|
Những độc giả
đã theo dõi loạt bài này đều có thể để ý đến một vài điểm rất kì
lạ trên vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt Nam, thường ghi chép rất
nghiêm túc trong sử sách:
(i)
Thời điểm nguyên thủy tạo
dựng nên xứ và dân Việt hoàn toàn mơ hồ: Theo truyền thuyết,
trong khoảng thế kỷ 27-28 trước Công Nguyên (TCN), khi Đế Minh
cháu 3 đời của vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam. Nhưng đến
lúc một nhân vật mang tên Kinh Dương Vương xuất hiện, như chúng
ta đã thấy qua những bài trước, tất các nhân danh và địa danh
đều được bao hàm trong nước Sở của thời Xuân Thu Chiến Quốc bên
Tàu (770-221 TCN). Kinh Dương Vương, theo giải mã, rất có khả
năng mang nghĩa những người ở châu Kinh và Dương, hai châu chính
của nước Sở. Tiêu biểu, theo tuần tự, chủng Âu (Thái cổ) và
chủng Lạc (Việt cổ).
(ii)
Câu chuyện truyền thuyết
tiếp nối với con của Kinh Dương Vương là Lạc Long Quân phải lòng
bà Âu Cơ, con của Động Đình Quân (‘tiểu vương’ của một xứ ở khu
Động Đình Hồ, phía Nam nước Sở). Bà Âu với ông Lạc, ăn ở với
nhau sinh được 100 người con. Nhưng sau đó chính ông Lạc xác
nhận đó là một hôn nhân dị chủng, và hai người đi đến quyết định
li hôn. Bà Âu, bảo thủ hơn, dẫn 50 người con về khu địa bàn cũ
gồm nhiều núi rừng, và ông Lạc dẫn 50 người con kia xuôi về miền
đồng bằng gần sông gần biển. Đám con theo ông Lạc mới tôn người
con trưởng lên làm vua lấy hiệu Hùng Vương. Còn bà Âu Cơ và đám
con kia đi về núi nào, khu rừng nào, không cần biết đến. Thỉnh
thoảng ông Lạc có lên núi thăm vợ cũ và 'phân nửa' đàn con dại
hay không, Hùng Vương có vẻ không cần biết tới. Sử sách cũng tùy
tiện bắt chước Hùng Vương luôn. Hoặc giả ông Lạc có lập gia đình
thêm một vài lần nữa không, và có cơ hội ông gặp ý trung nhân
cùng tông cùng chủng với ông hay không. Không ai thèm biết hết.
Truyện tích theo bản người Mường [1] lại chỉ chú tâm đến bà Ngu
(Âu) Cơ mà thôi. Họ cũng không mảy may chú ý đến đám con đi theo
Papa Lạc, nhưng có cho biết, đám con đó về sau ai cũng trở thành
xếp bộ lạc hết. Đặc biệt, qua nhiều truyện cổ tích của người
Mường [1], chúng ta có thể thấy: (a) Họ không hề xem Hùng Vương
là vua của họ; (b) Hùng Vương chỉ là một trong nhiều tên gọi
khác nhau để chỉ những tù trưởng của các bộ tộc chủng Yịt
(Việt), phe mặc áo màu yàng (vàng), sinh sống gần những bộ lạc
Mường, tức Thái cổ; và (c) Chỉ có bà Âu Cơ (Ngu Kơ) mới là tổ
mẫu của chủng họ mà thôi, và họ không hề quan tâm đến cụ Lạc và
phân nửa đám con theo ông.
(iii)
Những điểm kì lạ kế tiếp mà
sử sách, đa số dựa vào hai bộ 'Việt điện u linh tập' và 'Lĩnh
Nam chích quái', vẫn thường lướt qua gồm có:
(a)
Truyền thuyết hoàn toàn
không xác nhận, những thần dân ở tại cái xứ mà Hùng Vương trị vì
là những ai và thuộc chủng nào. Nếu dân xứ đó thuộc chủng của
Hùng Vương, rất có thể họ đã di tản đến đó cùng một lúc với Hùng
Vương. Bằng không và nếu họ đã cư ngụ tại xứ đó từ lâu, thì gia
đình Âu-Lạc phải là một đại gia đình đã dã tâm xâm chiếm đất đai
của những chủng khác, hoặc đến đó xin tá túc hay thường trú vĩnh
viễn. Rất khó mà họ có thể đương nhiên lên làm vua, hay cho dù
làm tù trưởng một bộ lạc thật lớn ở xứ đó đi chăng nữa. Từ điểm
mơ hồ này, rất nhiều, có thể nói đa số, người Việt đều vẫn đinh
ninh trong trí rằng, trước và sau thời đại Hùng Vương, xứ Việt
hoàn toàn gồm một chủng người, và chỉ một chủng mà thôi, đoàn
kết với nhau. Chủng Việt này có một thứ tiếng và không có dính
dáng hoặc liên hệ huyết thống gì đến một hoặc vài chủng nào đặc
biệt trong khối Bách Việt ở bên Tàu. Hoặc chung chung, họ là một
tổng hợp các chủng thuộc khối Bách Việt, ngay từ thời Thần Nông
xa xưa. Hoàn toàn không cần biết những chủng đặc biệt nào chính
là nguồn gốc dân Việt [4][5].
(b)
Truyền thuyết, theo lối giải
thích thêu dệt từ các chuyện thần thoại từ trước đến giờ, thường
tránh né việc liên kết hoặc đề cập đến các cuộc chiến tranh binh
lửa rầm rầm kéo dài gần 1000 năm của thời Xuân Thu Chiến quốc ở
bên Tàu, cũng như những cuộc di tản rầm rộ gây ra bởi tàn phá và
khủng bố của chiến tranh. Có lẽ với mục đích tránh chuyện bà con
xa gần với người Hoa, bởi thiếu thốn hiểu biết về sử cổ của Tàu,
và cũng sợ người Tàu thừa thế thắng xông xuống. Tức những lối
giải thích truyền thuyết từ xưa đến nay, bởi nhầm lẫn ở thời
điểm xảy ra câu chuyện, không bao giờ liên tưởng đến việc Kinh
Dương Vương và gia đình gồm các con cháu và dâu, như Lạc Long
Quân, Âu Cơ và 100 người con, chỉ là những đợt người di tản chạy
về phía Nam đúng vào thời cao điểm chiến tranh của Đông Chu Liệt
quốc. Và thật sự Lạc Long Quân, Âu Cơ cho đến Hùng Vương, nếu là
những người thật bằng xương bằng thịt, đều chỉ có mặt tại vùng
Bắc Bộ (ngày nay) trong vòng 800 năm trước Công Nguyên mà thôi.
Toàn thể đại gia đình Âu Lạc này hoàn toàn không có một giọt máu
Tàu nào hết. Sai lầm quan trọng nhất chính là quan điểm cho rằng
người Việt cổ ở khu vực Bắc Bộ, trước thời Hán thuộc, vẫn yên
bình ngày ngày cấy lúa, chèo thuyền ngao du, thỉnh thoảng đánh
vài tiếng trống đồng, không bị ảnh hưởng gì hết từ những cuộc
chiến đẫm máu xảy ra ở phía Bắc, trong suốt 1000 năm trước Công
Nguyên. Sai lầm khác nằm ở chỗ: Không có cuộc di tản hằng khối
nào từ vùng Hoa Bắc lẫn Hoa Nam đến xứ đó hết, trong hằng trăm
năm khói lửa của thời Đông Chu Liệt Quốc.
(c)
Những sơ sót này, ban đầu
bắt nguồn từ chỗ thiếu thốn hiểu biết về cổ sử Tàu, đã luôn luôn
được hỗ trợ bởi những sư phụ Trung Hoa, do ở chính họ lúc nào
cũng có vấn đề. Bởi nước Tàu là một xứ quá lớn, hợp chủng đến cả
ngàn chủng tộc lớn nhỏ khác nhau, và có một quá trình tranh chấp
nội chiến cũng khá dài lâu. Từ đó chúng ta thấy rõ rệt nhất sử
sách Việt từ xưa đến nay không hề dám đào sâu đến tận cội nguồn,
liên hệ huyết thống, mặc dù đã quá xa xưa, giữa người Việt với
các chủng riêng biệt thuộc khối Bách Việt và Bách Bộc ở cả hai
miền Hoa Nam và Hoa Bắc. Ngay đến truyền thuyết Âu Cơ, một số
sai lầm to tát cũng đã khiến rất nhiều người không còn hứng khởi
để bắt tay vào việc nghiên cứu. Điển hình là lối phân chia (sai
lầm) ông này bà nọ, như Đế Minh, Âu Cơ, v.v, lai Tàu, hay Tàu
thuần chủng (thí dụ, xem [4]). Sự thật theo hiểu biết ngày nay,
một phần cũng nhờ ở internet, và đã trình bày trong các bài
trước, không có một nhân vật nào trong cả truyền thuyết Âu-Lạc,
mang một giọt máu Tàu nào hết. Tất cả đều thuộc chủng Yueh, hoặc
Thái-cổ hoặc Việt-cổ mà thôi, và truyền thuyết đã do chính những
người thuộc chủng Yueh, đặc biệt Thái-cổ, sáng tác.
