|
Trong bài này chúng ta thử khảo sát sơ lược 'dư âm' của các
tiếng thuộc khối Bách Việt xa xưa còn mang ảnh hưởng trên tiếng
Việt. Bài này được viết ngay sau loạt bài về 'Thử đọc lại truyền
thuyết Hùng Vương', đặc biệt bài về 'Hùng Vương: quốc tổ mang
hai giòng máu'. Với mục đích thử xem lại truyền tích ‘Âu Lạc’
qua một số tài liệu ngôn ngữ hạn hẹp có trước mắt.
1. TRUYỀN THUYẾT CON RỒNG CHÁU TIÊN
Trước hết xin tóm tắt ý nghĩa của truyền thuyết Âu Cơ, được giải
mã dưới góc nhìn nôm na của thế kỷ 21 (xem [1]). Trong đó chúng
ta đặc biệt chú ý đến việc chia ly đầy nước mắt của vợ chồng Lạc
Long Quân và Âu Cơ. Một cuộc chia ly vĩnh viễn không hẹn ngày
tái ngộ.
Truyền thuyết Âu Lạc được đặt để vào trong bộ sử đồ sộ và đầu
tiên 'Đại Việt Sử Ký Toàn Thư' của Ngô Sĩ Liên vào đời nhà Lê,
xuất phát từ những chuyện thần tiên cổ tích của người Mường [1]
[2].
Việc giải mã truyền thuyết xưa cũ bắt đầu bằng ý niệm 'Fast
Forward', y như việc bấm nút cho băng video quay nhanh về phía
trước. Đúng y như ý định của các tác giả truyền thuyết. Rồi truy
về nguồn gốc người Mường chính thuộc chủng Thái, thuở ban đầu cư
dân nước Sở ở thời Xuân Thu Chiến Quốc (770-221 TCN) bên Tàu xa
xưa. Dân nước Sở rất nổi tiếng với những chuyện tích u linh
hoang đường. Vấn đề này từ trước đến nay thường bị bỏ sót bởi
chúng ta hiểu biết rất ít về thành phần của khối Bách Việt đó.
Đặc biệt các chi chủng nhỏ lớn đủ thứ ngày trước người Hoa gộp
chung lại một nhóm và gọi đó chủng Yueh (Việt). Quan trọng nhất
chúng ta cũng bị ảnh hưởng sử sách viết theo quan điểm lấp loát
và tiện nghi của Hoa chủng cho rằng chủng Yueh chỉ hiện diện ở
phía Nam sông Dương Tử, tức miền Hoa Nam. Ngày nay với phương
tiện internet, chúng ta tìm tòi tra cứu rất dễ các tài liệu rất
quan trọng, ngay cả đối với thứ cổ sử mù mờ xa xưa. Rất nhiều tư
liệu do các nhà khảo cứu từ những đại học lớn trên thế giới đều
có thể truy cập được dễ dàng qua mạng internet.
Theo thiển ý, rất nhiều công cuộc khảo cứu về cổ sử hoặc tài
liệu khai quật được thường vướng phải một vài vấn đề tuy có vẻ
tầm thường, nhưng dễ gây ra lạc hướng hoặc ngộ nhận. Thông
thường chúng ta vướng phải ngộ nhận do ở chỗ thiếu thốn hiểu
biết về cổ sử Tàu. Hoặc nếu có hiểu biết, lại hiểu biết theo như
ý muốn của người Tàu.
Xin đưa ra vài thí dụ, như sau.
(a)
Người Hoa có vua chúa từ thời các ông
Hoàng Đế, Thần Nông, rồi Nghiêu (Yao), Thuấn (Shun). Thuấn sau
đó truyền ngôi cho ông Yũ (Vũ) bắt đầu triều đại thế tập đầu
tiên của Tàu: nhà Hạ. Hạ kéo dài từ khoảng 3000 năm trước Công
Nguyên (TCN), truyền được 18 đời vua, đến lúc bị Thành Thang lật
tạo nên nhà Thương (1700-1100 TCN). Sự thật, giới sử học
chưa có thể minh xác chắc chắn về việc nhà Hạ có thật hay không.
Còn các vị Tam Hoàng hay Ngũ Đế (như Thần Nông, Nghiêu, Thuấn,
v.v.) hoàn toàn thuộc huyền sử, ở cái thời người Tàu - Hoa chủng
- còn sống trong dạng bộ lạc, địa bàn quanh quẩn bên sông Hoàng
Hà, khu vực Thiểm Tây, Sơn Tây. Tức chừng 1-2 tỉnh ngày nay. Ra
khỏi khu vực Hoa chủng thuở ban đầu đó, người ta sẽ đi vào các
vùng đất thuộc các chủng khác, người Hoa xưa ưa gọi 'rợ', hay
'man yi'. Rất nguy hiểm, bởi có nhiều thứ nhuộm răng, xâm trán,
xâm mình. Và cũng có thứ giết người để tế thần, hoặc để ăn thịt
[4].
(b)
Cho tới thời Xuân Thu Chiến Quốc, phía
Bắc Dương Tử bao gồm Hoa chủng và phía Nam Dương Tử chỉ
toàn khối rợ Nam Man, đến cuối thời Chiến Quốc, người ta mới đặt
tên Bách Việt, mang nghĩa chung: khối rất lớn các chủng Yueh.
Sự thật, bốn phía của Trung thổ ngày trước đều có những
chủng khác với chủng Hoa. Đặc biệt chủng Yueh cũng có mặt ở
Hoa Bắc, điển hình tại nước Sở (ban đầu, gồm Hồ Bắc ngày
nay), khu vực nước Tề (Sơn Đông), Tấn (Sơn Tây / Hà Bắc), v.v
[9]. Thế nhưng, người Hoa, ngày xưa có thói quen phân loại chủng
'rợ' theo phương hướng: Bắc Địch, Đông Yi, Nam Man, và Tây
Nhung. Do đó sử sách, đặc biệt của Việt Nam, chỉ ưa chú trọng
đến đám Nam Man mà thôi. Thật ra đám Khương Nhung (tức Tây
Nhung) cũng có chứa một hai chi chủng Yueh, rất có khả năng tiền
thân của dân Miến Điện, và Khờ Me [3], [4]. Đám Đông Yi, tụ tập
ở khu vực tỉnh Sơn Đông ngày nay, còn mang tên khác Lai Yi (tức
Lạc Yi) bao gồm chủng Lạc tức Yueh, cũng có nhuộm răng xâm mình
giống y như dân miệt dưới [4]. Đông Yi cũng chứa một nhóm thật
Việt, và có lẽ Việt rất thuần túy, gọi Bộc Việt, thường có mặt
trên nhiều chiến trường thời Đông Chu Liệt Quốc [8] [18].
