|
Trong
suốt 18 bài qua, chúng ta đã xem xét khá kỹ, gần như đầy đủ
những khía cạnh liên-hệ và chung quanh truyền thuyết Hùng Vương,
và câu chuyện Con Rồng Cháu Tiên.
Trong công việc trình bày kết-quả của nghiên cứu mới mẻ về
truyền thuyết Hùng Vương, ở thời đại Internet, chúng tôi sau
cùng đã quyết định giữ vững con số 18 làm số đánh dấu cho bài
cuối cùng. Và như vậy phải chia làm nhiều phần. Nhưng rất may,
theo thiển ý, những phần nằm trong bài thứ 17 và 18 bao gồm
những khám phá hết sức mới lạ và bất ngờ, về các tộc người Hlai
(Li), Đa-đảo, và Miao, ngay cả đối với chúng tôi.
Lí thú nhất có lẽ là đã nhận-diện được một thứ tộc người đã góp
phần tiến tạo nên người Việt Nam, trước giờ gần như hoàn-toàn
nằm trong bóng tối. Đó chính là Miao tộc, còn gọi nôm-na là
Miêu-Dao hay Hmong-Mien, theo cách đánh vần Âu Mỹ mà người Miao
ở phía Nam, hoặc đã định cư ở Âu-Mỹ, thường yêu cầu gọi họ như
vậy. Việc tìm ra được người Miao, thường nấp sau người Hẹ,
trong lòng tộc Việt, cũng kéo theo được một lý giải khá
quan-trọng về cú pháp 'văn phạm' tiếng Việt. Đó là cách xử dụng
cú pháp theo kiểu đặt Túc-từ (hay tương đương) đứng trước
Động-từ, theo kiểu tiếng Nhật, tiếng Hàn, và tiếng Tungusic, nói
chung. Thử xem, thí dụ tiếng Nhật:
- Watashi wa ringo ga suki desu = Tôi thích (ăn) táo (pom).
Watashi {Tôi} (wa) ringo {táo} (ga) suki desu {thích}. Túc-từ
'ringo' {pom/táo} đi
trước động từ 'suki desu' {thích} => Tôi + táo + thích
- Watashi wa niku o tabemasu = Tôi ăn thịt
Watashi {Tôi} (wa) niku {thịt} (o) tabemasu {ăn} => Tôi +
thịt + ăn
So với cấu trúc tiêu biểu sau trong tiếng Việt, cũng đặt túc-từ
(hay tương đương) trước động từ:
- Cháu (à), xe bác sửa xong chưa? = Cháu (đã) sửa xong xe bác
chưa?
- Em, tóc chị uốn ngắn ngắn nghe = Em uốn tóc chị ngắn ngắn
nghe.
- Rắp mong treo ấn từ quan,
Mấy sông cũng
lội
mấy ngàn cũng
qua.
(Nguyễn Du: Kiều)
- Trời hôm ấy mười lăm hay mười tám
Tuổi của nàng
anh nhớ
chỉ mười ba. (Nguyên
Sa: Tuổi Mười Ba)
- Bà bà mẹ quê, đêm sớm không nệ hà chi
Bà bà mẹ quê, chợ sớm
đi
chưa thấy về
(Phạm Duy: Bà Mẹ quê)
- Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh
chưa có,
mẹ già chưa khâu.
(Thi-văn bình-dân)
Và rất nhiều áng thi-văn dùng chữ Nôm hay quốc-ngữ - cũng như ca
nhạc - đã thường xuyên xử dụng lối 'đảo ngữ' kiểu này. Mà từ
trước đến giờ, người ta vẫn lầm tưởng một thứ sáng tác (hay
'phát minh') tuyệt chiêu của những bậc văn-hào thi-bá ở thời xa
xưa, hay cận đại hoặc đương đại. Chúng ta, từ đó, có thể đúc kết
lại một số nhận xét hết sức quan-trọng như sau:
·
Loại cú pháp 'đảo ngữ' đưa túc-từ (hay tương đương) ra trước
động-từ, đã tiềm tàng có sẵn trong lòng dân-tộc Việt Nam, do ảnh
hưởng của thứ tiếng Altai hay Tungusic [1]. Qua ảnh hưởng và
đóng góp của nhóm Miêu tộc, xưa nay vẫn ưa sống gần gũi nhóm Lạc
Việt ngày trước là đám du-mục ở khu vực các sông Bộc, Lạc và
Hoàng Hà, thường tự gọi là người 'He' tức Hẹ - và được các tộc
người Mân và Quảng gọi Hakka, tức Khách Gia.
·
Những thi-nhân, văn-gia hay nhạc-sĩ xử dụng lối đảo ngữ này do ở
bản năng tự nhiên của người Việt, chứ không phải do ở sáng tác
făng-têi-zi. Ngừơi Việt bất kể trình độ học vấn, khi nghe hay
đọc, thường hiểu được ngay.
·
Trước giờ, các sách giáo-khoa về văn-chương hay tiếng Việt
thường ca ngợi lối 'đảo ngữ' này bởi người Việt chúng ta học
văn-phạm cú pháp tiếng Việt đầu tiên từ người Tây Phương. Những
tôn sư Tây Phương này thật ra đem văn-phạm cú pháp các ngôn ngữ
Âu Châu tròng lên tiếng Việt địa phương [13], trong thế
nhị-nguyên đúng / sai, dựa trên tiêu chuẩn các thứ ngôn-ngữ Tây
Phương. Mặc dù, họ không thể nào thông hiểu tiếng Việt rành rọt
như thứ tiếng mẹ đẻ.