(d)
Từ ở chỗ thiếu nghiên cứu
tận gốc, theo tinh thần khoa học Tây Phương, khuynh hướng hiện
nay của giới viết sử hoặc khảo cổ tại Việt Nam có vẻ tạm tránh
né hoặc bỏ rơi truyền tích Âu-Lạc, và thích dùng một thuyết khác
về việc dựng nước của một người giỏi về ảo thuật ở khu vực Gia
Ninh, qui phục được các bộ lạc, tự xưng Hùng Vương. Thuyết này
được ghi ngắn gọn vài dòng trong bộ Đại Việt Sử Lược [2], một bộ
sách khuyết danh, ra đời trước Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô
Sĩ Liên [3], nhưng thất lạc bên Tàu đến cả vài trăm năm, được
người Hoa, người Mãn hiệu đính rất kỹ trước khi trao tặng lại
cho nước Nam. Giới nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay có vẻ thích
thuyết này hơn thuyết Âu Cơ bởi nó qui thời gian dựng nước vào
thời Châu Trang Vương (696-682 TCN), tức tránh được lấn cấn về
Đế Minh với mấy ngàn năm mù mờ với chỉ 18 đời vua Hùng, và cũng
tránh né được cái gốc Tàu (hiểu lầm) của Hùng Vương. Nhưng vô
hình chung, việc dựa vào thuyết nhà ảo thuật Hùng Vương lại đưa
sự hiểu biết về nguồn gốc dân Việt đến một ngõ cụt khác. Đó là
nó không nói lên được nhà ảo thuật ấy đã nói thứ tiếng gì và
thuộc chủng nào. Ngoài ra, trên danh xưng thuyết đó vô tình lại
mặc cho nhà ảo thuật đó một chiếc áo hoàn toàn Tàu. và quê quán
ông ta được mang địa danh chữ Hán.
Tình hình cổ sử bên
Tàu cho đến khoảng đầu thập kỷ 1980's, thật ra cũng không khá
hơn phía bên Việt bao nhiêu. Người Hoa bị vướng phải nhiều hội
chứng khác.
(i)
Trước hết, họ bị ám ảnh bởi
những tiền đề hay những điều cẩm bằng cứng nhắc. Đặc biệt cũng
về nguồn gốc dân tộc và nhất là về chữ viết. Thí dụ: Từ ngàn xưa
họ cho chữ Tàu do chính người Tàu sáng tác. Những chủng khác
toàn là rợ không thể nào đủ khả năng trên cơ chủng Hoa, mà sáng
tác ra chữ Tàu. Họ cũng biết rất lờ mờ, hoặc không cần biết gì
về đám Cửu Lê, hay những thứ rợ từ đủ mọi phương hướng, mà sử
sách của họ đã vùi lấp từ lâu. Thế nhưng đi theo với tiến bộ
nhân loại, nhất là việc nghiên cứu và thông tin internet, gần
đây có nhiều lý thuyết và bằng chứng cho biết người Tàu cổ đã
bắt chước chữ viết của người Hmong tức Miêu tộc. Lãnh tụ của
người Hmong trong thời huyền sử chính là Xy Yâu (Vưu) đã từng
choảng với Hiên Viên (Hoàng Đế) của Hoa chủng, nhưng sau bị đại
bại và bị chặt đầu. Chủng Hmong cũng như các chủng Yueh
(Việt) trong đó có đám Đông Zi ở khu Sơn Đông, thật ra chính là
những chủ nhân đầu tiên của toàn cõi lục địa Trung Hoa, có lẽ
trước khi Hoa chủng ra đời [4][8]. Chủng Hmong có đến cả chục
chi chủng khác nhau, tất cả 81, thuộc 9 nhóm Lê (Li), tức Cửu Lê
(Jiu Li) [17]. Còn chủng Yueh, có đến hằng trăm thứ chi chủng
khác nhau, nhưng đại khái được phân thành hai chủng lớn chính
yếu: Thái và Việt. Chúng tôi xin được phép nhấn mạnh, sai lầm
hai phía Hoa và Việt từ trước đến giờ vẫn là 'khối Bách Việt
(Bai Yue) ngày xưa chỉ tập trung ở miền Hoa Nam. Thật sự khối
Bách Việt, đặc biệt các chi chủng thuần Yueh-cổ (phân biệt với
chủng Thái-cổ), và những người thuộc các chủng Hmong đã có mặt
tại miền Hoa Bắc, từ thời xa xưa, có lẽ trước cả Hoa chủng ban
đầu [4][8]. Đặc biệt, theo [8] khối Bai Yue (Bách Việt) từ
lưu vực sông Vị ở Thiểm Tây bắt đầu di tản xuống Hoa Nam và hội
nhập với những đồng chủng tại đó vào khoảng đầu thời Đông Chu,
tức thế kỷ thứ 7 trước Công Nguyên.
(ii)
Cũng không hơn gì phía Nam,
người Tàu lúc nào cũng bị ám ảnh bởi hội chứng kị phân ly, bởi
họ có quá nhiều chủng tộc khác nhau. Từ đó những cuộc nghiên cứu
chuyên biệt về một thứ chủng nào đó hoàn toàn bị cấm chỉ, cho
đến vài thập kỉ gần đây. Nhất là về các phương ngữ lớn ở nước
Tàu. Ở chuyện này chúng ta có thể để ý: (a) Tại Trung Quốc cho
đến thập niên 1950, mỗi khu vực vẫn xài phương ngữ riêng của họ
như xưa; (b) Từ khoảng năm 1952 đến nay tất cả mọi nơi đều phải
xử dụng tiếng Phổ thông (tức quan thoại). Không thể hoặc rất khó
tìm mua tại Trung quốc một quyển sách giáo khoa hay từ điển
riêng một phương ngữ, như tiếng Thượng Hải hoặc Phúc Kiến chẳng
hạn; (c) Cả một thế hệ mới người Hoa, đều biết tiếng Phổ thông,
tuy vẫn có thể nói tiếng địa phương, nhưng hoàn toàn không rành
hoặc rất mù mờ về cú pháp của phương ngữ, nhất là phiên âm theo
lối pinyin hoặc quốc tế riêng cho phương ngữ của họ; (d) Thế hệ
hiện đại người Hoa thường nói tiếng địa phương với cha mẹ ở nhà,
nhưng khi ra ngoài thì nói tiếng phổ thông, nên phát âm phổ
thông của họ bị ảnh hưởng phương ngữ, còn tiếng địa phương mẹ đẻ
của họ lại bị nhuốm giọng phổ thông; (e) Nhiều nỗ lực nghiên cứu
riêng về các chủng lớn nhỏ ở Tàu trong những thập kỉ gần đây
thường được người Âu Mỹ thực hiện, nhất là những học giả Âu Mỹ
gốc Hoa; (f) Sau cùng, thời đại internet đã làm sống dậy những
ước muốn tìm hiểu cội nguồn của từng chủng một đã từng sinh sống
trên nước Tàu và khắp miền Đông Nam Á, vào thời xa xưa. Ở kỉ
nguyên internet ngày nay, sắc tộc nào cũng muốn tìm hiểu thật rõ
về cội nguồn của chủng mình, trong một tinh thần đoàn kết mới
dựa trên nền tảng đa văn hoá, sự hiểu biết, và một ước nguyện
chung, chứ không phải do ở sự ép buộc, lệnh truyền như vào những
thời nước mới được nhất thống, độc lập xa xưa.
(iii)
Liên hệ đến loạt bài này
chính là chủng Yueh tại Trung Hoa. Ngày nay tất cả người Hoa đều
cho chủng Yueh cũng là chủng Hán. Tức đã được (hay bị) đồng hoá
thành chủng Hán rất kỹ. Đọc bất cứ quyển sách Tàu nào, kể cả Lộc
Đỉnh Ký của Kim Dung, chúng ta thấy người Tàu thường liệt kê 5
chủng tộc chính trong nước của họ: Hán, Mông, Tạng, Mãn, Hồi
(hoặc Choang) - không có danh sách nào có chủng Yueh (Việt)
trong đó hết. Hỏi bất cứ người Tàu nào, dù Thượng Hải hay Hải
Nam, họ cũng nói họ thuộc chủng Hán. Chữ Yueh (Việt) chỉ còn
được dùng để gọi tắt tên một tỉnh hồi xưa chứa chủng Yueh chi
Thái ở phía cực Nam. Đó là tỉnh Quảng Đông. Yueh (Việt) là tên
tắt của tỉnh Quảng Đông, cũng y như Tương (Xiang) là tên tắt của
tỉnh Hồ Nam, có con sông mang tên 'sông Tương' (Xiang jiang).