(c)
Đại đa số người Việt cũng thường rất mù
mờ về chi tiết của các chủng Yueh trong khối Bách Việt (Bai Yue)
nói trên. Sự thật: Nói là Bách Việt, nhưng không phải
Việt nào cũng giống Việt nào. Thật ra, có trên hàng trăm thứ
Yueh khác nhau. Muốn kiểm chứng, chỉ cần nhớ tại nhiều nơi nước
Tàu ngày nay, người ta chỉ cần di chuyển chừng 30 cây số, có thể
thấy ngôn ngữ, tiếng nói khác nhau rồi. Bình Nguyên Lộc [4] có
lẽ người đầu tiên đã dành một phần lớn ‘quyển sách Mã Lai’ để mô
tả về các chi chủng này. Dù độ chính xác của việc khảo cứu chưa
được hoàn hảo, và lối viết rất lộn xộn, nhưng theo thiển ý,
những kết luận và dữ kiện trình bày không thua gì các công trình
của các tác giả Tây Phương, ngay cả các vị khoa bảng tại các đại
học lớn tại Mỹ hiện nay. Ngoài ra, cuộc tìm hiểu dạng bỏ túi gần
đây, nhất là từ internet, đã cho biết rất nhiều dữ kiện của
'quyển Mã Lai' [4] đã được nhiều nhà nghiên cứu sử Tây phương xử
dụng, hay ít lắm đồng thuận với kết luận [5]. Nhưng xin được
phép nhấn mạnh nhiều kết luận của 'quyển Mã Lai', theo thiển ý
nằm trong 'giới hạn mức trên' của vấn đề. Trong khi loạt bài này
cố gắng chú trọng đến 'giới hạn mức dưới', tức để ý nhiều đến
phân biệt các chi chủng, đặc biệt giữa Thái và Việt. Mù mờ về
các chủng Yueh sẽ khiến chúng ta không thể nào hiểu được hay
giải mã được những điểm gút mắt của các truyền thuyết xưa nay đã
dính chặt vào cổ sử. Mặc dù bên ngoài những điểm này có vẻ rất
thường tình, rất xoàng, ít được chú ý đến. Việc bỏ sót những chi
tiết quan trọng về các chủng Yueh từ xưa đến nay đều có thể qui
về chỗ, đó chính là điểm sử sách Hoa không thích đào sâu. Bởi nó
hãy còn liên hệ đến vấn đề của các khối dân tộc ít người, những
khu vực tự trị, đặc biệt ở phía Nam nước Tàu.
(d)
Nhìn vào truyền thuyết con rồng cháu
tiên, ai cũng thấy chuyện kỳ lạ là 18 ông vua Hùng, ông nào ông
nấy đều sống trên 150 năm. Phối hợp với cái hội chứng 4000 năm,
người Việt nói chung rất thích truyền tích 'con rồng cháu tiên'
đó. Bởi nó cho biết chủng Việt ra đời không một lượt thì cũng
không sau Hoa chủng bao lâu. Có cùng chung 1 vị thánh tổ mang
tên Thần Nông thuộc hạng Tam Hoàng – Ngũ Đế. Người Tàu có lẽ rất
vui khi thấy người Việt mặc dù phía ngoài không thích nhận chủng
mình xuất phát từ nước Tàu, nhưng lại nhận mình con cháu Thần
Nông và chép luôn 18 đời ‘vua’ nhà Hạ trong cổ sử Tàu, sang
thành 18 đời Hùng Vương. Sự thật: Người Hoa cũng nhận bá
vơ, thấy người sang bắt quàng làm họ. Thần Nông thật sự mang
chủng Việt 100% (Xin xem bài số 2 về ‘Thuyết Hùng Vương’). Sự
thật khác: Hùng Vương thứ nhất, nếu có thật, mang trong
người hai giòng máu: Thái và Việt. Không một giọt máu Tàu nào
hết. Và nếu thật là người, ông là một người con bất hiếu - theo
quan điểm hệ giá trị của bất kỳ chủng tộc nào, tự cổ chí kim.
Bởi ông ta không quan tâm gì đến đới sống của mẹ Âu Cơ sau khi
chia ly với cha Lạc Long Quân.
(e)
Theo Bình Nguyên Lộc [4], giới sử gia
người Tàu biết rất ít về người Mường. Nhất là trong các ‘thư
tịch’ cổ. Không có đề cập đến Mường. Có lẽ vì lý do đó, ta để ý,
sử sách Việt cũng ít đá động đến người Mường. Nếu có, lại ưa bắt
chước thói Tàu gọi họ là người Mán, trại âm từ ‘Nam Man’ y hệt
như người Hoa gọi dân Bách Việt. Vô hình chung khiến người ta
không để ý đến họ trong suốt chiều dài lịch sử, nhất là trong
1000 năm Bắc thuộc. Cũng ở lý do này, việc xem lại truyền thuyết
thường xuyên không được đối chiếu với bản của Mường. Bản Mường
của truyền thuyết 'Âu Cơ' lần đầu tiên xuất hiện trong quyển
sách của Jeanne Cusinier vào thời tiền chiến [6], chưa hề được
đối chiếu so sánh với bản trong 'Lĩnh Nam Chích Quái' mà Ngô Sĩ
Liên đã chép vào bộ sử của ông. Chỉ có tác giả quyển Mã Lai [4],
đã trích dẫn bản Mường, nhưng rất tiếc lại dành cho một vấn đề
khác. Sự thật: người Mường, chính ra gốc Thái đa số từ
hai nước Sở và Tây Âu di dân sang Bắc Việt cùng thời với, hoặc
trước, chủng Lạc. Phải để ý đến họ, mới giải mã được truyền tích
Âu Cơ. Hoặc ngược lại, giải mã xong truyền thuyết Âu Cơ mới biết
được nước Việt Nam thời sơ khai bao gồm hai chủng chủ lực chính:
Âu (Thái) và Lạc (Việt). Chủng Âu, hoặc Thái, chắc chắn đã hội
nhập rất nhiều với chủng Lạc (tức Việt). Chỉ những thành phần từ
chối hội nhập, cả Thái lẫn Việt, mới trở về miền rừng núi và
lâu năm trở thành người Mường.
(f)
Bởi tham khảo nhiều sách Tàu viết theo
quan điểm của Tàu, nhiều tác giả Việt ưa lâm vào tình trạng
tránh, hay quên, so sánh hoặc liên kết sự kiện lịch sử nước Nam
với những biến động kinh hoàng ở bên Tàu vào thời Xuân Thu Chiến
Quốc (770-221 TCN), hay chiến tranh đẫm máu sau này như vào thời
nhà Nguyên (Mông Cổ), với những chuyện di cư di tản hằng khối
người thuộc khối Bách Việt, thường về hướng Nam. Sự thật:
Nếu đọc kỹ lại sử Việt, ta thấy rõ, cứ mỗi lần có biến động hay
chiến tranh bên Tàu là có di cư sang Bắc Việt, hay đánh phá ở
vùng biên giới. Đặc biệt, cuộc xâm lược xứ dân Lạc của dân Âu
(Tây Âu) do một người thuộc chủng Thái (tức Âu) lãnh đạo, mang
tên Thục Phán, bắt nguồn từ chỗ chủng Âu (tức Thái) ở miền Hoa
Nam chịu không nỗi sức ép khủng bố của quân nhà Tần nên phải tìm
đường tạo dựng bản địa sinh sống mới. Rồi mười mấy thế kỷ sau,
việc quấy phá biên giới chỉ yên sau khi xứ Nam Chiếu (tức Vân
Nam ngày nay), cũng chủng Thái, bị bọn nhà Nguyên dứt điểm và
cho dân phía Bắc đến định cư. Quá khốn đốn, dân Nam Chiếu tràn
về phía Nam và tạo dựng nên Thái Lan và Lào [3].
(g)
Việc theo sát quan điểm của Tàu, cũng
dễ đưa việc nghiên cứu về tiếng Việt thiếu thốn một lối nhìn
toàn diện, bao gồm ảnh hưởng của các phương ngữ tiếng Tàu như:
Hẹ, Hải Nam, Triều Châu – Phúc Kiến, Chiết Giang, Vân Nam, Quí
Châu, Hồ Quảng, v.v. Ngoài ảnh hưởng hai thứ Phổ thông và Quảng
Đông, như vẫn thường được chú ý từ xưa đến nay. Từ đó dẫn đến
một ngộ nhận rất thông thường: tiếng Hán Việt có tự ngàn xưa,
do chính tiền nhân biến đổi cách phát âm của người... Tàu. Sự
thật: Như sẽ trình bày khái quát ở đây, cũng như đã trình
bày chi tiết trong loạt bài về chữ Nôm và quốc ngữ [7], rất
nhiều từ xưa nay vẫn thường nghĩ thuần Nôm lại có nguồn gốc Bách
Việt. Ngoài ra, đối chiếu với các phương ngữ Tàu, và ngay cả
tiếng Mường, Nôm, cũng đã cho thấy tiếng Việt, đặc biệt Hán phát
âm theo Việt, đã biến đổi rất nhiều kể từ khi có ký âm theo kiểu
a-b-c, tức chữ quốc ngữ [7].
