Trong
lúc truy cập tìm thêm tài liệu để viết tiếp loạt bài này, chúng
tôi phát hiện người Triều Tiên (Chosun) cũng mang một số hội
chứng về cổ sử nước họ. Đặc biệt nhất, họ cũng có 18 đời vua
Bai-dal kéo dài hơn 1500 năm, bắt đầu vào khoảng thiên niên kỷ
thứ 3 trước Công Nguyên [1], y hệt như thời Hồng Bàng của nước
Việt, đã được thêu dệt thành 'truyền thuyết' bắt chước theo lối
người Hoa. Người Triều Tiên cũng nhìn nhận họ chính là hậu duệ
của một trong ba nhóm rợ Đông Yi, cũng gọi Lai Yi, hay rợ Tam
Hàn.
Cũng như nhiều nhóm
rợ khác trong cổ sử Tàu, nhóm Lai Yi bao gồm rất nhiều nhóm tộc
khác nhau, nhưng nổi bật nhất có lẽ là hai nhóm: Miêu tộc (tức
Hmong) và Bộc Việt, tức nhóm Lạc bộ Trãi đã được giới thiệu đến
trong bài trước. Đặc biệt người Triều Tiên chọn vua Xy Vưu
(Chi-You), lãnh tụ của đám Cửu Lê [2], tức người Hmong, làm
thánh tổ dân tộc họ. Vua Xy Yâu đã từng tranh chấp đất đai và bộ
lạc với Hoàng Đế Hiên Viên của Tàu, rồi sau cùng đại bại và bị
chặt đầu. Họ rất hãnh diện làm hậu duệ nhóm Hmong bởi gần đây
nhiều nhà khoa học phát hiện rằng chính người Hmong là tộc người
đã sáng tạo ra chữ viết đầu tiên ở Á Châu, để rồi bị người Hoa
nhanh tay chôm và phát triển thành chữ Tàu hỗ trợ cho nền văn
minh Hoa Hạ.
Xin tóm tắt những
điểm song song trong huyền sử 3 nước Tàu, Việt và Hàn:
|
|
Trung Hoa |
Việt Nam |
Triều Tiên |
|
thời Hồng
Bàng |
nhà Hạ |
Hùng Vương |
Bai-dal |
|
đời vua |
18 |
18 |
18 |
|
niên đại |
khoảng năm
2600 TCN |
khoảng năm
2798 TCN |
khoảng năm
3898 TCN |
|
thánh tổ |
Hiên Viên
Hoàng Đế |
Thần Nông
|
Xuy Vưu (Chi
Wu) |
Như vậy, không còn
ngờ gì nữa, con số 18 dùng trong 18 đời vua ở thời huyền sử, chỉ
là một ẩn số X, thường xuyên được xử dụng trong văn hoá cổ thời,
có lẽ khi hệ thống số đếm hãy còn dựa trên cơ số 9 (xem [2]),
chứ không phải 10. Với số 18 bằng X, và X có thể bằng 0 (18= X,
và X= 0), chuyện 18 đời Hùng Vương lại được minh giải, chỉ là
một lối nói, văn vẻ, cho qua chuyện, với chi tiết không ai biết
rõ, của nền văn hoá cổ thời.
Thêm một nhận xét
quan trọng: 'Vua' Xuy Yâu tưởng tuyệt tích giang hồ đã lâu,
không ngờ lại chính là thánh tổ dân tộc Triều Tiên. Điều này
cũng có nghĩa, gần như tất cả những diễn viên chính yếu của sân
khấu thời huyền sử hoặc cổ sử Trung Hoa, đều có hậu duệ còn tồn
tại cho đến ngày nay.
Trong bài này chúng
ta sẽ thử quan sát người Hakka, tức Khách Gia, hoặc thường gọi
nôm na: người Hẹ, trong bối cảnh của giả thuyết: Người Hakka
chính là tiền thân của tộc Việt, thành phần chủ lực của nhóm tộc
Việt phối hợp với tộc Thái-cổ, đã đến xứ Việt cổ trong khoảng
thiên niên kỷ đầu trước Công Nguyên. Nói một cách khác, chúng
tôi sẽ cố gắng chứng minh, Lạc Long Quân mang trong người huyết
quản của một người Hẹ cổ.
Nhưng trước khi bắt
đầu quan sát hành trình người Hakka (Hẹ), thường được gọi dân Do
Thái của Trung Hoa, trong suối nguồn tộc Việt, chúng ta thử nhớ
lại một vài điểm liên hệ quan trọng như sau.
(i) Thứ nhất, trong
loạt bài 'Từ chữ Nôm đến quốc ngữ' chúng tôi đã đưa ra nhận xét
đồng thuận với rất nhiều nhà khảo cứu tiếng Hán (thí dụ [5] &
[6]), rằng tiếng Hán đọc và viết theo kiểu quốc ngữ, thường gọi
Hán Việt, giống với tiếng quan thoại (phổ thông) nhiều hơn tiếng
Quảng Đông. Mặc dù Quảng Đông gần gũi Việt Nam hơn khu vực nói
tiếng quan thoại gốc, phía cực Bắc nước Tàu, miền Bắc sông Hoàng
Hà. Lý giải thông thường ưa cho rằng người An Nam ngày xưa học
tiếng Tàu từ những ông quan ông tướng người Tàu từ triều đình ở
miệt Bắc nên thâu nhập lối phát âm phía Bắc nhiều hơn ở phía
Nam. Lý giải kiểu này từ ngàn xưa, luôn được hỗ trợ bởi các kiến
thức do người Tàu bày ra. Đó là tộc Việt nếu xuất phát từ pên
Tàu chỉ có thể xuất phát từ nhóm Bách Việt ở Hoa Nam, như dân
Phúc Kiến (Mân Việt), Quảng Đông (Đông Việt), và Quảng Tây (Tây
Việt hay Tây Âu hoặc Âu Việt), v.v. Tiếng Hán do người An Nam
học được từ những ông quan Tàu có đầu óc khai phóng, dạy dỗ.
Thật ra, như chúng ta đã thấy, ở các bài trước, vào thuở cổ thời
tộc Việt và Hmong (Miêu) đã có mặt ở khắp nơi trên nước Tàu,
nhất là miền Hoa Bắc, chung quanh lưu vực sông Hoàng Hà (xem [5]
& [7]). Tức vào thời xa xưa, tộc Hoa và Yueh sinh sống gần gũi
với nhau, ở miền Hoa Bắc. Do đó, tiếng Hán-quốc-ngữ có giống
tiếng quan thoại là do tiếng quan thoại mang nhiều ảnh hưởng,
hoặc có nhiều từ mang phát âm giống, tiếng Việt cổ của đám Lạc
bộ Trãi có địa bàn tại miền Bắc sông Hoàng Hà, chung quanh các
tỉnh Sơn Đông, Hà Bắc, Sơn Tây ngày nay.
(ii) Thứ hai,
trong các nhóm người dân tộc ở phía Bắc, có một nhóm gọi 'người
Nguồn' với địa bàn tại khu vực Quảng Bình. Người 'Nguồn' là một
trong số ít thuộc khối người dân tộc mang chủng ... Việt-cổ (xem
[8]). Cuisinier (4) đưa ra giải thích rằng 'Nguồn' mang nghĩa
'nguồn' suối, nguồn sông, cội nguồn của sự sống. Chúng tôi mạo
muội nghĩ khác, và dựa vào một từ nguyên thủy của con người thời
tiền sử, thường được dùng để chỉ 'dân tộc'. Đó là từ dùng để chỉ
'Người', con người. Tiếng Mường, đó là 'mwang'. 'Mwang' ở tiếng
Mường thời xa xưa, mang nghĩa 'người' [13]. Về sau mang nghĩa
'mường bản' hay đơn vị xã hội người Mường. Cũng y như 'Orang'
mang nghĩa 'người' mà Hoàng Thị Châu [9][10] cho rằng đã biến âm
dần dà sang 'Văn Lang', tên gọi nước của Hùng Vương (xem bài
Hùng Vương (4): Nước Văn Lang). Như vậy tộc người Nguồn, theo
thiển ý, có thể đã xuất phát từ 'Ngin' của tiếng Hẹ, và 'Nguin'
hay 'Ruin' theo tiếng người Sơn Đông. 'Ngin' và 'Nguin' hay
'Rin' đều mang nghĩa 'Người'. Khu Sơn Đông chính là một địa bàn
lớn của đám Đông Yi, trong đó có Lạc bộ Trãi.