Bây giờ xin xem lại toàn thể những tộc người chủ lực đã đến xứ
Việt cổ, định cư, rồi sống hoà mình hỗn hợp với các sắc dân
bản-địa, chia sẻ quá trình lịch sử dài lâu, để rồi tiến-tạo nên
người Việt-Nam. Qua bản đồ tóm lược phía dưới.
1.
Những tộc người bản địa, đánh dấu {8},
gồm: Khương (tức Để-Khương, bây giờ thường gọi: Môn-Khmer), Thái
(cổ), và Đa Đảo - kể cả Hắc Đảo và Nê-gritô. Cũng có thể có một
số nhóm Lạc Việt từ vùng biển Đông bên Tàu, hoặc nhóm Hakka-Miao
từ phía Bắc nước Tàu [4]. Đặc điểm chính của những tộc người
bản-địa là họ đã có mặt tại xứ Việt cổ cách đây cũng trên 4000
năm, tức ít lắm vào năm 2000 trước Công Nguyên. Tức vào thời
huyền sử của nhà Hạ (vua Đại Vũ) bên Tàu, nhà Bai-Dal (vua
'Xích-Quỷ' Xy Vưu) ở Cao Ly, và đầu thời-đại Hùng Vương tại Việt
Nam.
2.
Những tộc người Di-dân gồm tất cả 7
nhóm:
(a)
Nhóm 1: khối Đông-Di, người Hoa còn gọi: Cửu-Lê hay Tam
Hàn. Thành phần chủ lực của nhóm Cửu Lê này gồm có: Miao tộc và
Lê tộc. Miao tộc bao gồm cả nhóm Lạc Việt du mục ngày xưa sinh
sống ở vùng chung quanh sông Hoàng Hà. Trong khi, Lê tộc [Li
zu], với phần chính là siêu tộc Khương - còn gọi [Hlai] tức 'Lê'
[10] - và kể luôn cả người Thái-cổ hoặc Lạc Việt ở miền biển
[2].
(b)
Nhóm 2: hỗn-hợp hai khối Âu và Lạc từ địa bàn ban đầu
nước Sở năm xưa (tỉnh Hồ Bắc ngày nay - phiá Bắc Động Đình Hồ).
Trong các 'cường quốc' ở thời Xuân Thu Chiến Quốc, nước Sở nổi
tiếng là một nước chứa nhiều đám rợ Việt. Cũng là nơi tụ tập dân
chạy giặc từ miền Đông Bắc nước Tàu.
(c)
Nhóm 3: Lạc Việt từ miền biển. Địa bàn Ngô Việt của Câu
Tiễn vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên, cộng với khối Mân-Việt.
Nhiều di-chỉ khai quật ở vùng này cho thấy dấu vết của tộc người
Miao-Yao [3].
(d)
Nhóm 4: Một địa-bàn hỗn-hợp 'tứ xứ', nhất là các tộc Lạc
và Hoa-Hạ từ miền Bắc và Đông Bắc chạy xuống, qua nhiều thời
đại. Gọi chung những nhóm Lạc Việt từ các xứ: Mân Việt, Đông
Việt và Nam Việt [5].
(e)
Nhóm 5: Phần lớn từ những nhóm Việt từ miền rừng núi,
thường gọi Âu-Việt, cộng với nhóm Để-Khương, cũng thường gọi đám
Tây Nhung.
(f)
Nhóm 6: Khối người Đa Đảo, gồm cả nhóm Hắc Đảo và
Nê-gri-tô (Hắc nụy). Khối người Đa Đảo ngày xưa còn có mặt ở
miền biển và miền Nam Trung Hoa.
(g)
Nhóm 7: Hai tộc người bản-địa ở đảo Hải-Nam: Miao tộc và
Li (Lê) tộc. Do ở vị trí gần gũi miền duyên hải Việt Nam.

Một cách tổng quát và đơn-giản:
1)
Tộc người Việt Nam được tiến tạo và
hình thành từ chuỗi trình di dân và định cư của 7 khối tộc người
chính yếu tóm tắt ở trên, hỗn hợp với những tộc người bản địa
{8}.
2)
Những tộc người di dân phần lớn xuất
phát từ nước Trung Hoa ở phía Bắc, nhưng mang chủng Việt, chứ
không phải Hoa-Hạ.
3)
Những tộc người di-dân thuộc khu bọc
bởi vòng tròn hay ê-líp (1-3-4) thường bao gồm các nhóm Lạc Việt
chuyên sống ở vùng gần sông biển. Trong khi di-dân bọc bằng hình
chữ nhật (4-5-7) thường quen sống miền rừng núi, có thành phần
chủ lực là, và có thể gọi chung bằng, chủng Âu (Việt)
Tuy vậy, vấn đề Hoa-Việt & Việt-Hoa, vẫn luôn luôn mang tính hết
sức phức-tạp. Bởi rất nhiều lý-do, xin trình bày như sau:
(i) Chính ở tộc người Trung Hoa, thuở xa xưa gọi tộc Hoa-Hạ,
cũng là một hợp chủng. Ngày nay, họ thu gọn lại các tộc người đã
tiến tạo nên Hoa tộc, và xếp thành 3 nhóm chính, biểu hiệu bằng
3 vị lãnh tụ: Hiên Viên, Thần Nông, và gần đây, Xy Vưu. Tương
ứng với 3 thị tộc: Hữu Hùng Thị, Thần Nông Thị và 'Xy Vưu Thị'.