Xin trở lại với truyền thuyết Âu Cơ, được giải mã [1] và tóm tắt
như sau:
1.
Truyền thuyết Âu Cơ bắt nguồn từ một
truyền tích cổ của người Mường. Bối cảnh thật sự của câu truyện
được dựng chung quanh nước Sở ở thời Xuân Thu Chiến quốc bên
Tàu. Nước Sở vào thời dựng nước (khoảng 1123 TCN) bao gồm hai
tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc ngày nay.
2.
Truyền thuyết Âu Lạc, như đã đề cập ở
phần đầu và khác với bản Mường, có một đọan Fast Forward (quay
nhanh), khiến người Việt, kể cả những nhà khảo cứu, thường không
để ý đến, và bỏ sót. Đó là đoạn Đế Minh bắt chuyến máy bay
China Airlines 2879 TCN [19] đi tuần thú phương Nam. Thời Đế
Minh, khoảng cuối thiên niên kỷ thứ 3 trước Công Nguyên, Hoa
chủng nguyên thủy không biết gì đến các địa danh như châu Kinh
và Dương (cho ra tên Kinh Dương Vương), rặng Ngũ Lĩnh, Động Đình
Hồ,... Bởi đó là những địa danh, nhân danh của nước Sở, chỉ được
thành lập ngót 2000 năm sau khi Đế Minh ra đời (khoảng 1123
TCN). Toàn bằng chữ Tàu ròng và chỉ có vào thời Xuân Thu Chiến
Quốc (770-221TCN). Đặc biệt, diễn biến câu chuyện từ khi Kinh
Dương Vương xuất hiện, hoàn toàn xảy ra sau năm 1000TCN. Tức
chuyện Âu Cơ và Lạc Long Quân chỉ là chuyện di tản hai chủng Âu
và Lạc xuống đồng bằng Bắc Việt khi sức ép khủng bố của chủng
Hoa nguyên thủy quá sức dữ dằn.
3.
Người Sở có gốc chủng Thái. Người Mường
cũng vậy. Và rất nhiều bộ tộc Mường khởi xuất di tản từ Sở, vào
thời loạn lạc của Đông Chu liệt quốc. (Xin xem chi tiết ở một
vài bài khác). Họ chạy xuống phía Nam, hội nhập với đồng chủng
tại các xứ ven biên giới Việt Hoa ngày nay như: Tây Âu (tức Âu
Việt) và Điền Việt (tức Nam Chiếu). Rồi sau đó theo với truyền
thuyết, và cũng theo cổ sử Tàu, đặc biệt quyển Hoài Nam Tử của
Liu An, họ vẫn bị quân Tần rượt bén nút.
4.
Chuyện Âu Cơ - Lạc Long Quân chỉ là
chuyện di tản hằng khối, hoặc chuyện cố gắng hợp chủng, của hai
chi chủng Thái (Âu) và Việt (Lạc), đều có mặt tại địa bàn nước
Sở thời xưa.
5.
Bắt đầu của truyền tích: 'Đế Minh cháu
3 đời của vua Thần Nông' đã gây ra lộn xộn, và bao hiểu nhầm,
suốt 600 năm qua. Mục đích của việc kéo Thần Nông vào truyền
tích chỉ ở chỗ cho người Hoa biết dân Việt cũng phát xuất cùng
thời với chủng Hoa. Thật ra, trong lối cấu tạo truyện thần
thoại, không có cách nào khác hơn là việc kèm Thần Nông vào câu
chuyện. Rất chính xác nữa là đằng khác, bởi như được chứng minh
ở một bài khác Thần Nông cũng là sản phẩm trí tưởng tượng của
chính người nước Sở, với chủng Thái chủ lực.
6.
Thần Nông nên được xem như một biểu
tượng, cho biết dân đó xứ đó thời đó đã tiến lên sinh sống bằng
canh nông. Thần Nông, người Tàu đã nhận bá vơ là một trong những
ông tổ của họ. Sự thật, Thần Nông, nếu người, lại là người Sở
chủng Yueh (chi Thái). Và mãi đến ngày nay, nhiều bộ tộc Mường
hãy còn thờ Thần Nông như thánh tổ nghề nông [6]. (Xin xem các
dẫn chứng ở bài: 'Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương' HOẶC Tra
cứu trên internet về nước Sở = CHU hay Thần Nông = Shen Nong).
7.
Nếu xem tên các nhân vật như biểu tượng
- ta sẽ thấy thật rõ:
-
Kinh Dương Vương: chỉ dân châu Kinh và
châu Dương, đều là hai châu chính của nước Sở. Đất Kinh bao gồm
dân chủ lực thuộc chủng Âu (tức Thái). Đất Dương nằm về phía
Đông của đất Kinh, chứa dân Việt chi Lạc. Châu Dương bao gồm
vùng đất Sở chiếm về sau này ở vùng ven biển: nước U Việt (Câu
Tiễn) và nước Ngô (Phù Sai).
-
Âu Cơ: tiêu biểu cho nhóm dân tộc hãy
còn theo Mẫu Hệ. Nhóm người Âu (Thái) ưa sinh sống ở miền núi
rừng. Rất rõ 'Âu Cơ' mang họ 'Âu' của chủng Âu hay người nước
Tây Âu. Bản Mường cho Âu Cơ mang tiền kiếp con nai đốm sao, cũng
loại thú sống miền rừng núi. Bản Việt ám chỉ Âu Cơ chính là
tiên, viết theo chữ Hán chính là 'người xuất hiện trên núi':
'người + núi' = nhân (ren) + sơn (shan):
仙
(
仙
=
人
+
山
=> tiên = nhân + sơn)
đã xác nhận rõ ' Âu Cơ' là dân miền núi rừng, tức chủng Thái
hay Mường.

-
Bởi
cái tên Kinh Dương Vương chứa chữ 'Dương', chỉ đất Dương, tác
giả truyền thuyết mới dựng nên được một nhân vật chủng Lạc
(Việt) mang tên Lạc Long Quân. Lạc Long Quân, với họ Lạc, tên
lót ‘Long’, tức rồng chỉ dân miền đồng bằng gần sông biển. Tiêu
biểu chủng Lạc (Việt). Đây có thể là điểm 'tuyệt chiêu' của các
tác giả truyền thuyết, chứng tỏ tác giả đã không để một sơ sót
về hồ sơ chủng tộc của Lạc Long Quân. Bởi nếu cho cha của Lạc
Long Quân không mang tên Dương trong đó, như Kinh Vương chẳng
hạn - vấn đề sẽ gảy vỡ ngay tại chỗ, bởi đất Kinh chỉ có chủng
Thái chủ lực mà thôi. Đất Dương mớí có chủng Lạc. Muốn cho chắc
chắn tác giả cho thêm vào 'Long Wang' từ bản nguyên thủy của
Mường họ LẠC, thành Lạc Long Quân, để nhấn mạnh y có máu và DNA
của chủng Việt (Nam). Do ở chỗ tác giả đã bao gồm 'Dương' trong
tên 'Kinh Dương Vương', việc cho Lạc Long Quân mang máu Lạc 100%
mới được hợp lí . Về sau, để ý đến tên hiệu An Dương Vương của
Thục Phán. 'An Dương' có thể mang nghĩa 'trị an xứ Dương', ám
chỉ một người chủng Âu (tức Thái) trị AN được xứ DƯƠNG của chủng
Lạc.