(iii) Thứ ba, khi
Trần Thủ Độ ép buộc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi lại cho chồng là
Trần Cảnh (người gốc Mân Việt [12]), vào đầu thế kỷ 13, nhà Trần
khởi nghiệp và nhà Lý cáo chung. Một nhóm hoàng thân quốc thích
của nhà Lý thấy không yên nên mới lên tàu căng buồm, di tản chạy
về phía Bắc. Tàu bè trôi dạt về bán đảo Triều Tiên và họ định cư
tại đó cho đến ngày nay. Hậu duệ của những người họ Lý này về
sau trở thành người Hàn, và có vị làm đến tổng thống (Lý Thừa
Vãn). Trong mấy năm gần đây có một nhóm trở về Việt Nam tham
quan nơi chôn nhau cắt rốn của tổ tiên. Theo đăng tải ở nhiều
sách báo, hậu duệ của những hoàng thân họ Lý cho biết sở dĩ tổ
tiên họ trở về bán đảo Triều Tiên là vì gốc gác của họ là ở nơi
đó. Khi di tản họ nhắm về hướng đó. Có thể có thật hay chăng,
cái hướng thật sự các hoàng thân lưu vong nhà Lý đã nhằm vào
chính là quê hương của chủng Việt. Quê hương đó thật ra nằm ở
khu vực bán đảo Sơn Đông, phía bên kia eo biển bán đảo Triều
Tiên. Nhưng sau một hành trình xa xôi và la bàn thời đó không
mấy chính xác, nên các hoàng thân đã bị lạc lối vào xứ Triều
Tiên?

Bản đồ
cho thấy lộ trình Nam tiến của hai chủng Âu và Lạc vào thời
'dựng nước', và con đường di tản tìm về quê cũ của tổ tiên dòng
họ nhà Lý sau khi bị họ nhà Trần tiếm ngôi. Câu hỏi đặt ra ở
đây: Phải chăng cái hướng đến đích thực, theo dự tính của các
hoàng thân nhà Lý, chính là khu Sơn Đông chứ không phải Triều
Tiên?
(iv) Thứ tư, để ý
đến câu ngạn ngữ: 'Trên Bộc dưới dâu (hay: trong dâu) - Bộc
thượng tang gian'. Đó là một thứ ngạn ngữ người Hoa xưa và nay
ít khi biết đến. Nhưng nó lại đặc biệt khá quen thuộc đối với
người Việt, và xuất hiện trong nhiều từ điển Việt, như từ điển
của Đào Duy Anh, Lê Ngọc Trụ, v.v. Thế nào là 'trên Bộc dưới
dâu'? Trước hết, sông Bộc
濮
xuất phát từ tỉnh
Sơn Đông rồi xuyên qua các tỉnh lân cận như Hà Bắc, Hà Nam, và
chảy vào sông Hoàng Hà, chính là địa bàn của nhóm Bộc Việt thuộc
khối Bách Bộc. 'Trên Bộc', có nghĩa 'trên bãi sông Bộc', và
'dưới dâu', nghĩa 'trong ruộng dâu', với lá dâu dùng để nuôi tằm
kén tơ. Nhiều địa điểm ở sông Bộc và ruộng dâu gần đó, chính là
nơi trai gái nước Trịnh và Vệ ưa dùng để hẹn hò tình tự ở thời
Đông Chu Liệt Quốc. Nước Trịnh và Vệ, cũng như các nước lớn như
Tấn và Tề gần đó, chứa rất nhiều đám 'rợ' Lạc bộ Trãi [14].
'Trên Bộc dưới dâu' là ngạn ngữ xuất phát từ nhận xét của Hoa
tộc về đám rợ phía Bắc sông Hoàng Hà. Ngạn ngữ này, có lẽ đã
theo vết chân đám rợ này đến xứ Việt cổ, vào thời xa xưa.
(v) Thứ năm, Đại
Việt Sử Lược [11] có ghi gặp gỡ đầu tiên của thị tộc Việt Thường
với triều đình nhà Châu (đời vua Thành Vương, khoảng năm 1120
TCN), khi 'đại sứ' Việt Thường, một bộ tộc có xâm mình, xâm
trán, nhuộm răng đến cống hiến con chim Trĩ (Trãi). Lúc đó kinh
đô nhà Tây Châu còn ở đất Kiểu Kinh thuộc tỉnh Thiểm Tây ngày
nay. Sự kiện này cho thấy: (a) tộc Yueh mang tính hiếu hoà từ
thời xa xưa, (b) tộc Yueh Thường phải có địa bàn ở gần đất Cảo
Kinh (tỉnh Thiểm Tây), vùng lưu vực sông Hoàng Hà, miền Hoa Bắc.
Có lẽ bên sông Vị như LaPolla [7] đã đề cập. Chỉ có địa bàn gần
như vậy mang chim mới tới. Chứ nếu ở tận Bắc Bộ phía cực Nam,
phải lội bộ qua hàng ngàn bộ lạc dữ dằn khác nhau. Một chuyện
khá hoang đường. (c) người Hoa đầu tiên mô tả tộc Việt này bằng
cách viết nên chữ Lạc, theo bộ Trãi
貉
nhắc đến cái tích
tặng chim Trĩ ngày xưa (Trĩ đọc như Trãi, theo phát âm Tàu
/zhi/). Lạc bộ Trãi dùng để chỉ riêng nhóm Yueh tộc có địa bàn
ăn khớp với địa bàn của đám rợ Đông Yi, chung quanh Sơn Tây, Hà
Bắc, và Sơn Đông. Phân biệt với Lạc (bộ Mã)
骆
cho nhóm Mân (Phúc
Kiến) và Lạc Chuy và Khương,
雒
và
羌,cho
khối Môn-Khmer, nhóm người có lẽ có mặt tại Việt cổ trước tiên
(Xem bài 6). Cũng có thể người Hoa đặt tên Lạc cho đám này bởi
có lúc họ tập trung ở khu vực sông Hoàng Hà và sông Lạc
洛 ở tỉnh Hà
Nam và Thiểm Tây ngày nay.
Như vậy tộc Việt
liên hệ với người Hẹ (Hakka) thế nào và người Hakka là ai?
Người Hakka, thường
gọi Khách Gia (Ke Jia), hay nôm na hơn: người Hẹ, có lẽ là một
tộc dân kì bí nhất của Trung Quốc hiện nay. Kì bí bởi họ còn giữ
được nhiều tục lệ cổ truyền cũng như ngôn ngữ [15], mặc dù đã
trải qua cả ngàn năm hội nhập với các tộc địa phương. Rất nhiều
giả thuyết về gốc gác của người Hẹ đều đi đến các ngõ cụt khác
nhau. Chung qui cũng bởi lý do người Hoa đã tự đánh lừa chính
họ. Người Hoa rốt cuộc đã rơi vào cái bẫy họ giăng ra từ thuở xa
xưa, cho rằng tộc Việt không có mặt ở phía Bắc sông Dương Tử.