(ii) Thành phần cấu tạo nên Hữu Hùng Thị (Hiên Viên), tức tộc
cốt lõi của người Hoa hiện cũng vẫn còn mơ hồ. Nhưng đại khái,
chúng ta có thể biết có tộc người Hung Nô hay Mông Cổ, và Nhục
Chi (Turkestan) ở trong đó. Thần Nông Thị, rõ rệt bao gồm: siêu
tộc Khương, Thái-cổ, và Việt. Tất cả có xuất xứ từ phía Tây
Tạng, với phần lớn hậu duệ là khối Bách Việt ở miền Hoa Nam. Còn
Xy Vưu Thị, mang thành phần chủ lực là nhóm Cửu Lê, bao gồm 2 bộ
phận chính: Miêu tộc và Lê tộc. Miêu tộc mang gối đầu gốc gác
với khối người Tungus, bao gồm Nữ Chân, Khiết Đan và Mãn Châu ở
phía Đông Bắc. Còn Lê tộc [Li zu], còn gọi người Hlai tức Lai
Di, lại rất khó phân biệt với Khương tộc (và Thái cổ) ở phía Tây
và Nam.
(iii) Đặc biệt nhất chính là người Hẹ, mà ngày nay người Hoa gọi
là Hakka, tức Khách Gia. Chữ viết nguyên thủy cho bộ tộc này là
貉
mang rất nhiều phát âm. Những phát âm cho từ
貉
này, từ xưa đến nay gồm có:
- [Luo] tức Lạc, như họ của Lạc Long Quân => người Hẹ thuộc tộc
Lạc Việt.
- [He] hay [Ho], tức Hẹ theo tiếng Việt. Riêng [Ho] cũng có thể
đọc như [Hoa], chỉ tộc Hoa-Hạ, tức Trung Hoa. => người Hẹ thuộc
tộc Hoa-Hạ.
- [Mo] hay [Ma], liên hệ gần gũi với [Miao] hay [Mao] hoặc
'Mộ-Dung' chỉ một bộ tộc Tungus (Đông Hồ) ở phiá Bắc, bà con với
người Mãn Châu. Hoặc chính là Miao (Miêu) tộc, luôn luôn sống
gần gũi với người Hẹ.
- [Hu] tức 'Hồ' theo âm Việt => chỉ người Hẹ cũng có thể người
Hồ (Bắc Địch) - họ hàng với người Mãn Châu và Miêu tộc. Đồng
thời cũng cùng gốc tổ với người Hoa và Việt.
Hoa tộc và Việt tộc, ở thời sơ khai, do đó có chung những gốc
gác như sau:
1)
Gốc ở 2 nhóm Đông Di và Bắc Địch: Hai
tộc người Hẹ và Miêu-Dao đều có mặt ở địa bàn Đông Di và Bắc
Địch. Ở địa bàn Đông Di, họ còn mang tên nhóm Cửu Lê. Phía Bắc
Địch, theo khám phá riêng của chúng tôi, người Miao-Yao mang DNA
gốc của khối Tungus, tức Đông Hồ. Còn người Hẹ, chúng tôi cho
rằng thuộc khối Đông Di, rất có khả năng thuộc Việt tộc lưu lạc
đến phía Bắc. Lãnh tụ Xy Vưu của khối Cửu Lê, ngày nay được xếp
vào ghế thứ 3, của các thánh tổ Trung Hoa.
2)
Gốc Khương tộc: Qua những vị vua đầu
đời như Đại Vũ [Da Yu] vua số 1 của 18 đời vua nhà Hạ. Khương
tộc cũng là tộc người bản địa lâu đời nhất nhì ở Việt Nam. Thần
Nông Thị, có DNA của người Thái cổ, từ lâu được xem như đại biểu
của Khương tộc ở Trung Hoa. Thần Nông chiếm ghế thứ 2, sau Hiên
Viên, của các thánh tổ nước Tàu. Thật ra, từ lâu người Hoa đã
nhìn nhận Khương tộc là một trong những tộc người cốt lõi, thuở
ban đầu, đã đóng góp tiến tạo nên người Hoa ngày nay.
Ở phía Tây Bắc và phiá Nam, tộc người Việt Nam cũng có bà con họ
hàng với 2 thứ tộc bản địa: Thái cổ và Môn-Khmer (tức Để -
Khương hay Hlai hay Lai Di (hoặc Lê tộc)). Tộc Thái-cổ thể hiện
qua người Mường, các xứ Tây-Âu và Nam Chiếu. Đặc biệt Nam Chiếu,
tức Điền Việt hoặc Đại Lý hay Vân Nam, xưa nay nổi tiếng chứa
nhiều chủng tộc khác nhau nhất nhì Trung Quốc. Trong đó có tộc
Khương (Hlai). Ở phía Nam, Chiêm Thành, gọi theo kiểu bây giờ
Chăm hay Chăm-pa, mang liên hệ bà con qua người Môn-Khmer, tộc
Việt bản địa tối cổ. Giống như liên hệ Hải Nam: Miêu và Lê.