8.
Hôn nhân giữa Âu Cơ và Lạc Long Quân là
thứ hôn nhân của hai người dị chủng, một thứ 'tình không biên
giới', biểu tượng cho thí nghiệm hợp chủng giữa Âu và Lạc, qua
chuyện di tản thuở ban đầu của dân chúng ở hai châu Kinh (Thái)
và Dương (Việt), chạy trốn sức ép của vua quân nước Chu, nước Sở
(chuyên đi dẹp các đám rợ), nước Tần, ... HOẶC qua việc Thục
Phán, người chủng Âu chiếm xứ Lạc và lập nên nước Âu Lạc. Hay
biểu tượng cho việc Triệu Đà sát nhập miệt dưới của xứ Âu Lạc,
gồm đa số chủng Lạc, với đất Nam Việt thuở ban đầu bao gồm phần
lớn Lưỡng Quảng, thuộc chủng Âu, tức Thái. Hợp chủng Việt với
Thái theo truyền thuyết có thể xảy ra từ lúc hai chủng còn sinh
sống bên nhau ở nước Sở, qua các địa danh và nhân danh như: Hồ
Động Đình, Ngũ Lĩnh, Kinh Dương Vương (châu Kinh hợp với châu
Dương), Thần Nông (vị thần có đầu mang sừng tlu (trâu), hiện còn
được thờ tại Hồ Bắc, tức Sở ngày xưa),…
9.
Truyền thuyết, cả Mường lẫn Việt, nói
rất rõ vợ Âu Cơ và chồng Lạc Long Quân thuộc hai chủng tộc khác
nhau: Âu Cơ chủng tiên hay nai có đốm sao, Lạc Long Quân, giống
rồng hay cá. Ở nhau lâu dài không đặng. Nên đành phải chia tay.
Nàng Âu dẫn 50 con đi về quê thật sự của mình: tức miền rừng
núi. (Để ý cả ‘tiên’ lẫn ‘nai’ đều là biểu tượng của rừng núi).
Trong khi chàng Lạc dẫn con xuôi về miền đồng bằng gần sông gần
biển (giống rồng hay cá đều có môi trường sinh sống là nước).
10.
Cuộc chia tay giữa vợ Âu và chồng Lạc nói thật rõ: chủng nào nên
trở về địa bàn sinh sống nguyên thủy của chủng ấy. Trên thực tế,
chúng ta đã thấy người Hán sau khi xâm chiếm toàn cõi Hoa Nam đã
tách nước Nam Việt thành 2 phần: phía Bắc gọi Quảng Châu bao gồm
đa số dân Âu tức Thái. Phía Nam gọi Giao Châu với thành phần chủ
lực là dân Lạc, tức Việt. Quảng Châu có rất nhiều núi rừng thích
hợp với dân Âu. Giao Châu trở thành nơi tụ tập hoặc tiếp nhận
dân Việt chủng Lạc, thích địa bàn gần sông gần biển.
11.
Ngay tại địa phận Giao Châu, những người gốc Âu (Thái) cũng cảm
thấy việc hợp chủng có mòi thất bại, và cũng theo truyền thống
kiên cường xưa cũ không chịu được thế lực đô hộ Bắc phương, nên
một số lại di cư về miền rừng núi. Lâu ngày họ trở thành người
Mường. Người chủng Lạc (Việt), cùng với một số chủng Âu, ở lại
miền đồng bằng châu thổ, trở thành người Kinh. Đó là ý nghĩa của
Âu Cơ dẫn nửa đám con lên núi, và Lạc Long Quân đưa con xuôi về
miền sông biển, của cả hai truyền thuyết Việt lẫn Mường.
2. TRUYỀN THUYẾT PHẢN ÁNH QUA NGÔN NGỮ
Sau đây chúng ta thử xem lại ảnh hưởng của biến đổi tiếng Việt,
đi theo với truyền thuyết Âu Cơ, giải mã ở phía trên. Nhưng xin
phép nhấn mạnh đây chỉ một thứ kiểm chứng ở một vài điểm chính,
giống như ‘spot check’ trong ngành kỹ sư. Ảnh hưởng tiếng Hán
ròng trên tiếng Việt, khoảng 60%, được xem như một vấn đề khá
xưa cũ, và sẽ không được đề cập đến [10].
Ảnh hưởng các chủng thời sơ khai
Theo thiển ý, những từ căn bản cần để ý nhất là những từ liên hệ
đến đầu mình và tứ chi, những từ chỉ số đếm, chỉ đồ ăn thức
uống, chỉ những gia cầm súc vật gần gũi với con người, và nhất
là từ chỉ 'Người'.
Đề tài này cũng rất rộng và cần đến một hai luận văn nghiên cứu
ở đại học. Độc giả có thể tìm đọc 'quyển Mã Lai' của Bình Nguyên
Lộc [4] để thu thập một số ngữ vựng cần thiết. Nhưng cần để ý
tác giả 'quyển Mã Lai' luôn quy về nguồn gốc Mã Lai của các từ
vựng, với mục đích chứng minh: Bách Việt chính ra xuất phát từ
một chủng lớn, chủng Mã Lai. Bách Việt = Mã Lai. Hoặc quyển sách
mỏng của Nguyễn Cung Thông [11] về một số từ cơ bản, đặc biệt
các từ dùng âm /M/ để chỉ những 'thành tố' của 'mặt', như: mặt,
mắt, mũi, mụn, má, mi, miệng, môi,...
Do ở giới hạn trang giấy bài viết, chúng tôi chỉ xin trình bày
một cách đại cương ảnh hưởng các chủng sơ khai trong tiếng Việt
qua một vài từ hoặc tiết mục chọn lọc.
Trước hết xin nhấn mạnh điểm thiếu sót trong hằng ngàn sách vở:
Ở vòng đai bỉên giới phiá Bắc của nước Việt vào thời xưa, phần
lớn bao gồm chủng Âu tức Thái. Người Quảng Đông ngày nay, phần
lớn chính là gốc chủng Thái đã bị Hán hoá. Chủng Âu khi xưa, vào
thời đại thiên niên kỷ đầu trước Công Nguyên, là một khối chủ
lực đa số có địa bàn chạy dài từ đất Kinh Cức (hay Kinh Man,
hoặc Kinh Việt) xuống đến rặng Ngũ Lĩnh, xứ Dạ Lang (Quí Châu
bây giờ), Điền Việt (Vân Nam), và Tây Âu (Âu Việt) tức Lưỡng
Quảng ngày nay. Địa bàn chủng Âu xa biển và bao gồm nhiều núi
rừng.
Chủng Lạc, tức chủng thứ hai khởi thủy dân Việt Nam, chiếm một
địa bàn khác, ven theo bờ biển phía Đông nước Tàu. Kéo dài từ
khu vực ở tận sông Hoàng Hà, miền tỉnh Sơn Đông - Hà Bắc ngày
nay, xuống đến tận địa bàn xứ Mân Việt xưa, tức Phúc Kiến ngày
nay. Thêm vào đó, có một nhóm thành phần du mục cũng thuộc chủng
Yueh, thường gọi Bách Bộc hay Bộc Việt, đã có mặt trên nhiều
chiến trường ở thời Đông Chu Liệt Quốc [18]. Bình Nguyên Lộc [4]
trong một đoạn cuối của 'quyển Mã Lai' đã theo dõi đám Bộc Việt
này và cho rằng chính đám Bộc Việt này đã tạo nên thành phần chủ
lực của cuộc Nam tiến của chủng Việt. Nhưng tác giả 'Mã Lai'
không xác định đám Bộc Việt này hiện nay ra sao, và là ai. Cũng
như thời điểm dân Bộc Việt tràn vào bình nguyên sông Hồng. Chúng
tôi, với một số phát hiện tình cờ, tạm cho rằng nhóm người chủ
lực tạo nên phần lớn DNA và cá tính chủng Việt Nam, chính do ở
đám Bộc Việt này. Phát hiện của chúng tôi, qua tài liệu ngôn
ngữ, cũng cho biết thêm nhóm người kỳ bí nhất Trung Quốc hiện
nay, thường được gọi Hẹ, hay Hakka hoặc Khách Gia [12] chính là
hậu duệ người Bộc Việt thời xa xưa. Hy vọng sẽ trở lại đề tài
này vào một zịp khác.