Mặc dù họ biết có đám Bộc Việt (Pu Yue) thuộc khối Bách Bộc (Bai
Pu), đã từng có mặt trên nhiều chiến trường thời Đông Chu Liệt
Quốc, nhưng họ vẫn bị nhầm lẫn với nhiều đám Việt khác đã vượt
sông Hoàng Hà rất sớm và hội nhập với các đám Lạc Việt và Âu
Việt, ở phía Tây (Tứ Xuyên) và phía Nam hoặc Đông Nam của nước
Sở. Cũng như trong suốt hằng ngàn năm lịch sử, có rất nhiều đợt
di tản của Yueh (Việt) tộc từ phương Bắc xuống Hoa Nam. Đợt này
cách đợt kia có khi cả trăm năm. Mặc dù cùng chung một thứ chủng
tộc với nhau, các đợt Yueh tộc di tản này có thể khác nhau ít
nhiều, bởi thuộc những bộ lạc khác nhau, và đã thấm nhuần biến
đổi theo phong thổ địa phương, theo kiểu người tới trước kẻ đến
sau [19]. Từ đó, người Hoa rất có thể đã quên nhiều đám Việt
tộc, như nhóm Lạc bộ Trãi chẳng hạn (xin xem bài số 6), khi xưa
từng có địa bàn nguyên thủy tập trung tại các nước Tề, Lỗ, và
Tấn, ở lưu vực phía bắc sông Hoàng Hà, hay ngay cả bên bờ sông
Vị thuộc tỉnh Thiểm Tây ngày nay [7]. Người Hán đã quên đi các
nhóm Việt tộc đó, một phần có lẽ bởi họ đinh ninh một số lớn đã
đi theo nhóm Bách Lê (Cửu Cửu Lê), tức người Hmong di tản về
hướng Đông Bắc để rồi thành lập nước Triều Tiên về sau. Hoặc,
nếu không đi sang bán đảo Triều Tiên, thì cũng đã theo các nhóm
Hmong khác xuôi về phía Nam sông Dương Tử rồi định cư tại các
khu vực như Quí Châu, Vân Nam, Giang Tây, Quảng Tây, v.v.
Thêm vào đó cái tên
Hakka, tức Khách Gia, hay Hẹ chỉ là một tên gọi mới chỉ đám du
mục tràn đến Hoa Nam vào đời nhà Nam Tống (thế kỷ 13). Từ những
kiến thức chủ quan và sai lầm như vậy, người Hoa từ cả ngàn năm
vẫn đinh ninh hễ tộc nào xuất xứ từ phía Bắc sông Dương Tử chỉ
có thể là Hán tộc thuần túy mà thôi. Ngoài ra, và xin nhấn mạnh
điểm này, rất nhiều vị lãnh đạo, cấp 'vĩ nhân' của thế kỉ như
Đặng Tiểu Bình, Lý Quang Yiệu, gia đình anh chị em nhà họ Tống
(Tống Khánh Linh, Tống Mỹ Linh, Tống Tử Văn), và kể luôn cả Mao
Trạch Đông theo một giả thuyết mới có trên internet, đều là
người gốc Hẹ. Cho nên không có cách nào khác hơn là việc cho
người Hẹ mang gốc Hán tối cổ hoặc Hán thuần túy, nghe mới xuôi
tai về mặt chính trị. Từ đó, chúng ta thấy trên cả trăm trang
web về người Hẹ, không ai có thể xác định được gốc gác hoặc tộc
cổ của người Hẹ là gì, ngoài việc cho họ thuộc giòng Hán cổ.
Hakka là phương âm
Quảng Đông của tiếng quan thoại 'Ke jia' (客 家, khách gia) mang
nghĩa 'người khách', đối nghĩa với 'dân bản địa'. Tiếng Việt
thường gọi tắt là Hẹ. Theo rất nhiều tài liệu từ mạng internet,
người Hẹ ngày nay thường tập trung tại các khu vực ở Giang Tây,
Quảng Đông (Meixian), Phúc Kiến, Tứ Xuyên và Đài Loan. Họ cũng
di tản đến khắp nơi ở Đông Nam Á, đặc biệt tại In-đô-nê-xia, Mã
Lai Á và Singapore. Và từ khoảng thế kỷ 17 trở về sau, người Hẹ
đã đặt chân đến tận Châu Âu, Châu Mỹ. Dân số Hẹ tại Trung Quốc
khoảng chừng 35 triệu, và nếu kể hết toàn cầu có thể hơn 60
triệu. Khác với hầu hết các tộc người tại Trung Hoa, người Hẹ
mang bản chất xa xưa là dân du mục, nay đây mai đó. Bởi là dân
du mục, người Hẹ có rất nhiều khả năng thích hợp với mọi môi
trường sinh sống mới. Họ khôn khéo lanh lợi và làm việc cần cù
siêng năng. Nhưng họ rất 'cứng đầu', thí dụ như không theo tập
tục 'đàn bà bó chân' theo kiểu người Hoa.
Thật ra, ở phương
diện nhân chủng, một vài trang mạng cho biết người Hẹ có tóc dợn
sóng, so với Hoa tộc tóc thẳng, và sóng mũi giữa đôi mắt cao hơn
loại Hoa tộc. Quyển 'Mã Lai' [5] ngày trước cho biết dân Bách
Việt (Bai Yue) thuộc chủng Mã Lai cũng có tóc dợn sóng, mũi cao
và da trắng hơn chủng Hoa. Ngày nay, chúng ta có thể để ý da
người Thượng Hải (Chiết Giang, Yueh chi Lạc), người Quảng Đông
hay Hong Kong (chủng Yueh chi Âu), có vẻ trắng hơn da người Hoa
ở miệt Bắc Kinh. Ngày trước, cả Tây Thi và Dương Quí Phi đều
mang giòng máu chủng Yueh.
Hầu hết các giả
thuyết về người Hẹ đều chú tâm đến gốc gác và các đợt di tản lớn
của họ. Có tất cả 3 loại giả thuyết về gốc gác. Thứ nhất, địa
bàn cũ người Hẹ là các khu vực Hà Bắc, Sơn Tây và Hà Nam, tức
lưu vực sông Hoàng Hà ở phía Bắc. Thứ hai, người Hẹ thuộc gốc
các tộc Yueh (Việt) ở Hoa Nam, đặc biệt người 'She' {畲},
mang nghĩa 'khách từ vùng núi', thuộc chủng Hmong [21], có ngôn
ngữ nhiều chỗ giống tiếng Hẹ. Và sau cùng, thứ ba, người Hẹ có
tổ tiên là người Hung nô. Thuyết nào cũng có lý, nhưng đa số có
vẻ chấp nhận thuyết thứ nhất qui gốc người Hẹ về khu lưu vực
sông Hoàng Hà, đặc biệt Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Bắc, phiá Tây Bắc
Sơn Đông, tức địa bàn của các nước Tấn, Trịnh, Vệ, Ngụy, Tề, Lỗ
ở thời xa xưa.
Thuyết về gốc người
Hẹ nổi tiếng nhất chính là thuyết của La Hương Lâm (Luo Xiang
Lin), xuất bản vào năm 1933. Thuyết của La Hương Lâm ra đời rất
đúng lúc, nhằm vào việc giải tỏa ngộ nhận phổ biến thời đó, rằng
người Hẹ không có mang máu Tàu [17]. Theo họ La, người Hẹ có tất
cả 5 đợt di tản chính, từ phía Bắc xuống phía Nam:
- Đợt 1 vào thời
Tần Thủy Hoàng, thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên;
- Đợt 2, cuối đời
Đường và đầu đời Tống (thế kỷ 10 sau Công Nguyên);
- Đợt 3, cuối thời
Bắc Tống và bắt đầu thời nhà Minh (thế kỷ 12-14): chạy Mông Cổ;
- Đợt 4, cuối đời
Minh cho đến bắt đầu nhà Mãn Thanh (thế kỷ 17);
- Đợt 5, khoảng cuối thời nhà Thanh (thế kỷ 19-20), trùng hợp
với loạn Thái Bình Thiên Quốc của Hồng Tú Toàn, một người Hẹ.
