|
1. CÁI
còn một nghĩa cổ ít khi dùng. Đó là ‘cái = dù’, ‘cái =
lọng’ (thành ra mới dẫn đến nghĩa rộng hơn: che đậy,
che chở). Có thể ở thời Phùng Hưng (cuối thế kỷ 8) nghĩa này
được dùng nhiều hơn thành ra BỐ CÁI co' thể la` ca'i lọng bằng
vải che cho tướng quân hay đại vương Phùng Hưng. ‘Bố Cái Đại
Vương’ do đó có thể là ‘Một vị đại vương được che nắng bằng lọng
bằng vải bố’. Cách dùng chữ ghép này còn thấy trong các nhóm chữ
Hán như ‘Bu Yi’ (theo quan thoại pinyin) tức ‘Bố Y’, nghĩa: áo
vải; ‘Bu Xie’ = Bố Hài, giầy vải (kiểu giày Bata hồi xưa); ‘Bu
Dai’ = Bố đại, tức ‘bao vải’, v.v. Nếu dùng như vậy có thể chuẩn
hơn, như các triều đại sau truy phong duệ hiệu Phùng Hưng là Bố
Cái Phu Hựu Chương Tín Sùng Ngĩa Đại Vương. Một lần nữa, nghĩa
CHA MẸ của BỐ Cái không được thích hợp cho lắm. Trong Quốc Âm
Thi Tập còn thấy dùng từ ‘Bô’ như ‘Áo bô quen
vẫn xênh xang’ - bô là vải thô ("Từ điển Việt cổ’ Nguyễn Ngọc
San – Đinh Văn Thiện (2001), Ha` Nội).
2. CÁI
còn một nghĩa ít thấy dùng trong Hán ngữ hiện đại là ngón
chân cái. CÁI viết bằng bộ nhục hợp với chữ hợi
(hài thanh) bên phải: Giọng Bắc Kinh bây giờ là /gai/. Có lẽ vì
là một từ cổ hay vay mượn, ‘cái’ mang nghĩa ‘ngón chân cái’ từ
lâu không được dùng. Nhưng người Hoa thường dùng /jiaozhi/
(cước chỉ) để chỉ ngón chân. CÁI viết bằng bộ bối hợp với chữ
hợi (hài thanh) có nghĩa: bao gồm cả, bao hàm. Giọng Bắc Kinh
vẫn là /gai/. Các nghĩa trên của CÁI cho thấy ‘Cái’ không phải
chỉ hiện diện trong tiếng Nôm mà thôi. Có thể các nhóm Bách Việt
đã cho Trung Hoa vay mượn các từ CÁI ở trên. Do đó càng ngày
càng thấy người Hoa ít dùng các từ ‘Cái’ nầy, có lẽ bởi không
hợp với cách phát âm của Hán tộc. Hoặc giao lưu giữa người Hoa
và Việt đã xảy ra quá lâu và đã để lại các dấu ấn cổ đại của
Trung Hoa. Nếu khảo sát kỹ về '12 con Giáp' chúng ta có thể thấy
sự 'mượn đi mượn lại' khá phức tạp này, qua những biến âm làm ta
không nhận ra dạng và nghĩa nguyên thủy của các loài cầm thú.
3. Hai
từ 'Bố' và 'Cái' cũng được dùng cho hai Họ của người Hoa. Nhưng
có vẻ chưa có người Việt nào mang họ 'Bố' hoặc 'Cái'.
4. Xem
cách viết cổ (Cổ Văn) của từ bố: ta thấy
hình người ở trên cái khăn (hay cân) là bộ thủ thứ 169. Hình
người là chữ phụ (cha) la` thành phần
hài thanh. 'Bố' hay 'Ba' rất có thể là âm cổ của /Phụ/ - mà
giọng Bắc Kinh bây giờ là /Fu/ - cũng phù hợp với sự thay đổi âm
vận của tiếng Hán cũng như Việt. Thí dụ về biến âm b <=>
ph (f), có thể thấy qua:
bố <=>
phụ; bộ (bộ sách) => pho (pho sách);
Bụt <=>
Phật; buồng <=> phòng; buông <=> phóng;
buồm
<=> phàm; bỏ <=> phế; buộc <=> phọc / phược, v.v..
Biến âm
này đã được nhiều nhà Hán học đề cập đến (từ thời Henri Maspero
1912 đến nay). Một lần nữa, 'Bố' không chỉ hiện diện trong ngôn
ngữ nước Nam như nhiều người thường lầm tưởng. Một biến âm khác
không phổ thông như /B/ <=> /PH/ (hay /F/) chính là /B/ <=> /V/
(xin xem [2]) như có thể thấy trong 'phân bua' (biến chuyển với
'phân vua'), 'bun' hay 'vun' (= kết lại), 'bưa' hay 'vừa', 'bổ'
=> vá, và tất nhiên chúng ta có ở đây: Bố => Vải.
Thêm
vào đó quyển 'Sứ Giao Châu Thi Tập' của Trần Cương, thuộc thời
Nguyên (thế kỷ 13) có ghi phụ phiên âm các tiếng Nôm: /sá/ hay
/tra/ cho ''Cha', tức 'Phụ', và /na/ hoặc /nạ/ cho Mẫu, tức Mẹ.