Hay Mân (Min) là tên gọi tắt tỉnh Phúc Kiến, với cội nguồn xứ
Mân Việt thời xa xưa. Hoặc Tề-Lỗ (Qi-Lu) là tên tắt của tỉnh Sơn
Đông, địa bàn xưa của đám Đông Zi. Bởi Việt đã được dành cho
Quảng Đông nên một tỉnh khác hay phương ngữ khác cũng đáng lẽ
mang tên Việt chỉ được gọi 'Ngô' (Wu). Đó là phương ngữ Chiết
Giang - Giang Tô, địa bàn ngày xưa của hai nước Việt (Câu Tiễn)
và Ngô (Phù Sai). Từ điểm này, rất nhiều tài liệu khoa học, nhất
là trên mạng internet, vẫn nhầm lẫn rằng chủng Yueh ngày trước
chỉ gồm chủng Thái-cổ mà thôi. Họ thường bỏ sót ba-bốn chủng
Việt-cổ ở miền duyên hải phía Đông nước Tàu, bao gồm: Ngô (Giang
Tô), U Việt (Chiết Giang), Mân Việt (Phúc Kiến), Đông Việt
(Giang Tây) [7], và đám du mục Bộc Việt tức rợ Đông Zi ngày xưa
ở khu vực Sơn Đông.
(iv)
Tình hình nghiên cứu về khối
Bách Việt cũng tương tự như vậy đối với Đài Loan. Theo nhiều tài
liệu truy cập được từ internet, Taiwan cho đến gần đây cũng
không muốn đá động gì đến nguồn gốc Bách Việt của dân bản địa.
Tức trên toàn cõi Đông Á và Đông Nam Á, từ Trung Quốc sang Đài
Loan, xuống Việt Nam, đến tận đảo Java của nước Inđônêxia, cách
đây chừng 30 năm, ít ai muốn tìm hiểu các thành phần chủng tộc
của khối Bách Việt ngày xưa, cũng như đóng góp của các chủng này
vào nguồn dân tộc của từng quốc gia một trong cả khu vực Á Châu
Thái Bình Dương. Rất may, với phát triển internet, và với việc
tăng gia phát triển kinh tế trên toàn thể Châu Á trong vòng vài
mươi năm qua, việc nghiên cứu về cổ sử Á Châu đang được hồi sinh
mãnh liệt. Một trong những động cơ chính đã thúc đẩy sự hồi sinh
của ngành nghiên cứu này chính là nguyên tắc đầu tiên của việc
kinh tế đầu tư, bởi người Âu Mỹ thật sự đang muốn biết rõ hơn
những cá tính đặc thù nguyên thủy của người Á Châu, khối người
hiện nay, dù muốn dù không, vẫn là đối tác chính trong công
chuyện hợp tác 'làm ăn' và mậu dịch với nhau.
Qua những bài trước
của loạt bài này, chúng ta đã nhận diện có hai chủng chính đã
tạo dựng nên 'nước' Việt Nam vào thời buổi ban đầu. Đó là chủng
Thái-cổ (còn gọi Âu) và chủng Việt-cổ, tức Lạc. Trước khi hai
chi chủng này ào ạt di cư, để chạy giặc 'Đông Châu', đến vùng
bình nguyên sông Hồng sông Mã, nơi đó đã có sẳn rất nhiều chi
chủng khác nhau. Điển hình là các chi chủng thuộc khối Yueh cổ,
như Môn Khờ-me, các thứ dân Lạc Việt, Lạc Lê, chủng Âu tức Thái
cổ, người Mê-la-nê, người Nê-gri-tô, v.v. Trong những đợt di cư
suốt thời Xuân Thu Chiến Quốc (770-221 TCN), của hai chủng Thái
và Việt cổ, chủng Thái giữ phần chủ lực. Nguyên thủ đầu tiên có
chất lượng và có thể là người thật bằng xương bằng thịt chính là
Thục Phán, một người có gốc từ xứ Thục (Tứ Xuyên ngày nay), mang
chủng Thái-cổ. Sau đó đến Triệu Đà, tức Nam Việt Vương, một
người từ phía Bắc, ban đầu làm quan cho nhà Tần. Khi thấy triều
đình Tần suy yếu và bị khủng hoảng, Triệu Đà mới nắm cơ hội,
nhảy ra giành độc lập cho phần đất bao gồm rất nhiều bộ lạc tại
Lưỡng Quảng và Bắc bộ ngày nay, đặt tên nước Nam Việt. Triệu Đà
được quần chúng hai miền ủng hộ nhiệt liệt, bởi có lẽ ông là
người đầu tiên, và cũng cuối cùng, đã dám đại diện cho khối Bách
Việt, đặc biệt chủng Thái-cổ đa số, đương đầu với triều đình nhà
Hán ở phương Bắc.
Qua những bài kế
tiếp theo ở đây, chúng ta sẽ quan sát những chủng Việt thuần túy
nào, từ miền zuyên hải Trung Hoa đã đến Việt Nam theo với chủng
Thái-cổ ban đầu, để rồi hợp chủng với dân bản địa, bao gồm phần
lớn dân Môn-Khờme, Mê-la-nê, và Nê-gri-tô, v.v. tạo dựng nên
chủng Việt Nam ngày nay.
Nhưng trước hết
chúng ta thử xem lại những chủng nào, người Tàu ngày trước
thường gọi là chủng Lạc, và họ đã phân biệt các thứ Việt khác
nhau ra sao.
1. Lạc Việt
Người Việt từ thời
Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã tạo nên thói quen bắt chước các sư phụ
Tàu gọi chủng mình là Lạc Việt (Luo Yue). Thật ra người Tàu hiểu
Luo Yue, tức 'Lạc Việt' khác với lối hiểu biết của người
Việt. Đối với Tàu, Lạc Việt thường được dùng để chỉ chung các
thứ chủng Yueh thuộc khối Bai Yue (Bách Việt), không phải là
chủng Âu Việt, tức Thái-cổ. Còn chủng Thái-cổ họ thường gọi là
Yue (Việt). Đặc biệt tỉnh Quảng Đông ngày nay vẫn còn mang tên
tắt: tỉnh Yue (Việt). Đối với Việt, chúng ta thường hiểu mơ hồ
rằng Lạc Việt chính là chủng Việt-Nam, bởi mang họ của nội tổ
Lạc Long Quân. Hiểu biết của người Việt về nguồn gốc lý lịch của
chính dân mình, từ trước đến giờ luôn luôn quên truy về cội
nguồn, hay bỏ sót đi chủng Thái-cổ. Bởi hoàn toàn không biết gì
đến chủng thật của Âu Cơ và các chi chủng đã dùng Âu Cơ như biểu
tượng, mà loạt bài này đã giải mã, cũng như chi tiết các chủng -
đa số thuộc Thái-cổ - sống ngay bên kia biên giới Việt-Hoa.
Nói rằng người Tàu
gọi những nhóm Yueh nào, không phải Thái-cổ, là Lạc Việt, cũng
có vẻ hơi tổng quát hoá vấn đề. Thật ra họ có một số kiến thức
rất sâu sắc về các thứ chủng Yueh ở cả Hoa Nam lẫn Hoa Bắc.
Trước hết ta có thể để ý người Hoa có vài lối gọi những đám rợ
và các chủng Bai Yue (Bách Việt) vào thời xa xưa. Thông thường
phối hợp với lối phân chia theo phương hướng Đông Tây Nam Bắc.
Đông thì Đông Yi, Tây gọi Tây Nhung - đôi khi Khuyển Nhung, hay
tắt thành rợ 'Nhung', Nam là Nam Man, và Bắc - Bắc Địch. Yi,
Nhung, Man, Địch cũng đều mang nghĩa 'rợ' hết. Lối phân biệt này
ra đời vào khoảng thời gian nhà Chu nhảy ra thay thế nhà Thương,
tức thế kỷ 11 trước Công Nguyên. Lúc chủng Hoa bắt đầu xử dụng
chữ viết khá nhuần nhuyễn và chế độ phong kiến đã được phát
triển mãnh liệt. Phân biệt 'ta và rợ' có lẽ cũng là một thứ nhận
thức nhị nguyên, bởi những hành vi và lối sống của những đám rợ
hoàn toàn khác hay tương phản với chủng Hoa. Những đặc tính nổi
bật của đám 'rợ' Yueh gồm có: tóc ngắn, nhuộm răng, xâm mình (có
thứ xâm trán nữa), nếu có mặc áo thì áo cài bên trái, rất nhiều
nhóm theo ‘tông giáo’ đồng bóng.
Sau khi phân loại
các rợ theo phương hướng và địa bàn, cũng như lối gọi Yue (Việt)
dành cho những khối người ở phía Nam sông Dương Tử (miền Hoa
Nam), người Hoa dần dà phát hiện được khá nhiều lủng củng, và
thiếu thốn chính xác trong lối gọi các chủng khác với họ. Bởi
hai lý do chính. Thứ nhất, theo với thời gian, họ thường gặp đám
rợ đáng lẽ thuộc phương hướng A tại địa bàn của phương hướng B,
và lộn xộn lung tung. Rợ Đông Zi, tức Lạc bộ Trãi, ban đầu họ
gặp ở miệt Sơn Đông, nhưng sau lại 'tái ngộ' hoặc gặp một đám rợ
khác rất giống rợ Zi ở phía Tây miệt Tứ Xuyên và phía Nam. Họ
vẫn gọi rợ Yi phía Nam bằng Yi, nhưng đổi cách viết. Rợ Khương
cũng vậy. Đầu tiên họ sắp xếp vào đám Tây Nhung, nhưng sau gặp
lại ở phía Nam, và cũng thấy đám Khương này có nhiều đặc tính
giông giống đám rợ Lai Yi, tức Đông Yi. Trong đám Đông Zi, có
một số nhóm Việt ở đó lâu đời, được họ gọi những nhóm Bách Bộc
hay Bộc Việt. Bộc xuất phát từ 'sông Bộc' [Pu
濮] ở gần nước
Lỗ của Khổng Tử ngày xưa. Việt, viết nguyên thủy mang nghĩa cái
rìu có tay cầm (xem Hình 2, và phần sau). Đến thời Xuân Thu, họ
bắt đầu khám phá ra nhiều nhóm rợ khác ở phía Nam sông Dương Tử,
có nhiều đặc tính giống đám Đông Zi - như nhuộm răng, xâm mình,
cắt tóc ngắn,... - nên họ gọi chung đám đó Nam Man hay Bách
Việt.