Đợt 5 này, có lẽ vì dính líu đến nhiều người Hẹ, đã khiến một số
người Hẹ phải phân tán ra khỏi tỉnh Quảng Đông chạy đi nơi
khác.
Tuy nhiên như chúng
ta sẽ thấy phía sau, La Hương Lâm cũng như hầu hết các học giả
Hoa Việt rồi đến Âu Mỹ, theo thiển ý, đều có vẻ bỏ sót hoặc đã
vô tình lướt qua những cuộc di tản rầm rộ xảy ra vào thời binh
lửa của Xuân Thu Chiến Quốc, rồi Hán Sở tranh hùng, diễn biến
ngay tại địa bàn nguyên thủy của người Hẹ, và đám rợ Bộc Việt
hay Bách Bộc, trong suốt 6-7 trăm năm trước Công Nguyên. Gần
đây, LaPolla [7] có thu thập một bảng kết toán di dân khắp nơi
tại Trung Quốc qua các thời đại. Theo đó cuộc di dân sớm nhất là
do ở người Bách Việt, thiên cư về Nam từ miền lưu vực sông Vị ở
tỉnh Thiểm Tây vào thế kỷ 7 trước Công Nguyên.
Một kiểm chứng khoa
học tường trình trên mạng internet lại đưa mọi người đến lộn xộn
mới. Đó là kiểm chứng về di truyền thể DNA. Theo đó, DNA của
người Hẹ không giống, hoặc cùng thứ với người Hoa ở phía Bắc, mà
lại cùng loại với dân Hoa Nam [16]. Kết quả có vẻ ngược đời này
thật ra rất thích hợp với lý giải của chúng tôi ở đây. Bởi người
Hẹ chỉ có thể là Yueh (Việt) tộc bị 'lạc loài' ở phương Bắc từ
thời xa xưa, nên mới có DNA giống DNA của dân Hoa Nam, thuộc
khối Bách Yueh (Việt) cũ. Nay người Hẹ về Hoa Nam hội nhập với
đồng chủng của họ (như người Chiết Giang, Phúc Kiến, Triều Châu,
v.v.), nên kiểm chứng DNA dễ bị nhầm rằng họ ngày xưa xuất phát
từ Hoa Nam, bởi họ có DNA y như dân Hoa Nam. Thật ra DNA của
người Hẹ giống như DNA dân Hoa Nam từ 5000 năm trước. Ở thời xa
xưa, họ còn sinh sống ở Hoa Bắc với một số tên khác người chủng
Hoa đã đặt cho họ. Đó là nhóm Bách Bộc hay Bộc Việt, hoặc đám rợ
Đông Yi, hoặc Lai Yi. Hoặc đó là thị tộc Việt Thường với con
chim Trĩ, hay khối Lạc Việt, với chữ Lạc viết theo bộ Trãi (quan
thoại phát âm /zhi/ giống phát âm chỉ chim 'Trĩ')
貉
[20], y như
Lạc trong họ của Lạc Long Quân.
Sau đây chúng ta sẽ
truy tầm thêm những chứng liệu khác dùng để minh giải một đẳng
thức hết sức quan trọng, mà gần như tất cả học giả hay nhà khoa
học từ Đông sang Tây, tự cổ chí kim thường xuyên bỏ sót. Đẳng
thức đó là:
Việt Thường = Bộc
Việt (thuộc Bách Bộc) = Lạc Việt (Trãi) = HẸ (Hakka) (1)
Đẳng thức (1) này
thuộc một phần Đẳng thức chính (2), cốt lõi của loạt bài này:
Việt (Nam) = Âu Việt
+ Lạc Việt // Môn-Khmer + Negrito & Melanesian (2)
Tức người Việt Nam
biến thân từ hợp chủng giữa tộc Âu Việt (Thái-cổ) và Lạc Việt
(Việt-cổ) trên nền tảng hai chủng Môn và Khmer. (Dấu // ở đây
mang nghĩa: ‘trên nền tảng’ hay ‘có hạ tầng’). Tộc Hẹ hay Bộc
Việt hoặc Việt Thường, ở đẳng thức Hakka (Hẹ) (1) phía trên, là
một chi tộc quan trọng thuộc tộc Lạc Việt, tức chủng
Việt-cổ.
Trước hết như phía
trên đã đề cập, tất cả những diễn viên trên sân khấu lục địa
Trung Hoa vào thời Đông Châu Liệt Quốc hay sớm hơn nữa, đều còn
đầy đủ hậu duệ tồn tại đến ngày nay. Thí dụ, đám rợ Lạc Chuy,
Khương tiến về Nam trở thành dân Môn-KhờMe, và một số đông dân
tộc ít người tại Nam Trung quốc và khắp miền Đông Nam Á ngày
nay. Cùng chủng với người Môn là người Myanmar, tức Miến Điện
ngày nay. Còn tộc Khmer ban đầu di tản sang chiếm nhiều địa bàn
ở Đông Dương, kể cả Bắc bộ và Lào, nhưng về sau nhượng Lào lại
cho thị tộc Ai Lao từ khu Vân Nam. Cư dân nước Sở, Thục và Tây
Âu, tức các nhóm Âu hay Thái cổ, trở thành vô số khối người dân
tộc ở Hoa Nam, đặc biệt người Choang ở Quảng Tây, người Nùng,
Mường, Tày, Thái,.... Họ cũng đã hợp chủng với các nhóm Lạc Việt
tạo nên người Việt Nam, trên lớp người bản địa sẵn có từ lâu là
tộc Môn và Khmer. Người Thái-cổ tại Vân Nam trở thành người
Lào, người Thái Lan ngày nay, sau những đợt khủng bố của quân
Mông Cổ tại Vân Nam vào thế kỷ 13. Người Hmong được người Triều
Tiên nhìn nhận một trong những tộc chủ lực tạo nên dân tộc Hàn.
Thế còn người Bộc
Việt thuộc khối Bách Bộc thì sao? Chỉ có một trong hai: Hoặc họ
có hậu duệ còn tồn tại, hoặc họ đã bị biến đi đâu mất tiêu. Thế
đặc tính cổ thời của nhóm Bộc này ra sao? Vài ba điểm nổi bật.
Họ là đám dân du mục khét tiếng, có mặt trên nhiều chiến trường
ở thời Đông Châu Liệt Quốc [18]. Có lúc họ lãnh đạo một khối
liên minh các bộ tộc thuộc chủng Yueh (Việt) để đương đầu với
'chính quyền' nước Sở [5], một nước rất hung hăng chuyên đàn áp
các đám rợ, đa số thuộc chủng Yueh, trong và ngoài nước. Rất có
khả năng, họ chính là thị tộc Việt Thường, ngày trước đã cử 'đại
sứ đặc mệnh và toàn quyền' đem con chim Trĩ đến tặng vua nhà
Châu để giao hảo làm quen. Địa bàn nguyên thủy người Bộc ở phía
Bắc nước Tàu, gần gũi với Hoa tộc khu bình nguyên sông Hoàng Hà.
