về Hải Nam ẩn nấp.
(Giống như các tôn thất nhà Lý chạy về miệt Sơn-Đông / Triều
Tiên, sau những đàn áp và khủng bố của Trần Thủ Độ). (iv) Cả Hải
Nam và Chiêm Thành đều có tộc bản địa thuộc khối Malay-Đađảo.
(v) Đặc biệt Hải-Nam có 2 tộc bản địa lâu đời: Miao và Li. DO
ĐÓ, ta thấy khá rõ, Lê tộc chính là một nhánh của Khương tộc hay
nôm na hơn, thuộc khối Môn-Khmer. Giống như Chăm. Và tộc người
Malay có thành phần nòng cốt thuộc khối Môn-Khmer.
Bây giờ xin xem lại đẳng thức hợp chủng người
Việt:
Việt Nam= Âu (Thái) + Lạc (Việt) // Thái +
Môn-Khmer + Đa đảo + Nê-gri-tô.
·
Dấu // mang nghĩa: 'trên nền tảng bản địa'.
·
Chủng Âu tức Thái cổ bao gồm nhiều sắc dân Bách
Việt, sống ở miền trong nước Tàu, từ khu vực Vân Nam chạy theo
sông Dương Tử sang Động Đình Hồ, xuống phía Tây An Huy, phía Tây
Phúc Kiến, rồi Quảng Đông. Phân biệt này mang tính cách tổng
quát, chú trọng đến chủng chỉ đạo khu vực mà thôi. Có nghĩa tại
Quý Châu, phía Bắc Quảng Tây, có thể có rất nhiều người thuộc
Miêu tộc. Ở Vân Nam, có khá nhiều Khương tộc từ khu Tứ Xuyên
hoặc miền Tây, và Bộc Việt chạy từ khu Hoàng Hà xuống từ thời xa
xưa.
·
Chủng Lạc, do chúng tôi phân biệt và tách ra khỏi
lối dùng 'Lạc Việt' [Luo Yue] hết sức lộn xộn của người Hoa & Âu
Mỹ. Bao gồm phần lớn, các nhóm Việt hay Lạc xưa sinh sống ở miền
ven biển nước Tàu: Hẹ (kể cả Hmong-Mien) xuất xứ từ khu vực Sơn
Đông, Ngô-Việt từ vùng Giang Tô - Chiết Giang, Mân Việt, gồm
Phúc Kiến-Triều Châu. Mỗi một tộc chính như vậy (thí dụ: Hẹ hay
Hakka) có thể bao gồm ít nhất là 10 bộ tộc tuy cùng chủng nhưng
khác ... họ với nhau.
·
Ba chủng chủ lực sinh sống lâu đời tại bản địa
chính là: Thái, Môn-Khmer, và Đa-Đảo. Nhóm Nê-gri-tô người thấp
tóc xoăn, cũng có mặt ở miền Hoa Nam, còn gọi Hắc Nụy. Chủng
Thái-cổ có mặt tại Việt Nam trước hoặc cùng thời với chủng Môn
Khmer. Văn hoá xưa nhất của họ chính là văn hoá Hoà Bình do bà
Madeleine Colani khám phá hồi đầu thế kỷ 20. Ngày nay tại Hoà
Bình dân Mường chiếm tỷ số gần 70 phần trăm. Người Môn Khmer,
theo thiển ý chính là chủ nhân của văn hoá Sa Huỳnh tìm ra ở
Quảng Ngãi. Thật ra rất khó xác định ai là người Việt đầu tiên
giữa: Thái-cổ và Môn-Khmer. Tuy nhiên chúng tôi nghiêng hẳn về
Môn-Khmer bởi các lý do sau:
a)
Mặc dù chủng Thái cổ ngày nay đông
đảo hơn người Môn Khmer (Thai-Kadai= 3.9 triệu & Môn-Khmer= 2.5
triệu nếu kể luôn 0.5 triệu thuộc Nam-đảo, theo đề nghị chúng
tôi), nhưng chủng Thái-cổ chỉ tập trung ở phía Bắc (đặc biệt khu
biên giới Việt-Hoa & Việt-Lào) cho đến Quảng Bình, trong khi tộc
Môn-Khmer [30] hiện diện từ khu vực Thanh Hoá chạy tuốt đến gần
Cà Mau, cộng với một hai địa điểm gần sông Đà và biên giới nước
Lào.
b)
Tiếng Việt cổ nhất, phản ánh qua hệ
thống số đếm và các từ 'Nôm' cơ bản mang gốc gác Môn-Khmer [30].
Trước hết xin xem qua hệ thống số đếm trong tiếng
Việt, trình bày đối chiếu với các thứ tiếng Môn-Khmer [25],
tiếng Cam-Bốt ngày nay [26], tiếng Chăm-pa [8], Hmong [27] và
Mường [28], trong Bảng I.