Có đến hằng ngàn thứ
rợ khác nhau sống trên toàn cõi lãnh thổ nước Tàu. Do đó người
Hoa đặt ra các thứ tên gọi khác nhau, và nếu tên có cùng âm, họ
sẽ tạo lối chữ viết hơi khác với nhau. Bởi trong đầu óc họ,
những thứ chủng khác với họ thường là rợ, nên khi viết nên danh
tự để mô tả chi chủng họ ưa kèm theo tên một con vật. Thí dụ: rợ
Khuyển Nhung mang chữ 'Khuyển' có nghĩa con chó. Chính đám rợ
này đã cướp phá và làm cỏ kinh đô nhà Tây Chu vào khoảng năm 770
TCN, giết Chu U Vương, khiến nhà Chu thiên đô về phía Đông, bắt
đầu thời Đông Chu.
Những chủng Lạc
thuộc khối Bách Việt cũng không tránh khỏi tệ nạn này của chủng
Hoa. Những ai đọc quyển sách về cổ sử Việt của Taylor [6] đều có
thể để ý ở một trang phụ chú đối chiếu tên Việt và Hán phía sau,
tác giả có ghi đến 3 chữ Lạc tiếng Hán viết khác nhau. Đó là các
chữ Lạc viết theo cách hợp phần chính của chữ Lạc dùng để chỉ
sông Lạc [洛]
ở tỉnh Hà Nam và Thiểm Tây, với một chữ khác chỉ con thú:
- Bộ Trãi
貉
(Lạc bộ Trãi)
- Bộ Chuy
雒
(Lạc bộ Chuy)
- Bộ Mã
骆
(Lạc bộ Mã)
Nhưng tác giả không ghi chú thích tại sao cùng một chữ 'Lạc' lại
có 3 thứ chữ viết khác nhau. Thật ra trong thư tịch cổ của Tàu,
còn có thêm một thứ 'Lạc' nữa. Đó là Lạc bộ Khương [4], ngày nay
thường viết tắt 'Khương':
羌.
Ngoài ra cũng còn có đám Lê (Li
黎
) cũng thường được gọi Lạc Lê, thổ dân đảo Hải Nam [10].
Chúng ta sẽ điểm qua
từng thứ Lạc một, đặc biệt để ý đến Lạc bộ Trãi ở phần sau.
Lạc bộ Chuy
theo [4] được dùng để chỉ đám rợ Lạc ở phía Tây nước Tàu, tiền
thân của người Môn, và người Myanmar ngày nay. Xuất xứ từ khu
vực bình nguyên Trung Á. Lạc viết với bộ Chuy [雒]
mang nghĩa con ngựa ô (đen) có bờm trắng, tức chòm lông trắng ở
cổ. Bộ 'Thủy Kinh Chú' của Lệ Đạo Nguyên, một thứ sử Tàu, cũng
như một bộ sách đã thất truyền 'Giao Châu Ngoại Vực Ký', xuất
hiện ít lắm 400 năm sau thời Thục Phán, đã chép các tên gọi Lạc
Hầu, Lạc Tướng, với chữ Lạc viết theo bộ Chuy (xem [3]&[4]), chứ
không phải Lạc viết theo bộ Trãi [貉]
dùng cho Lạc Long Quân. Cho thấy, các tác giả Tàu hoặc đã quan
sát có rất nhiều dân chủng Môn sống ở xứ Lạc, hoặc họ chưa gặp
nhiều dân chủng Lạc bộ Trãi, hoặc họ mới còn chân ướt chân ráo,
chưa trở thành chuyên viên về các thứ Lạc khác nhau, đã có mặt
tại miền Giao Chỉ vào cổ thời.
Lạc bộ Khương
thường được gộp chung với Lạc bộ Chuy, tiêu biểu cho đám rợ Tây
Nhung, hay Khuyển Nhung, hoặc ngắn gọn hơn: rợ Nhung (Rong:
戎 ). Lạc bộ
Khương, ngày nay thường viết tắt 'Khương' (Qiang) để chỉ dân
thuộc tộc Khương, tức Qiang:
羌.Lạc
bộ Chuy rất khó truy cập ở mạng, nhưng Lạc bộ Khương, viết tắt
'Khương' (Qiang
羌 ), có thể
truy cập khá dễ dàng. Khương, tức Qiang
羌 được viết
gộp hai từ Yang (dương
羊) mang nghĩa
'con cừu', và Ren (nhân
人), nghĩa
'người'. 'Qiang' có thể mang nghĩa 'người chăn cừu'. Theo [4],
rợ Khương chính là tiền thân của người Khờ-Me ngày nay. Trong
một trang web, ghi chú về tộc Qiang cho biết có một bộ tộc còn
sót của nhóm này mang tên 'Gao Mian'. /Gao/ là âm pinyin của
Cao, và /Mian/, âm Việt chính là Miên, mang nghĩa 'tơ sợi'. Như
vậy, một bộ tộc ngày nay ở bên Tàu, vùng Miên Dương (Mian Yang),
có tiền thân rợ Khương, mang tên Gao Mian, tức Cao Miên. Nhiều
trang web lại cho biết các tư liệu khác nhau về gốc gác chủng
Khương (Qiang). Tuy vậy tất cả có vẻ như đồng thuận ở chỗ họ có
ngôn ngữ xưa thuộc nhóm Tạng-Miến, bao gồm Tây Tạng và Miến
Điện, và xuất thân từ vùng bình nguyên chân núi Himalaya.
Các nhà khoa học Tây
phương cũng thường gộp hai chủng Chuy và Khương với nhau, khi mô
tả hai tộc dân sống ở miền Đông Nam Á, có lẽ lâu đời nhất, từ
khoảng Myanmar cho đến Việt Nam, sang qua đến In-Đônêxia và Mã
Lai Á, và gọi đó là nhóm Môn-Khmer.
Lac bộ Mã
骆
với chữ Lạc thường
dùng để chỉ con Lạc-đà, 骆 驼 . Nhưng từ điển sẽ cho biết chữ
'Lạc' (bộ Mã) nếu đứng một mình sẽ mang nghĩa 'bạch mã' (ngựa
trắng) có bờm đen ở cổ. Lạc bộ Mã được dùng để chỉ chủng Yueh cư
ngụ tại những khu vực chung quanh Phúc Kiến. Tức người Mân Việt
(Min Yue) ngày xưa. Tiền nhân nước Việt cũng khá rõ về nguồn gốc
các chủng Yueh (Việt) và Âu có mặt tại nước Việt vào thời dựng
'nước'. Trong khoảng những năm 0-800 TCN. Cùng một tên gọi chủng
Lạc nhưng họ bắt chước người Hoa viết thành 3 lối khác nhau, có
lẽ với một ngụ ý hết sức sâu sắc, cho hậu thế biết đầy đủ các
thành phần chủng Việt-cổ, đã hợp chủng với các chủng Âu (tức
Thái-cổ), tạo zựng ra người Việt Nam.
- Âu-Lạc: chữ Lạc
được viết theo bộ Mã
骆, ám chỉ dân
Mân Việt [4].
- Lạc Hầu, Lạc
Tướng: Lạc được viết theo bộ Chuy:
雒
chỉ dân Môn KhờMe
- Lạc Long Quân, ông tổ dân Việt (Nam): Lạc viết theo bộ Trãi
貉.
Lạc bộ Trãi có lẽ quan trọng hơn hết. Và người Tàu ưa dùng Lạc
bộ Trãi để chỉ dân Việt Nam. Lạc bộ Trãi chính là đám rợ Đông
Di, thường gọi Bộc Việt mà chúng tôi có nhiều bằng chứng cho
biết chính là tiền thân người Hẹ ngày nay, với địa bàn miền cực
Bắc nước Tàu (khu Sơn Đông, Hà Bắc, Sơn Tây), cộng với đám dân
nước Việt (Câu Tiễn) và Ngô (Phù Sai), sau khi các nước này,
cộng với nước Lỗ (Khổng Tử) bị Sở dứt điểm. Tất cả thường được
viết bằng Lạc bộ Trãi.
Lạc bộ Trãi
貉,
có lẽ là chữ Lạc đầu tiên người Hoa đã ghi ra để mô tả chủng Lạc
Việt. Chủng Hoa, trái với rất nhiều huyền sử thêu dệt, có lẽ
thật sự chỉ biết đến rợ Yueh lần đầu tiên vào thời Chu Thành
Vương (khoảng thế kỷ 11 TCN) khi một đám thị tộc tên Yiệt Thường
đem dâng con chim 'bạch trĩ' để cống lễ cho vua nhà Chu [2].