Trở lại với truyền thuyết Hùng Vương, xin xem lại hai bảng
tóm-tắt sau:
(a) Thánh-tổ:
|
Trung-Hoa |
Triều-Tiên |
Thái-Lan |
Việt-Nam |
Ghi-Chú |
|
Hiên-Viên
Thần Nông
Xy Vưu (mới) |
Xy Vưu |
Thần Nông |
? Thần Nông
? Xy Vưu |
* nội tổ ông Lạc
* vua nhà Lý lập đền thờ, năm 1160. |
(b) Thời đại huyền-sử với 18 đời vua, ở 3 nước Việt, Hàn
và Hoa:
|
VIỆT |
HÀN (Triều Tiên) |
HOA |
|
Hùng Vương |
Hàn Hùng (Bai Dal) - Xy Vưu |
Hạ (vua Đại Vũ) |
|
2879-258 TCN |
3898-2333 TCN |
2200-1800 TCN |
Từ hai bảng tóm tắt này, có thể nhận xét một vài điểm rất quan
trọng:
1)
So với các nước Trung Hoa, Triều Tiên
(Hàn), Thái Lan, nước Việt - nói theo 'nghi thức ngoại giao' -
không có thánh tổ cỡ 'bự' ngang hàng với: Hiên Viên, Thần Nông,
và Xy Vưu. Hùng Vương, và ngay cả Lạc Long Quân, hay Âu Cơ, theo
vai vế vẫn thuộc hàng con cháu các thánh tổ: Thần Nông (Chanon)
của Thái Lan, Xy Vưu (Chi Wu) của Triều Tiên (Cao Ly), và
Hiên-Viên, Thần Nông, và Xy Vưu của Trung Hoa.
2)
Vấn đề thiếu thốn thánh tổ có vai vế
ngang hàng với thánh tổ các nước láng giềng, có vẻ xuất phát từ
sơ suất của các sử gia tiền bối, cộng với thiếu thốn hiểu biết
về cội nguồn dân-tộc, cũng như ám ảnh về hội-chứng Hoa-Việt /
Việt-Hoa.
3)
Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy, tiền
nhân vẫn có một thứ trực giác hết sức bén nhọn, tinh-vi. Đó là
họ đưa thời điểm khởi sự thời Hồng Bàng của dân Việt, vào khoảng
đầu thiên niên kỷ thứ 3 trước Công Nguyên. Tại sao như vậy? Bởi
thời điểm khởi sự việc lập quốc {bao hàm ý niệm dân-tộc}, rất
quan-trọng giữa các quốc-gia có quá trình phân-tranh lâu dài với
nhau. Nếu dân-tộc xứ này dựng nước, sau một nước láng giềng đến
1000 năm trên, chắc chắn sẽ có lấn cấn về chuyện, dân-tộc này là
hậu duệ dân-tộc kia. Hoặc nước này xuất phát từ nước kia, hay do
nước kia thành lập. Các tác giả của truyền thuyết 'Con Rồng Cháu
Tiên' như vậy đã hết sức cẩn thận. Họ vẫn giữ và theo sát bản
chính truyền thuyết, xuất xứ từ khu vực Đông Bắc nước Tàu. Giữ
vững thời đại lập quốc của 3 xứ Trung Hoa, Triều Tiên, và Việt
Nam, trong khoảng thiên niên kỷ thứ 3 trước Công Nguyên. Và chỉ
đem thêm vào đó ý niệm Fast Forward, bấm nút vượt thời gian, cho
Kinh Dương Vương xuất hiện vào thời Xuân Thu Chiến Quốc ở bên
Tàu [11].
4)
Tuy nhiên, nếu nhìn toàn diện thánh tổ
của các quốc gia như Thái Lan, Trung Hoa, và Triều Tiên, cũng
như điểm giống nhau độc đáo về 18 đời vua tại Việt, Hoa và Hàn,
chúng ta thấy dân tộc 3 xứ Việt, Hoa và Hàn có chung một thứ
truyền thuyết về thời dựng nước hay nguồn gốc dân tộc, của cùng
một nhóm tác-giả với nhau. Nói cách khác, dân tộc 4 nước Thái
Lan, Việt Nam, Trung Hoa và Hàn (hay Triều Tiên) chia xẻ tình bà
con với nhau ít lắm một thế hệ tổ tiên (bên nội hay bên ngoại),
vào thời xa xưa.
5)
Dưới góc nhìn 'truyền thuyết có chung
nhóm tác-giả', chúng ta có thể nhớ tên gọi Miao-Yao, nhất là
Yao, được một số phương ngữ phát âm như [Iu], theo kiểu Phúc
Kiến, lột mất âm [Y] (tức [yờ]) đằng trước. Nhưng [Iu] lại có
thể biến chuyển qua lại với [Âu], như kiểu: Andy Lau => De Hua
Liu. Tân Trào => Thủy Triều. Nam Chiếu => Nan Zhao. Do đó có thể
thấy [Âu] trong 'Âu Cơ' cũng có thể xuất phát từ tên gọi ban đầu
của một tộc chủ lực trong nhóm Cửu Lê: 'Âu' => 'Yao' (Miêu-Dao)
=> 'Iu'. Tức chuyện tách rời 50 người con theo Âu Cơ cũng có thể
đã đặt ra để miêu tả chung việc chia tay giữa nhóm người thích
tiếp tục sinh sống ở địa bàn rừng núi, với nhóm người thích ứng
được với đời sống ở miền đồng-bằng, gần sông biển. Tại Trung
Hoa, việc chia tay đó đã thể hiện giữa người Miêu-Dao (miền rừng
núi) và người Hẹ (du mục, miền đồng bằng). Đem sang xứ Việt,
việc chia tay 50:50 đó, đã được xử dụng để ghi lại: (i) Chia tay
giữa người Choang ở Quảng Tây, với tộc Thái-cổ chủ lực ở Quảng
Đông, (ii) Chia tay giữ các tộc Thái + Lê + Miêu với người Lạc
Việt ở vùng đồng bằng. Các tộc Thái, Lê và Miêu, với Thái chủ
lực, sống biệt lập ở miền rừng núi, cùng với người Đa Đảo, lâu
ngày trở thành người Mường.