Người Việt từ xưa đến nay vẫn thường lầm tộc người ở gần ta nhất
bên kia biên giới Việt-Hoa cũng mang chủng Việt ở thời xa xưa.
Thật ra, không phải. Họ mang chủng Âu tức Thái. Người Hoa từ
thời cổ đại cho đến bây giờ vẫn gọi họ là 'Yue' (Việt), y hệt
như họ gọi 'Yue' (Việt) cho 'Yue Nan', tức Việt Nam. Nhưng họ đã
phân biệt rõ hai thứ 'YUE' khác nhau: Việt dùng để chỉ chủng
Thái ở Lưỡng Quảng và Nam Chiếu, v.v. họ viết bằng chữ Mễ (gạo)
米
nằm trên chữ Yiệt (rìu hình lưỡi liềm): Việt Quảng Đông
粤
。
'Việt' dùng để chỉ 'Việt Nam' (Yue Nan) họ viết theo chữ Yượt
(vượt), bao gồm chữ 'Tẩu' nằm kế chữ 'qua' để chỉ 'giáo mác':
Việt cho Việt Nam
越
。
Bởi ở vị thế địa dư, sát ngay ở 'biên giới' phía Bắc, chủng tộc
có đông đảo nhất tại nước Việt trong vòng thiên niên kỷ đầu
trước Công Nguyên (1000-0 TCN), có lẽ là chủng Thái. Chủng Lạc
(Việt), mặc dù cũng đã có mặt tại vùng đất chữ S, nhưng chỉ ồ ạt
đến sau, nhất là vào thời Xuân Thu Chiến quốc, cùng một lúc với
di dân chủng Thái (đợt 2, 3, ...N), và các chủng Bách Việt khác
ở miền Hoa Nam. Vào lúc những bộ lạc hoặc xứ sở của các chủng
này bị Hoa chủng xâm lấn và tiêu diệt. Xin được phép nhắc lại,
khối Bách Việt có chừng 4 chủng Yueh chính, trong đó chủng Âu và
Lạc là lớn nhất.
Xin trở lại với tài liệu ngôn ngữ. Trước hết hệ thống số đếm.
Hệ thống số đếm cho thấy những chủng người 'có văn hoá' đầu tiên
đến Bắc Việt rất có thể là những đám thuộc 'bọn rợ Tây Nhung',
với địa bàn nằm phía Tây của Tứ Xuyên và Thiểm Tây. Sử sách Tàu,
theo trích dẫn [4], có chữ viết để chỉ bọn này bằng chữ Lạc viết
theo bộ Chuy, và Lạc bộ Khương. Những đám rợ này còn gọi rợ
Khuyển Nhung hay Khương Nhung, thường được xem tiền thân của
nhóm tộc Miến Điện và Cam Bốt. Đám Yueh tộc này cũng rất dữ, và
chính là đám 'rợ' đã từng tiến chiếm kinh đô nhà Tây Châu giết
được vua U Vương, khiến nhà Châu phải thiên đô về phía Đông và
tạo dựng nên Đông Châu. Rất có khả năng, rợ Tây Nhung đã là chủ
nhân của những vùng đất ở phía Tây của nước Tàu ngày nay. Gần
khu vực nước Ba và Thục, chung quanh và ở hướng Tây của Trùng
Khánh, Tứ Xuyên, Cam Túc ngày nay. Người Ba hiện có hậu duệ là
người Tujia (Thổ gia) cư ngụ chung quanh Hồ Nam và Hồ Bắc. Người
Thục đa số thuộc chủng THÁI [14], di dân xuôi về Nam, hội nhập
với dân xứ Tây Âu, và sang phía Đông hội nhập với dân ở Kinh
Việt tức nước Sở. Theo cổ sử Tàu, có thể kiểm chứng qua
internet, hai nước Ba (Ba state) và Thục (Shu state) đều bị nước
Tần dứt điểm trước tiên, vào thế kỷ thứ 4 trước Công
Nguyên.Trước các nước thuộc chủng Bách Việt ở Hoa Nam. Một đám
người di cư, chung với rợ Khương, di dân về phía Nam, đến tận
các khu vực Lào, Bắc Việt, Thái Lan, Miến Điện ngày nay. Đám này
bao gồm, phần chính: chủng Khmer, chủng Môn, chủng Âu (tức
Thái).
Hệ thống đếm của người Việt cổ, tuy về mặt địa lý rất gần chủng
Thái tại Quảng Tây Quảng Đông nhưng lại không giống đa số các số
mã đếm của dân Thái và Quảng Đông, hay của Hoa chủng. Đặc biệt
hệ thống đếm từ 0-10 của chủng Thái lại rất giống hệ của người
Quảng Đông hoặc người Tàu nói chung.
Xin liệt kê hệ thống số đếm của Việt, cùng với các ghi chú về
xuất xứ của tên các số mã như sau, phần lớn trích dẫn từ [13]:
0 = không := xuất từ
tiếng miền Hoa Nam, /kong/, đặc biệt Phúc Kiến. Và cũng giống
/kosong/ tiếng Mã
Lai.
1 = một := từ số
đếm tiếng Khmer, muay, đọc như /mooeh/
2 = hai := có lẽ bắt
nguồn từ /er/ quan thoại. Hoặc /Hờ-ni/ tiếng Miến Điện. Có âm
tương
tự /Hal/ của Mường.
Đặc biệt, theo từ
điển Mã Lai, tiếng gọi 'HI' (Thí dụ: Hi Mary, Hi Bill) của tiếng
Mỹ có tương đương là /HAI/ trong tiếng Mã Lai (xem Malay
Dictionary, Pelanduk). Ở tiếng Việt, theo [4] 'Hai' chính là
'Ê', hay 'Ơi', 'Ới'. Hoặc ‘Hỡi’. Tức có sự chuyển âm qua lại
giữa /hai/ <=> /Ơi/ hay /Ê/. Hoặc qua lại: Hai
ó
Er.
Không còn gì ngờ
nữa, trong tiếng quan thoại (phổ thông), người Hoa gọi số 2 bằng
/Er/ phát âm giữa /Ê/ và /Ơi/. Và từ đó /Er/ tiếng phổ thông có
biến âm qua lại với /Hai/ tiếng Mã Lai, dùng để kêu gọi. Tức ER
quan thoại = HAI Mã Lai. Nhưng, HAI (Mã Lai)= Hi (Mỹ)= Hello
(Anh), mang nghĩa 'Ê' hoặc 'Ơi' trong tiếng Việt. Do đó, số
‘Hai' =2 của tiếng Việt rất có thể đã bắt nguồn từ 'Hai' Mã Lai,
và 'Er' quan thoại. Rất ngộ, trong tiếng Myanmar, số 2 được gọi
như /Hờ-nyi/. Tách từ đa âm 'Hờ-nyi' ra hai thứ đơn âm ta sẽ có:
'Hờ' và 'Nyi'. /Hờ/ dễ dàng sinh ra /Hai/ và /Er/ để chỉ 'số 2'.