'Trĩ' (chim)
雉
trong tiếng Hoa đọc y hệt như 'Trãi'
豸.
'Trãi' mang hai nghĩa: (a) Nghĩa 1: loại sâu không có chân,
tiếng Tàu gọi 'Trãi'. Sâu có chân, họ gọi: Trùng; (b) Nghĩa 2:
con thú, trong trí tưởng tượng, giống như con chồn, đầu có sừng.
Theo giải lý của chúng tôi, bởi 'Trĩ' có âm tiếng Tàu /zhi/
giống như 'Trãi', nên khi người Tàu sáng tác ra chữ Lạc để chỉ
đám rợ có chủng giống như Việt Thường Thị [9], họ nhớ đến kỷ
niệm 'gặp gỡ' với con chim Trĩ hồi xưa, và viết bằng Lạc mang bộ
Trãi
貉.
Lạc bộ Trãi, theo [4] đầu tiên sáng tác để chỉ đám rợ Đông Zi, ở
miền Sơn Tây, Hà Bắc, Hà Nam, và đặc biệt Sơn Đông. Kiểm chứng
các trang web của người Triều Tiên (Korean) ngày nay, ta có thể
thấy họ hãnh diện nói rằng người Đông Zi (còn gọi Lai Di, hay rợ
Tam Hàn) chính là tiền thân của người Koreans. Do ở chỗ người
Đông Yi, có chữ viết trước người Hoa. Theo thiển ý, đây có thể
một điểm sai lầm tiêu biểu của rất nhiều trang web dàn dựng ở
internet. Bởi rất có thể rợ Đông Zi đã bao gồm luôn đám Tam
Miêu, tức người Hmong, giống người có thể đã phát minh chữ viết
đầu tiên tại khu Á Châu, và chính người Hoa đã nhanh tay 'cóp'
lấy và phát triển mạnh mẽ về sau. Người Triều Tiên cũng giống
như người Việt Nam, và ngay cả người Hoa, thường rất dễ bị lộn
xộn và 'tẩu hỏa nhập ma' mỗi khi cần dùng đến cổ sử để tìm hiểu
thêm về lí lịch căn cước của mình.
Xin phép tóm tắt một số điểm quan trọng:
(i)
Người Tàu đặt ra chữ Lạc để chỉ nhiều chủng Yueh (Việt) nằm
ngoài và khác với chủng Yueh mà họ biết rõ là chủng Âu, tức
Thái-cổ.
(ii)
Có rất nhiều cách viết chữ Lạc dùng để chỉ các thứ chi chủng
khác nhau, tất cả đều đã có mặt lâu đời tại xứ Cổ Việt:
-
Lạc bộ Chuy dùng để chỉ dân Môn hoặc dân Miến (cổ). Ở bên Tàu,
Lạc Chuy chính là một thành phần của rợ Khuyển Nhung hay Tây
Nhung. Lạc Vương, Lạc Hầu, Lạc Tướng, xuất hiện trong 'Thủy Kinh
Chú' đều có 'Lạc' viết theo bộ Chuy.
-
Lạc bộ Khương, miêu tả dân Khờ-Me (cổ), thường xuất hiện chung
với đám Lạc bộ Chuy. Hai khối Chuy & Khương thường được gọi
Môn-Khmer.
-
Lạc bộ Mã chỉ người Mân Việt, tức Triều Châu - Phúc Kiến ngày
nay. Chữ Lạc trong 'Âu Lạc' hoặc 'Lạc Việt' thường viết theo bộ
Mã.
-
Lạc Lê, phần lớn tiền thân của người Hải Nam và Đài Loan.

Hình 1: Bản đồ ghi lại hành trình chạy giặc, và di tản của hai
chủng Âu (dân miền núi rừng), và Lạc (dân miền duyên hải), vào
thời cổ đại. Hành trình vượt Hoàng Hà của đám Bách Bộc du mục
xuống hội nhập với các đám Yueh khác tại nước Sở, để rồi cùng
chạy giặc với chủng Âu, không có ghi trong bản đồ.
-
Lạc bộ Trãi: chính là thứ Lạc 'thuần túy' nhất. Đã hiện diện từ
thời xa xưa, phía Bắc sông Hoàng Hà, vùng Hà Bắc-Sơn Đông, đầu
tiên được biết đến bằng tên gọi: rợ Đông Yi, hay Lạc Yi, hoặc rợ
Tam Hàn. Có một nhóm di dân về bán đảo Triều Tiên gần đó, hợp
chủng với các sắc tộc Bắc Địch và địa phương tạo nên dân Triều
Tiên, tức người Hàn. Một số đám khác vượt sông Hoàng Hà tiến về
phía Nam, mang cuộc sống dân du mục, nay đây mai đó [13]. Thành
lập nhiều bộ tộc du mục chung quanh nước Sở, rồi về sau theo đám
người Âu (Thái-cổ) ở nước Sở di dân xuống Hoa Nam, rồi Cổ Việt.
Thường được người Tàu gọi Bách Bộc, bởi có nhiều đám Bộc khác
nhau. Hoặc Bộc Việt, bởi họ có rất nhiều đặc tính của chủng
Yueh, như tóc ngắn, nhuộm răng và xâm mình. Chính ở chỗ 'vượt
sông Hoàng Hà' này, nên đám này mang thêm một tên mới 'Vượt',
đọc theo tiếng người nước Nam là: Việt. Hy vọng có zịp trở lại
chuyện dân Bộc Việt và dân Hẹ trong một bài khác.
2. Việt Nam
Như đã đề cập nhiều
lần trong loạt bài này, Bình Nguyên Lộc [4] có lẽ là người đầu
tiên đã nghiên cứu rất kỹ về các lối gọi chủng Việt khác nhau
của người Hoa. Mặc dù, theo thiển ý, có một vài điểm chưa được
chính xác, ở vào thời phương tiện nghiên cứu hãy còn chật hẹp và
thiếu thốn, nhiều điểm phát hiện của 'quyển Mã lai' đã được dựa
trên một số lý luận khá vững, và đi trước các phát hiện của các
nhà nghiên cứu người Hoa và Tây Phương cũng cả vài chục năm.

Hình 2:
Chữ 'Yiệt' bên trái mang nghĩa 'cái rìu' là chữ Tàu đầu tiên
dùng để chỉ chủng Yueh. Về sau người Hoa chồng chữ 'Mễ', mang
nghĩa 'thóc gạo', lên trên để đặc biệt chỉ chủng Yueh, chi tộc
Thái-cổ, (chữ bên phải). Chữ 'Yiệt' này hiện vẫn còn được dùng
để chỉ tỉnh và dân Quảng Đông.
Một trong những phát
hiện rất đáng kể của quyển Mã Lai [4] chính là cái từ 'Yiệt' đầu
tiên để chỉ chủng Yueh (Việt), bao gồm chủng Âu và Lạc, trình
bày trong Hình 2(a), mang nghĩa cái rìu hình lưỡi liềm có tay
cầm. Người Mường vẫn còn nhớ cách phát âm của từ này vào thời xa
xưa, và hãy còn gọi đó là Yịt, qua lối gọi: byua Yịt Yàng [11].
Chữ Yiệt nguyên thủy này xuất hiện vào khoảng đời nhà Thương bên
Tàu, giữa thiên niên kỷ thứ 2 trước Công Nguyên.
Từ 'Yiệt' mang nghĩa
'cái rìu' gần đây được Barlow [12] xác nhận chính là ý nghĩa
nguyên thủy của Yueh (Việt). Nhưng tác giả [12] cũng cho biết
loại rìu có vai được tìm thấy ở vùng duyên hải nhiều hơn vùng
nội địa, như khu vực Quảng Tây chẳng hạn.
Đến đây chúng tôi
xin phép mở một dấu ngoặc để bàn về phát âm Yiệt và Việt. Theo
tài liệu trình bày trong loạt bài 'Từ chữ Nôm đến quốc ngữ', gần
như hầu hết các dân chung quanh và ngay tại Việt Nam đều phát âm
'Việt' theo âm /Y/ (tức phiên âm quốc tế /J/): 'Yiệt'. Thí dụ:
- Nam Bộ: Byiệt Nam
- Nhật Bản: Betonamu
- Mường (xưa):
Yịt-Nam
- Quan Thoại: Yue
Nan
- Quảng Đông: Yueh
Lam, hoặc Yueh Nam
- Hẹ: Yue Nam
- Sơn Đông: Yue Nam
- Thượng Hải: Yue Ne
Chỉ trừ có một số
tiểu thổ âm của khối người Mân Việt (xưa) tức Triều Châu - Phúc
Kiến ngày nay, có phát âm như 'Wiật Nam'. Tương tự như biến
chuyển qua lại giữa các âm như 'Hạng Yũ' thành Hạng Wũ, và 'Mã
Yuen' thành Mã Wiện, trong phương ngữ Phúc Kiến. Điều này cho
thấy chữ Nôm ngày xưa, trong lúc ký âm sang quốc ngữ dùng A-B-C,
các âm chữ /W/ và /Y/ đã hoàn toàn được gạt ra khỏi bộ chữ cái
của quốc ngữ, và biến chuyển từ Nôm sang quốc ngữ:
- Hoặc: chịu ảnh
hưởng mỗi một nhóm tộc một số cách phát âm cho một số từ. Thí
dụ: 'Duyên phận' mang ảnh hưởng quan thoại, đọc: Yuan fen; hoặc
ảnh hưởng Hẹ hay Hải Nam, phát âm: Zuan fen. Nhưng 'Mã Yuen /
Yiệt Nam' lại chịu ảnh hưởng Triều Châu (Mân): 'Mã Wien/ Wiat
Nam', đưa đến quốc ngữ: Mã Viện / Việt Nam.