6)
Thế người Hẹ là người Tàu nguyên thủy,
như nhiều trang mạng về Hakka thường xác định, hay là người Việt
khởi thủy? Trả lời câu hỏi này rất khó nếu dùng lô-gích nhị
nguyên. Hoặc cái này hoặc cái kia. Tức theo kiểu thông thường,
chỉ có 2 trị số zero (0) và Một (1), được dùng đến trong giải
đáp. Hoặc Hoa hoặc Việt. Không có lưng chừng. Thử dùng lô-gích
fuzzy. Lô-gích fuzzy cho phép ta dùng một trong dải trị số kéo
dài, liên tục, từ 0 đến 1. Ta thấy: Hakka= một tộc Việt, có thể
mang 'độ tin tưởng' khoảng 0.68 trong dải trị số biến đổi từ 0
đến 1. Và Hakka= Hoa, với trị số độ-tin-tưởng khoảng 0.50. Bởi
những lý do chính sau đây:
·
Việt tộc có ít tộc người hỗn hợp hơn
Hoa tộc. Việt có trên dưới chừng 5 tộc chủ lực, trong khi Hoa có
thể đến 18 thứ tộc chủ lực (ban đầu) khác nhau.
·
Người Hakka hoàn toàn hoà mình thành
người Việt, với sức nặng chủ lực nòng cốt. Mặc dù có thể ban đầu
do sức ép: 'nhập gia tùy tục' do người Việt bản địa Môn-Khmer và
Thái-cổ đòi hỏi. Ở Việt Nam, ít khi nghe nói đến cộng đồng người
Hẹ riêng rẽ. Trong khi ở Trung Hoa, cộng đồng người Hẹ lên đến
khoảng 35 triệu người, sống đan xen với các cộng đồng khác,
nhưng với những biệt sắc rõ nét.
·
Địa điểm cuối cùng người Hakka dừng
chân lại định cư, luôn nằm ở khu vực đông đảo những tộc Bách
Việt, như: Quảng Đông (Meixian), Khương (Tứ Xuyên), Miao-Yao
(Giang Tây, Quý Châu, Hồ Nam, Tứ Xuyên, Vân Nam), v.v.
·
Nhóm Đông Di, trong đó có người Hakka,
ngày xưa có tục nhuộm răng xâm mình.
·
Phụ nữ Hakka không chấp nhận lối bó
quặp chân như đàn bà Trung Hoa.
·
Trên toàn thế giới chỉ có người Việt
mới gọi người Hakka (Khách gia) là người Hẹ. Đúng y hệt với tên
cúng cơm, người Hoa Hạ (hay chính người Hẹ) gọi họ vào thời
huyền sử xa xưa:
貉
[He] hay [Ho] {Hoặc [Mo] chỉ tộc Miao hay Mao} [12]. Tất cả
những nơi khác, nhất là người Hẹ tại Trung Hoa ngày nay, đều gọi
họ là Hakka, tức Khách Gia. Dù rằng trong chữ 'Khách' 客 có chữ
'Các' 各' dùng trong chữ Lạc
洛
chỉ sông Lạc hay họ Lạc
貉
của Lạc Long Quân {y hệt chữ [He]
貉}, hoặc Lạc
駱
trong Lạc Việt, hay Lạc
雒
trong Lạc Hầu, Lạc Tướng.
Trước khi quan-sát âm 'cơ bản' của chữ 'Việt' trong 'Việt-Nam'
chúng ta xin xem lại một lần nữa một vài từ thường cho là nôm-na
nhất để tìm lại vết chân của người Việt cổ xưa.
·
Nẫu:
Thuộc phương-ngữ xứ Quảng, mang nghĩa nguyên thủy: Nó, Chúng nó,
tức Đại-danh-từ ngôi thứ 3. Tiếng Tàu chỉ có phương ngữ Ngô-Việt
(Thượng Hải) dùng [Nong] thay cho [Ni] chỉ đại danh từ ngôi thứ
2: anh, chị, ông, bà, v.v. [Ni] viết như 你. Trong khi [Nong]
viết 儂 hay theo kiểu đơn-giản: 侬 {[8]}. Nhưng âm [nong] cũng
được dùng để chỉ 'Nó' - giống như âm tiếng Việt [nó]. [Nong]
Thượng Hải => Anh/Chị hoặc: Nó. [Nong] chỉ là phát âm kiểu
Thượng Hải hay Chiết Giang, và Quan-thoại - cho từ mang nghĩa
'Anh/Chị' hay 'Cô/Bác', hoặc 'Nó / Hắn / Cô ấy / Chúng nó'. Phát
âm Quảng Đông cho [nong] 侬 là [nung] hay [lung]. Hakka (Hẹ) có
hai lối phát âm chính cho [nong]: [Nung] và ... [Neu]-2. [Neu]
chính là phát âm tiếng Hẹ của 'Nẫu', rất giống [nẫu] và mang ý
nghĩa tương tợ => 'nó', 'chúng nó'.