Bởi là dân du mục họ có khuynh hướng 'nay đây mai đó' [18], và
di tản rất sớm đến vùng phía Đông và phía Nam nước Sở. Đối với
dân thuộc tộc Âu tức Thái cổ, mà người Tàu thường gọi Yue, dân
Bộc dễ bị sức thu hút như nam châm. Thư tịch cổ của Tàu, cũng
như các tài liệu trên internet cho thấy người Bộc (Pu) thường có
mặt tại các khu đông người Thái-cổ và người Hmong như: Giang
Tây, Tứ Xuyên, Quí Châu, Vân Nam, Quảng Tây, và Quảng Đông.
Còn người Hẹ? Hẹ là
tiếng gọi tắt của Haagga theo tiếng Hẹ, Ke Jia theo quan thoại,
hoặc Hakka theo Quảng Đông. 'Ke Jia' đọc theo quốc ngữ là 'Khách
Gia' tức 'người khách', người từ phương xa đến tạm trú, chứ
không phải người bản địa có địa bàn cổ ở chính nơi đó. Họ cũng
là một tộc dựa vào thế du mục, không chịu Hán hoá dữ dội như dân
Chiết Giang, Thượng Hải hay Quảng Đông. Cũng bởi họ là dân du
mục với số dân khá đông, nên ngày nay họ mang tiếng là khối
người dân tộc du mục 'nổi bật nhất', hay người Do Thái, của
Trung quốc, mặc dù từ thế kỷ 17-20 họ di tản ra khỏi nước thường
hơn là đi đến một địa điểm khác trong nước Tàu. Bởi người Hẹ có
gốc du mục, nên ít ai chịu khó truy về cội nguồn ban đầu. Chính
họ có lẽ cũng không nhớ rõ. Nhưng đa số nhìn nhận họ xuất xứ từ
phương Bắc miệt sông Hoàng Hà. Từ đó rất dễ lầm lẫn họ là thứ
Hán tộc thuần túy. Cũng giống như đám Bách Bộc, họ chiến đấu rất
can cường và đã từng đối kháng với quân Mông Cổ, quân Mãn Thanh
trong những lần các đám rợ này xâm chiếm nước Tàu. Lại giống như
người Bộc, người Hẹ có vẻ dư thừa khả năng lãnh đạo. Chủng Hẹ
sản xuất ra nhiều nhà lãnh đạo, những tài năng xuất chúng của
thế kỉ 20 (Đặng Tiểu Bình, Lee Kwan Yew, Chou Yun Fat, Han
Suyin). Nhiều trang mạng hãnh diện phô trương chính quyền
Singapore luôn luôn được lèo lái bởi ê-kíp người Hẹ. Bởi là
giống dân mang gốc du mục, người Hẹ mang nhiều tính giống các
sắc dân du mục khác trên thế giới. Trong đó việc kiến trúc các
đền đài lớn luôn luôn được trì hoãn vô hạn định. Ở điểm này, ta
có thể để ý nếu so sánh các đền đài tại Việt Nam và các nước lân
cận như Kam-pu-chia, Thái Lan, v.v., gia sản kiến trúc do tiền
nhân nước Nam để lại, có vẻ rất nghèo nàn.
Ở phương diện chôn
cất người chết, tài liệu internet cho biết người Khương (rợ
Khương Nhung), cùng tộc với Môn-Khờme, ngày trước có tục lệ hoả
táng. Người Chăm ngày xưa cũng vậy. Nhưng người Bộc, Hẹ, và
Thái-cổ không có tục hoả táng này. Ở xứ Việt-cổ, những công cuộc
khai quật cho biết có chừng 4 lối mai táng chôn cất khác nhau
[25]. Theo thiển ý, chúng ta có thể liên kết cách thức mai táng
với tập tục của chủng tộc rồi suy ra chủng nào có mặt tại xứ
Việt cổ vào khoảng niên đại nào.
(i)
Chôn kiểu bó gối, tứ chi co quắp.
Rất có thể thuộc tộc Thái-cổ và nhóm Đa đảo Melanesians, tìm
thấy tại các khu vực nhiều chủng Thái-cổ bên Tàu và ở các hải
đảo Thái Bình Dương. Tại Việt Nam, nhiều mộ đã được trét thêm
đất đỏ (thổ chu), rất giống kiểu người Thái-cổ ở vùng đất đỏ Tứ
Xuyên, tức ‘nước’ Thục cũ. Mộ bó gối tại Mái Đá Điều, Mái Đá
Nước, khu Hoà Bình (65% dân người Mường) mang niên đại 17 ngàn
năm trước Công Nguyên.
(ii)
Mộ vò, tức xương người chết tìm
thấy trong vò (lu) có nấp đậy đàng hoàng. Thông thường, xương
trẻ em nhiều hơn xương người lớn. Tra cứu trên internet (xem:
burial jar) cho thấy tập tục này thường đi đôi với lối chôn 2
lần. Theo đó, sau khi chôn lần đầu một thời gian, người thân thu
nhặt hài cốt người chết, rồi sắp xếp lại cho vào trong một cái
vò (hũ) bằng đất nung, rồi mai táng lại thêm một lần nữa. Tập
tục chôn mộ vò có mặt tại nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt
Trung Hoa và Đông Nam Á (nổi tiếng nhất: Palawan, Phi-líp-pin),
kể luôn các hải đảo. Theo thiển ý, đây cũng là tập tục của người
Môn [27], tiền thân người Myanmar (Miến Điện), thuộc nhóm
Môn-Khmer tầng lớp cơ bản và lâu đời nhất ở bán đảo Đông Dương,
Thái Lan và Myanmar. Cũng có thể Yueh chi Lạc (Lạc Việt) ở khu
vực Chiết Giang, Giang Tô và Phúc Kiến. Tại Việt Nam, mộ vò được
tìm thấy ở khu Nghệ Tĩnh, có niên đại cỡ năm 2000 TCN. Ở Trung
quốc, khu vực Ngưỡng Thiều vào khoảng đời Đông Chu (770-222
TCN).
(iii)
Mộ thuyền trong đất cạn: Cái hòm
làm từ thân cây lớn, đục rỗng theo hình chiếc thuyền. Được trình
bày ở nhiều trang web trên mạng. Rất ‘phổ biến’ tại phía Tây
nước Sở, khu Tứ Xuyên, tức ‘nước' Thục xưa. Tìm thấy ở Hà Sơn
Bình, vài trăm năm trước Công Nguyên. Theo thiển ý, mộ thuyền là
tập tục mai táng của chủng Thái-cổ. Chủng Thái-cổ di dân đến xứ
Việt-cổ bằng nhiều đợt, và đợt ‘mộ thuyền’ là đợt thời Xuân Thu
Chiến quốc.
(iv)
Mộ nằm thẳng, thường thường nằm
ngửa, như hiện nay. Lối mộ này phổ biến nhất trong tộc Hoa từ
ngàn xưa. Tìm thấy tại Việt Nam ở các địa điểm: Núi Nấp, Quỳnh
Chữ, Đông Sơn, vào niên đại khoảng năm 500 TCN, tức cực điểm
thời Xuân Thu Chiến Quốc pên Tàu. Theo thiển ý mộ táng kiểu này
là ở đám Lạc Việt từng sống gần gũi chủng Hoa bên sông Hoàng Hà.
Họ đã cóp cách mai táng tộc Hoa và đem sang xứ Việt cổ trên bước
đường di tản chung với các chủng khác, đặc biệt Thái-cổ.