- Hoặc: được cài
vào một số âm chữ /V/ bởi trong khu vực cư ngụ của một số tác
giả cốt cán 'chủ lực' nào đó của chữ quốc ngữ, có rất nhiều
người di cư từ khu vực Phúc Kiến - Triều Châu chạy giặc Mãn
Thanh. ‘Yuet Nam’ biến thành ‘Việt Nam’.
- Hoặc: đã được âm
thầm biến đổi lúc chữ quốc ngữ nhảy vào thay thế chữ Nôm. Trong
chuỗi trình đó, các Tôn sư sáng chế ra chữ quốc ngữ đã cố ý vin
ngay vào phương âm Triều Châu (cũng một thứ tộc Việt ngày xưa)
để tách Việt Nam ra khỏi quỹ đạo của Hoa tộc, rồi đưa vào quỹ
đạo người Pháp, và tránh nhầm lẫn với nhiều nhóm Yueh đã được
(hay bị) Hán hoá từ lâu. Nhất là khối người chủng Thái-xưa ở
Lưỡng Quảng, vẫn còn xưng là người Yueh.
Để tránh lộn xộn, từ
đây, chúng tôi sẽ cố gắng dùng chữ Yueh để chỉ chủng Việt (bao
gồm Âu) khi còn ở pên Tàu, và Việt khi đã định cư lâu năm tại
Việt Nam. Xin đóng lại dấu ngoặc.
Trở lại với các thứ từ Việt kế tiếp.
Theo quyển Mã Lai
[4], chữ 'Yiệt' dùng để chỉ cái rìu (giống như kiểu rìu Quốc
Oai) sau đó được thay thế bằng chữ 'Phủ', viết khác:
斧. Còn chữ
Yiệt để chỉ chủng Yiệt, thường thường chi Âu tức Thái-cổ, được
viết lại theo một dạng tự khác, ở vào thời Xuân Thu Chiến Quốc.
Đó là chữ Yiệt viết bằng cách nhập chữ 'Mễ' (mi
米) chỉ 'thóc
gạo', với chữ 'yiệt' ban đầu chỉ cái rìu đặt ở phía dưới hạt
thóc,
粵, như Hình
2(b). Chữ Yiệt bộ Mễ này mang nghĩa tượng hình rất sâu sắc. Nó
dùng để chỉ giống dân biết dùng rìu và trồng lúa (nước). Chữ
Yiệt [粵]
này chính là Yiệt, hồi trước thế kỷ 20 thường phân biệt thành
Tây Việt chỉ Quảng Tây, và Đông Việt cho Quảng Đông. Hiện nay,
'Yiệt' vẫn còn dùng như tên tắt tỉnh Quảng Đông, để chỉ thức ăn
Quảng Đông (Yue tsai, Việt thái), tiếng Quảng Đông (Yue yu, Việt
ngữ), và kịch nghệ Quảng Đông (Yue ju, Việt kịch). Tức dùng
riêng cho chủng Yueh chi Âu, tức Thái-cổ.
Cả hai chữ Việt này
đều được ghi trong bộ 'Xuân Thu' do Khổng Tử biên soạn, được
đăng tải đầy đủ vào các mạng internet thời đó. Cũng trong pho
Xuân Thu, đến đoạn miêu tả sự việc xảy ra khoảng năm 672 TCN,
chuyện Sở Thành Vương được lệnh thiên tử nhà Chu phải tận sức
tiêu diệt bọn rợ Yueh (Việt) đang cư ngụ chung quanh nước Sở,
Khổng Tử lại dùng Phông Unicode viết một chữ Yueh mới để mô tả
bọn rợ Việt này:
走戌 . Mang
nghĩa, và phát âm Tàu y hệt như: 'yượt (vượt)', viết bằng cách
gộp chữ Tẩu
走, mang nghĩa
'chạy', với chữ Tuất
戌, một trong
12 con giáp. Theo lý giải chúng tôi, hơi khác với [4], Khổng Tử,
người nước Lỗ tại chính địa bàn của đám rợ Lạc bộ Trãi, tức Đông
Zi, hay đám Bộc Việt, chắc hẳn đã biết rõ đám rợ Việt này đã
'vượt' sông Hoàng Hà (phía cực Bắc), xuống định cư tại các khu
vực chung quanh và trong nước Sở. Nhất là miền Nam và Đông Nam
nước Sở, tức Hồ Nam và An Huy ngày nay. Đám này khác với nhiều
đám rợ cũng gọi Việt, nhưng thuộc chi Âu, tức Thái-cổ, đang cư
ngụ tại đất Kinh Việt, tức khu vực tỉnh Hồ Bắc ngày nay. Có lẽ
ông tổ của Nho giáo là người đầu tiên đã đặt cho dân Việt một
cái tên mới, với lối viết mới, mang nghĩa 'vượt'
走戌. Đó là tự
dạng thứ 3 của 'Việt'. Nhưng đó vẫn chưa phải tự dạng cuối
cùng.
Tự dạng thứ 4 của
'Việt' mới chính là tự dạng cuối cùng, vẫn còn dùng để chỉ Việt
Nam theo sách vở và báo chí Tàu ngày nay. Tự dạng đó vẫn phân
biệt với Việt Quảng Đông, và do chính Hoài Nam Vương Liu An,
cháu Hán Cao Tổ Liu Bang, xử dụng trong bộ sách Hoài Nam Tử,
viết về những trận giặc thôn tính các bộ lạc Việt lớn nhỏ đủ thứ
ở vùng Lĩnh Nam của Tần Thủy Hoàng. Tác giả Liu An đã dùng một
chữ Việt mới để chỉ nhiều đám Yueh khác nhau, từ Mân Việt, Đông
Âu cho đến Tây Âu. Chữ Việt đó chính là
越, viết y như
Việt kiểu thứ 3, nhưng thay bộ Tuất bên phải bằng chữ 'Qua
(gua)' mang nghĩa 'dáo mác', cộng với một cái 'móc' ở giữa. Chữ
Việt này từ đó luôn được dùng để chỉ Nam Việt và Việt Nam. Ý
nghĩa của chữ Việt thứ 4 này vẫn mang nghĩa 'Vượt' như chữ thứ
3, nhưng viết kèm 'người chạy giặc (tẩu)' với 'qua' (dáo mác)
cộng với cái 'móc', tóm tắt như chữ 'thích', mang nghĩa cái rìu.
Tóm tắt:
-
Chữ Việt kiểu dáng 1: Yiệt
như Hình 2(a) phía trên, xưa nhất, nghĩa 'cái rìu' (có vai)
-
Chữ Việt kiểu dáng 2: Mễ
(gạo) + Yiệt (rìu):
粵, xuất hiện
thời Xuân Thu. Hiện chữ Việt này được dùng để chỉ tỉnh Quảng
Đông (Việt thuộc chủng Thái-cổ).
-
Chữ Việt kiểu dáng 3: Tẩu
(chạy) + Tuất:
走戌,
mang nghĩa 'Vượt'. Dùng để chỉ chủng Yueh thuộc đám Bách Bộc,
Lạc bộ Trãi.
-
Chữ Việt kiểu dáng 4: Tẩu
(chạy) + Qua (dáo mác):
越. Dùng để
chỉ đám U Việt, Lạc bộ Trãi ở miệt Sơn Đông. Mang nghĩa ‘vượt’,
và chính là ‘Việt’ trong ‘Việt Nam’:
越
南.
Bây giờ xin quan sát Nam Việt và Việt Nam.
Quốc hiệu Nam Việt
có lẽ là quốc hiệu có thật đầu tiên của người nước Nam. Nhưng
quốc hiệu này bao gồm cả miền Lưỡng Quảng, tức xứ Tây Âu xưa
cộng với khu vực Nam Hải / Long Xuyên, khu cai trị đầu tiên của
tướng Triệu Đà.
Thông thường quốc
hiệu mang hàm ý của từ dùng để chỉ dân tộc sinh sống ở địa bàn
xứ đó. Thí dụ: nước Pháp 'la France' là nước của người Pháp les
'Francais'. Nước Nhật ‘Nihon’ là nước của người Nhật ‘Nihonjin’.
Như vậy, Nam Việt chính là nước của người Việt ở phía Nam, người
Nam Việt. Thứ tự 'Nam Việt' xếp đặt theo cú pháp tiếng Hán: Hình
dung từ 'Nam' đặt trước danh từ 'Việt': người Việt ở phương Nam.