·
Trey:
Một từ Khmer (hiện đại) mang nghĩa 'cá' (fish). Ngày trước
tiếng Môn-Khmer có những từ chỉ Cá mang âm [ka] hay [kaq] hoặc
[?ika:n], rất giống tiếng Việt. Riêng [ikan] cũng giống tiếng
Chăm-cổ. [Trey] chỉ Cá chính là [Tre] trong 'Bến Tre' [6] (ban
đầu, mang nghĩa: bến chợ Cá). Nhưng âm [Trei] chỉ là một âm quốc
ngữ, hay Môn-Khmer. Tiếng Tàu không có âm bắt đầu với [Tr] này,
như [Trei]. Âm tương đương của [Tr] trong tiếng Tàu thường là
[zh] hay [Ts], hoặc [Ch]. Thí dụ: Trang (họ) => Trương =>
[Zhang]. 'Trang' tiếng Việt, mang âm [Zhang] tiếng Tàu
(quan-thoại) và [Cheung] Quảng-Đông. Tra một quyển từ điển Quảng
Đông hay quan-thoại ta sẽ thấy: Chữ
鮆
cũng mang nghĩa 'con Cá' có
phát âm Quảng Đông là [zai] hay [tsai] và quan-thoại là [tsi]
hoàn toàn tương đương với âm [trei] tiếng Khmer, ở âm lẫn ý
nghĩa. Như vậy ta có thể thấy, người Môn-Khmer có mặt tại xứ
Việt cổ lẫn xứ Tàu.
·
Ná = Nỏ:
Tiếng Khmer là [sna]. Quan-thoại đọc [nu] 弩 . Quảng Đông:
[nou]. Đặc biệt rất giống tiếng Hàn (Hán-Hàn): [no] {xem [8]}.
·
Hên = May.
Tiếng Khmer là [hêng] [6]. Tiếng Tàu có một hai từ, có lẽ xuất
phát từ các thứ tiếng Bách Việt. Từ 倖 Hakka phát âm y hệt
[hen]. Trong khi Phước Kiến: [heng] giống như Khmer. Riêng 'May'
hay 'May mắn' rất có thể có cùng gốc với: 蓂 , mà Quảng Đông và
Quan thoại phát âm như [ming] hay [mi] (=> [may]). Còn Hakka
phát âm khá gần 'mắn': [men]. Nhưng tiếng Tàu ngày nay thường
dùng: 'hạnh vận' hoặc 'có phước' để chỉ sự 'may mắn'. 'Xui' hoặc
'rủi' cũng có từ mang âm tương tự trong các phương ngữ Hoa Nam,
nhưng thay đổi ý nghĩa 180 độ: 瑞 mang nghĩa 'điềm hên', hoặc
'may mắn'. Hakka, Quảng Đông và Phúc Kiến phát âm [sui] hay
[seoi] (=> xui) và Quan-thoại giữ [rui] như [rủi] tiếng Việt.
·
Ói = Ọc.
Tiếng Khmer y hệt [bòng-ọc] [6]. Cùng gốc với tiếng Tàu 嗀 với
phát âm Hẹ (Hakka) rất giống: [Ok], hoặc Quảng Đông: [hok].
Trong khi, 'Ói' tương ứng với 嘔 có phát âm Hẹ là [eu] và Quảng
Đông [au] {[8]}. 'Khạc' cũng tương tự trong tiếng Tàu: 衉 với
phát âm y hệt tiếng Hẹ: [khak]. Cũng giống y tiếng Thái (Lan):
[khat]. Nhưng [khak] tiếng Tàu, có nghĩa thường dùng: 'khạc ra
máu', 'ói ra máu', như 'thổ huyết'. 'Thổ' {tức [tu] 吐 } chưa
được nôm-na-hoá như 'ói = ọc = khạc', nên thường được xếp như
một từ 'Hán-Việt'.
·
Chia sẻ:
‘Chia xẻ’ trở thành chữ ‘Nôm-quốc-ngữ’ có lẽ do ở phân biệt
‘nhân tạo’ trong cách đánh vần giữa [sẻ] và [xẻ]. 'Chia sẻ'
thường viết khác với 'chia xẻ', để phân biệt hai động từ, hai ý
niệm hơi khác nhau trong tiếng Anh: 'to divide' (chia xẻ, chia
cắt, chia chác), và 'to share' (chia sẻ, góp phần). Nhưng 'chia
sẻ' lại mang trọn ý niệm của tiếng Hoa-Việt, tức tiếng Hán dùng
ở bên Tàu mang ảnh hưởng khối Bách Việt. Ý niệm đó là ý niệm
‘chia cắt phần cho đồng đều’ (thông thường), chứ không theo ý
niệm Tây Phương, trong đó ‘to share’ có thể không hàm ý một sự
chia cắt, mà là đóng góp, hoặc cáng đáng chung một công việc,
không nhất thiết phải đồng đều. Hai ý niệm hơi khác nhưng dùng
chung một thứ từ. Nói theo kiểu triết lý nôm-na, 'chia sẻ' dựa
nhiều hơn trên ý niệm thời điểm cuối: Chia sẻ lợi nhuận, trong
khi 'to share' nhấn mạnh ở thời điểm ban đầu: Hùn hạp làm ăn, cổ
đông viên, chia phòng thuê, chia cắt công việc. Tức ‘sẻ’ trong
‘chia sẻ’ mang nghĩa ‘xẻ’ như thường, và cũng có thể viết 'chia
xẻ': [sẻ] = [xẻ] = [cắt] = [phân chia]. Tiếng Tàu cho ‘chia’
thường là 分 [phân], Quanthoại đọc [fen]. Hoặc 'cắt' 割 , hay 隔
phát âm y hệt tiếng Mân [kat], hay Ngô [kâ?], hoặc Hẹ [gak]. Rất
giống, trong các thứ tiếng Ấn [kaatna] hay Bengali [kati], hoặc
Đa Đảo [katim / kotiva], hoặc Chămpa [catwa] hay Khmer [cat].