Xin khảo sát nguồn gốc từng số đếm:
- 0 => tương ứng với [kong] hay [ling] tiếng Hoa.
Sang tiếng Việt: 'không' và 'linh'. 'Linh' thay đổi ý chút ít,
chỉ số lẻ. 'Không' tiếng Tàu mang nghĩa khác: 'ở không', 'trống
không'.
- 1 => cùng gốc với Môn-Khmer / Khmer. Tiếng
Mường: [moch] cho thấy không phân biệt âm cuối [t] hay [c], như
kiểu Nam bộ.
- 2 => [Hnyi] tiếng Myanmar, cùng gốc với vài bộ
tộc Môn. [Hnyi] trong thế giới đơn âm, tách ra làm hai: [Hờ] và
[nyi]. [Hờ] (và [Ar] tiếng Môn-Khmer) tiến đến => [Hal] tiếng
Mường, và [Hai] theo ký âm quốc-ngữ. [Hờ] cũng sinh ra [Er]
quan-thoại. Trong khi đó: [Nyi] sinh ra [yì] tiếng Quảng Đông,
và [nhị] hay [nhì] (hạng nhì) tiếng Việt. Ta thấy khá rõ, người
Hoa cũng xài chữ đếm số 2 của tộc Môn-Khmer. Để ý [Er]
quan-thoại có phát âm giữa [ê] và [ơi]. Ở tiếng Mã-Lai (cũng có
phần thuộc gốc Môn-Khmer) [Hai] mang nghĩa giống tiếng Mỹ [Hi]
=> Nôm-na [ơi] hay [hỡi]. [Hai] Mã-Lai = [Ơi] Việt, do đó có gốc
tiếng Môn: [Hnyi].
- 3 => cùng gốc Môn-Khmer. Thấp thoáng tiếng
Hmong cũng có âm rất giống: [bei]. Cũng để ý cách gọi [ba] (3)
cũng có thể hoán chuyển từ số 2 của một bộ tộc thuộc Môn-Khmer,
gọi 2 bằng [baar].
Bảng I: Hệ thống số đếm tiếng Việt
|
Số (Việt) |
Môn (M-K) |
Khmer (CamBốt) |
Chămpa |
Hmong |
Mường |
Ghi Chú |
|
0 (không / linh) |
suon |
soan |
thôh / ôh |
voj |
không |
=
[khong] PK / [ling] Hoa |
|
1 (một) |
muờ / mwai / sa |
muay |
tha / sa |
ib |
môch |
KhM / Mg
Malay: satu |
|
2 (hai) |
baar / er / ar |
bpie |
twa / dua: |
ob |
hal |
=
Hnyi (MĐ), Hal (Mg) |
|
3 (ba) |
pi / poe |
bei / bay |
klow |
peb [bei] |
pa |
KhM / Hmong |
|
4 (bốn) |
pôn / par /pa' |
buôn / pôn |
pa? |
plaub |
pôn |
KhM / Mg |
|
5 (năm) |
mxun/ peson |
brăm |
lamư |
tsib |
đăm |
KhM / Mg |
|
6 (sáu) |
parau / kerao / nam * |
bram-muay/prau |
năm * |
rau [tchau] * |
khảu |
Hmong / Môn
Formosa: num * |
|
7 (bảy) |
poh, thapal, tajuh |
brăm-pia (5+2) |
tasuh |
xya |
páy |
M
/ Mg |
|
8 (tám) |
hơcham, tapan, takual, takôl |
brăm-bay (5+3) |
talipan / tapan |
yim (đọc [zi]) |
thảm |
Chăm/M / Mg/ aTa
-Sinhalese |
|
9 (chín) |
dachit, samlân |
brăm-buan (5+4) |
pirow / thalipan |
cuaj [tchuat] |
chỉn |
M
/ Mg |
|
10 (mười) |
choh, sa-pluh, tswas |
dop |
pluh / sapluh |
kaum [kảu] |
mươl |
M
(V:chục)/ Mg |
|
20 (haimươi) |
băar-choh |
mopey |
đwa pluh |
nees nkaum |
halmươl |
số > khổ (Mg) |
|
100 (trăm) |
ratuh, tsus |
ruoy |
tha rituh |
(ib=1) puas |
tlăm |
|
|
10000(muôn/ vạn) |
dta thàun, tsaquâ |
meun |
tha tamưn |
meem / (ib) vam |
muôn / vãn |
[wan], qđ [maan] triệu = 100 vạn |
- 4 => Cùng gốc Môn-Khmer. Tiếng Môn-Khmer
giống tiếng Chăm [pa?]. Trong khi tiếng Khmer giống rất rõ:
[pôn]
- 5 => Có thể cùng gốc tiếng Khmer: [bram].