Tuyệt nhiên không thấy Trần tiên sinh dùng các từ như 'Bố' và
'Cái'. Cho nên nếu dựa trên 'Bố Cái Đại Vương' mà cho rằng chữ
Nôm ra đời từ thời Phùng Hưng thì không có gì bảo đảm được. Học
giả Đào Duy Anh trong quyển 'Chữ Nôm - Nguồn gốc, cấu tạo và
diễn biến (1975)' ghi nhận rằng cuốn 'Việt Sử Lược' lại không có
các từ trên, cũng như bia thờ Phùng Hưng ở huyện Phúc Thọ tỉnh
Hà Tây cũng không có. Mãi đến quyển Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Ngô
Sĩ Liên) mới thấy xuất hiện 'Bố Cái Đại Vương' và Đại Cồ Việt.
Đào Duy Anh kết luận rằng thuyết trên không có gì chắc chắn.
5.
Nguồn gốc chữ Nôm - một cách nhìn từ âm ngữ học lịch sử
(Historical phonology) - đây là một ý tôi có từ khi viết cuốn
'Tiếng Việt Tuyệt vời: âm M trong tiếng Việt’ [15], định có dịp
sẽ khai triển rộng ra, đại để là khi xem sự thay đổi cách đọc
của chữ Nam theo dòng thời gian, ta có thể suy luận phần nào
thời kỳ phát triển hay nguồn gốc của chữ Nôm. Tại sao không gọi
chữ Nem, chữ Nam, chữ Niêm... mà lại gọi chữ Nôm, từ Nam ra Bắc?
Từ Quảng Nam ra Huế cũng như rứa.
Ghi Chú
[1]
Bình Nguyên Lộc (1971) Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam.
Nxb Xuân Thu (USA) tái bản.
[2]
Nguyên Nguyên (2004) Loạt bài: ‘Từ chữ Nôm đến quốc ngữ’ (tổng
cộng 8 bài). Có đây đủ.tại các mạng: Khoahoc.net,
Aihưucongchanh.com, honque.net, perso.wanadoo.fr/charite.
[3]
Trần Văn Giáp (2002) Lược Khảo Vấn đề chữ Nôm. (Lê Văn Đặng thực
hiện văn bản). Ngày Nay Publishing
[4] Vũ
Văn Kính (2002) Đại Từ Điển chữ Nôm. Nxb Văn Nghệ Thành Phố.
Trong quyển từ điển này, ‘Bố’ viết bằng cách đặt ‘Phụ’ trên từ
‘Bố’ chữ Hán.
[5]
Trần Trọng Kim (1971) Việt Nam Sử Lược. Bộ Giáo Dục – Trung Tâm
Học Liệu
[6] Lê
Nguyên Lưu (2002) Từ chữ Hán đến chữ Nôm. Nxb Thuận Hoá
[7]
Nguyễn Văn Khang (chủ biên), Bùi Chỉ - Hoàng Văn Hành (2002) Từ
điển Mường-Việt. Nxb Văn Hoá Dân Tộc – Hà Nội.
[8]
Tiếng Quảng Đông hiện tại vẫn có: Chẩy Nã (tử mẫu) mang nghĩa
‘Mẹ Con’. ‘Chẩy’ (tử = con) đặt trước ‘Nã’ (Mẫu = mẹ), Con trước
Mẹ, cho biết không theo quy luật Khổng Mạnh. Tức dân Quảng Đông
(tức Tây Âu xưa) không cùng chủng tộc với người Hán tộc miền Hoa
Bắc. Họ gốc người Thái. (BNL trang 587).
[9]
Theo thuyết Mã Lai: Đa số các dân tộc Đông Nam Á đều thuộc Mã
Lai I hổn hợp với Mã Lai II. Chăm mang đa số Mã Lai II, giống
như Inđô-nê-xia. Mã Lai II bắt nguồn từ Hoa Nam. Việt chứa đa số
Mã Lai I , xuất khởi từ Hoa Bắc.
[10]
Hoàng Xuân Hãn hiệu đính (1956) Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái (nhuận
sắc): Đại Nam quốc sử diễn ca. Nxb Trường Thi (SG). Xuân Thu
(USA) tái bản.
[11]
Khuyết Danh (1377-1388) Đại Việt Sử Lược. Bản dịch của Nguyễn
Gia Tường. Nhà Xuất Bản Thành Phố HCM. Bộ Môn Châu Á Học Đại Học
Tổng Hợp TP.HCM.
[12]
Một ông bạn người Mã Lai cho biết: Thổ dân ở khu đảo Sumatra vẫn
còn tục xâm mình, y như người Bách Việt xa xưa. Người Mã Lai
cũng còn ăn trầu cau, như người Việt. Một người bạn khác gốc Hải
Nam xác nhận người Hải Nam xưa cũng có tục xâm mặt, xâm mình và
… nhuộm răng như người Việt cổ. Nhưng đặc biệt họ chọn màu nhuộm
có vẻ technicolor. Có thể nhuộm toàn bộ răng màu vàng, hay màu
bạc. Chứ không nhất thiết màu đen như cổ Việt.
[13]
Nam Giao Học Tổ: cũng theo lối xếp đặt của chữ Hán. Thay vì ‘ông
tổ việc học vấn xứ Nam Giao’. Dấu vết sự lấn lướt của ngôn ngữ
một nước lớn - giống như English today.
[14] Có
một từ đồng âm với ‘Cái’ nhưng viết cách khác. Mang nghĩa khác.
Đó là ‘Cái’ = ăn xin. Thí dụ: Bắc Cái Hồng Thất Công, trong Xạ
Điêu Anh Hùng truyện của Kim Dung.
[15]
Nguyễn Cung Thông (1997) Tiếng Việt tuyệt vời: Âm M trong tiếng
Việt. Tác giả xuất bản. Melbourne
Trở về Trang Chính |