‘Chia’ hay ‘Sẻ’ có thể mang xuất xứ từ 除 hoặc 析 , đều mang
nghĩa ‘chia’, mà Hẹ phát âm: [tsiu] hay [sit]. Quan thoại:
[chu]. Quảng Đông: [tseoi] hay [tsyu] và [tsik]. Khá giống 'chia
cắt' trong tiếng Myanmar: [pya-de]. Riêng [Sẻ] hay [Xẻ] có thể
xuất từ 析 theo phát âm Mân: [sek], hay Hakka: [sak]. Tiếng Hàn
có phát âm cho từ 除 là [tsey] rất giống [xẻ]. Đặc biệt từ người
Hoa dùng để miêu tả ước muốn được chia phần nhiều hơn người khác
là 貪 đọc theo Quảng Đông; [taam], Phúc Kiến: [tham], và chính
là ‘tham’ trong tiếng Việt. Tiếng Thái Lan cũng có vẻ giống
tiếng Việt trong việc không phân biệt giữa 'chia xẻ' và 'phân
chia', hay 'chia cắt'. Họ gọi cả 'chia cắt' và 'chia sẻ' là
[han] hay [baeng], nhưng cũng dùng [yak] cho 'chia phần'. Đặc
biệt [baeng] cũng có gốc Hoa Nam: 攽 mang phát âm rất giống
trong tiếng Quảng [baan] và Hẹ [ban]. Cũng có lối viết gần với
頒 [ban] mang nghĩa 'ban phát'.
Bây giờ xin xem lại âm chữ 'Việt' trong 'Việt Nam'. 'Việt' là kí
âm kiểu quốc-ngữ cho chữ [Yue] viết theo Hán tự là 越 (Việt Nam
và Ngô-Việt của Câu Tiễn) hay 粵, chỉ tỉnh Việt tức Quảng Đông.
Người Mường phát âm giống như [Yịt] (vua Yịt Yàng = vua Việt mặc
áo vàng), thiên về âm [Y] chứ không phải [V]. Người Nhật đọc
theo kiểu [by] Nam bộ. Họ gọi 'Việt Nam' bằng: [Beto-Namu].
Quảng Đông, cũng tự gọi là 'Việt' viết theo bộ Mễ (gạo), phát âm
như: [Yuet]. Câu hỏi xin đặt ra đây: Trước thời quốc-ngữ người
Việt bản xứ, tự gọi họ là gì? 'Việt' hay 'Byiệt'?
Trước đây, việc trả lời câu hỏi này là một vấn-đề rất gay-go và
hóc-buá. Nhưng ngày nay, khi chứng minh được tộc người Việt-Nam
thật ra đã được tiến tạo và thành hình qua cả nghìn năm hợp
chủng, vấn-đề trở nên đơn-giản hơn xưa rất nhiều. Câu hỏi do đó
có thể thu gọn thành: 'Tộc Việt nào đã phát âm như 'Yuệt' hay
'Byiệt', và những tộc nào đã nói như 'Việt' hay 'Wiệt'?"
Trước hết chúng ta đưa ra nhận xét:
Đối với các từ Hán
có âm bắt đầu bằng [Y], thông thường khi cả hai phía,
quan thoại và quảng đông, đều dùng âm [Y], khi chuyển sang Việt
ngữ, sẽ chuyển sang âm [D]. Thí dụ:
Do Thái= [you tai].
Doanh nghiệp= [ying ye]. Doanh thương= [ying shang]. Dung dich=
[rong yè]. Du lịch= [yu lì]. A dua= [a yú]. Tình dục= [qíng yù].
Du thủ du thực= [you shou yóu shí]. Duyên phận= [yuan fen].
Duyệt= [yué]. Dư âm= [yu yin]. Dư luận= [yú lùn]. Dì= [yí]. Diễn
viên= [yăn yuán]. Ẩn dật= [yin yì]. Dưỡng dục= [yang yu]. Dương=
[yang]. Dạ (đêm)= [ye]. V.v.
Âm [D] tiếng Việt
lại có 2 cách phát âm, phản ánh kiểu đa số các phương ngữ ở Hoa
Nam (D = Y), và phản ánh kiều Hakka. Kiểu Hakka có thể chuyển
tất cả âm [Y] sang qua [Dz]: dzuyên dzáng, anh dzũng, người Dzao
(Yao),...