Nước Nam Việt của
nhà Triệu tồn tại được khoảng 70 năm thì bị nhà Hán dứt điểm vào
năm 111 TCN, khởi đầu thời kỳ Bắc thuộc. Khoảng cùng một lúc với
tất cả các tộc Yueh ở khắp nơi trên nước Trung Hoa. Sau đó, tên
gọi người Việt hay tộc Việt ở nước Nam, trên phương diện 'quốc
hiệu' hoàn toàn biến mất trên 1000 năm.
Cho đến năm 968, khi
Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên các sứ quân cát cứ, và nhất thống xứ sở,
ông đem chữ 'Việt' ra xử dụng trở lại và đặt tên nước là Đại Cồ
Việt (nước Việt cực lớn). Quốc hiệu Đại Cồ Việt duy trì suốt
thời Đinh (968-979), Tiền Lê (980-1009) và đầu thời Lý
(1010-1053).
Đến năm 1054, nhân
một hiện tượng sao sáng trên trời, vua Lý Thái Tôn cho đổi tên
nước là Đại Việt, và quốc hiệu này được giữ nguyên đến hết thời
nhà Trần. Đến khi Hồ Quý Ly soán ngôi nhà Trần vào năm 1400, ông
đổi quốc hiệu thành Đại Ngu, dựa vào nguồn quyền lực của vua
Thuấn, thời huyền sử bên Tàu, có lẽ với mục đích dọa khỉ thế lực
xâm lăng ở Bắc phương.
Sau 10 năm kháng
chiến (1418-1427), cuộc khởi nghĩa chống quân Minh xâm lược của
Bình Định Vương Lê Lị (Lợi) toàn thắng. Năm 1428, Lê Thái Tổ đặt
lại tên nước là Đại Việt. Quốc hiệu Đại Việt được giữ qua suốt
thời Hậu Lê (1428-1787) và thời Tây Sơn (1788-1801).
Năm 1802, Nguyễn Ánh
lên ngôi vua và cho đổi tên nước là Việt Nam. Thật ra ban đầu
triều Nguyễn xin lại tên Nam Việt cũ của Triệu Đà, nhưng Thanh
triều có vẻ không bằng lòng, với nhiều lí do, và chỉ chuẩn nhận
với tên mới: 'Việt Nam'. Trong các lí do để bác bỏ tên Nam Việt
cũ, có viện dẫn cho rằng 'Nam Việt' sẽ không được chính xác bởi
đã có Tây Việt và Đông Việt, dùng để chỉ, theo tuần tự, Quảng
Tây và Quảng Đông [15]. Theo thiển ý, ngoài việc dị ứng với cái
tên Nam Việt, một mầm hy vọng tạo dựng đế quốc phía Nam của
Triệu Đà, nhà Thanh có lẽ đã cảm thấy việc xử dụng tên cũ không
còn hợp thời nữa bởi hai lẽ chính: Thứ nhất, Tây Việt và Đông
Việt hãy còn đa số chủng Thái-cổ dù đã đồng hoá thành Hán, trong
khi ở xứ Nam một khối dân tộc Việt đã bắt đầu bớt dần liên hệ
huyết thống bà con với chủng Thái-cổ bên Tàu; và Thứ hai, tiếp
tục gọi Nam Việt sẽ không hợp với tiếng Nôm, tiếng của người
nước Nam. Việt Nam thật sự chính là lối gọi theo Nôm của... Nam
Việt.
Việt Nam: xứ của
người Việt ở phương Nam. Đó chỉ là 'Nam Việt' viết và đọc theo
lối tiếng Nôm. Điển hình, ngay từ thế kỷ 14, hai chữ “Việt Nam”
đã xuất hiện ở tiêu đề sách “Việt Nam thế chí” (ghi chép về các
đời ở Việt Nam) của Trạng nguyên Hồ Tông Thốc (theo Lịch triều
hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, thế kỷ 19). Cuốn “Dư địa
chí” của Nguyễn Trãi (soạn năm 1434) cũng đã nhiều lần nhắc đến
hai chữ Việt Nam. 'Việt Nam' cũng đã được Trạng Trình Nguyễn
Bỉnh Khiêm (1491-1585) xử dụng nhiều lần trong các tác phẩm của
ông, như: “Trình tiên sinh quốc ngữ văn” và 'Sơn hà hải động
thường vịnh' (Vịnh về núi non sông biển).
Trên nhiều tấm bia,
các nhà nghiên cứu đã tìm thấy hai chữ “Việt Nam”, như trên tấm
bia khắc ở chùa Bảo Lâm (Chí Linh, Hải Dương) năm 1558, có câu
“Việt Nam đại danh lam bất tri kỳ cơ”, bia chùa Cam Lộ (Phú
Xuyên, Hà Tây), năm 1590, có câu “Chân Việt Nam chi đệ nhất”.
Thời Lê Trung Hưng (1533-1787), cả Đàng Trong và Đàng Ngoài đều
trở lại tên Đại Việt, song hai chữ “Việt Nam” xuất hiện khá
nhiều trong văn bia có niên đại sớm như: Bia chùa Thiên Phúc
(Bắc Ninh, soạn năm 1648), bia làng Phú Mẫn (Bắc Ninh, 1649),
bia chùa Phúc Thánh (Bắc Ninh, 1664), bia chùa Am Linh (xã Liên
Hà, Đông Anh, Hà Nội, năm 1670) [18].
Đến đời vua Minh
Mạng, quốc hiệu được đổi thành Đại Nam (năm 1838). Trong khi
dưới thời đô hộ hay bảo hộ của Pháp, người Tây phương nói chung
vẫn còn quen gọi nước Nam bằng nước An-Nam. Tên nước Việt Nam,
đầu tiên do triều Nguyễn lăng xê với sự phê chuẩn của Thanh
triều, lại bị quên lãng gần một trăm năm. Đến đầu thế kỷ 20,
nhiều nhà ái quốc Việt bắt đầu lôi hai chữ 'Việt Nam' trở ra để
kích thích lòng yêu nước của người nước Nam. Hăng hái nhất có lẽ
là Sào Nam Phan Bội Châu [14], và nhà ái quốc họ Phan đã xử dụng
hai chữ 'Việt Nam' rất nhiều lần trong những tác phẩm của ông,
như: 'Việt Nam vong quốc sử' (1905), 'Việt Nam quốc sử khảo'
(1908), v.v.
Từ đó đến nay, hai chữ 'Việt Nam' đã đi thật sâu vào tâm khảm
của người Việt Nam.
TÓM TẮT
Trong phần trình bày
phía trên, chúng ta đã phân tích các chủng Lạc thuần túy vào
thuở cổ thời đã hợp với chủng Âu tạo dựng nên chủng Việt-Nam. Có
tất cả chừng 4 thứ chủng Lạc chính:
(i) Lạc bộ Trãi:
xuất xứ từ miền cực Bắc nước Tàu, phía Đông. Khu vực phía Bắc
sông Hoàng Hà chạy đến Sơn Đông. Có mặt tại 'Trung Hoa lục địa'
cách đây ít lắm cũng 5000 năm. Ngày trước người Hoa gọi những
đám này Bách Bộc, đa số có cuộc sống 'nay đây mai đó' của dân du
mục [13]. Đám Bách Bộc còn được gọi Bộc Việt, theo Tả Truyện dẫn
trong [4], đã từng lãnh đạo một đám các thị tộc Yueh khác chống
lại nước Sở vào thời Sở Trang Vương (thế kỷ 7 TCN). Rất nhiều
nhóm Bách Bộc đã di tản vào định cư ở khu vực nước Sở, chung
quanh sông Hán và sông Dương Tử (tức Trường Giang) sau khi bị
các xứ chư hầu thân thiên triều chủng Hoa, như: Tề, Lỗ, Tấn,...
đánh đuổi. Ngay tại nước Sở cũng có một khối đông đa số thuộc
chủng Âu, tức Thái-cổ.
(ii) Lạc bộ Trãi
định cư ở nước Sở trên dưới 100 năm lại được bổ sung bằng các
thứ Lạc khác, cũng được người Tàu miêu tả bằng 'bộ Trãi', tức
người chủng Việt-cổ. Đám Việt này xuất xứ từ các nước Ngô (của
Phù Sai) và Việt (Câu Tiễn) đã bị Sở tiểu diệt vào thế kỷ thứ 4
TCN. Xứ sở cũ của họ bị sát nhập vào nước Sở.
(iii) Đến khi nhà
Hán tiếp tay với nhà Tần tràn quân xuống thôn tính cả miền Hoa
Nam, dân Lạc lại được bổ sung bằng đám Lạc bộ Mã, cư ngụ tại địa
bàn Phúc Kiến - Triều Châu ngày nay. Đó là cư dân xứ Mân Việt.
Trước đó, Mân Việt cũng có thể đã thu hút đám di tản chạy giặc
Ngô-Việt và Việt-Sở, từ nước Việt của Câu Tiễn, tức Chiết Giang
ngày nay.