Tóm tắt, thuở cổ
thời hai nhóm Môn-Khmer có mặt tại xứ Việt cổ sớm nhất. Tộc
Khương (tức Khmer về sau) có tập tục hoả táng nên không, hay rất
ít, để lại dấu vết. Tộc Môn, Thái cổ và một số tộc đa đảo
(Melanesian) có lối chôn kiểu bó gối và kiểu mộ vò. Họ cũng có
mặt tại xứ Việt cổ rất sớm. Riêng các nhóm Thái cổ đến xứ Việt
bằng nhiều đợt, cách nhau cả trăm năm. Các đợt sau cùng xảy ra
vào thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tàu khi các nước chứa nhiều
chủng Yueh, chi Thái, như Thục, Sở, Tây Âu bị giải thể. Trong
các đợt sau cùng đó, trong vòng 500-600 năm trước Công Nguyên,
trong các nhóm Thái cổ, có các đám Hmong và Lạc Việt. Lạc Việt
bao gồm các nhóm Bộc Việt, Ngô-Việt (Câu Tiễn-Tây Thi), và Mân
Việt (Phúc Kiến). Đặc biệt, nhóm Bộc Việt hay Bách Bộc là một
nhóm du mục xuất xứ từ khu bình nguyên các sông Bộc, sông Vị, và
Hoàng Hà. Địa bàn nguyên thủy của họ rất gần với các nơi định cư
ban đầu của tộc Hoa, ở phía Bắc nước Tàu. Họ có kinh nghiệm giao
tác với người Hoa nhất. Và chính họ đã đem lối mai táng nằm
ngửa, bắt chước từ người Hoa, đến xứ Việt cổ.
Người Bộc Việt có
một quá khứ, có lẽ oai hùng nhất nhì trong các đám rợ Việt.
Ngang ngửa với tộc Âu, tức chủng Thái cổ. Họ chính là một trong
những nhóm người Hoa ưa gọi: Lạc Việt, hãy còn hậu duệ tồn tại
đến ngày nay. Và nếu vậy chỉ có dân Hẹ là ứng viên duy nhất có
thể vào chung kết là hậu duệ của đám Bộc Việt hay Bách Bộc, xưa
có địa bàn chung quanh sông Hoàng Hà.
Chúng ta hãy quan
sát tiếp những chi tiết lý thú khác, chung quanh ngôn ngữ, để
minh giải đẳng thức nòng cốt của loạt bài này, đã ghi phía trên:
Việt Nam = Thái-cổ +
Việt-cổ // Môn-Khmer và Đa-đảo với Nê-gri-tô {2}
Và người Hakka (Hẹ)
chính là thành phần chủ lực của khối Việt-cổ trong đẳng thức đó.
Tuy nhiên, khuôn khổ
bài có hạn, chúng tôi xin phép dời phần so sánh tiếng Hẹ và
tiếng Việt đến một bài kế tiếp. Ở đây chỉ xin điểm qua: Chúng
ta & Chúng tôi
Trong loạt bài 'Từ
chữ Nôm đến quốc ngữ', chúng tôi có lưu ý phân biệt giữa 'Chúng
ta' và 'Chúng tôi' và cho rằng rất ít ngôn ngữ có phân biệt kiểu
này [26]. Thử để ý:
- Chúng tôi
vừa mới đi ăn phở ở Bankstown về.
và:
- Bây giờ chúng
ta ra Bankstown ăn phở chứ?
Bất cứ người Việt
nào cũng đều thấy rõ, 'chúng tôi' ở câu trên không có bao gồm
người 'nghe' câu nói đó. Tức trong nhóm người có mặt tại đó, sẽ
có ít lắm một người bụng hãy còn đói bởi chưa có đi ăn phở. Ở
câu sau, 'chúng ta' bao hàm tất cả mọi người có mặt. Nếu đi ăn
phở, có vẻ tất cả sẽ cùng nhau đi.
Rất ít ngôn ngữ có
hai thứ từ khác nhau phân biệt hai 'đại danh từ ngôi thứ nhất,
số nhiều', một 'bao gồm', một 'phân cách', như tiếng Việt. Đa số
vẫn dùng một 'đại từ', thí dụ như WE trong tiếng Anh, NOUS trong
tiếng Tây, cho cả hai trường hợp.
LaPolla [7] dẫn
Mantaro Hashimoto, cho rằng tiếng Tàu quan thoại ở phía cực Bắc,
chịu nhiều ảnh hưởng nhóm ngôn ngữ Altai (bao gồm tiếng Hàn,
Mãn, Mông, Tungesic), nên có hai đại từ khác nhau cho hai trường
hợp 'bao gồm' và 'phân cách'. Bởi nước Tàu, đặc biệt phía cực
Bắc, trong lịch sử đã tiếp cận thường xuyên với các tộc người có
ngôn ngữ thuộc nhóm Altai, bên kia biên giới phương Bắc, và
nhiều thế kỷ lâm vào thế bị chiếm đóng bởi các tộc này. Tra cứu
một quyển từ điển Hoa-Việt, chúng ta thấy:
Chúng ta = zan men
(qt) =
咱
們
Chúng tôi = wo men (qt)
=
我
們.
(Để ý: /ta/ có âm
khá giống như /zan/ ở phát âm quan thoại)
Chúng tôi kiểm chứng
với một vài bằng hữu người Chiết Giang, Thượng Hải, Hồ Nam và
Quảng Đông, và tất cả xác nhận rằng:
- Phân biệt 'chúng
ta - chúng tôi' không có trong các phương ngữ phía Nam, và
- Cũng không có,
ngay cả trong tiếng Quan thoại (phổ thông) xử dụng ở miền Hoa
Nam
- Phân biệt đó chỉ
có ở phía cực Bắc, bắc sông Hoàng Hà và chung quanh Bắc Kinh
Kiểm chứng với tiếng
Hẹ (Hakka), chúng ta thấy có một sự phân biệt tương tự giữa
'chúng ta - chúng tôi', như sau:
Chúng ta = 'za' hay
'zam' (Hakka) (bao gồm cả người nói lẫn người nghe)
Chúng tôi = Ngai-teu
(phân cách với một hoặc nhiều người nghe)
Như vậy, 'chúng tôi'
đã được dịp hân hạnh trình bày cho 'chúng ta' thấy rõ có một sợi
giây liên hệ giữa Việt ngữ và phương ngữ Hakka (Hẹ) cùng với thứ
tiếng Quan thoại được xử dụng ở miền cực Bắc, trong cách phân
biệt giữa 'chúng ta' và 'chúng tôi'.
Chúng ta có thể để ý
những điểm khác như sau:
- Trong tiếng
Triều Tiên (thuộc nhóm ngữ Altai), chúng ta = /xam/ & chúng tôi
= /A/. Mang phân biệt giữa 'chúng ta' (bao gồm) và 'chúng tôi'
(phân cách).
- Trong tiếng
Hakka (Hẹ) đại từ ngôi 1, tức 'Tôi' hay 'chúng tôi', là 'Ngai',
còn có thể phát âm 'Ai'. Tiếng Hẹ /Ai/ rất giống phát âm tiếng
Triều Tiên /A/ và chính là 'Ai' trong Việt ngữ: "Ai ở ngoài cửa
đó?'. Tương tự như chữ 'Nong' trong tiếng Yueh (Chiết Giang) chỉ
đại từ ngôi 2, tức 'You' tiếng Anh, được dời sang ngôi 3 trong
tiếng Việt thành 'Nó', 'Ai' nguyên thủy trong tiếng Việt mang
nghĩa 'Tôi', 'chúng tôi', được chuyển sang ngôi 3 cho câu nghi
vấn: - Ai đã lấy điện thoại di động của tôi? ĐÁP: - Ai biết đâu.
(Xem [22]).
- 'Tôi' trong Việt
ngữ có thể xuất phát từ 'tjano' (Miến), 'teu' (Hẹ: ngai-teu =>
chúng tôi)
- 'Chúng' trong
'chúng tôi' có bà con gần với nhóm ngôn ngữ thuộc khối Môn-Khmer
hoặc khối Tạng-Miến (Tây Tạng + Miến Điện): Có thể biến dạng từ
Yiung (tiếng Khmer) chỉ 'chúng tôi', hay 'Chi' (= chúng) trong
một ngôn ngữ thuộc nhóm Tạng-Miến: 'Chi-mi' => chúng mi, chúng
mầy => 'You'.