Nhưng không phải âm
[Y] nào tiếng Tàu cũng chuyển thành âm [D] qua tiếng Việt. Có
một vài lối ngoại lệ. Trong những ngoại lệ đó, [Y] quan-thoại,
khi chuyển sang tiếng Việt, sẽ chuyển thành âm [V]. Thí dụ:
·
Yue-Nan: Việt
Nam
·
Wang Yu: Vương Vũ
(đáng lẽ Vương Yũ hay Vương Dũ)
·
Gong Yuan: Công viên
(thay vì: công yiên hay công diên)
·
Yu zhou: Vũ
trụ (đáng lẽ: Dũ trụ / yũ trụ)
·
Yuan zhu: viện
trợ (đáng lẽ: yiện trợ / diện trợ)
·
Yong bie: Vĩnh
biệt (đáng lẽ: yĩnh biệt / dĩnh biệt),. . . v. v. . . .
Xin nhắc lại:
·
Hiện tượng biến
chuyển thông thường: [Y] quan thoại pinyin sang [D] tiếng
Việt. Thí dụ: Yang Yu => Dưỡng Dục.
·
Ngoại lệ: [Y]
pinyin quan-thoại biến ra [V] khi sang tiếng Việt: [Yue]=> Việt.
Thí dụ: Xiang Yu=> Hạng Vũ; Gong Yuan=> Công Viên; Yun (Mây)=>
Vân.
Muốn quan-sát thật
kỹ biến chuyển từ âm [Y] trong quan-thoại sang [V] tiếng Việt,
trong chữ 'Việt', xin xem Bảng I, đối chiếu từ tiêu biểu cho
ngoại lệ '[Y]-Hoa => [V]-Việt'.
Xem từng cột một, và
tập trung ở so sánh cột 2 và 5, ta thấy:
·
Phát âm tiếng Hakka
(Hẹ) vẫn giữ vững khuynh hướng đổi âm [Y] sang [Dz], như trong
tiếng Việt (D). Tuy nhiên ký âm a-b-c cho tiếng Hẹ dùng chữ [Z]
chứ không phải [Dz] như kiểu 'Dzũng' tiếng Việt: 'vưu' = [you]=>
[zu], 'viết' [yue]=> [zet].
·
Tiếng Quảng Đông
(hiện đại) có vẻ theo sát âm quan-thoại, giữ vững [Y]. Trừ
trường hợp 'vĩnh' như tiếng Việt: [yong] => [wing]. Ngoài ra,
không liệt kê trong bảng: 'vân' (mây / Khmer: mek) = [yun]
(quanthoại) => [wen].
·
Phát âm Ngô-Việt cho
thấy mang chút ảnh hưởng tiếng Mân (Phúc Kiến) bằng cách lột mất
âm 'yờ' tức [Y] để nguyên-âm đứng đầu, theo kiểu tiếng Mân và
tiếng Việt: [yêu] đọc như [iêu].
·
Trong khi tiếng Mân,
giống như tiếng Việt, âm [yờ] quan-thoại (tức [Y]) hoàn toàn bị
lột mất, chỉ còn để nguyên âm: người [Yao] => người [Iu]. Chi
You => Chi Iu. [vũ] / [yu] => [u] {cái ô (dù) xuất phát từ âm
[u] này}.
·
Tiếng Hải Nam (cột
9) cho thấy mang ảnh hưởng vừa của nhóm Hakka ([Y] => [Z]), vừa
của âm Quảng-Đông cổ ([Y] => [U] hay [W]), ở thế kỷ 19 theo từ
điển của Roy T. Cowles [7]. Rất có khả năng từ điển của Roy T.
Cowles đã dựa vào một tiểu chi nào đó của phương ngữ Quảng Đông,
mang ảnh hưởng tiếng Triều Châu - Phúc Kiến.
·
Âm Quảng-Đông khoảng
thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 (cột 11) cho thấy khá giống kiểu
biến đổi [Y] sang thành [V] của tiếng Việt. Và rất giống [W]
tiếng Hán-Hàn (cột 8)
|
Hán |
Việt |
Hẹ |
QĐ |
QT |
Ngô |
Mân |
Hàn |
HN |
CS |
QĐx |
HTC |
GHI CHÚ |
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
|
尤 |
vưu |
zu |
Yau |
you |
Iw |
iu |
wu |
ziu |
iou |
yau |
hjuw |
Xy Vưu |
|
员
|
viên |
zen |
Yun |
yuan |
yO |
oan |
wen |
zoan |
yen
|
uen |
wen |
nhân viên |
|
宇 |
vũ |
zi/ zu |
Yu |
yu |
y |
u |
wu |
zi |
yi |
ue |
wo |
hoàn-vũ |
|
援 |
viện |
zen |
Yuen |
yuan |
yO |
uan |
wen |
zoan |
yen |
uen |
wen |
viện trợ |
|
又 |
vừa |
zeu |
Yau |
you |
Iw |
iu |
wu |
ziu |
iou |
yau |
hhew |
hựu H.V. |
|
永 |
vĩnh |
zun |
Wing |
yong |
iong |
eng |
yeng |
zong |
in |
wing |
waing |
vĩnh biệt |
|
曰 |
viết |
zet |
Yoek |
yue |
yI? |
uat |
wal |
ziet |
ye |
uet |
wet |
| |