Phát âm [lăm] trong [mười lăm] (15) lại cùng gốc tiếng Chăm:
[lămư]. [Dăm], trong 'dăm ba túp lều' lại là phát âm Mường:
[đăm] <=> [đjăm] => [jăm]. Bởi hệ thống đếm
người Khmer dựa trên hệ số 5, người Mường dựa trên hệ số 9, nên
có một ít lộn xộn xảy ra khi cả hai nhập lại dùng hệ số đếm theo
cơ 10 như ngày nay [29]. Đó là tiếng Việt xử dụng [năm] của
tiếng Chăm và Môn-Khmer dùng cho số sáu (6) {xem Bảng 1} mà đọc
lên con số 5 => [năm].
- 6 => cùng gốc với tiếng Môn-Khmer: [prau]
và Chăm: [rau] và [tchau]. Tiếng Môn-Khmer và Chăm cũng cho
[năm] đã chuyển về số 5. Số 6 cũng có gốc Ba-Tư (Iran) [shesh]
và Myanmar (cùng gốc Môn): [chow].
- 7 => bảy => giống tiếng Môn-Khmer: [poh] và
[(tha)pal]. Cũng có thể chuyển từ số 8 trong tiếng Khmer:
bram-bay (5+3) => bay (=3) từ số 8, chạy xuống 1 cấp thành: 7
(bảy).
- 8 => cùng gốc Môn-Khmer và tiếng Chăm.
Tiếng Persia (Ba Tư) là [hasht] sinh ra [hachi] tiếng Nhật,
[aath] tiếng Ấn, và [aTa] tiếng Sinhalese của Sri Lanka. [aTa]
có âm thứ 2 cũng giống 'tám' (8).
- 9 => chín. Cùng gốc tiếng Môn-Khmer
[dachit] và khá giống tiếng Hmong: [tchuat]. Xa xa, tiếng Ấn gọi
số 6 là [cheh] khá giống 'chín'.
- 10 => mười. Có thể do ở lộn xộn giữa cơ số
5 tiếng Khmer, cơ số 9 tiếng Thái-cổ, và 10 do người Hoa đem
tới. Xuất phát từ tiếng Khmer cho số 11: [dop-mooyh] hay
[dop-muay] (10+1). Chỉ xử dụng âm [mooyh] ở cuối => [mười]. Để ý
tiếng Môn-Khmer cũng có [choh] dành cho 10. [Choh] sinh ra
[chục] tiếng Việt rất dễ.
- 10000 => vạn / muôn. Chúng ta đã biết 'vạn'
là lối đọc người Hẹ cho quanthoại [wan], và [muôn] là lối đọc
Thái Quảng Đông [maan] cho vạn. Ở đây ta thấy cặp 'vạn - muôn'
có bạn đồng hành: [meun] Khmer, [tamưn] Chăm, [meem] hay [vam]
tiếng Hmong.
Bây giờ xin xem qua Bảng II, trình bày một số
từ đối chiếu thông dụng giữa Việt và Môn-Khmer.
Bảng II. Đối chiếu các từ thông dụng
|
Việt |
Môn Khmer |
Chăm-pa |
Tiếng khác |
Ghi Chú |
|
cằm |
ZanKa, jangKa, kuam |
kang |
Kang (Thái), kam(qđ) |
Kam= Qin (qt)=>琴 |
|
cây / gỗ |
kaxu, kixe |
kayow |
kayu (Malay= ML) |
ki (Nhật) |
|
cắt |
pas (vạt, vát), tak |
kêh. caKă? |
kat (Hẹ) 刻 |
quanthoại [ke] |
|
bông |
pung, bunga |
pingu |
Bunga (ML), beng qt |
bung (Hẹ) 菶 |
|
mày (mi) |
mei, mai, mi?, mơ?,
maiq |
limay |
mei mao (qt) |
?=tắc-âm >mi?=miq |
|
tóc |
xok, xăk, xo, usuk, xoak |
bu? |
bulu (Malay), rambut |
Mường: thăk |
|
môi |
Nh?joy, nzoy, mboy, tmor |
caBoy |
wen (qt)
吻 |
man (QĐ) => môi |
|
khạc |
khak, khaak, rkhaak |
kahak |
kak (Hẹ), ke / hai (qt)
咳 |
khat (Thái) =ho
(ho <= hai, - qt) |
|
to (mập) |
toar, toh, tơr, ma?,
gemak |
limưq |
besar (ML)=>bự, béo |
gemuk,leMak >mập |
|
trâu |
trak, krapư, kơpô, tâk, krak |
kabau, trêy |
tlu / klu (Mg) |
trâu= trak + tlu |
|
mũi |
Muq, muqa, muh, mõh |
atung | |