- 'Ta' có lẽ liên hệ nhiều với nhóm ngữ phía Bắc hơn. 'Ta' rất
gần với 'zan' quan thoại, 'zam' Hakka, 'zaa' Quảng Đông, và
'tachi' tiếng Nhật. 'Chúng ta' = watashi-tachi tiếng Nhật.
- 'WaTashi'
= ta, tôi - tiếng Nhật - bà con với 'ta' tiếng Việt, 'wa' hay
'goa' tiếng Phúc Kiến, 'qua' phát âm Nam Bộ, 'wa' tiếng Mường,
'kwa' tiếng Môn-Khmer.
TÓM TẮT
Hầu hết người Việt
đều biết đến câu ca dao:
Bầu ơi thương lấy bí
cùng
Tuy rằng khác giống
nhưng chung một giàn
Qua loạt bài này chúng ta đã bắt đầu thấy rõ vấn đề 'giống', hay
đúng hơn hợp giống, là vấn đề cốt lõi của tộc người Việt Nam.
Trước và trên hết, câu nói duy nhất Lạc Long Quân đã thốt ra khi
chia tay với Âu Cơ: 'Nàng là giống tiên, ta là giống rồng', đã
chứa trọn cái từ chính yếu 'Giống'. Câu ca dao 'bầu-bí' ở trên
cũng đề cập đến chuyện 'giống', hay đúng hơn: 'khác giống' đó.
Như vậy chuyện Âu Cơ
có thể được phối hợp với ca dao bầu-bí, dùng để hỗ trợ cho đẳng
thức số (2) phiá trên nói về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, như
sau: 'Cây bầu (Lạc) và cây bí (Âu) đã được trồng tại một thửa
đất và leo trên chung một zàn (Môn-Khmer)'.
Qua chứng minh sơ
khởi rằng người Hẹ chính là người Bộc Việt ở thời Đông Chu,
chúng ta đã dựa vào nhiều chứng cớ, từ cổ sử, điển tích đến nhân
chủng học đại cương, v.v. Nhưng quan trọng hơn hết, chúng ta đã
dựa vào lối suy luận rất bình dân: 'Nếu chủng Bộc Việt là một
trong những diễn viên của sân khấu Đông Chu Liệt Quốc, và nếu
gần như tất cả những diễn viên sân khấu đó đều có hậu duệ tồn
tại đến ngày nay, tộc Bộc Việt đó chắc chắn phải có hậu zuệ'. Đa
số các tộc thuộc nhóm Bai Yue (Bách Việt) đó đều, một phần ở lại
nước Tàu để hội nhập trở thành người Hoa (Nam), hay thành người
dân tộc, một phần, 'vượt biên' di tản ra khỏi nước Tàu đến vùng
đất khác gầy dựng nên nhóm thị tộc rồi về sau trở thành quốc
gia.
Người zu mục Bách
Bộc, theo giả thuyết ở đây, zi tản thành nhiều đợt ra khỏi vùng
Hoa Bắc. Một số đi khá sớm, rồi hoà nhập với các sắc tộc khác ở
vùng Quế Châu, Vân Nam trở thành những nhóm người dân tộc chủng
Yue, đặc biệt nhóm Bộc (Pu). Một nhóm khác lẫn lộn với đám Âu,
và những đám Lạc khác như Ngô-Việt, Mân Việt chạy sang xứ Việt
cổ, địa bàn ban đầu của các chủng Môn-Khmer, Đa đảo và
Nê-gri-tô, tạo nên xứ Việt cổ, thường gọi Văn Lang hay Âu Lạc.
Đám cuối cùng còn kẹt lại, tử thủ, chung đụng với Hoa tộc ở phía
Bắc một thời gian khá dài lâu, nhưng vẫn giữ bản sắc Yueh tộc,
chi Lạc bộ Trãi. Nhiều thế kỷ sau, nhóm người này cuối cùng đành
phải theo vết chân người xưa, di chuyển địa bàn du mục về phía
Nam. Với tính cố cựu giữ vững bản chất sắc tộc tại các địa bàn
tạm cư mới, họ được gọi: Ke jia, tức Khách Gia, tức Haagga, hay
Hakka. Nôm na chính là người HẸ.
Trong bài tới chúng
tôi sẽ tiếp tục truy tầm thêm các chứng tích khác, nhất là các
tài liệu ngôn ngữ, để minh giải hai đẳng thức nòng cốt phiá
trên. Đặc biệt, người Hẹ và tộc Lạc Việt, tuy mang tiếng là hai,
nhưng thật ra chỉ là một thứ với nhau.
Tháng 6, 2005
NN
Ghi Chú
[1]
http://www.kimsoft.com/2004/go-chosun.htm
[2] Cổ sử Tàu cho
biết có 9 nhóm Lê (Cửu Lê), mỗi nhóm có 9 chi tộc. Tổng cộng tất
cả có 81 (= 9 x 9) bộ lạc Lê khác nhau. Để ý, một lần nữa, người
Tàu rất thích con số 9 và số 81. Theo viện dẫn trong một số bài
trước (thí dụ [3]), người Hoa trong thời huyền sử có thể đã xử
dụng hệ thống đếm theo cơ bản số 9, y hệt như người Mường cho
đến giữa thế kỷ 20 [4]. Trong hệ đếm theo số 9, người ta đếm từ
0, 1, 2, ... cho đến 9 thì quay trở lại đếm tiếp theo bằng 9+1,
9+2, 9+3,... Số 18 chính là 2 lần 9, tức 29 (đọc hai-chín) trong
hệ đếm số 9. Trong hệ đếm số 10, 2 lần số hệ, tức 2 lần 10, ta
gọi 20, Hai chục. Có thể thấy, chữ 'chục' có vẻ có âm vận rất
gần với 'chín'. Ngoài ra 100 (Bách) trong hệ đếm số 9 tức là 9x9
= 81. Người Tàu do đó có thể gọi tất cả các nhóm Lê bằng khối
Bách Lê, trong hệ 9 chính là 81 nhóm Lê. Y hệt như họ đã gọi
Bách Việt, Bách Bộc, v.v. Bách Việt, Bách Bộc như vậy trong hệ
số 9 của thời huyền sử, mang nghĩa 81 nhóm Việt, 81 nhóm Bộc,
tức một con số lớn mà thôi. Bách = 81 = một con số thật lớn, họ
không đếm rõ.
[3] Nguyên Nguyên
(2004) 18 đời vua Hùng Vương: Một ý niệm về liên tục. Xem
khoahoc.net, viendu.com, aihưucongchanh.com, petruskylhp.org,...
[4] Jeanne Cuisinier
(1946) Les Mương – Géographie Humaine et Sociologie. Institut
d’Ethnographie. Paris
[5] Bình Nguyên Lộc
(1971) Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam. Nxb Xuân Thu, tái
bản tại Hoa Kỳ.
[6] Vũ Thế Ngọc
(1989) Nghiên cứu chữ Hán và tiếng Hán Việt. East-West
Institute.
[7] Randy J. LaPolla
(2000) The role of migration and language contact in the
development of the Sino-Tibetan language family. IN: Areal
Diffusion and Genetic Inheritance: Case Studies in Language
Change. Ed. by R.M.W. Dixon & A.Y. Aikhenvald. Oxford University
Press
[8] Đặng Nghiêm Vạn
(2003) Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam. Nxb Đại Học Quốc Gia
TPHCM.