/Hờ/ cũng sinh ra /Hỡi/ hoặc /Ê/ tiếng Việt dùng để gọi nhau. Và
/Nyi/ đã biến ra tiếng Quảng Đông: Yì, Việt: 'Nhị', hạng Nhì.
3 =
ba := Khmer => bey
4 =
bốn := Khmer => buan
5 =
năm := Khmer => bram. Chú ý: /Bram/ ngày xưa, có lẽ phát âm như
/Blam/ => /Lam/
/Lam/ => /Nam/ => 'Năm'. Biến chuyển y như 'làm
lụng' => 'nàm nụng'.
6 =
sáu := tiếng Persian (Ba Tư, tức Iran ngày nay): shesh, phát âm
giống /sáu/ và sinh ra
Six trong tiếng
Anh-Pháp. Tiếng Myanmar (Miến điện) thu nhập /shesh/ thành ra
/chow/ tức /cháu/ => sáu. Có thể /chow/ cũng sinh ra ‘Chín’ (9)
trong nhầm lẫn. Tiếng Ấn gọi ‘6’ là /cheh/, âm cũng giống ‘9’
(chín).
7 = bảy := tiếng
Khmer gọi {8} (tám) bằng /bram-bay/ tức {5+3}. Một sự lộn xộn
nào đó
đã dùng đuôi của
/bram-BAY/ thành /bảy/ và gán qua số 7 chứ không phải 8.
8 = tám := tiếng
Persian /hasht/ sinh ra ‘hachi’ tiếng Nhật. Sinh ra /aath/ tiếng
Ấn. Và
/ata/ tiếng Sinhalese của xứ Sri Lanka (Tích Lan). Có lẽ chính
/aTA/ của tiếng
Sinhalese đã biến chuyển ra ‘Tám’.
9 =
chín := Không có tiếng nào có âm giống /chín/ trừ những âm dùng
cho số 6. Như
tiếng Ấn /cheh/ (=
6). Hoặc tiếng Myanmar: /Chow/, cũng chỉ số 6. Lộn xộn đọc 9
từ số 6 cũng giống
như đọc 8 tiếng Khmer ra 7, và 11 tiếng Khmer thành 10.
10= mười := có lẽ
lộn xộn từ số 11 tiếng Khmer: dop-muay, có phát âm /dup-mooeh/
Tiếng
Việt cổ đã vay đuôi 'mooih' của số 11 /dup-mooih/, thuộc tiếng
Khmer rồi
gán cho số 10.
Để ý, số đếm và số
học nói chung, có xuất xứ từ Trung Đông. Đặc biệt các xứ Á rập
và Ba Tư. Số đếm, tiếng Ba Tư gọi ‘Shomare’ y hệt như ‘số mã’
trong tiếng Việt hay đọc ngược ‘mã số’, tức /ma shu/ hay /shu
ma/ trong tiếng quan thoại. Đặc biệt người Trung Đông từ xưa vẫn
dùng hệ thống đếm số 10.
Số đếm của người
Khmer ở cổ thời chính là hệ thống đếm theo số 5, dựa trên 5 ngón
tay. Tức khi đếm đến 5, người ta đếm tiếp bằng 5+1, đọc
bram(5)-mooeh(1) (tức 6), rồi 5+2, đọc bram(5)-bpêe(2) (tức 7),
v.v. Y hệt như hệ số 10, khi đếm số trên mười, người ta quay trở
lại với 10: 10+1 = mười một, 10+2 = mười hai,v.v. (Xin xem bài
về 'thuyết Hùng Vương' số 1).
Nhìn lại bảng đối
chiếu phía trên, chúng ta thấy đa số tên gọi các số đếm từ 0-10
có vẻ như bắt nguồn ở hệ số đếm của người Khmer. Tiền nhân có vẻ
rất lúng túng khi chuyển từ hệ 5 sang hệ 10, sau khi người Hán
đến chiếm nước Nam. Họ phải vay mượn từ vài nguồn khác để trám
lấp các con số từ 6-10, đã không có trong hệ số 5.
Ngày xưa, trước khi tiếng Việt được xếp vào nhóm Việt-Mường
thuộc hệ Nam Á, tiếng Việt thuộc vào nhóm Môn-Khmer, tức có cấu
trúc và nhiều từ vay mượn (hoặc cho vay mượn), hai chủng Môn
(chủ nhân đầu tiên của Miến Điện) và Khmer (Cam-Bốt). Nên nhớ
địa bàn ban đầu của người Khmer là ở Lục Chân Lạp chính là tại
xứ Lào ngày nay, sát bên xứ người chủng Âu+Lạc bên sông Hồng.
Người Miến Điện xưa cũng xê dịch lung tung và cũng có thời gian
cư ngụ tại lãnh thổ Thái Lan ngày nay. Đến thế kỷ 13, dưới sức
ép của việc tìm kiếm địa bàn sinh sống, người chủng Thái ở miền
cực Nam nước Tàu mới tràn xuống phía Nam, đuổi người Khmer, Môn
và Miến đi chỗ khác, và gầy dựng nên Lào và Thái Lan.
Bây giờ xin trích dẫn quyển sách về 'âm M trong tiếng Việt'
[11], phối hợp với từ điển Mường-Việt [15], để kiểm chứng xuất
xứ của các từ căn bản trên mặt con người:
Chỉ những tiếng có từ mang âm gần giống.
Mắt => bahk-tsiu (PK), mye'si (MĐ), mata (ML), mata (P), me (N),
măt (M2)
Chú ý: âm /b/ trong /bahk/ của tiếng Phúc Kiến, có
thể xem rất gần với /m/
Mũi => ja-(l)mook (TL), j'ra-moh (KHM), mùi (M2)
Miệng => mulut (ML), pnum (KHM), mẽnh (M2)
Mặt => mihn (QĐ), muk (KHM), mye'hna (MĐ), muka (ML), mukha (P),
măt (M2)
Mí => roam pneek (KHM), ma-buta (N)
Mày => ma-yu (N), mái (QT), mi (M2)
Má => miànjiá (QT), gaam (Lào), kaem (TL), mả (M2)
Môi => rim fee bpaht (TL), moa-ut (KHM), môi (M2)
Mồm => mồm (M2)
Chú thích: PK: Phúc Kiến; MĐ: Miến Điện; ML: Mã Lai; P: Phi /
Tagalog; N: Nhật;
M2: Mường; KHM: Khmer; TL: Thái Lan; QĐ: Quảng Đông; QT: Quan
thoại.
Tiếng Khmer và Miến Điện xuất hiện rất nhiều trong danh sách các
từ dùng âm /M/ trên mặt. Đặc biệt mỗi từ 'M' trong các từ chỉ
đến điểm trên 'mặt', ở tiếng Việt đều có từ 'M' giống hệt trong
tiếng Mường. Tiếng Nhật được ghi ở đây để cho thấy rất có khả
năng có một nhóm chủng Yueh, thay vì di tản về hướng Nam đã vượt
biển Đông sang Nhật vào thời loạn lạc của Xuân Thu Chiến Quốc.
Xin ghi thêm một vài từ 'cơ bản':
Ngày (day)= tngay (Khmer), nal (Hàn), naal (Tamil)
Bạc (silver)= Brak (Khmer), ngân (QĐ), nguhn (Thượng Lào), perak
(Mã Lai)
Đất (soil)= Đây (Khmer), Đin (Thái), Tất (Mường)
Nâu (brown)= Nyou (Miến Điện)
Người (human being, person)= Mwai, Ngwai, ngai (Mường), Ngôi
(Thái cổ),
Muang (Thái), M'nư (Khmer), Ngaai (Jarai), Ngìn (Hẹ). 'Muang'
tiếng Thái và
'Mwai' tiếng Mường lâu ngày mang nghĩa 'xóm đông người, thôn
xã' và chuyển
thành 'Mường' để chỉ ngài Mường.