(iv) Phía bên
hướng Tây nước Tàu, sau thời Tây Chu, nước Tần thay mặt thiên
triều nhà Chu không ngừng ra sức đàn áp và tận diệt các đám rợ
Nhung. Đầu tiên các đám Lạc bộ Chuy (Môn), Lạc bộ Khương
(Khờ-Me) buộc lòng phải tẩu tán và di cư về phía Nam và Tây Nam.
(v) Sau đó nước
Thục, chứa đa số những bộ lạc thuộc chủng Âu, bị giải thể. Di
dân Âu phải chạy qua nước Sở, xin thẻ xanh để định cư tại hai
miền Bắc và Nam sông Dương Tử. Một số người Âu tràn xa xuống
phía Nam, hội nhập với cộng đồng Tây Âu có sẳn ở đó, tức khu
Quảng Tây ngày nay.
(vi) Quân nhà Tần
vẫn rượt bén gót đám chạy giặc thuộc chủng Âu. Trong những đợt
chạy giặc sau cùng, trước khi một nước Tàu rộng lớn được hình
thành, trên những con đường chạy giặc trên khắp miền Hoa Nam,
người ta thấy các chi chủng Âu - Lạc, cộng với đám Miêu tộc
(Hmong) cùng nắm tay nhau chạy tán loạn về phía Nam.
Trong các bài tới,
chúng ta sẽ cố gắng phân tích ảnh hưởng và đóng góp của từng
thứ chủng Lạc trên ngôn ngữ và cá tính của người Việt Nam.
Ghi Chú
[1]
Jeanne Cuisinier (1946) Les Mương – Géographie Humaine et
Sociologie. Institut d’Ethnographie. Paris
[2]
Khuyết Danh (1377-1388) Đại Việt Sử Lược. Bản dịch của Nguyễn
Gia Tường.
Nhà Xuất Bản Thành Phố HCM. Bộ Môn Châu Á Học Đại Học Tổng Hợp
TP.HCM.
[3] Ngô Sĩ Liên và
cộng sự (1497). Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Thanh Việt và Phạm Ngọc
Luật hiệu đính theo bản dịch của Đào Duy Anh. Nxb Văn Hoá Thông
Tin (2004). Bản của Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam được trình bày
đầy đủ trên mạng internet: perso.wanadoo.fr/charite
[4] Bình Nguyên Lộc
(1971) Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam. Nxb Xuân Thu (USA)
tái bản.
[5] Một quyển sách
đi sâu nhất vào vấn đề các chi chủng của khối Bách Việt chính là
'quyển Mã Lai' ghi phiá trên [4]. Nhưng rất tiếc, mục đích chính
của thuyết Mã Lai lại qui tất cả các chủng Bách Việt trở lại
thành chủng Mã Lai duy nhất, xuất phát từ khu Trung Á vùng bình
nguyên Tây Tạng. Chia thành 2 đợt: Proto-Malay và Deutero-Malay,
tức Mã Lai đợt I và đợt II, tuần tự, đi đến miền Đông Nam Á cách
đây 5000 năm, và 2500 năm. Theo thuyết 'Mã Lai' dân Việt Nam bao
gồm 2 đợt di cư của chủng Mã Lai. Phần nòng cốt và đa số là Mã
Lai đợt I, ở đó trước từ xưa. Đến khoảng năm 500 TCN, đám Mã Lai
đợt II đến hội nhập. Thuyết Mã Lai hoàn toàn không nói rõ các
chi chủng nào đã cư ngụ tại nước Việt thuộc Mã Lai I, và Mã Lai
II từ đâu đến và gồm các chi chủng nào.
[6] Keith Weller
Taylor 1983) The Birth of Vietnam. University of California
Press
[7] Đông Việt cũng
thường được gọi là Đông Âu, theo [4] có cư dân thuộc chi Âu, tức
Thái cổ.
[8] Randy J. LaPolla
(2000) The role of migration and language contact in the
development of the Sino-Tibetan language family. IN: Areal
Diffusion and Genetic Inheritance: Case Studies in Language
Change. Ed. by R.M.W. Dixon & A.Y. Aikhenvald. Oxford University
Press
[9] Sách vở Việt Nam
vẫn thường lầm bộ tộc Việt Thường là nước Việt Thường nằm ở Bắc
Bộ ngày nay. Thật ra lúc đó kinh đô nhà Châu chính là Cảo Kinh
nằm ở phía Đông Thiểm Tây. Rất gần với địa bàn Đông Zi tại Sơn
Tây kéo dài đến Sơn Đông gần biển. Và Việt Thường Thị chỉ có thể
là đám rợ Đông Zi đó mà thôi. Nếu Việt Thường Thị ở Bắc Bộ, họ
phải đi xuyên qua trên 1000 bộ lạc khác nhau mới đi đến được Cảo
Kinh. Cực kỳ gian nan và nguy hiểm. Ngoài ra họ chỉ đi được bằng
cách cuốc bộ hay cỡi trâu. Chỉ có thể đi thôi chứ không hẹn ngày
trở lại.
[10] Có hai giả
thuyết về gốc gác người Lê (Li
黎):
Giả thuyết 1: Người Lê là 1 trong 81 bộ lạc nhỏ của 9 nhóm Lê
(Cửu Lê), tức người Hmong (Miao), đệ tử của Chi-You (tên tiếng
Hmong, mang nghĩa 'Cha-Ông', tức thủ lĩnh, mà tiếng Việt
quốc-ngữ thường bắt chước Hán, ghi thành Xuy Vưu). Đám Li này
xuất phát từ vùng Đông Bắc nước Tàu (khu Sơn Đông), zi tản đến
Hải Nam và Đài Loan rất sớm, cách đây trên 3000 năm; Giả thuyết
2: Người Lê có chủng tộc và ngôn ngữ rất giống người Choang ở
Quảng Tây, tức người Tây Âu khi xưa (chủng Thái-cổ), hoặc một số
bộ tộc ở khu vực Vân Nam, Quí Châu, gồm nhiều người Hmong. Nhiều
tính tương đồng đã được ghi lại giữa một số bộ tộc người Choang,
người Hải Nam, và người Mường, người Chăm. Tộc Lê chính là một
gạch nối, dù khá xưa cũ, của 4 thứ người Choang, Hải Nam (cổ),
Mường, và Chăm. Hy vọng sẽ trở lại vấn đề này vào một zịp khác.
[11] Sách vở Việt
thường ghi nhận người Mường gọi vua Việt là vua Yịt Yàng, nhưng
không có sách nào đưa ra giải lý, bởi ít ai đọc qua truyền
thuyết Âu-Cơ theo bản của người Mường, có chép lại trong [1].
Theo đó, vua Yịt Yàng chính là một trong những tù trưởng thuộc
50 người con đã theo Cha Lạc Long Quân đi về miền sông biển.
Những người xếp bộ lạc này thuộc đám mặc áo màu vàng, tiếng
Mường-xưa và tiếng Kha Lá Vàng gọi 'Yềng'. Đám theo Âu Cơ, thuộc
dòng vua chúa (tù trưởng) mặc áo màu đen. Để ý, khi người Mường
gọi tù trưởng bộ tộc Việt bằng Yịt Yàng, họ mặc nhiên thừa nhận
vua Việt không phải là vua của họ.
[12] Jeffrey G.
Barlow (2000) The Zhuang: Ethnogenesis. Research Report.
Department of History - PACIFIC UNIVERSITY, 2043 College Way -
Forest Grove, Oregon, 97116. AT:
http://mcel.pacificu.edu/as/resources/zhuang/zhuangintro.htm
[13] Đường Nhạn
Sinh, Bạo Thúc Diễm & Chu Chính Thư (2002) Mưu Trí thời Xuân
Thu. (Ông Văn Tùng & Vũ Ngọc Quỳnh dịch). Nxb Văn Nghệ, TP HCM
[14] Vĩnh Sính
(2001) Việt Nam và Nhật Bản: Giao Lưu Văn Hoá. Nxb Văn Nghệ TP
HCM.
[15] Cao Xuân Dục
(1908) Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu. Dịch giả: Quốc Sử Quán
triều Nguyễn. Nxb Nhóm Nghiên Cứu Sử Địa Việt Nam. Chuyển sang
internet: Lê Bắc, Doãn Vượng, Công Đệ. Xem:
perso.wanadoo.fr/charite
[16] Trần Trọng Kim
( 1971) Việt Nam Sử Lược. Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục
xuất bản. Đại Nam tái xuất bản tại Hoa Kỳ.
[17] Để ý: người Tàu
vẫn thích dùng Cửu Lê, dùng số 9, rồi số 81 để chỉ 81 bộ tộc
khác nhau của tộc Lê. Số 81 chính là 9 x 9. Trong hệ số đếm dùng
số 9 làm cơ bản, số 81 tương đương với 100, người Tàu xưa gọi
Bách: Bách Bộc, Bách Việt, Bách Lê. Như vậy chúng ta đã thấy một
lần nữa, rất có khả năng hệ thống đếm ngày xưa của người Tàu
chính là hệ dùng số 9. Giống y như hệ đếm người Mường xử dụng
cho đến giữa thế kỷ 20. (Xin xem bài: 18 đời Hùng Vương).
[18] Theo tài liệu
thông tin do Thông Tấn Xã Việt Nam trích dẫn (27/4/2004).
Trở về Trang Chính |