[9] Hoàng Thị Châu
(1969) Nước Văn Lang qua tài liệu ngôn ngữ. Nghiên cứu lịch sử
120. pp.37-48.
[10] Văn Tân, Nguyễn
Linh, Lê Văn Lan, Nguyễn Đổng Chi và Hoàng Hưng (1973) Thời đại
Hùng Vương. Nxb Khoa Học Xã Hội.
[11] Khuyết Danh
(1377-1388) Đại Việt Sử Lược. Bản dịch của Nguyễn Gia Tường. Nhà
Xuất Bản Thành Phố HCM. Bộ Môn Châu Á Học Đại Học Tổng Hợp
TP.HCM.
[12] Ngô Sĩ Liên và
cộng sự (1497). Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Thanh Việt và Phạm Ngọc
Luật hiệu đính theo bản dịch của Đào Duy Anh. Nxb Văn Hoá Thông
Tin (2004). Bản của Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam được trình bày
đầy đủ trên mạng internet: perso.wanadoo.fr/charite
[13] 'Người' có thể
xuất xứ từ 'Ngin' tiếng Hẹ. 'Ngin' cũng có thể là gốc chung của
các từ của nhiều nhóm người dân tộc mang âm 'Ngài', với nghĩa
'Người' (xin xem: 'Khuôn trăng đầy đặn nét người nở nang').
'Ngài' trong Việt ngữ về sau biến đổi ý nghĩa, thành 'danh xưng'
với sự kính trọng.
[14] Chúng ta có thể
suy luận rất dễ người xứ Trịnh và Vệ thuộc giống 'rợ' chứ không
phải Hán tộc. Bởi họ dùng nhưng nơi công cộng như bờ sông Bộc
hoặc ruộng dâu để tư tình với nhau. Người Hoa thời đó đã phát
triển một nền văn hoá khá khác biệt với các đám rợ tại Trung
nguyên. Và họ thường nhanh nhẩu chụp mũ 'rợ' cho những nhóm
người có hành vi khác với họ, đặc biệt về các chuyện Sex và
phòng the. Việc chụp mũ, hay phân biệt ‘rợ‘ dựa trên nhiều tiêu
chí, trong đó có chuyện Sex, mà người Hoa ưa gán các chủng khác
bằng miêu tả ‘dâm bôn’. Vấn đề Sex ở sông Bộc còn được ghi chép
ở một ngạn ngữ khác: 'Bộc thượng chi âm', ngụ ý chê âm nhạc dâm
đãng những đám rợ ưa chơi bên bờ sông Bộc. Có lẽ bởi họ kiêng kị
về Sex ở chốn công cộng và có nhiều taboo khác về Sex, nên khi
Khổng Tử ở nước Lỗ 'sáng tác' ra Nho giáo, và bày các thứ cấm
đoán lỉnh kỉnh về Sex, cho chủng Hoa, ông ta được nhiệt liệt
hoan nghênh, không mấy chốc trở thành Vạn Thế Sư Biểu.
[15] Hai trong các
món ăn phổ thông của người Hẹ vẫn thường thấy tại Việt Nam gồm
có: Món cháo gà và món đậu phụ (tàu hủ) dồn thịt chiên. Tài tử
Châu Nhuận Phát (phim Ngọa Hổ Tàng Long của Ang Lee), cũng như
nhà văn Han Suyin (Hàn Tố Âm) đều là người Hẹ.
[16]
http://www.asiawind.com/hakka/
[17] L. Sagart
(2001) Gan, Hakka and the formation of Chinese dialects. Centre
de Recherches Linguistiques sur l'Asie Orientale. Ecole des
Hautes Etudes en Sciences Sociales (UMR 8563 du CNRS), Paris -
France.
[18] Đường Nhạn
Sinh, Bạo Thúc Diễm & Chu Chính Thư (2002) Mưu Trí thời Xuân
Thu. (Ông Văn Tùng & Vũ Ngọc Quỳnh dịch). Nxb Văn Nghệ, TP HCM
[19] Chuyện một số
sắc dân di tản từng đợt cách nhau vài chục hay vài trăm năm,
xuất phát từ những bộ lạc khác nhau, tuy cùng một tộc người, vẫn
thường gây lộn xộn khắp nơi. Khi truy cập mạng chúng ta sẽ thấy
người Hoa miêu tả người Pu (Bộc), Qiang (Khương), Yi (Di),
Hmong-Yao (Miêu-Dao), v.v., rất lộn xộn, và bằng nhiều tên khác
nhau. Bởi có thể họ thuộc những đợt di tản cách nhau hằng trăm
năm và xuất xứ từ các bộ lạc khác nhau. Tại Việt Nam, cho đến
ngày nay giới thẩm quyền vẫn chưa minh giải được người Mường
thuộc chủng nào và từ đâu tới. Đa số ưa gộp Việt-Mường với nhau
thành một khối. Theo thiển ý, người Mường chính là hậu duệ của
khối Thái cổ di dân sang Việt cổ, sau hoặc cùng lúc với nhóm
Môn-Khmer, nhưng rất sớm và bằng nhiều đợt. Một trong những đợt
sau cùng chính là đám dân quân theo Thục Phán, thuộc chủng
Thái-cổ (Âu), đến xứ Việt-cổ, cùng với các đám Việt tộc khác
(Lạc). Chủng tộc gốc của họ giống y như những đợt di dân Thái-cổ
ở các thế kỷ sau như: Nùng (Choang ở Quảng Tây, tức Tây Âu xưa),
Tày, Thái trắng, Thái đen, v.v. Hy vọng sẽ trở lại vấn đề này,
một yịp khác.
[20] Lạc bộ Trãi
貉 có chữ
Trãi
豸 (còn gọi
Trĩ, quan thoại: 'zhi'),
mang nghĩa con sâu không có chân. Sâu có chân gọi 'Trùng'. Chữ
'Trãi'豸còn
mang nghĩa con thú hoang đường giống con dê có sừng trên đầu.
[21] Người ‘She’ cũng có gốc zu mục. Họ thờ cúng tổ tiên. Nhưng
khác với Hẹ họ mang thói quen của một số nhóm người dân tộc tại
Trung Hoa, thường gọi ‘slash & burn’. Tức sau khi thu hoạch được
hoa mùa, họ cắt đốn cây cối rồi châm lửa đốt tiêu hết trước khi
dọn đi nơi khác. Đặc biệt, nguời She kiêng kị không ăn thịt
...cầy (chó).
[22] Nguyên Nguyên
(2005) Phải chăng người Việt cổ đã biết tiếng Anh: I= Ai= Tôi.
talawas.org, aihưucongchanh.com.
[23] Từ điển Hakka
trên mạng: sungwh.freeserve.co.uk/sapienti/hdindexc.htm
[24] Charles Hamblin
(1988) Languages of Asia & The Pacific. Angus & Robertson
[25] Cung Đình Thanh
(2003) Tìm về nguồn gốc văn minh Việt Nam dưới ánh sang mới của
khoa học. Nxb Tư Tưởng (Sydney)
[26] Thật ra các
ngôn ngữ khác thỉnh thoảng cũng có cách phân biệt ‘chúng ta &
chúng tôi’, nhưng không zùng từ khác. Thí dụ tiếng Anh ưa kèm
theo ‘all’ để chỉ ‘bao gồm’:
-
Shall we all go to Bankstown
to have some Beef Noodle? Chúng ta đi Bankstown ăn phở chứ?
-
The PM’s decision will affect us
all: Quyết định của thủ tướng sẽ ảnh hưởng đến tất cả chúng
ta.
[27] Người Khasi ở
khu vực Miến Điện-Ấn Độ, nói tiếng Môn-Khmer có tục mộ vò:
http://www.hoklo.org/YuetCulture/Articles/?item=3
Trở về Trang Chính |