Ruồi (fly)= Ko rui (Môn / Miến), Ko Ruy (Khmer), Ko Ruuêi
(Mường)
Sạch (clean)= Soạt (Khmer)
Kẻ lạ (stranger)= Ka la (Myanmar)
Chân (leg)= Chơn (Khmer)
Tay (arm)= Tangơl (Chăm), Đaai (Khmer)
Trăng (moon)= Chắng (Thái cổ), Bulăng (Mã Lai), Blang (Việt cổ),
Blăang (Miến Điện),
Duang Jan (Thái). Xin để ý: 'Yue' và 'Nguyệt' trong
tiếng Tàu dùng để chỉ 'Mặt
Tlăng' và 'Tháng' (month). Tiếng Thái có 'Duang Jan'. /Duang/
sinh ra /Tháng/ và
/Jan/ sinh ra /Giăng/ như một số đồng bào phía Bắc ở khu vực gần
người Mường
(Thái cổ) ưa phát âm từ ‘Trăng’..Cũng để ý ‘tháng Giêng’ có liên
hệ gốc gác với
‘Duan Chiêng’ (January), thuộc tiếng người P’u Noi, cũng chủng
Thái cổ [14].
Muỗi (mosquito)= Mú (Khmer), Mok (Mã Lai)
Ảnh hưởng tiếng Mã Lai xin được lướt qua ở đây, bởi đã được đi
vào tất cả các chi tiết trong quyển classic về Mã Lai của Bình
Nguyên Lộc [4]. Đại khái, ‘chủng’ Mã Lai có rất nhiều từ đã
thành cơ bản, hay tương cận với từ của rất nhiều chủng từ
Madagascar, Nam Ấn, xuyên qua Miến Điện, Thái Lan, lên đến miền
Hoa Nam, rồi sang Nhật, xuống tận Inđô-nêxia và Mã Lai.
Bây giờ xin để ý đến một chủng rất quan trọng, chủ lực của nước
Việt ở thời kỳ sơ khởi đầu tiên, đúng y như truyền thuyết Âu Cơ
- Lạc Long Quân. Đó chính là chủng Thái, ngày xa xưa tự xưng là
Âu.
Dấu vết của chủng Âu tức Thái
Nhắc lại bên kia biên giới Hoa-Việt, vào cổ thời chính là điạ
bàn của chủng Thái. Khi đó họ thường tự xưng chủng Âu hay Thái.
Rất nhiều nước thuộc về chủng Thái này, từ xưa đến giờ chúng ta
thường nhầm lẫn cũng giống y như người chủng Việt (Nam). Bởi
người Tàu ngày trước gọi chung các chủng rợ đặc biệt ở phía Nam
sông Dương Tử là khối Bách Việt. Đụng thứ gì họ cũng gọi là Yueh
(Việt) hết. Hoặc đôi khi họ gọi chủng Lạc.
Có tất cả chừng 4 chủng Lạc, nhưng hai chủng Âu và Việt chiếm đa
số.
Chủng Âu (Thái) chiếm vùng đất phía trong ngay trục thẳng đứng
đối chiếu với nước Việt Nam trên bản đồ. Chủng Thái bao gồm nước
Thục (khu Trùng Khánh - Tứ Xuyên), nước Sở (Hồ Bắc - Hồ Nam), Dạ
Lang (Quí Châu), Điền Việt (tức Nam Chiếu, Đại Lý, hiện nay: Vân
Nam), Quảng Tây và Quảng Đông, ngày nay. Riêng Quảng Tây, Quảng
Đông và Dạ Lang ở thời Chiến Quốc là một nước rất kiên cường
mang tên Tây Âu. Nổi tiếng nhất ở thời Xuân Thu Chiến quốc chính
là nước Sở. Một nước ban đầu được xem như vùng đất của rợ, nhưng
về sau trở nên văn minh hùng cường suýt chút có thể lãnh đạo
thống nhất nước Tàu. Đến thời cực điểm, Sở Trang Vương được xếp
vào hàng 'võ lâm (oops) Ngũ Bá' cùng với Việt Vương Câu Tiễn, Tề
Hoàn Công, v.v. Hy vọng sẽ đi vào chi tiết về chủng Âu ở phía
Bắc bên kia biên giới, vào một yịp khác.
Chủng Lạc (Việt) chiếm vùng gần biển, kéo dài từ khu vực Sơn
Đông tận sông Hoàng Hà đến phía nam tỉnh Phúc Kiến (tức Mân Việt
thời xa xưa). Ngoài ra còn có một nhóm 'du mục' rất kiên cường
xuất xứ từ vùng sông Hoàng Hà, gọi Bách Bộc hay Bộc Việt [4] [8]
[18], thường có mặt trên nhiều chiến trường thời Xuân Thu. Về
sau nhóm này di dân vào định cư 'tạm' ở vùng Đông Nam nước Sở.
Truyền thuyết Âu Cơ - Lạc Long Quân chính là câu chuyện di tản
hằng khối của hai chủng Âu và Lạc, chạy trốn chủng Hoa, đi sang
một địa bàn sinh sống mới. Đầu tiên với dụng ý hợp nhập lại
thành 1 chủng mới để chống trả với Hoa chủng. Nhưng ước mơ ban
đầu nhiều phen đã đưa đến thất bại. Y hệt như tình vợ chồng giữa
Âu Cơ và Lạc Long Quân, sau cùng cũng dẫn đến phân ly.
Phân ly đầu tiên: Phong kiến phương Bắc sau khi thôn tính Nam
Việt, tách rời chủng Thái ra khỏi chủng Việt. Chủng Thái phía
Bắc trở thành Quảng Châu. Chủng Việt phía Nam đặt tên: Giao
Châu.
Phân ly thứ hai: Chủng Âu tại Giao Châu có một số người không
chịu được bọn Hoa chủng thống trị, kéo nhau trở về địa bàn rừng
núi xưa cũ. Ở đó họ hội nhập với các sắc dân bản địa lâu năm như
người Négrito, người Melanesian (cùng gốc dân hải đảo), và trở
thành ngài Mường. Nhóm chủng Lạc ở lại miền đồng bằng ven sông
biển, cùng với nhóm Thái biến chuyển được, trở thành người Kinh.
Đặc biệt xin nhấn mạnh, trong số người dân tộc như Mường cũng có
thể có chủng Lạc gốc. Và trong số người Kinh cũng có thể vẫn có
người chủng Âu (Thái cổ) chọn lựa ở lại. Y hệt như hai đám con
của Âu Cơ và Lạc Long Quân. Đám nào cũng mang hai giòng máu, Âu
và Lạc.
Phân ly thứ ba: Thử thách qua nhiều thế kỷ của chủng Thái từ xứ
Nam chiếu, bằng cách đánh phá nước Nam, với mục đích chính xin
'đoàn tụ' hai chủng trở lại, đã bất thành. Nhất là vào thời Tiết
Độ Sứ Cao Biền đem quân bình định nước Nam Chiếu, vào cuối thế
kỷ thứ 9. Để ý trên nhiều trận chiến giữa quân nước Nam và Nam
Chiếu, người 'Thổ Man', tức người Mường, ưa đứng về phía bên Nam
Chiếu. Bởi họ cùng chủng với nhau. Đến khi sức ép của Bắc phương
càng ngày càng nặng nề khốc liệt. Cuối cùng dân Thái ở Nam Chiếu
đành theo vết chân người xưa, tràn qua chiếm vùng đất phía Nam,
thành lập nên Lào và Xiêm La (Thái Lan), vào thế kỷ 13. Hai
chủng Thái - Việt vĩnh viễn phân ly. Ăn khớp với cuộc chia tay
giữa Âu Cơ và Lạc Long Quân.
Khi quan sát về ảnh hưởng chủng Thái, cần nhớ không phải bất kỳ
người chủng Thái (Âu) nào cũng đi theo bà Âu Cơ đi về miền rừng
núi, rồi trở thành người Mường. Ngược lại, rất có thể có một số
đông tiếp tục hợp chủng với chủng Lạc và trở thành người Kinh.
Điển hình, nước Nam đã có nhiều nhà lãnh đạo tài ba và triều đại
huy hoàng gốc Mường (tức Thái cổ) như: Hai Bà Trưng, Lê Hoàn,
Đinh Bộ Lĩnh, Lê Lị (tức Lê Lợi) [20]. Ảnh hưởng ngôn ngữ Thái
(cổ) trong tiếng Việt rất sâu đậm. Ngược lại ảnh hưởng ngữ ngôn
của chủng Lạc trên khối người Mường (hiện nay trên 1 triệu
người) cũng rất đậm nét.
Xin xem qua một vài nét đại cương:
1.
Tiếng Thái Lan có 5 thanh điệu (dấu) =>
Tiếng Mường cũng 5 thanh điệu. Nhưng tiếng Việt có đến 6 thanh
điệu (thêm dấu NẶNG).
2.
Tiếng Thái Lan, tiếng Mường, tiếng
Quảng Đông đều KHÔNG có phân biệt âm /SH/ và âm /X/. Cả 3 thứ
tiếng của cùng một chủng gốc Âu đều chỉ có 1 âm /X/. Trong khi
chủng Việt (Nam) mang ảnh hưởng nhóm 'Bộc Việt' xuất phát từ các
khu vực miền Hoa Bắc nên giống quan thoại, có cả âm /SH/ và /X/.
Điểm này sẽ giải thích tại sao rất nhiều nơi ở Bắc Bộ người Việt
thường không phân biệt /X/ và /S/ trong cách phát âm: 'Bổ sung'
ưa phát âm như 'bổ xung'. Bởi những nơi đó chắc chắn có
rất nhiều người gốc Thái cổ hay người Mường cư trú.
3.
Tiếng Thái Lan cổ xưa cũng có khuynh
hướng không có /R/. Âm /R/ được 'bổ sung' bằng những âm /J/ xưa
cũ, hoặc âm /L/, nhất là khi ảnh hưởng Tây phương trờ tới. Ở
Việt Nam, thể hiện qua chữ quốc ngữ. Y hệt như tiếng Quảng Đông,
tiếng Mường, Việt ngữ và ... tiếng Hẹ. Thí dụ: Rượu, người Mường
đọc 'Rão', xuất từ /jiu/ quan thoại, và /jẩu/ quảng đông, /txiu/
tiếng Triều Châu (Phúc Kiến). Từ /txiu/ sinh ra /tửu/ người Bắc
Bộ phát âm như /tỉu/. Nếu để ý, như đã trình bài trong loạt bài
'chữ Nôm & quốc ngữ' [7], âm 'iu' và 'ou' (hay 'ao') ưa biến
chuyển qua lại với nhau trong các phương ngữ Bách Việt (tức Hoa
Nam), ta có từ Thái chỉ rượu là /Lao/: R <=> L / và 'ươu' (tức
/iu/) <=> ao. Rượu (Việt) <=> Lao.(Thái) => Rão (Mường). Tương
tự /L/ và /N/ cũng ưa hoán chuyển với nhau y như tiếng Quảng
Đông: Tiếng Thái của động từ 'to float' (nổi) là /Loi/, cho biết
rất rõ /L/ nhảy qua /N/ như tiếng Quảng Đông, y như tiếng Việt:
'Anh nàm (làm) gì thế?'.
4.
Hệ thống đếm của tiếng Thái có số đếm
rất giống số đếm tiếng Quảng Đông [21].
Việt:
Một Hai Ba Bốn Năm Sáu
Bảy Tám Chín Mười
Thái: nung song
sam si ha hok jet paet
kau sip
Q Đ: yat yi sam sei
ung luk chat băat gau sap
Để ý: 2 tiếng Thái là /song/. Tương đương tiếng Quảng:
/song/ hay /leung/ (lưỡng).
Trong khi đó, tiếng Mường có vẻ vẫn còn mang hai ảnh
hưởng. Thứ nhất: ảnh
hưởng hệ đếm số 9 của thời cổ đại (xem bài '18 đời Hùng
Vương). Thứ hai: ảnh
hưởng tiếng Việt cho tên gọi các số đếm.
5.
Ảnh hưởng ngôn ngữ bà con giữa Thái / Quảng Đông / Mường,
còn được thể hiện qua:
(a)
Cả
3 thứ tiếng không có âm Z. Riêng Mường vì là Thái cổ, sống chung
và hợp chủng với Việt (Lạc) cho nên có chứa âm /Dz/ như kiểu
người Bộc Việt (Hẹ), hoặc Hải Nam (tức Lạc Lê [4]).
Con dzê => quốc ngữ viết là 'dê'.
(b)
Quảng Đông và Thái đều không có âm 'V',
như 'đi về', mà chỉ có âm 'W': 'Wir'. Thái: Wong Klom => vòng
tròn. Wang => vọng => mong. Quảng Đông: Wân Nam => Vân Nam.
Mường cũng vậy. Thời xa xưa cũng không có âm 'V', mà chỉ có âm
/W/: con Way => Việt cổ: con Woi => con Voi (quốc ngữ). Nhưng
sau hằng ngàn năm chung sống và hợp chủng với Lạc cũng đã nhập
vào âm 'V': 'bà Byợ' hay 'bà Vợ'.
(c)
Thái / Quảng Đông / Mường đều có âm 'Y'
như trong 'Yeung Gui Fei' (QĐ), bua Yịt Yàng (Mường: vua Việt
chủng màu Yàng), Ya (Thái: dược, thuốc men). Tiếng Việt bị các
cố đạo lọc bỏ âm /Y/ và chỉ dùng 1 thứ âm /D/ cho hai thứ 'Y' và
'Dz'. Phía Bắc chọn 'Dz' và phía Nam chọn 'Y'.
Sau đây, xin liệt kê bảng đối chiếu các từ Việt, Thái, Quảng
Đông hiện tại để xem những dấu vết dư âm xưa cũ.
|
Việt |
Thái |
Quảng Đông |
Ghi chú |
|
Đơn độc |
dod dio |
daan duk |
Thái: dod dio, có âm giống: độc đơn |
|
Than (coal) |
than |
than |
3 thứ tiếng y hệt. Để ý âm /TH/ |
|
tròn |
klom |
yuen |
klom => tròn, yuen => viên |
|
rễ (root) |
rak |
gan |
gan => căn. Âm c <=> g |
|
ho |
ai |
khaat |
khaat => khạc nhổ * |
|
trái |
sai |
juo |
juo => tả. Nhật: hidari |
|
măt (phải) |
khwa |
yau bin |
yau => hữu. Nhật: migi. A Kha: amá |
|
Mây |
mek |
wan |
Quảng Đông giống Mã Lai: aWan |
|
Sắc (màu) |
si |
sik |
Color |
|
xài |
chai |
tsai / yong |
chai = xài tiền= dùng đồ vật ** |
|
cơm |
kow |
fan |
thời cổ xưa – gần âm 'phàn' *** |
|
dược (thuốc) |
ya |
yeuk |
để ý âm /d/ tương ứng /y/ |
|
la (lừa) |
la |
la |
| |